Quảng cáo
Tam Quốc Diễn Nghĩa
QR

Tam Quốc Diễn Nghĩa

Nguồn: sachmoi.net

Tam Quốc Diễn Nghĩa

Tam Quốc Diễn Nghĩa

Tam Quốc Diễn Nghĩa nguyên tên là Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa, là một tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc được La Quán Trung viết vào thế kỷ 14 kể về thời kỳ hỗn loạn Tam Quốc (220-280),

Cuốn tiểu thuyết được viết theo phương pháp bảy thực ba hư (bảy phần thực ba phần hư cấu). Tiểu thuyết này được xem là một trong bốn tác phẩm cổ điển hay nhất của văn học Trung Quốc.

Tam Quốc Diễn Nghĩa về phương diện biên soạn chủ yếu là công lao của La Quán Trung, nhưng thực ra bộ tiểu thuyết này trước sau đã trải qua một quá trình tập thể sáng tác lâu dài của rất nhiều người.

Tam Quốc @ Diễn Nghĩa Người Trung Quốc Xấu Xí Binh Pháp Tôn Tử

Một trong những thành công lớn nhất của Tam Quốc Diễn Nghĩa là tính chất quy mô, hoành tráng của cốt truyện và nhân vật. Bộ tiểu thuyết này có thể chia thành rất nhiều “truyện nhỏ” mà đa phần trong số đó có thể hoàn toàn dựng được thành những bộ phim truyện theo đúng nghĩa.

Ngay từ khi mới vào Việt Nam, Tam Quốc Diễn Nghĩa còn kéo theo nó hàng loạt ấn phẩm khác về các nhân vật, sự kiện liên quan đến thời Tam quốc, hoặc những cuốn khảo cứu về bản thân tác phẩm.

Tất cả những ấn phẩm đó được các tác giả người Việt sáng tác, hoặc được dịch sang tiếng Việt để giúp cho những người yêu thích Tam Quốc Diễn Nghĩa có thêm được những góc nhìn khác nhau về tác phẩm văn chương bất hủ này của thế giới.

Mời các bạn đón đọc.

Xem trước nội dung

Mục Lục

HỒI 1

HỒI 2

HỒI 3

HỒI 4

HỒI 5

HỒI 6

HỒI 7

HỒI 8

HỒI 9

HỒI 10

HỒI 11

HỒI 12

HỒI 13

HỒI 14

HỒI 15

HỒI 16

HỒI 17

HỒI 18

HỒI 19

HỒI 20

HỒI 21

HỒI 22

HỒI 23

HỒI 24

HỒI 25

HỒI 26

HỒI 27

HỒI 28

HỒI 29

HỒI 30

HỒI 31

HỒI 32

HỒI 33

HỒI 34

HỒI 35

HỒI 36

HỒI 37

HỒI 38

HỒI 39

HỒI 40

HỒI 41

HỒI 42

HỒI 43

HỒI 44

HỒI 45

HỒI 46

HỒI 47

HỒI 48

HỒI 49

HỒI 50

HỒI 51

HỒI 52

HỒI 53

HỒI 54

HỒI 55

HỒI 56

HỒI 57

HỒI 58

HỒI 59

HỒI 60

HỒI 61

HỒI 62

HỒI 63

HỒI 64

HỒI 65

HỒI 66

HỒI 67

HỒI 68

HỒI 69

HỒI 70

HỒI 71

HỒI 72

HỒI 73

HỒI 74

HỒI 75

HỒI 76

HỒI 77

HỒI 78

HỒI 79

HỒI 80

HỒI 81

HỒI 82

HỒI 83

HỒI 84

HỒI 85

HỒI 86

HỒI 87

HỒI 88

HỒI 89

HỒI 90

HỒI 91

HỒI 92

HỒI 93

HỒI 94

HỒI 95

HỒI 96

HỒI 97

HỒI 98

HỒI 99

HỒI 100

HỒI 101

HỒI 102

HỒI 103

HỒI 104

HỒI 105

HỒI 106

HỒI 107

HỒI 108

HỒI 109

HỒI 110

HỒI 111

HỒI 112

HỒI 113

HỒI 114

HỒI 1

Tiệc vườn đào, anh hùng kết nghĩa;

Chém Khăn Vàng, hào kiệt lập công.

Thế lớn trong thiên hạ, cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan: Như cuối đời nhà Chu, bảy nước tranh giành xâu xé nhau rồi sau lại hợp về nhà Tần. Đến khi nhà Tần mất, thì Hán Sở tranh hùng rồi sau thiên hạ lại hợp về tay nhà Hán.

Nhà Hán, từ lúc vua Cao tổ (Bái Công) chém rắn trắng khởi nghĩa, thống nhất được thiên hạ, sau vua Quang Vũ lên ngôi, rồi truyền mãi đến vua Hiến Đế; lúc bấy giờ lại chia ra thành ba nước.

Nguyên nhân gây ra biến loạn ấy là do hai vua Hoàn đế, Linh đế. Vua Hoàn đế tin dùng lũ hoạn quan, cấm cố những người hiền sĩ. Đến lúc vua Hoàn đế băng hà, vua Linh đế lên ngôi nối nghiệp; được quan đại tướng quân Đậu Vũ, quan thái phó Trần Phồn giúp đỡ. Khi ấy, trong triều có bọn hoạn quan là lũ Tào Tiết lộng quyền. Đậu Vũ, Trần Phồn lập mưu định trừ bọn ấy đi, nhưng vì cơ mưu tiết lộ nên lại bị chúng nó giết mất. Từ đấy, bọn hoạn quan ngày càng bạo ngược.

Ngày rằm tháng tư năm Kiến ninh thứ hai (một trăm sáu mươi bảy dương lịch) vua ngự điện Ôn Đức. Tự nhiên có cơn gió to ầm ầm từ góc điện nổi lên, rồi thấy một con rắn xanh lớn ở trên xà nhà quăng xuống quằn quại trên long án. Vua kinh hoàng ngã đùng ra, các quan tả hữu vội cứu vực vào cung; ở ngoài văn võ cũng sợ chạy cả. Được một lát con rắn biến mất và bỗng nhiên mưa to, sấm sét ầm ầm; lại thêm mưa đá rào rào mãi đến nửa đêm mới tạnh, đổ nhà đổ cửa không biết bao nhiêu mà kể.

Tháng hai, năm Kiến ninh thứ tư (một trăm sáu mươi chín) tỉnh Lạc Dương có động đất, nước bể dâng lên ngập lưng trời, dân cư ở ven bể bị sóng lớn cuốn trôi đi mất cả.

Năm Quang hóa thứ nhất (một trăm bảy mươi tám), một con gà mái tự dưng hóa ra gà trống. Mồng một tháng sáu năm ấy, một luồng khí đen dài chừng hơn mươi trượng bay vào trong điện Ôn Đức. Qua sang tháng bảy, lại có lắm điều gở lạ: Cầu vồng mọc ở giữa Ngọc đường; rặng núi Ngũ Nguyên bỗng dưng lở sụt xuống.

Vua hạ chiếu, hỏi chư thần từ đâu mà sinh ra những điềm quái gở ấy. Có quan nghị lang là Sái Ung dâng sớ lên, lời lẽ thống thiết, nói rằng: "Cầu vồng sa xuống, gà mái hóa trống, ấy là bởi quyền chính trong nước ở tay đàn bà và ở tay hoạn quan". Vua xem sớ ngậm ngùi thở dài, đứng dậy thay áo. Tào Tiết khi ấy đứng hầu sau ngai nghe trộm thấy, trong lòng căm giận, bèn mách bảo đồng bọn, bàn mưu kiếm cớ vu hãm Sài Ung, cách quan đuổi về quê quán.

Về sau bọn hoạn quan là Trương Nhượng, Triệu Trung, Phong Tư, Đoan Khuê, Tào Tiết, Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng, cả thẩy mười người gọi là mười quan "Thường thị" bè đảng với nhau kéo cánh làm càn. Nhà vua tin dùng tôn trọng Trương Nhượng, gọi là "Á phụ" (nghĩa là vua coi như cha).

Từ đấy chính sự trong triều ngày càng đổ nát, lòng người náo loạn, giặc cướp nổi lên như ong. Khi ấy ở đất Cự Lộc, có một nhà ba anh em: Anh cả là Trương Giác, em hai là Trương Bảo, em út là Trương Lương.

Trương Giác vốn thi tú tài trượt, nhân thế bực mình vào núi hái thuốc. Đi đường gặp một ông cụ già mặt tròn mắt biếc, tay chống gậy lê, gọi Trương Giác vào trong một cái động, trao …

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo