Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kỳ Án Dòng Chữ Tắt

Sophie Hannah & Tuấn Việt (dịch) Hercule Poirot nghỉ ẩn ở London tại một nhà trọ ít ai ngờ đến. Tình cờ, cùng nhà trọ với ông có cảnh sát điều tra Edward Catchpool của Scotland Yard. Và cũng tình cờ ông gặp người phụ nữ tên Jennie, hốt hoảng như trong tình trạng bị nguy hiểm. Nhưng tất cả không còn là tình cờ nữa khi xảy ra vụ án mạng ba người chết tại khách sạn Bloxham và Catchpool phụ trách điều tra... "Sophie Hannah mang một không khí mới cho nhân vật Poirot. Lời văn dí dỏm hơn, hợp thời hơn. Có điều hơi dài dòng... 3.5* là hợp lý, nhưng làm tròn...." _ NQK *** Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.    Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920). Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. *** Sophie Hannah là một nhà thơ và tiểu thuyết gia người Anh, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1971 tại Manchester, Vương quốc Anh. Cô tốt nghiệp Đại học Manchester với bằng Cử nhân Văn học Anh và sau đó theo học Đại học Cambridge để lấy bằng Thạc sĩ Văn học Anh. Sophie Hannah bắt đầu viết thơ từ khi còn nhỏ và đã xuất bản hai tập thơ trước khi chuyển sang viết tiểu thuyết. Cô đã xuất bản 12 tiểu thuyết, trong đó có 9 tiểu thuyết trinh thám, 2 tiểu thuyết lãng mạn và 1 tiểu thuyết dành cho trẻ em. Tác phẩm đầu tay của Sophie Hannah là tiểu thuyết trinh thám "The Other Half of Me" (2007), kể về câu chuyện của một người phụ nữ phát hiện ra rằng mình có một người song sinh cùng trứng. Cuốn tiểu thuyết đã được dịch sang hơn 20 thứ tiếng và nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình. Năm 2014, Sophie Hannah được gia đình của Agatha Christie ủy quyền viết một tiểu thuyết mới về thám tử Hercule Poirot. Cuốn tiểu thuyết "The Monogram Murders" (2014) là cuốn tiểu thuyết chính thức đầu tiên được viết tiếp theo mạch văn của Agatha Christie. Cuốn tiểu thuyết đã được dịch sang tiếng Việt và phát hành tại Việt Nam vào năm 2016. Ngoài ra, Sophie Hannah còn được biết đến với các tiểu thuyết trinh thám khác như "The Murderer's Son" (2010), "The Other Woman" (2013), "The Killing Room" (2015), "The Girl in the Red Dress" (2016), "The Woman in the Window" (2017), "The Love Song of Miss Jane Austen" (2018), "The Other Woman's Husband" (2020) và "The Body in the Woods" (2022). Nội dung một số tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt "The Monogram Murders" (2014): Câu chuyện bắt đầu khi một người đàn ông bị sát hại tại một bữa tiệc, trên người nạn nhân có một chiếc khăn tay có thêu chữ A. Poirot cùng với trợ lý của mình, Captain Hastings, bắt đầu cuộc điều tra và phát hiện ra rằng vụ án này có liên quan đến một bí mật đen tối trong quá khứ. "The Murderer's Son" (2010): Câu chuyện kể về một người phụ nữ tên là Emma, người phát hiện ra rằng mình có một người con trai là một kẻ giết người hàng loạt. Emma phải tìm cách ngăn chặn con trai mình gây ra thêm tội ác. "The Other Woman" (2013): Câu chuyện kể về một người phụ nữ tên là Emma, người phát hiện ra rằng chồng mình đã ngoại tình. Cô quyết định gặp người phụ nữ kia, người mà cô biết đến với cái tên Sarah. Emma và Sarah bắt đầu trở thành bạn bè và họ sớm phát hiện ra rằng chồng của Emma không phải là người duy nhất trong cuộc sống của họ. "The Killing Room" (2015): Câu chuyện kể về một nhóm người bị bắt cóc và đưa đến một căn phòng bí mật. Họ được cho biết rằng họ sẽ phải chơi một trò chơi để có cơ hội sống sót. Trò chơi này có tên là "The Killing Room" và nó đòi hỏi họ phải giết người để giành chiến thắng. "The Girl in the Red Dress" (2016): Câu chuyện kể về một người phụ nữ trẻ tên là Kate, người bị mất trí nhớ. Cô tỉnh dậy trong một bệnh viện và không nhớ gì về cuộc sống của mình. Kate phải tìm cách tìm lại ký ức của mình và giải mã bí ẩn về cái chết của một người phụ nữ trẻ mà cô được cho là đã giết. Tác phẩm của Sophie Hannah được đánh giá cao bởi lối viết hấp dẫn, cốt truyện chặt chẽ và các nhân vật được xây dựng chân thực. Cô là một trong những nhà văn trinh thám nổi tiếng nhất hiện nay. Thông tin bổ sung Giải thưởng: Giải Agatha Christie dành cho tiểu thuyết trinh thám hay nhất năm 2014 cho "The Monogram Murders" Giải Barry dành cho tiểu thuyết trinh thám hay nhất năm 2014 *** “Tóm lại, tôi không ưa cô ta,” cô phục vụ có mái tóc bay bay thì thào nói. Đó là một tiếng thì thào lớn vì mọi khách trong quán cà phê Pleasant đều nghe thấy. Ông tự hỏi, trong trường hợp này, cô ta là một cô phục vụ nào khác hay là một khách thường xuyên giống như ông. “Mắc gì tôi phải ưa cô ta, đúng không nào? Cô nghĩ khác thì tùy cô.” “Tôi nghĩ cô ta cũng tốt mà,” cô phục vụ mặt tròn, thấp bé hơn cất tiếng, có vẻ kém tự tin hơn so với ít phút trước. “Khi lên cơn ngạo mạn thì cô ta mới thế. Lúc cái mặt vênh lên thì lưỡi cô ta mới nhỏ độc. Chẳng hay ho chút nào. Tôi biết hàng tá người kiểu đó – chớ bao giờ tin họ.” “Chị nói chẳng hay ho chút nào là ý sao?” cô mặt tròn hỏi. Hercule Poirot, người duy nhất đang dùng bữa trong quán cà phê vào lúc 7 giờ 30 phút tối ngày thứ năm, tháng 2, biết rõ cô phục vụ tóc bay bay muốn ngụ ý gì. Ông mỉm cười một mình. Đây không phải lần đầu cô đưa ra một quan sát sắc bén. “Nếu vô tình thốt ra lời gì đó gay gắt thì còn tha thứ được. Tôi không ngại thú nhận, chính tôi cũng thường thế. Nhưng tôi mà vui thì tôi muốn mọi người cùng vui. Thế mới phải chứ. Nhưng có những kẻ như cô ta, chuyện chẳng có gì mà cứ trầm trọng hóa lên. Đó chính là loại người cần phải tránh thật xa.” Bien vu, Tốt, Hercule Poirot nghĩ. De la vrai sagessepopulaire. Khôn ngoan đấy. Cửa quán chợt mở tung, bật cả vào bờ tường. Đứng ở lối vào là một phụ nữ trong bộ áo khoác nâu nhạt đội chiếc nón cũng màu nâu nhưng sậm hơn. Cô có mái tóc vàng hoe. Poirot không thấy khuôn mặt cô. Đầu cô đang ngoái ra sau như chờ ai đó theo vào. Vài giây cửa ngỏ cũng là đủ lâu để cái lạnh đêm hôm tước đi hết sự ấm áp của căn phòng nhỏ. Bình thường, việc đó sẽ khiến Poirot nổi cáu, nhưng ông đang quan tâm sự xuất hiện kịch tính của kẻ mới đến nên chẳng mấy để ý tác động mà cô ta gây ra. Ông ấp bàn tay lên tách cà phê, hy vọng giữ lại chút hơi ấm cho món uống của mình. Ngôi nhà nhỏ hẹp, tường xiêu vẹo tại khu vực Gregory’s Alley này của London dù chẳng phải sang trọng gì nhưng lại có món cà phê ngon nhất thế giới. Ông không hay uống cà phê trước và sau bữa tối – thật ra, một viễn cảnh như thế luôn khiến ông thấy gơm gớm trong hoành cảnh bình thường – nhưng vào mỗi thứ năm, khi đến Pleasant chính xác lúc 7 giờ 30 tối, ông đều ban cho mình một ngoại lệ. Giờ thì ông xem cái ngoại lệ hàng tuần này là một thứ truyền thống nho nhỏ. Những nề nếp khác của quán thì ông chẳng ưa mấy: cứ mỗi khi đến quán, ông lại thấy dao nĩa, khăn ăn và ly nước bày lung tung trên bàn và phải sắp chúng lại cho đúng vị trí. Rõ ràng các cô phục vụ luôn cho rằng các món đồ này nằm đâu đó – bất cứ đâu – cũng được. Poirot không chịu và luôn đòi hỏi tái lập lại trật tự mỗi khi ông đến. “Xin lỗi, cô làm ơn đóng cửa sau khi vào được không ạ?” Tóc Bay Bay gọi với ra người phụ nữ áo-nâu-nón-nâu đang nắm chặt khung cửa, mặt vẫn hướng ra đường. “Hoặc giả cô không vào cũng chẳng sao. Chúng tôi ở trong này không muốn bị lạnh cóng đâu ạ.” Người phụ nữ bước vào. Cô ta khép cửa lại, không hề tạ lỗi vì đã để ngỏ cửa quá lâu. Từ cuối phòng cũng nghe được hơi thở gấp của cô. Cô chừng như chẳng để ý sự hiện diện của mọi người. Poirot đón cô bằng một câu Chào cô nhỏ nhẹ. Cô khẽ xoay sang ông, nhưng không đáp lễ. Mắt cô mở lớn trong nỗi lo lắng bất thường, một nỗi lo đủ rõ ràng để người lạ có thể nắm bắt được như một thứ vật chất. Poirot không còn thấy tĩnh tại và hài lòng như mọi khi. Sự thanh bình của ông đã vỡ tan. Người phụ nữ lao vội đến cửa sổ, săm soi nhìn ra ngoài. Cô ta sẽ không thấy thứ muốn tìm, Poirot nghĩ. Nhìn vào màn đêm từ một căn phòng chiếu sáng tốt thì chẳng thể thấy gì nhiều khi mà kính cửa chỉ phản chiếu hình ảnh ở bên trong căn phòng. Thế mà cô ta vẫn đăm đăm nhìn ra ngoài hồi lâu, cứ như quyết chí muốn canh gác cả con đường. “Ồ, hóa ra là,” cô Tóc Bay Bay nói với một thoáng bực bội. “Có chuyện gì vậy? Cô gặp chuyện gì sao?” Người phụ nữ áo-khoác-nâu-mũ-nâu quay đầu lại. “Không, tôi…” Lời thốt ra như một tiếng thổn thức. Nhưng cô ta nén lại được. “Không. Tôi lấy chiếc bàn ở góc có được không?” Cô trỏ vào chiếc bàn ở xa cánh cửa nhất. “Trừ chỗ quý ông kia đang ngồi, cô muốn chọn đâu cũng được ạ. Các bàn đều trống cả.” Sực nhớ đến Poirot, Tóc Bay Bay vội bảo ông, “Bữa tối của ông đang được nấu, ngon lắm đấy ạ.” Poirot rất thích nghe câu này. Thức ăn ở Pleasant ngon chẳng kém cà phê. Thật ra, xét cả hai khoản này, Poirot thấy khó tin vào điều mà ông được biết: các đầu bếp ở đây đều là người Anh. Incroyable. Không thể tin nổi. Tóc Bay Bay quay sang người phụ nữ đang lo lắng. “Cô chắc là không sao chứ, Jennie? Trông cô cứ như vừa gặp phải ma quỷ ấy.” “Tôi không sao, cảm ơn. Tôi chỉ xin một tách trà nóng thật đặc, làm ơn nhé.” Jennie bước vội đến chiếc bàn ở góc xa, ngang qua Poirot mà không hề nhìn ông. Ông khẽ xoay ghế để có thể quan sát cô. Chắc chắn cô ta đang gặp chuyện, một chuyện mà cô rõ ràng không muốn nói với các cô phục vụ. Không cởi áo, cởi nón, cô ngồi xuống chiếc ghế trông ra đường, đấu lưng với cánh cửa. Chỉ xong đâu đấy cô mới ngoái lại, nhìn ra sau. Có cơ hội quan sát chi li hơn khuôn mặt cô, Poirot đoán cô trạc bốn mươi tuổi. Đôi mắt to xanh luôn mở lớn và không bao giờ chớp. Poirot nghĩ, đôi mắt ấy như đang nhìn một cảnh tượng gây sốc. Gặp phải ma quỷ, Tóc Bay Bay đã nhận xét như thế. Nhưng Poirot chẳng thấy cảnh tượng nào kinh khủng với Jennie cả, chỉ có căn phòng vuông vức với bàn ghế, chiếc tủ gỗ treo áo khoác và nón, cùng những chiếc kệ cong vênh, đỡ trọng lượng của rất nhiều ấm tách với màu sắc, hoa văn và kích cỡ khác nhau. Các kệ này chỉ nhìn thấy thôi là cũng đủ rùng mình! Poirot chẳng hiểu sao một chiếc kệ cong oằn lại không được thay ngay bằng một chiếc kệ phẳng phiu. Ông cũng không thể hiểu nổi vì sao người ta xếp nĩa lên chiếc bàn vuông mà lại không chịu đặt nó song song với cạnh bàn. Tuy vậy, không phải ai cũng suy nghĩ như Hercule Poirot và từ lâu ông đã chấp nhận điều đó, cả mặt thuận lợi lẫn bất lợi mà nó gây ra. Ngồi nhấp nhổm trên ghế, người phụ nữ – Jennie – đăm đăm nhìn ra cửa như chờ đợi ai đó xông vào bất cứ lúc nào. Cô đang run rẩy, chắc một phần vì lạnh. Không – Poirot đổi ý – hoàn toàn không vì lạnh. Quán đã ấm lại rồi. Do muốn canh chừng cánh cửa, Jennie ngồi quay mặt về phía đó, giữ khoảng cách tối đa, dấy là kết luận hợp lý duy nhất. Mời các bạn đón đọc Kỳ Án Dòng Chữ Tắtcủa tác giả Agatha Christie.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bàn Tay Cứu Mạng - Chris Cleave
Trong cuộc chạy trốn bọn giết người hòng truy sát những nhân chứng tội nghiệp của một ngôi làng Nigeria (châu Phi) hiền lành bị san phẳng chỉ vì một nguyên do là nó nằm trên một mỏ dầu, hai chị em Ong Nhỏ - Lòng Tốt đã trốn đến một bãi biển ở Đông Nam Nigeria. Ở đó, hai chị em đã gặp hai vợ chồng nhà báo Anh đi nghỉ mát hòng hàn gắn cuộc hôn nhân đã nguội lạnh của họ. Chưa kịp bày tỏ hết mối hiểm nguy đang rình rập hai chị em, bọn giết người đã đuổi đến, và tên cầm đầu đã ra một điều kiện bất ngờ: nếu người đàn ông da trắng kia chịu chặt một ngón tay thì Ong Nhỏ và Lòng Tốt sẽ được tha mạng. Quá bất ngờ với điều kiện lạ lùng đó, lại không tin vào lời đảm bảo của tên cầm đầu đám sát nhân, người chồng đã từ chối... Và kể từ sau phút giây định mệnh khủng khiếp đó, cuộc đời của Ong Nhỏ và hai vợ chồng nhà báo người Anh đã không còn như trước... *** — “Dù trăng biến mất bao lâu/Một mai trăng lại sáng thâu đêm dài” được lấy từ www.motherlandnigeria.com - Đoạn “Ave Maria” tiếng Ibo được lấy từ trang web: www. christusrex.org — Một số thành ngữ Nigeria được lấy từ “từ điển tiếng Anh Nigeria” của roger blench và Từ điển cách dùng tiếng Anh Nigeria của herbert Igboanusi, Nxb Enicrownfit, 2001. - Một số thành ngữ Jamaica được lấy từ Từ điển tiếng Anh Jamaica của F.G. Cassidy và r.b. Le Page, Nxb Đại học West Indies, 2002. - Một số thành ngữ tiếng Anh bốn tuổi được lấy từ con trai tôi, batman. — Câu “Chúng tôi không nghĩ là có ai lại đi xin quá nhiều băng vệ sinh để làm gì” được lấy từ báo cáo đặc biệt của hội đồng hạt bedfordshire ngày 18 tháng 7 năm 2002 về vụ hỏa hoạn xảy ra ở trại giam Nhập cư Yarl’s Wood ngày 14 tháng 2 năm 2002. — Chi tiết về hệ thống trại giam nhập cư của Vương quốc Anh do Christine bacon cung cấp. Việc Christine đạo diễn vở Những màn độc thoại của người tị nạn với sự tham gia của các nhóm Diễn viên vì người nhập cư tại Vương quốc Anh và Úc là nguồn cảm hứng cho tiểu thuyết này. bạn có thể tham khảo công trình nghiên cứu của cô, tựa đề “Sự phát triển của trại giam nhập cư ở Vương quốc Anh: Sự nhúng tay của các công ty nhà tù tư nhân” tại trang web www.rsc. ox.ac.uk/PDFs/rSCworkingpaper27.pdf — thông tin về khía cạnh y tế và xã hội của hệ thống nhập cư và trại tị nạn được tiến sĩ Mina Fazel, bob hughes và teresa hayter cung cấp. tôi cũng chân thành cám ơn bob và teresa vì sự nhiệt tình, khích lệ của họ, vì đã đọc bản thảo của tôi và đóng góp ý kiến. tính chính xác của tiểu thuyết này có được là nhờ họ; những sai sót không thể tránh khỏi là do tôi. Cám ơn Andy Paterson và Olivia Paterson vì những ghi chú tuyệt vời cho bản thảo ban đầu của tôi. Cám ơn Sharon Maguire và Anand tucker vì sự nhiệt thành và ủng hộ. tôi mang ơn Suzie Dooré, Jennifer Joel, Maya Mavjee, Marysue rucci và Peter Straus, những người đã kiên nhẫn đọc nhiều lần và biên tập thấu đáo cho các bản thảo của tôi. Sự đóng góp của họ là vô giá. tôi cám ơn các bạn. • Chris Cleave, London, 18 tháng 2 năm 2008 www.chriscleave.com Đời đánh ta má sưng vù Mỉm cười ta bảo phù vì béo thôi - Tục ngữ Nigeria Mời các bạn đón đọc Bàn Tay Cứu Mạng của tác giả Chris Cleave.
Trước Tòa Đại Hình - Georges Simenon
Nhà văn Georges Simenon sinh ngày 13.2.1903 mất ngày 4.9.1989. Năm 16 tuổi, Simenon là chàng phóng viên trẻ viết tin vắn cho tờ La Gazette de Liège. Mỗi ngày, ông đạp xe đến các bót cảnh sát, nhà băng, sở cứu hỏa, những cuộc thi thể thao để lấy tin cho báo. Năm 1922, ông tới Paris hoa lệ. Tiểu thuyết đầu tay Trên Chiếc Cầu Vòm Cung được xuất bản tại Liège (Bỉ) với bút danh Georges Sun. Nhưng sự thành công chưa vội đến với cây bút trẻ có hàng chục bút danh khác nhau này (Jean du Perry, Gom Gut, Christian Brull...). Mười năm miệt mài viết như người lao động khổ sai giúp ông thành thạo trong “tốc độ” sáng tác. Đây chính là thế mạnh của tác giả “bậc thầy trinh thám” sau này. “Suốt thời kỳ 1928-1931, ông chỉ viết những tác phẩm về Maigret, trung bình mỗi tháng một cuốn”, ông nổi tiếng như cồn khi tiểu thuyết trinh thám Con Chó Vàng (Le chien jaune, 1931) được xuất bản, với tên thật Georges Simenon. 11 tác phẩm in năm đó thì 10 cuốn là tiểu thuyết với nhân vật sáng tạo Thanh tra Maigret. Một đời văn với hơn 300 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp đã được xuất bản, người ta không khỏi thán phục năng lực sáng tác bền bỉ và trí tưởng tượng phong phú của nhà văn Georges Simenon. Bậc thầy tiểu thuyết trình thám thật sự chinh phục hàng triệu người đọc tại nhiều nước trên thế giới. Hơn 80 tiểu thuyết Thanh tra Maigret không nằm trong thể loại truyện hình sự tầm thường. Giá trị văn học của tác phẩm đã được các nhà phê bình nhìn nhận. Sau ngày ông mất, Đại học Liège ở Bỉ đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Georges Simenon và đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về ông. *** Ông đã đến đây hai trăm, ba trăm lần? Hay còn hơn thế? Ông không muốn đến, cũng không muốn nhớ lại từng trường hợp riêng rẽ, cả những lần nổi tiếng nhất, những lần đã đi vào lịch sử công lý, bởi đó chính là khía cạnh nặng nề nhất của nghề nghiệp ông. Phần lớn những cuộc điều tra của ông tuy nhiên chẳng phải đều kết thúc ở toà Đại hình như hôm nay, hoặc ở toà Phúc thẩm sao? Ông có lẽ thích không biết tới nó hơn, trong bất kỳ trường hợp nào, luôn đứng ngoài những nghi lễ cuối cùng mà ông không bao giờ quên nổi chúng hoàn toàn. Trong văn phòng của ông ở đường bờ sông Orfèvres, cuộc đấu tranh thường kết thúc vào buổi sáng, đúng ra vẫn còn là cuộc đấu tranh của con người với con người. Vài hành lang phải vượt qua, mấy chiếc cầu thang phải leo lên, rồi đến một cảnh tượng khác hẳn, một thế giới khác, trong đó câu chữ không còn cùng một nghĩa, một vũ trụ trừu tượng, thần bí, vừa tôn nghiêm vừa lố bịch. Cùng với những nhân chứng khác, ông vừa rời khỏi phòng xử có những vách gỗ tốt nơi ánh sáng điện của những bóng hình cầu trộn lẫn với màu nhờ xám của một chiều mưa. Viên mõ toà, mà Maigret cam đoan luôn thấy lão vẫn già như thế, dẫn họ tới một căn phòng nhỏ hơn, như một thầy giáo dẫn học trò, và chỉ cho họ những chiếc ghế dài gắn chặt vào tường. Phần lớn ngoan ngoãn ngồi xuống, vâng theo những lời dặn dò của ông chủ tịch, không nói một lời, không cả dám nhìn những bạn đồng hành của họ. Họ nhìn thẳng trước mặt, căng thẳng, kín đáo, giữ bí mật của họ cho khoảnh khắc tôn nghiêm, lát nữa, chỉ có mỗi mình họ giữa một không gian đầy ấn tượng, họ sẽ bị thẩm vấn. Hơi giống như trong kho đồ thánh. Lúc còn bé, mỗi sáng, đến phụ việc hành lễ ở nhà thờ làng, Maigret cũng cảm thấy bối rối như thế khi chờ đợi đi theo ông mục sư tới bàn thờ thắp sáng bằng những cây nến run rẩy. Ông nghe thấy những bước chân của những thiện nam, tín nữ không nhìn rõ mặt, tới ngồi vào chỗ, và tiếng đi đi lại của người coi giữ đồ thánh. Giờ đây cũng vậy, ông có thể đi theo cuộc hành lễ đang diễn ra phía bên kia chiếc cửa không? Ông nhận ra tiếng của ông chủ tịch Bernerie, người xét nét nhất, tỉ mỉ nhất trong các vị quan toà, nhưng cũng có thể là người thận trọng nhất, người say mê nhất trong việc khám phá chân lý. Gầy gò, ăn mặc xuềnh xoàng, đôi mắt như lên cơn sốt, tiếng ho khàn, ông có dáng vẻ như một vị thánh canh cửa. Tiếp đến là giọng nói của công tố viên Aillevard, giữ ghế Viện Công tố. Cuối cùng là tiếng bước chân lại gần của viên mõ tòa hé cửa gọi: “Ngài Cảnh sát trưởng Segré.” .. Mời các bạn đón đọc Trước Tòa Đại Hình của tác giả Georges Simenon.
Kẻ Góa Vợ - Georges Simenon
Nhà văn Georges Simenon sinh ngày 13.2.1903 mất ngày 4.9.1989. Năm 16 tuổi, Simenon là chàng phóng viên trẻ viết tin vắn cho tờ La Gazette de Liège. Mỗi ngày, ông đạp xe đến các bót cảnh sát, nhà băng, sở cứu hỏa, những cuộc thi thể thao để lấy tin cho báo. Năm 1922, ông tới Paris hoa lệ. Tiểu thuyết đầu tay Trên Chiếc Cầu Vòm Cung được xuất bản tại Liège (Bỉ) với bút danh Georges Sun. Nhưng sự thành công chưa vội đến với cây bút trẻ có hàng chục bút danh khác nhau này (Jean du Perry, Gom Gut, Christian Brull...). Mười năm miệt mài viết như người lao động khổ sai giúp ông thành thạo trong “tốc độ” sáng tác. Đây chính là thế mạnh của tác giả “bậc thầy trinh thám” sau này. “Suốt thời kỳ 1928-1931, ông chỉ viết những tác phẩm về Maigret, trung bình mỗi tháng một cuốn”, ông nổi tiếng như cồn khi tiểu thuyết trinh thám Con Chó Vàng (Le chien jaune, 1931) được xuất bản, với tên thật Georges Simenon. 11 tác phẩm in năm đó thì 10 cuốn là tiểu thuyết với nhân vật sáng tạo Thanh tra Maigret. Một đời văn với hơn 300 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp đã được xuất bản, người ta không khỏi thán phục năng lực sáng tác bền bỉ và trí tưởng tượng phong phú của nhà văn Georges Simenon. Bậc thầy tiểu thuyết trình thám thật sự chinh phục hàng triệu người đọc tại nhiều nước trên thế giới. Hơn 80 tiểu thuyết Thanh tra Maigret không nằm trong thể loại truyện hình sự tầm thường. Giá trị văn học của tác phẩm đã được các nhà phê bình nhìn nhận. Sau ngày ông mất, Đại học Liège ở Bỉ đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Georges Simenon và đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về ông. *** Jeanne là một cô gái điếm bị hành hung, bị rạch mặt một buổi tối xế trước cửa nhà gã, gần một ngôi nhà chứa. Gã đã chứng kiến cảnh đó và đã đưa nàng về nhà mình một cách vô tư, không chút ẩn ý, không lợi dụng mà hoàn toàn vì nhân tính. Khi thanh tra cảnh sát Gordes đến khám nhà vì biết Jeanne trú ở đó, và nói cho gã biết Jeanne là gái điếm có thẻ hành nghề, và đã hai lần trốn khám sức khỏe định kỳ. Gã đã hỏi thanh tra Gordes nếu Jeanne muốn thôi không hành nghề nữa có được không? Tất nhiên gã sẽ đứng ra bảo lãnh vì gã có việc làm ổn định. Thanh tra Gordes đã hướng dẫn gã tiến hành các thủ tục pháp lý nhưng không quên giễu cợt và cảnh cáo gã: “Cái trò này, nó chỉ thành công được một phần nghìn, và cần có quyền thử vận may...” Tám năm trời sống với nhau, có thể gọi là hạnh phúc, mặc dầu là một thứ hạnh phúc khép kín trong một tiểu vũ trụ. Nhưng khi Jeanne hỏi “Anh hạnh phúc chứ Bernard?” thì gã lại chỉ có thể trả lời “Anh không bất hạnh”. Đó là nguyên nhân của mọi sự chăng? Đó là lý do khiến nàng phải sụt sịt khóc thầm khóc vụng, không thành tiếng chăng? Phải chăng vì thế mà nàng mất tích? Phải chăng vì thế mà gã đã để tuột mất cái một phần nghìn nhỏ nhoi trong việc biến Jeanne thành một người vợ bình thường, trong việc tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng gã lại không chịu thua cuộc với thanh tra Gordes. Gã vẫn tin ở cái phần nghìn nhỏ nhoi đó của mình. Rốt cuộc, khi được phát hiện việc nàng tự vẫn trong bộ quần áo sang trọng trên chiếc giường hoa của một khách sạn đắt tiền, gần như đã bị hoàn toàn thất bại, gã lại bấu víu vào một cái phao nhỏ khác, đó là bức thư nàng để lại, chắc chắn là để cho gã, nhưng bức thư cũng đã biến mất. Từ thất bại này sang thất bại khác, cuối cùng gã cũng không tin là thư đó gửi cho mình mà rất có thể là cho kẻ đã thuê phòng hàng tháng cho nàng hơn một năm nay. Phải chăng vì lòng tốt, vì thiện ý mà hai người hiểu lầm nhau. Jeanne coi Jeantet như một vị phúc thần, gã quá tốt. Còn Jeantet không muốn Jeanne phải chạm đến quá khứ, cái quá khứ bất hạnh đã để lại một vết sẹo trên má nàng mà có lẽ vì vậy gã rất thích cái mái tóc rủ xuống một bên che đi vết sẹo đó. Gã không biết Jeanne đã phải miễn cưỡng, lén lút bước tiếp cái quá khứ nhơ nhuốc và bất hạnh đó mỗi thứ tư hàng tuần, thời gian duy nhất gã vắng nhà, vì nàng còn có một đứa con trai phải mướn nuôi, phải trả tiền mổ ruột thừa, tiếp đó tiền ăn, tiền trọ học cho nó. Jeantet muốn cùng Jeanne khép mình trong bốn bức tường tạo thành một thế giới riêng nhỏ bé để hạnh phúc của hai người, không ai có thể lọt vào cản trở. Thế nhưng Jeanne lại lén lút phá rào bởi Jeanne không thể, không chịu rời bỏ một người tốt như gã, bởi Jeanne thấy mình cần thiết cho gã. Gã quá tốt, nhưng theo Beaudoin, một chủ doanh nghiệp điện tử lớn của nước Pháp, đầy quyền thế, người tình đầu tiên của Jeanne, là cha đứa con trai của Jeanne, kẻ đã rạch mặt trừng phạt Jeanne vì đã bỏ hắn, lòng tốt của gã đã biến gã thành một con quỷ đồng thời vẫn tỏ ra là một người mộ đạo. Có thật lòng tốt của Jeantet đã buộc Jeanne phải phạm tội, hổ nhục, khốn khổ, vì nhu cầu sống của con người còn mạnh hơn tất cả? Nếu thế sao Jeanne lại tự vẫn? Nếu quả thật Jeantet biến thành một con quỷ sao gã lại nhận con nàng làm con nuôi, chứ không để mặc việc đó cho cha nó, Beaudoin giải quyết sau khi nàng tự vẫn? Đến đây quả thực bức thư gửi cho ai không còn cần thiết nữa, và thực tế là nó đã bị nát trong chậu giặt. Quả thật lý giải lòng tốt, thói xấu, cái thiện, cái ác chẳng để làm gì. Có thể đặt ra một giả thuyết: Cả Jeanne và Jeantet đều cởi mở hơn, nói với nhau tất cả, có khi không cần tốt đến thế họ cũng có thể đạt được hạnh phúc và tránh được cái kết cục bi thảm chăng? Giữa thanh tra cảnh sát Gordes và Jeantet Bernard ai là người thua cuộc, xin dành cho độc giả. Hà Nội, mùa Hè 2002 Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân Mời các bạn đón đọc Kẻ Góa Vợ của tác giả Georges Simenon.
Cô Gái Trong Sương Mù
Trong một ngôi làng bình yên giữa dãy Alpes xinh đẹp, một thiếu nữ biến mất bí ẩn trước đêm GIáng sinh. Anna Lou là 1 cô gái ngây thơ, trong sáng, sinh ra trong 1 gia đình mộ đạo, thuộc 1 ngôi làng mộ đạo. Ở đây, cuộc sống quá đỗi thanh bình, người ta tưởng chừng như mình được Chúa và thiên nhiên chập chùng che chở, bảo vệ trước mọi cái ác của bên ngoài. Và rồi tội ác kia ập đến, dấy lên nỗi bất an, lo sợ nơi trái tim mỗi cư dân nơi đây, rằng cái ác đã bắt đầu xuất hiện, len lỏi giữa họ, rình rập họ. “…cái ác là động cơ thực thụ của mọi câu chuyện. Một cuốn tiểu thuyết, một bộ phim, hoặc một trò chơi điện tử trong đó mọi chuyện diễn ra tốt đẹp sẽ chẳng khiến ai quan tâm… Chính cái ác mới tạo ra câu chuyện” Khác với 2 tiếu thuyết đi trước vô cùng thành công của mình, “Kẻ nhắc tuồng” và “Người ru ngủ”, trong “Cô gái trong sương mù”, không còn những án mạng liên hoàn, không còn những thiên tài tâm lý học giật dây, “nhắc tuồng” cho những kẻ tội đồ của hắn. Cuốn tiểu thuyết trinh thám này hiện đại hơn, với cách thức phá án dựa trên những mánh lới, những chiêu trò giật dây, điều khiển truyền thông và dư luận. Văn phong của Donato đối với tôi vẫn thế, vẫn lối đan xen chiêm nghiệm cuộc sống mâu thuẫn mà sâu sắc, đồng điệu, tuy không mãnh liệt, cao trào, nhưng tinh tế mà thấm nhuần, tìm cách len lỏi vào trong suy nghĩ của tôi. Lối phá án trong tác phẩm vượt ngoài lối phá án truyền thống, những màn đấu trí giữa thanh tra phá án và tên tội phạm thông minh, gian xảo, những cú twist khiến bạn không ngừng cảnh giác trước sự trêu đùa – câu đố của tác giả; tất cả làm nên sự hấp dẫn, nét đặc trưng của “Cô gái trong sương mù” Đánh giá của bản thân: 9/10 Kimie Chen *** Không thể tin được rằng người ta có thể xây dựng một cốt truyện kịch tính đến thế! Những cú “bẻ cua” điêu luyện của Donato Carrisi làm tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô gái trong sương mùCÔ GÁI TRONG SƯƠNG MÙ Anna Lou cô gái vị thành niên được đánh giá là ngoan ngoãn, dễ thương đột nhiên biến mất. Sáu mươi hai ngày sau đó, Vogel, viên thanh tra phụ trách điều tra, cũng là ngôi sao của công nghệ truyền thông được tìm thấy trong tình trạng nửa tỉnh nửa mơ, quần áo lem vết máu. Từng ngày, từng ngày, hồ sơ vụ án được hé mở, những nhân vật liên quan chậm rãi bước ra từ phía cánh gà sân khấu, những mảnh ghép rời rạc được chắp nối để tạo thành bức tranh tưởng như hoàn hảo. Ai là nạn nhân, ai là người đứng sau và giật dây tất cả. Rất khó đoán, đến tận trang cuối, cuốn sách vẫn khiến tôi ngỡ ngàng đến run rẩy. Cuộc điều tra mang đầy tính kịch song song với những nét chấm phá nhân văn về cậu học sinh tự kỉ, về sự man rợ của đám đông trong thế giới đầy rẫy những điều xảo trá, ghê rợn tạo sự hấp dẫn, thu hút cho cuốn sách. Văn phong, cách kể chuyện chậm rãi, lời văn sâu sắc khiến tôi vừa hồi hộp, kích thích với diễn biến của cuộc điều tra vừa muốn nghiền ngẫm nghĩ về từng ý tứ. Cũng xin gửi lời chúc mừng tới ban biên tập và dịch giả Hoàng Anh về những trang sách mượt mà và cẩn trọng đến từng câu chữ. Yêu thích: 8.5₫/10 – rất đáng đọc. 04.8.2019 Hồng Khánh *** Nếu ai yêu thích tác giả Donato Carrisi chắc hẳn sẽ biết đến hai tác phẩm nổi tiếng trong làng trinh thám là Người ru ngủ và Kẻ nhắc tuồng. Cô gái trong sương mù là một tác phẩm riêng lẻ (không nằm trong series trên) của tác giả. Mang tâm lí hồi hộp, gây cấn khi đọc 2 quyển trên thì khởi đầu của Cô gái trong sương mù hơi chậm so với 2 quyển trên. Mạch truyện xuyên suốt đều tương đối chậm, không nhiều đoạn gây cấn lắm. Về nội dung thì xoay quanh vụ mất tích bí ẩn của Anna Lou, một thiếu nữ ngoan hiền biến mất trong đêm Noel. Và Thanh tra Vogel, cảnh sát hạng sao, chịu trách nhiệm điều tra.  Cách trình bày tác phẩm theo kiểu đếm ngày kể từ ngày vụ mất tích xảy ra, một điểm khá hay của tác phẩm. Tạo một chút li kì ở đầu truyện vào ngày thứ sáu mươi hai rồi sau đó là đếm dần từ ngày mất tích. Về đoạn kết thì nói thật Ann có hơi mong đợi vì có nhiều review tích cực nhưng khi đọc xong thì có chút thất vọng nhẹ. Vì cái kết không quá bất ngờ với người đọc trinh thám lâu năm như Ann ( hơi chảnh choẹ chút ????). Nhưng thật sự Ann đã có thể đoán được cái twist plot này nên không gây ấn tượng lắm. Không đánh giá cao tác phẩm này so với Series trên. Điểm : 7/10 Ann Kim *** Cái đêm mà mọi thứ thay đổi hoàn toàn khởi đầu với một cú điện thoại. Chuông điện thoại vang lên vào lúc 10 giờ 20 phút tối thứ Hai. Nhiệt độ ngoài trời là -80C, mọi thứ chìm trong một màn sương giá buốt. Flores đang yên ấm nằm cạnh vợ thưởng thức một bộ phim gangster trắng đen trên ti vi. Sophia đã ngủ thiếp đi được một lúc, tiếng chuông điện thoại không thể quấy rầy giấc ngủ của bà. Thậm chí bà còn không hay biết khi chồng mình rời khỏi giường và mặc quần áo. Flores xỏ chân vào chiếc quần bông, mặc áo thun có cổ, rồi khoác chiếc áo jacket đông dày sụ để chống lại màn sương giá dường đang xóa mờ mọi thứ kia. Ông phải nhanh chóng đi tới bệnh viện của Avechot, nơi ông đã làm việc với tư cách bác sĩ tâm thần suốt hơn bốn mươi trong sáu mươi hai năm tuổi đời. Trong quãng thời gian đó, chỉ có vài lần Flores bị lôi ra khỏi giường vì chuyện khẩn cấp, chủ yếu là việc của cảnh sát nhờ. Tại ngôi làng nhỏ trên núi nơi ông cư ngụ từ khi chào đời này, gần như chẳng có gì xảy ra sau khi mặt trời lặn,cứ như thể tại vĩ độ này, ngay đến bọn tội phạm cũng lựa chọn một cuộc sống đúng mực và thường xuyên ngồi nhà vào buổi tối. Chính vì thế, Flores tự hỏi chuyện gì đã khiến cho người ta cần đến sự có mặt của ông vào một giờ giấc bất thường như vậy. Thông tin duy nhất mà cảnh sát cho ông biết qua điện thoại là một người đàn ông đã bị bắt sau một tai nạn đường bộ. Không hơn.” … - Sao các anh lại bắt giữ tôi? Cảnh sát muốn gì ở tôi? Tại sao tôi không được về? Flores cố gắng huy động tất cả sự kiên nhẫn còn lại và đáp: - Thanh tra Vogel, tối nay đã anh đã bị tai nạn. - Tôi biết. - Vogel giận dữ đáp lại. - Và anh chỉ có một mình trên xe, đúng không? - Tôi đã nói với anh rồi. Flores mở một ngăn kéo bàn, lấy ra chiếc gương nhỏ và đặt nó trước mặt Vogel. Ông ta tỏ ra không mấy chú ý. - Và anh không hề hấn gì. - Tôi ổn mà, anh còn hỏi tôi câu đó bao nhiêu lần nữa đây? Flores chồm người tới trước. - Vậy hãy giải thích với tôi một chuyện này. Nếu anh không hề hấn gì, thì chỗ máu trên quần áo anh là của ai?             …         Trong đôi mắt ông ta lúc này có một ánh sáng khác, và tình trạng lú lẫn của ông ta bắt đầu tan biến như thể nó là một màn sương. Nhưng màn sương thực sự vẫn tồn tại bên ngoài cửa sổ, bao trùm lên vạn vật. Cái đêm mà mọi thứ thay đổi hoàn toàn chỉ mới bắt đầu. Vogel nhìn thẳng vào trong mắt Flores, đột nhiên minh mẫn hẳn. - Anh nói đúng. - Ông ta lên tiếng. - Tôi nghĩ tôi nợ anh một lời giải thích. Và câu chuyện từ từ được thanh tra Vogel kể lại theo dòng hồi ức của ông. Anna Lou, một thiếu nữ 16 tuổi bỗng nhiên mất tích khỏi ngôi làng bình yên Avechot vào dịp lễ Noel. “Tình cảnh ở đây là con gái đầu lòng của họ, đứa con gái duy nhất, đã biến mất hai ngày trước đó. Cô bé rời nhà vào buổi chiều, tầm 17 giờ, để đi tới nhà thờ nằm cách đó vài trăm mét. Và không bao giờ đến nơi. Anna Lou đã đi một lộ trình ngắn ngủi trong một khu dân cư với những ngôi nhà nhỏ có sân vườn giống hệt nhau. Mọi người ở đây đều quen biết nhau từ lâu. Nhưng không ai nhìn thấy hay nghe thấy bất cứ điều gì. Báo động được phát lúc 19 giờ, khi mẹ của cô bé không thấy con về và gọi vào điện thoại di động của con, lúc ấy đã bị tắt. Mọi chuyện đều có thể xảy ra trong khoảng hai tiếng đồng hồ đằng đẵng đó. Cuộc tìm kiếm diễn ra trong suốt buổi tối, trước khi lý trí khuyên bảo họ về nghỉ để tiếp tục vào sáng hôm sau. Hơn nữa, cảnh sát địa phương không có đủ nguồn lực để rà soát toàn bộ khu vực. Trong lúc này, họ chưa có bất kỳ giả thiết nào về sự mất tích của cô bé.” Không ai nhìn thấy thủ phạm, và cảnh sát phải vào cuộc: thanh tra Vogel chịu trách nhiệm điều tra vụ này. Là một kẻ háo danh, nhưng Vogel ngay lập tức nhận ra đây không hẳn là một “vụ dễ xơi”. Và để không làm ảnh hưởng đến “thương hiệu cảnh sát hạng sao” của mình, ông ta quyết định đổ tội cho người thầy giáo mới chuyển đến sinh sống từ sáu tháng trước bằng cách vin vào sự cả tin của dân làng và dựng lên những chứng cớ giả mạo. Trong lúc truyền thông và tất cả công chúng, không chỉ những người bình thường, mà cả các sếp ngành cảnh sát, thậm chí ngài bộ trưởng đang sôi sục đòi kết liễu tay thầy giáo để đòi lại công bằng cho gia đình nạn nhân, “Người sương mù” bỗng xuất hiện. Theo nguồn tin, đó mới chính là thủ phạm thực sự mà cảnh sát đang tìm kiếm, kẻ ba mươi năm trước đã sát hại sáu thiếu nữ có đặc điểm tương đồng với cô bé mất tích Anna Lou. Rất nhanh chóng, ông thầy vô tội ngay lập tức được chuyển đổi từ một con quái vật trở thành “nạn nhân của hệ thống”. Thanh tra Vogel sẽ phải sử dụng mánh lới gì để cứu vãn danh dự cho mình khi giờ đây, ông trở thành mũi dùi tập trung của cánh nhà báo? Tác giả Donato Carrisi sinh năm 1973 ở Ý, tốt nghiệp ngành luật và tội phạm học trước khi trở thành nhà viết kịch bản phim truyền hình. Cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tay Kẻ nhắc tuồng của ông đã gây được tiếng vang lớn với năm giải thưởng Văn học quốc tế, được dịch ra hơn 30 thứ tiếng, và đưa tác giả lên vị trí “nhà văn Italia được đọc nhiều nhất trên thế giới”. Dịch giả Hoàng Anh, tên thật là Vũ Hoàng Anh, là dịch giả hai thứ tiếng Anh, Pháp. Bén duyên với công việc dịch thuật từ năm 2009, cho đến nay anh đã ra mắt bạn đọc gần 40 dịch phẩm và nhận được sự đánh giá cao không chỉ bởi nội dung hấp dẫn của tác phẩm, mà còn bởi khả năng chuyển ngữ trung thực và vô cùng khéo léo của dịch giả.  Trích đoạn 1 Bảy ngày sau vụ mất tích Quán ăn ven quốc lộ đông nghịt. Trên lớp kính cửa sổ trông ra cây xăng, người ta vẫn có thể thấy hàng chữ Nghỉ lễ vui vẻ. Ông chủ quán đi lại như con thoi giữa nhà bếp và các bàn khách để bảo đảm mọi người đều được phục vụ và hài lòng. Ông đã phải tuyển thêm người để đáp ứng sự gia tăng đột biến của số lượng khách hàng. Nhà báo, nhân viên kỹ thuật, thợ săn ảnh lẫn người bình thường đổ dồn về Avechot để xem tận mắt địa điểm xảy ra câu chuyện đang chiếm lĩnh trang nhất của mọi mặt báo. Vogel gọi họ là những "du khách ghê rợn". Nhiều người trong số họ đã đưa cả gia đình đi một chặng đường dài. Trong quán có nhiều trẻ con và một bầu không khí nô nức đặc trưng của các chuyến dã ngoại. Vào cuối ngày, họ sẽ mang về nhà vài tấm ảnh kỷ niệm và ấn tượng rằng mình đã góp mặt, dù chỉ bên lề, trong một sự kiện truyền thông được hàng triệu người quan tâm. Họ không hề biết rằng cách đó vài trăm mét đội chó nghiệp vụ và các thợ lặn đang làm việc để tìm kiếm một dấu vết hoặc thậm chí chỉ một manh mối, về số phận của cô bé mười sáu tuổi. Vogel đã dự kiến chuyện này và đã đúng: sự ồn ào trên truyền thông đã thuyết phục các cấp trên của ông phớt lờ các giới hạn ngân sách và cho bọn ông những nguồn lực cần thiết. Họ sẽ làm tất cả để không mất mặt trước công luận. Vogel đang ngồi ở chiếc bàn đã từng ngồi trong ngày Giáng sinh, lúc ông là người khách duy nhất ở đây. Như thường lệ, ông vừa ăn vừa ghi chép vào cuốn sổ bìa đen bằng cây bút bạc. Ông viết rất cẩn thận. Sáng hôm nay, ông mặc một bộ com-lê vải tweet màu xám xanh với cà vạt sẫm màu. Sự lịch lãm của ông hoàn toàn lạc lõng so với những người còn lại trong quán. Nhưng ông phải như thế. Điều đó giúp cho ông đánh dấu sự khác biệt giữa mình và lũ người ồn ào lỗ mãng xung quanh. Càng nhìn họ, ông càng nhận ra một khía cạnh quan trọng. Bọn họ đã kịp quên Anna Lou. Nữ nhân vật chính câm lặng của câu chuyện không còn ở vị trí trung tâm nữa. Sự thinh lặng của Anna Lou chỉ là một cái cớ để người khác bàn tán, cho phép họ nói đủ thứ chuyện về cuộc đời cô bé. Truyền thông, và con người nói chung - trên đường phố, trong siêu thị, hoặc tại những quán bar. Không chút ngượng mồm. Vogel cũng đã dự kiến điều này. Khi chuyện này xảy ra, nó sẽ khởi động một cỗ máy, và những sự kiện có thật bỗng trở thành một kiểu phim truyền hình nhiều tập.   and s Trích đoạn 2   - Tôi sẽ thành thật với em… Ít nhất là về điều này. Giọng đàn ông này đến từ đâu? Mình có biết nó không? Hình như nó vọng đến từ xa. Vậy còn ánh đèn này là gì? Nó giống như cái đèn cắm trại bằng hơi đốt của bố - bố có một cái như thế trong gara. - Tôi biết em đang tự hỏi mình đang ở đâu, và chuyện gì đang diễn ra. Hãy bắt đầu bằng câu trả lời đầu tiên: chúng ta đang ở trong một khách sạn bỏ hoang. Câu thứ hai thì hơi phức tạp hơn một chút… Mình không mặc đồ. Sao vậy? Lúc nãy mình đang ngồi, thế mà bây giờ lại nằm. Nơi này không thoải mái chút nào. Trên là đâu, dưới là đâu? Mình cũng chẳng biết nữa. Mình có cảm giác như đang nhìn vào quả cầu thủy tinh. Cái bóng đang vờn quanh mình là gì vậy? ... Hắn mặc cho mình chiếc quần tập thể dục. Mình cảm thấy nó lướt trên đùi. Nhột ghê. Không biết như vậy có phải là dễ chịu hay khôngnữa. ... Đó là âm thanh phát lên từ chiếc áo khoác lông vũ khi mình kéo khóa. Nhưng không phải mình làm chuyện đó. Là cái bóng đã nói chuyện với mình. Giờ thì hắn đi giày cho mình. Hắn buộc dây giày cho mình. … Ở đây có mùi ẩm mốc. Mình đã mặc đồ, nhưng vẫn còn lạnh và không tài nào cử động được. Mình bị say, giống như hồi năm sáu tuổi, khi mình lén uống rượu lí chua của bà. Giờ này hai đứa em mình chắc đã trang trí xong cây thông. Nó rất đẹp, mìnhchắc chắn như thế. ... - Giờ là câu trả lời khó khăn nhất. Em có tình cờ thắc mắc vì sao tôi lại làm tất cả chuyện này không? Không, không… tôi không muốn biết đâu. - Bởi vì tôi yêu gia đình tôi. Tôi muốn họ có tất cả những gì họ xứng đáng có được. ... Tôi cũng có gia đình của mình. Và tôi cũng yêu họ. Tại sao ông không hiểu điều đó? - Thế đấy, chỉ có vậy thôi. Tôi rất tiếc vì đã lôi em vào chuyện này, nhưng cũng giống như trong tiểu thuyết, kẻ ác mới tạo ra câu chuyện, độc giả không quan tâm tới những câu chuyện mà trong đó tất cả các nhân vật đều tử tế. Nhưng vai trò của em không phải là thứ yếu. Ai mà biết được, có khi một ngày nào đó, người ta sẽ tìm ra người sương mù thật, và công lí sẽ được trao trả cho sáu cô gái mà mọi người đã quên mất. Đó là nhờ em đấy, Anna Lou… Tại sao ông lại kể cho tôi nghe câu chuyện này? Tôi không quan tâm, cũng chẳng thích nghe nó. Tôi muốn mẹ, tôi muốn bố, tôi muốn hai đứa em. Tôi muốn gặp lại họ một lần nữa, xin ông đấy. Chỉ một lần thôi. Tôi phải từ biệt họ. Họ sẽ nhớ tôi lắm.   Mời các bạn đón đọc Cô Gái Trong Sương Mù của tác giả Donato Carrisi.