Quảng cáo
Cầu Sương, Điếm Cỏ (Lưu Trọng Lư)
QR

Cầu Sương, Điếm Cỏ (Lưu Trọng Lư)

Nguồn: thuviensach.vn

Thiên truyện Cầu Sương Điếm Cỏ dưới đây của Lưu Trọng Lư, viết từ trên 70 năm trước, đọc lại vẫn nghe như chuyện mới đây, kể về tình cảnh những người nghèo, khi mưa lũ chà đi sát lại suốt một dải đất miền Trung. Nhân giới thiệu truyện này, xin lưu ý rằng trước 1945, Lưu Trọng Lư đã viết ra in ra trên 30 cuốn truyện, tức là gấp hàng chục lần số lượng trang thơ ông đã viết. Tôi đoan chắc những tác phẩm ấy không hề non kém, chỉ có điều chúng xuất hiện ở thời mà bên cạnh Lưu Trọng Lư lại có khá nhiều những tài năng nổi bật hơn, cỡ như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, v.v… Nhưng điều đáng nói hơn lại là sự tắc trách của nền nghiên cứu và nền xuất bản của ta. Đối với tên tuổi Lưu Trọng Lư, mọi quan tâm của chúng ta chỉ dừng lại ở sáng tác thơ, thậm chí chỉ dừng lại ở một bài Tiếng Thu! Chính sự lười nhác, tắc tránh của các giới nghiên cứu và xuất bản đã khiến nhiều tác phẩm bị rơi vào quên lãng một cách oan uổng. Trong di sản văn chương người Việt trước 1945, tôi tin còn có khá nhiều tác phẩm khá nhưng lại bị quên lãng, như thiên truyện này của Lưu Trọng Lư.

LẠI NGUYÊN ÂN

***

Lưu Trọng Lư (19/6/1912 - 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh cũng là một đạo diễn phim khá nổi tiếng của Việt Nam. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.

Lưu Trọng Lư (19/6/1912 - 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh cũng là một đạo diễn phim khá nổi tiếng của Việt Nam. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000. Tìm mua: Cầu Sương, Điếm Cỏ TiKi Lazada Shopee

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Cầu Sương, Điếm Cỏ PDF của tác giả Lưu Trọng Lư nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Xem trước nội dung

https://thuviensach.vn

CẦU SƯƠNG ĐIẾM CỎ

LƯU TRỌNG LƯ

Thiên truyện Cầu Sương Điếm Cỏ dưới đây của Lưu Trọng Lư, viết từ trên 70 năm trước, đọc lại vẫn nghe như chuyện mới đây, kể về tình cảnh những người nghèo, khi mưa lũ chà đi sát lại suốt một dải đất miền Trung. Nhân giới thiệu truyện này, xin lưu ý rằng trước 1945, Lưu Trọng Lư đã viết ra in ra trên 30 cuốn truyện, tức là gấp hàng chục lần số lượng trang thơ ông đã viết. Tôi đoan chắc những tác phẩm ấy không hề non kém, chỉ có điều chúng xuất hiện ở thời mà bên cạnh Lưu Trọng Lư lại có khá nhiều những tài năng nổi bật hơn, cỡ như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, v.v… Nhưng điều đáng nói hơn lại là sự tắc trách của nền nghiên cứu và nền xuất bản của ta. Đối với tên tuổi Lưu Trọng Lư, mọi quan tâm của chúng ta chỉ dừng lại ở sáng tác thơ, thậm chí chỉ dừng lại ở một bài Tiếng Thu! Chính sự lười nhác, tắc tránh của các giới nghiên cứu và xuất bản đã khiến nhiều tác phẩm bị rơi vào quên lãng một cách oan uổng. Trong di sản văn chương người Việt trước 1945, tôi tin còn có khá nhiều tác phẩm khá nhưng lại bị quên lãng, như thiên truyện này của Lưu Trọng Lư.

LẠI NGUYÊN ÂN Trời mưa như trút, đã ba hôm… Nước sông Gianh lên mạnh quá. Những đồng lúa xanh đều khoả ngập và đỏ ngầu… Một vùng nước mênh mông, chỉ để lòi lúp xúp một đôi chòm nhà, và xa xa một vài đồi núi trơ trụi… Bên những cây đa vững chãi dưới chân núi, cột chặt năm bảy chiếc thuyền câu. Trời tối sẩm gần như ban đêm… Giữ những làn mây đục và thấp, thưa thớt bóng vài con cò trắng bay rời rạc, biết cơn nguy biến sắp đến, lướt gió tìm chốn chân trời yên tĩnh…

https://thuviensach.vn

Cả dân làng Phú Mỹ hoảng hốt, từ hai hôm trước đã bắt đầu chạy lụt. Trâu bò thì họ dẫn lên núi hết, những giường ghế thì họ buộc chặt vào cột nhà, còn những đồ vặt vãnh, và những súc vật như heo, gà, họ đều lùa lên sàn nhà hết. Trên mỗi cái sàn nhà, ngày thường chỉ để chứa những bồ lúa hay là vựa ngô, bây giờ biến thành chốn ẩn núp cả một gia đình. Người ta giã gạo ở đấy, thổi cơm ở đấy, ngủ ở đấy, và ngồi rỗi nhá ngô rang, nói chuyện gẫu với nhau để đợi con nước… xuống… nhưng mà con nước vẫn lên, lên mãi… Bác hai Thìn, tưởng trời mưa qua quýt rồi trời tạnh, mình lại ra đồng gặt thuê, kiếm ít tiền mua gạo. Không ngờ gạo hết đến nơi rồi mà trời vẫn cứ mưa. Hai hôm đầu, bác còn được tí ngô khoai thay cơm, hôm thứ ba thì chỉ còn được hai lưng bát để dành cho thằng cu Tỵ và cái Bẹ. Bác lấy tay vạch tranh ở chái nhà thành một lỗ to gần bằng cái cửa sổ để… trông nước. Bác thấy nước đã dâng cao quá, đã gần lên đến kèo nhà, bác tự nghĩ: "Nếu trời cứ mưa như thế này mãi, có lẽ nội ngày mai thì lên đến sàn nhà…". Bác sầm nét mặt lại, quay nhìn hai đứa bé đương ấp nhau ngủ trên một cái chõng tre, hai khoé mắt bác như muốn ứa lệ… Bác nghĩ đến cha của hai đứa bé vừa mất mùa đông năm ngoái. Bác rón rén đi lại gần cái bàn thờ mà hôm kia, bác đã soạn lên sàn trước hết. Bác rút ra mấy que hương, châm vào ngọn đèn con rồi chĩnh chện, bác bước ra trước bàn thờ, vái ba cái, sụp qùy xuống, bác lâm râm khấn khứa. Bác cầu nguyện vong hồn khôn thiêng của chồng bác phù trợ cho vợ con trong những giờ nguy biến này, và tưởng như vong hồn kẻ quá vãng cũng có thể cản mưa ngăn gió vậy. Khấn xong, bác cắm mấy que hương vào lư, rồi ra ngóng nước, lần này bác hơi yên dạ. Nhưng không, bác không thể không nghĩ đến bữa cơm chiều của hai đứa bé… Quả quyết, bác trèo xuống, đẩy chiếc thuyền nan, định bơi vào nhà ông bá Ngô, vay một ít gạo.

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo