
Lục Liễu Khê kính cẩn khắc in
Mẫn Nhất Đắc cung kính thuật
Tiết Tâm Hương cung kính hiệu đính
Cổ triết có nói rằng: - Tu luyện có tam thừa, mà luyện pháp chỉ có ba phép. Ba phép là thế nào? Ngay thẳng thể, trống rỗng tâm, chân thật niệm. Ba câu này là thấu suốt từ đầu đến cuối của Song Tu Gia, một phút một giây, không được bỏ sót, việc tăng giảm công pháp, lại cần tự thẩm xét mà duy trì. Cái mà Đan Thư viết, chẳng qua là khẩu quyết bồi dưỡng Mệnh, mà thi hành quý ở đắc trung, rồi luyện thì cần hợp thời. Nên một năm thì có Nhị Chí, một tháng thì có Sóc Vọng, một ngày thì có Tý Ngọ, thể thì có Khí Cơ tự nhiên, hiện hữu cảnh tượng khác nhau, mà Hỏa Hậu gửi ở đấy. Xét đến chỗ bí yếu, chẳng qua là thăng giáng phóng thu mà thôi; lợi hay hại, chẳng qua là miễn cưỡng hay tự nhiên, thấu triệt hay bế tắc, cùng với làm theo chính xác hay là nghi ngờ mà thôi.
Người chia xẻ: Xích Long
Người chia xẻ:
Nhóm: Kinh Thư Chính Thống Đạo Gia
1
Tỏa Ngôn Tục Thái Hư Ông truyền miệng Lục Liễu Khê kính cẩn khắc in Mẫn Nhất Đắc cung kính thuật Tiết Tâm Hương cung kính hiệu đính Cổ triết có nói rằng: - Tu luyện có tam thừa1, mà luyện pháp chỉ có ba phép. Ba phép là thế nào? Ngay thẳng thể, trống rỗng tâm, chân thật niệm2. Ba câu này là thấu suốt từ đầu đến cuối của Song Tu Gia3, một phút một giây, không được bỏ sót4, việc tăng giảm công pháp, lại cần tự thẩm xét mà duy trì5. Cái mà Đan Thư viết, chẳng qua là khẩu quyết bồi dưỡng Mệnh, mà thi hành quý ở đắc trung, rồi luyện thì cần hợp thời. Nên một năm thì có Nhị Chí6, một tháng thì có Sóc Vọng, một ngày thì có Tý Ngọ, thể thì có Khí Cơ tự nhiên7, hiện hữu cảnh tượng khác nhau8, mà Hỏa Hậu gửi ở đấy. Xét đến chỗ bí yếu, chẳng qua là thăng giáng phóng thu mà thôi; lợi hay hại, chẳng qua là miễn cưỡng hay tự nhiên, thấu triệt hay bế tắc, cùng với làm theo chính xác hay là nghi ngờ mà thôi.
Người xưa, lấy một năm nén vào một tháng, lấy một tháng nén vào một ngày, lấy một ngày nén vào một giờ, lấy một giờ nén vào một khắc, gọi là công đoạt tạo hóa. [Nhập Dược Kính] tặng bí quyết đó, các Đan Kinh kế thừa mà thuật nó, thi hành không gì không hiệu nghiệm. Mà cổ triết nói cần tuân theo thể để đợi thời: thời là Hoạt Tý, thể là Đạo Thể.
