Quảng cáo
Thuyền Buồm Đông Dương (J. B. Pietri)
QR

Thuyền Buồm Đông Dương (J. B. Pietri)

Nguồn: thuviensach.vn

Thật ngạc nhiên khi nhận ra là cho dù mọi cuốn sách nghiên cứu về nhân khẩuhọc Đông dương, phát hành những năm vừa qua, chỉ có một ít đề cập tới dân số đông đúc và đa sắc tộc, suốt từ Bắc chí Nam, dọc theo 2,600 ký lô mét bờ biển của đất nước này.

Tuy nhiên, người ta phí công vô ích trong việc tìm tòi tại vùng Đông Dương,nơi sống nhờ vào cây lúa và tôm cá, một nền công nghiệp cũ mèm nào hơn là công nghệ đánh bắt cá.

Điều thiếu sót này gây bất ngờ khi người ta nghĩ là trên những vùng bờ biểnphát triển tương tự không có một cây số bờ biển nào mà không có làng chài, chùa chiền để thờ cúng tạ lễ thánh thần, phường hội dân đánh bắt cá, các làng biển đặc thù hay những lều tranh xơ xác nằm cuối vịnh hoặc trên bờ một đầm phá, tại cửa mộtdòng chảy hay dọc theo bờ biển khô cạn, những chiếc xuồng đánh cá được kéo trêncát, nằm uể oải phơi bụng hay thả neo ngập nước.

Nếu có một vùng đất trên thế giới chỗ mà những hình ảnh sống động của hải quân thuyền buồm xa xưa trú ẩn và hồi sinh trên nhiều phương diện, dĩ nhiên đó làvùng bờ biển Đông.

Nơi chúng ta sẽ tìm thấy một gam nhiều màu sắc, mùi cũ kỹ của gỗ một thời kỳ đã qua, pha trộn với mùi nồng nặc khó tả của nước mắm và mùi mồ hôi của loài người sống quây quần lại với nhau trong những điều kiện không tưởng tượng nỗi. Tìm mua: Thuyền Buồm Đông Dương TiKi Lazada Shopee

Vệ sinh ở đây không được biết tới, ngay chính cả tên gọi của nó, và điều này gợichúng tôi nhớ đến thảm cảnh một ngày kia chứng kiến, tại miền Nam, trên một chiếcthuyền, tất cả buồn vẫn căng phía trên, toàn bộ đoàn thủy thủ đều thiệt mạng vì bệnh dịch hạch

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Thuyền Buồm Đông Dương PDF của tác giả J. B. Pietri nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Xem trước nội dung

https://thuviensach.vn

J. B. PIÉTRI

Giám đốc nha Ngư nghiệp Đông Dương

THUYỀN BUỒM

ĐÔNG DƯƠNG

Hình ảnh minh hoạ và phụ bản của tác giả

Xuất bản lần đầu

SILI – Saigon

1949 GIỚI THIỆU

1

https://thuviensach.vn

Thật ngạc nhiên khi nhận ra là cho dù mọi cuốn sách nghiên cứu về nhân khẩu học Đông dương, phát hành những năm vừa qua, chỉ có một ít đề cập tới dân số đông đúc và đa sắc tộc, suốt từ Bắc chí Nam, dọc theo 2,600 ký lô mét bờ biển của đất nước này. Tuy nhiên, người ta phí công vô ích trong việc tìm tòi tại vùng Đông Dương, nơi sống nhờ vào cây lúa và tôm cá, một nền công nghiệp cũ mèm nào hơn là công nghệ đánh bắt cá.

Điều thiếu sót này gây bất ngờ khi người ta nghĩ là trên những vùng bờ biển phát triển tương tự không có một cây số bờ biển nào mà không có làng chài, chùa chiền để thờ cúng tạ lễ thánh thần, phường hội dân đánh bắt cá, các làng biển đặc thù hay những lều tranh xơ xác nằm cuối vịnh hoặc trên bờ một đầm phá, tại cửa một dòng chảy hay dọc theo bờ biển khô cạn, những chiếc xuồng đánh cá được kéo trên cát, nằm uể oải phơi bụng hay thả neo ngập nước.

Nếu có một vùng đất trên thế giới chỗ mà những hình ảnh sống động của hải quân thuyền buồm xa xưa trú ẩn và hồi sinh trên nhiều phương diện, dĩ nhiên đó là vùng bờ biển Đông. Nơi chúng ta sẽ tìm thấy một gam nhiều màu sắc, mùi cũ kỹ của gỗ một thời kỳ đã qua, pha trộn với mùi nồng nặc khó tả của nước mắm và mùi mồ hôi của loài người sống quây quần lại với nhau trong những điều kiện không tưởng tượng nỗi. Vệ sinh ở đây không được biết tới, ngay chính cả tên gọi của nó, và điều này gợi chúng tôi nhớ đến thảm cảnh một ngày kia chứng kiến, tại miền Nam, trên một chiếc thuyền, tất cả buồn vẫn căng phía trên, toàn bộ đoàn thủy thủ đều thiệt mạng vì bệnh dịch hạch.

Chỉ có ở An Nam, nghĩa là trên 1.200 cây số, có thể ước tính có 500.000 người mưu sinh chuyên ngành thủy sản.

Phải nói gì từ những đánh giá ngày xưa về người dân vùng biển này? “Dân An Nam kinh sợ biển cả” người ta đã quen nghe nói vậy. “Họ chỉ dong buồm khi trời êm bể lặng hay khi thời tiết cả ngày dường như không thay đổi gì”… ”vùng biển ít gầm gào…”, v.v.

Tuy vậy, phải biết là họ trên những ghe thuyền của mình, từ biên giới Xiêm La đến các rạn san hô nguy hiểm của hầu hết vùng đảo Lai Châu, dừng lại vì lặng gió lúc chuyển đổi gió mùa hay lênh đênh trong cơn lốc bão, không ngừng nghỉ suốt mấy ngày liền, điều này thuyết phục chúng ta là từ mọi ngành nghề, dù ở đất nước nào, nơi mà nghề biển không biết tới, mới không đủ lực và yếu kém thể chất để đi biển.

Trên một trong những bãi biển thế giới bị áp thấp lốc xoáy quét qua nhiều nhất được chính những người vùng ven gọi tên là “bãi sắt” (ghi chú của tác giả) bắt đầu từ đèo Hải Vân và kết thúc ở vùng đồng bằng Bắc bộ chúng tôi gặp một kiểu nghề đánh bắt cá táo bạo nhất cũng nguyên thuỷ chưa từng có. Cưỡi trên một thân cây tre, ngư dân Hà Tĩnh, trần trùng trục, mang chéo vai một cái lờ nhỏ, lao mình bơi ra khơi, thường ra xa 3 đến 6 hải lý họ mới dừng lại. Và ở chỗ đó, họ đi câu, dưới mặt trời chói chang, tung lưới cả ngày nơi đầu sóng ngọn gió. Họ chỉ trở về lúc nhá nhem tối, mệt phờ nhưng sẵn sàng bắt đầu lại vào ngày hôm sau. Trường tồn từ biết bao kỷ nguyên cái kiểu đánh bắt cá phải chăng là loài người đầu tiên “chinh phục biển cả” ?

Chính tại bãi này tôi cũng gặp những chiếc ghe bè nguyên thuỷ bằng tre nứa, có hai hay ba cánh buồm, thả nổi và dựng cột buồm đủ kiểu mà người ta nhận ra những chiếc ghe bè bằng gỗ ban-xa nhẹ của Pê-ru tương tự phía bên kia sườn Thái Bình Dương.

2

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo