
HỒI KÝ WINFRED BURCHETT
Winfred Burchett www.dtv-ebook.com
Lời Nhà Xuất Bản
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
L
Winfred Burchett sinh năm 1911 trong một gia đình nông dân Anh di cư sang Australia. Cuộc sống cay đắng cực nhọc của thời niên thiếu đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của Burchett. Rời Australia, Burchett bắt đầu cuộc đời làm báo của mình. Lúc đầu, ông làm phóng viên cho báo London hàng ngày của Bi-vơ-brúc xuất bản ở Berlin trong thời gian này, Burchett nhanh chóng trở thành một trong những phóng viên Anh có năng lực và nổi tiếng nhất.
Cuộc đời làm báo của Burchett là cả một chuỗi dài những cuộc khám phá, những cuộc luận chiến của nghề làm báo và là sản phẩm của những cuộc đụng độ nóng bỏng của thế kỷ 20. Ông đã đem hết nhiệt tình và sự say mê đối với công việc làm báo để ủng hộ những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã xảy ra trong thời mình.
Dưới hình thức hồi ký, Burchett đã giới thiệu trong tập sách này nhiều sự kiện quan trọng của thế giới trong suốt 40 năm, kề từ tháng 9 năm 1930 - khi ông bắt đầu viết báo, đến tháng 9 năm 1979 - khi Burchett theo dõi Hội nghị cấp cao các nước không liên kết lần thứ 6 họp ở La Habana. Đó là 40 năm có nhiều biến cố sôi động và phức tạp diễn ra trên thế giới. Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng những trang hồi ký này rất quý. Nó cung cấp được khá nhiều tư liệu có thể giúp chúng ta tim hiểu thêm về những biến cố lịch sử trong quãng thời gian 40 năm nói trên. Vì thế, Nhà xuất bản Thông tin lý luận đã trích dịch và xuất bản cuốn Hồi ký Burchett để giới thiệu cùng bạn đọc.
Nhà xuất bản Thông tin lý luận - 1985.
HỒI KÝ WINFRED BURCHETT
Winfred Burchett www.dtv-ebook.com
Chương 1: Chia Cắt Nước Đức
CHIA CẮT NƯỚC ĐỨC
C
Chia cắt nước Đức thành 2 là một cuộc phẫu thuật dài và đau xót. Những nhà luật học của liên đoàn phương Tây chịu trách nhiệm dự thảo những tải liệu về thủ tục pháp lý để làm chủ được công việc, đến mức nhà báo khó mà có thể nếu lên được gì trong mọi giai đoạn của cuộc phẫu thuật đó. Nhưng có một vài đường lối chỉ đạo đã được thoả thuận (mà người ta xem là không lịch sự nếu nhắc lại trước mặt những người thực hiện Mỹ hoặc Anh nhưng nếu bị vi phạm thì có thể chỉ có hậu quả nghiêm trọng. Một đường lối như vậy là điều 14 của Hiệp định Posdam, được xác định bằng một tài liệu gọi là chỉ thể JCS (tham mưu liên quân) số 1007 đã được Roosevelt, Churchill và Stalin chấp nhận ở Yalta.
Điều 14 nói rằng nước Đức sẽ được đối xử như một đơn vị kinh tế riêng lẻ và vạch ra bảy lĩnh vực đặc biệt trong đó các chính sách chung phải được áp dụng”. Lĩnh vực thứ nhất là “về sản xuất và phân phối hầm mỏ và công nghiệp...”. Người Nga đề nghị thiết lập một cơ quan hỗn hợp giám sát toàn bộ việc sản xuất và phân phối than mỏ, kết hợp các mỏ than nâu quan trọng của Xa-xô-ni trong vùng Xô-viết với các mỏ than cứng ở vùng Rua. Người Anh phản đối việc Rua sẽ “tương trợ” vùng Xô-viết vì có hiệu quả lớn hơn. Những đoàn chuyên gia cử đến các khu vực than chính để xem xét các phương pháp lấy than đã thấy rằng, trong khu vực các mỏ than nâu dưới đất đã bị thiệt hại nặng.
Người Anh cho là người Nga đã sử dụng quá mạnh cả máy lẫn người, nhưng cũng phải khâm phục sự tiến triển của công việc. Còn người Nga thì cho rằng người Anh chỉ chơi ở Rua. Họ kiến nghị rằng thợ mỏ phải được cấp thêm mức ăn, bọn quốc xã phải thôi giữ các chức vụ chủ chốt, phải cải thiện ngay các điều kiện nhà ở của thợ mỏ và các nghiệp đoàn phải có tiếng nói hơn trong việc sắp xếp sản xuất và các vấn đề khác. Người Anh tỏ ra bực mình đối với điều mà các quan chức của họ nói riêng với nhau về “một sự ngờ vực điều gì sẽ xảy ra nếu người Nha lại vào vùng Rua”. Vào giai đoạn này cả người Mỹ lẫn người Pháp không quan tâm lắm đến vấn đề đó.
Chính sách chính thức của Anh cho đến ít ra cuối năm 1946 là “xã hội hoá” vùng Rua. Nhưng dưới sức ép của tướng Clê, người Anh bắt đầu thụt lại. Lập luận cơ bản của Mỹ về các chức năng xã hội là: “Chúng ta đến đây để dạy cho người Đức chế độ dân chủ có phải không. Vậy thì làm thế nào người Anh lại …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Xem để xem đầy đủ.