Nguyên vào mùa Đông Xuân thì Khí Cơ quý là thấu ra sau. Pháp từ Hạ Cực, Khí xuyên Vĩ Lư, lên Giáp Tích, thấu Ngọc Chẩm, nhập Nê Hoàn, tồn một chút rồi giáng; lại từ Hoa Trì xuống Trùng Lâu, còn ngừng ở Giáng Cung, mới qua Tâm9, hơi qua sau Tâm, phân thành hai đường đi xuống eo Thận, lại hơi tồn nó10; cảm thấy Khí ấm này vòng hướng đến bụng, ôm tròn đến vành rốn, cần tồn nhiều hơn11; mới lấy ý tập trung vào Mệnh Môn, lại tiếp tục tồn lâu lâu12; sau đó xuyên xuống Vĩ
1 Thiên Tiên, Địa Tiên, Thủy Tiên. 2 Niệm là chí, tức là nơi để tâm vào, chí là chủ tể trong ngoài, nên cũng gọi là Chủ Nhân Ông. 3 Người luyện Tính Mệnh Song Tu. 4 Sót là quên. 5 Bẩm tính có sáng tối, thể chất có dầy mỏng, Âm Dương có thiên lệch, cảnh địa có bận có rảnh, thiên thời có đông hè. 6 Đông chí, hạ chí. 7 Cơ là dấu hiệu của động, cái cảm giác biết trước thăng giáng. 8 Tĩnh quan Cơ đó, cát hung có thể đoán, đến lúc đã hiện, cát hung đã định, riêng muốn vãn hồi, còn phải vào lúc Cơ có dấu hiệu mà dùng ý buộc nó, đợi hiện ra rồi cân nhắc thêm bớt mới diệu. 9 Nê Hoàn tên là Tủy Hải, khí ấm đến não mới hóa dịch, Hoa Trì là nơi Nhâm Đốc hội tụ, nên cần dừng một chút, không chỉ ngừng ở Nê Hoàn. Trùng Lâu mới đi thẳng xuống, đến Giáng Cung là Tàng Khí Chi Phủ, cái dịch giáng ở Não Trì liền có thể hóa huyết ở đây. 10 Sau Tâm có hai đường lạc thông eo Thận, người là quá vất vả dụng tâm thì tâm huyết khô, Lưỡng Thận Chi Tinh đi ngược lên để cứu, nên người lao Tâm thì ắt là Thận bị hao tổn, eo bị chứng đau là do vậy. Nay ở sau Tâm thoái tàng Khí đó, huyết bèn hạ theo, huyết liền hóa trắng mà Thận Khí sung túc, cho nên cần hơi tồn nó. 11 Đây lại là diệu dụng luyện Dịch hóa Khí, nên cần tồn nhiều. 12 Đây là diệu dụng luyện Khí hóa Khí, nên cần tồn lâu. Tôi xét khẩu quyết tu luyện, là ở 3 nơi Mệnh Môn, Giáng Khuyết, Nê Hoàn là nơi yếu địa mà Tiên hay phàm đều coi trọng, phàm là người có thể chú ý vào đây thì Tinh, Khí, Thần sung túc, còn theo học Tiên mà rời 3 chỗ này thì không nơi mà hạ thủ. Nhưng Thủy Phủ vốn lạnh, Giáng Khuyết vốn ấm, mà Hạ Cực lại là nơi âm trọc tụ hội, Nê Hoàn là nơi cái trong trẻo tụ hội. Tính của Thủy thì đi xuống, tính của Hỏa thì bốc lên, nếu muốn cho Thủy đi lên, cho Hỏa đi xuống, thì không có ý sai sử thì không nghe lệnh vậy. Đến cùng thì lạnh mà có thể khiến ấm, nóng mà có thể khiến mát, chắc chắn là nhờ Chân Ý để vãn hồi nó, nhưng bên trong cũng có cái nghĩa tự nhiên. Vì Thủy Phủ này tự có Mệnh Môn, hình dáng như Lưu Li Đăng trước mặt Phật, ngày đêm không ngừng; Giáng Khuyết có Hoa Trì, mà Tâm Miêu bao hàm trong đó, trên có Tủy Hải phân phát Chân Âm che phủ nó, đây là chân cảnh có sẵn do trời đất tạo ra. Cổ triết ở trong chân cảnh này, ngầm ra lệnh cho Chân Ý để duy trì. Nếu theo Thủy Phủ mà nhập thủ, thì …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.