Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lãnh Đạo Hướng Nội - Phát Huy Thế Mạnh Tiềm Ẩn Nhờ Quy Trình 4P

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Lãnh Đạo Hướng Nội - Phát Huy Thế Mạnh Tiềm Ẩn Nhờ Quy Trình 4P của tác giả Jennifer B. Kahnweiler. Những lời khen dành cho cuốn sách “Kahnweiler tin rằng chúng ta phải nhận ra “những viên kim cương” trầm tính, hướng nội và lặng lẽ xung quanh mình. Nếu bạn có lúc hoặc luôn cho mình là người hướng nội, đây là cuốn sách phải đọc.” LILIANA DE KEROGUEN, Chủ tịch, Merial Canada Inc. “Những người hướng nội thường là những người quan trọng bị xem thường. Phẩm chất và những đóng góp của họ có thể không được nhận ra và ghi nhận. Nếu bạn là một nhà quản lý hướng nội sợ sệt với việc nói trước đông người và ngại ngần gặp gỡ mọi người, cuốn sách này đưa ra hướng dẫn thiết thực để giúp bạn đón nhận và kiểm soát những tình huống khó chịu. Nó sẽ giúp bạn làm việc hiệu quả hơn.” PING FU, Chủ tịch và Tổng giám đốc, Geomagic và là Doanh nhân của năm do tạp chí Inc. bình chọn năm 2005 “Jennifer B. Kahnweiler thể hiện rằng bà hiểu những thách thức và cơ hội mà những nhà lãnh đạo hướng nội đối mặt mỗi ngày trong môi trường làm việc toàn cầu. Nếu bạn là nhà lãnh đạo hướng nội hoặc là người quản lý những nhân viên hướng nội - hoặc cả hai! - hãy đọc cuốn sách này. Kahnweiler đưa ra quy trình bốn bước đúc rút từ kinh nghiệm của bà trong lĩnh vực này. Đúng vậy, các nhà lãnh đạo hướng nội có thể thành công!” FABRICE EGROS, Chủ tịch, UCB Pharma Inc. “Suy nghĩ về việc dọn dẹp một căn phòng có khiến bạn muốn bỏ chạy khỏi căn phòng đó không? Điều đáng mừng là bạn không cần phải là người hướng ngoại để trở thành nhà lãnh đạo thành công. Cuốn sách này đưa ra những kỹ năng về con người mà bạn có thể vận dụng để lãnh đạo một cách tự tin và say mê, nhờ vậy, bạn có thể giành được sự kính trọng, lòng trung thành và những thành công bạn muốn, cần và xứng đáng. Hãy đọc cuốn sách này và gặt hái thành công.” SAM HORN, tác giả của cuốn POP! và Tongue Fu! “Đây là cuốn sách quan trọng dành cho cả người hướng nội và hướng ngoại. Những người hướng ngoại sẽ có được hiểu biết sâu sắc hơn về tâm hồn của những người hướng nội. Những người hướng nội sẽ học cách trân trọng hướng vào nội tâm và giá trị đích thực mà họ mang lại cho tổ chức của mình. Những bí quyết và công cụ mà Kahnweiler giới thiệu trong cuốn sách này sẽ giúp những người hướng nội điều khiển một thế giới kinh doanh hướng ngoại. Hãy yên lặng. Bạn có nghe thấy không? Đó là âm thanh của sự tự tin đang trỗi dậy trong bạn!” BILL TREASURER, nhà sáng lập Giant Leap Consulting và tác giả của cuốn Courage Goes to Work *** Bạn nói khi bạn không còn bình yên với những suy nghĩ của mình; khi bạn không thể an trú trong sự tĩnh lặng của trái tim, bạn sống bằng lời nói; âm thanh là trò tiêu khiển và dĩ vãng. KAHLIL GIBRAN Có người nói rằng công việc là vinh quang nếu nó không dành cho mọi người. Ai chưa từng thấy như thế lúc này hay lúc khác? Thế nhưng, thành công trong công việc không chỉ dựa vào những gì bạn biết. Quan hệ với mọi người cũng vậy. Nếu bạn là người hướng ngoại, bạn được thôi thúc bởi những giao tiếp xã hội tạo nên những mối quan hệ này. Thế nhưng, trong văn hoá kinh doanh năng động loại A của chúng ta, nếu bạn là người hướng nội, người có tính cách thầm lặng, bạn có thể cảm thấy bị lạc lõng, phớt lờ hoặc ngộ nhận. Tính cách trầm tĩnh của bạn có thể bị hiểu nhầm là sự miễn cưỡng, kiêu căng hay thậm chí là ngốc nghếch. Và có lẽ bạn thấy rằng những kỹ năng con người thiếu nhất quán đã đẩy sự nghiệp của bạn vào chỗ bế tắc. Bạn không giành được những lợi ích về sự nghiệp mà những mối quan hệ công tác có thể mang lại. Tổ chức của bạn không phát huy được tài năng và chuyên môn của nhân viên. Thế nhưng tin tốt là: sự hướng nội có thể được kiểm soát. Bạn có thể phát huy tính cách trầm tĩnh, sâu lắng mà vẫn có thể thích ứng với văn hoá coi trọng sự “ồn ào” và năng động. Cuốn sách này sẽ chỉ cho bạn cách hàng triệu người đã thành công trong việc làm như thế. Đối tượng đọc cuốn sách này Bạn có phải là một nhà quản lý cấp trung hoặc một nhà quản lý đầy triển vọng, người gây ảnh hưởng đến những người khác để giành được thành công không? Có thể bạn lãnh đạo các dự án. Có thể bạn mong muốn gánh vác thêm trách nhiệm và thách thức trong vai trò của mình. Nếu là chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật, khoa học hoặc tài chính, rất có khả năng bạn có tính cách trầm tĩnh. Cũng có thể bạn chưa từng tham gia khoá huấn luyện tập trung về kỹ năng con người như những đồng nghiệp trong bộ phận kinh doanh hoặc quản lý. Bạn có thể là phụ nữ trong lĩnh vực nam giới chiếm số đông hoặc là người phải đối mặt với những thách thức đặc biệt trong việc đưa ra ý kiến tại nơi làm việc. Bạn có thể đánh giá bản thân là người hướng nội trong một số trường hợp. Có các mức độ hướng nội khác nhau và có khi ngay cả “những người mồm miệng” trong chúng ta cũng không biết cách giải quyết các tình huống khó khăn. Là nhà quản lý nhân lực hoặc dự án, bạn rất có thể có những người hướng nội trong nhóm của mình. Cuốn sách này sẽ giúp bạn học cách hiểu họ, huấn luyện họ và phát huy tối đa sự đóng góp của họ. Thông tin về tôi Tôi xin thú nhận tôi là người hướng ngoại sôi nổi. Tôi nói ra những điều mình nghĩ và tôi là người mà nhiều bạn đọc cuốn sách này có thể cho là có lúc “khùng khùng”. Vì vậy, bạn có thể hỏi tôi biết gì về thế giới của những người hướng nội? Cho phép tôi chia sẻ một vài thông tin về bản thân. Tôi là nhà tư vấn doanh nghiệp, diễn giả và nhà đào tạo đã hơn 25 năm. Tôi đã đào tạo và tư vấn cho hàng ngàn nhà lãnh đạo trong nhiều tổ chức và tôi thấy rằng những khách hàng hướng nội đặc biệt đón nhận những công cụ tôi chia sẻ trong cuốn sách này. Nhiều người đã đưa ra những ví dụ cụ thể về cách họ sử dụng những phương pháp để đạt được những thành công cho bản thân và tổ chức của họ. Tôi hạnh phúc vì những kết quả này. Là cây bút chuyên đề cho AARP The Magazine và Hiệp hội Nguồn nhân lực và blog Atlanta Journal Constitution, tôi đã tiến hành nhiều nghiên cứu về sự lãnh đạo thành công, bao gồm các nhà lãnh đạo hướng nội. Bên cạnh đó, những ý kiến đóng góp và câu hỏi tôi nhận được từ các độc giả giúp tôi hiểu sâu hơn về những thách thức và thành công của các nhà lãnh đạo trầm tính. Cuối cùng, trải qua cuộc hôn nhân 35 năm với một nhà lãnh đạo hướng nội, tôi đã nảy sinh sự đồng cảm và ngưỡng mộ. Tôi đã học cách trân trọng tính cách trầm tĩnh của Bill, chồng tôi và nhân sinh quan của anh. Việc nhìn qua lăng kính đó đã dạy cho tôi rất nhiều điều về giá trị của đời sống nội tâm tĩnh lặng. Cách tiếp cận Tom được một đồng nghiệp giới thiệu với tôi. Anh là giám đốc tiếp thị ở độ tuổi 20. Anh quan tâm đến nghiên cứu của tôi. Anh đưa ra một đề xuất mà tôi luôn ghi nhớ: “Đừng nghe những kẻ to mồm khuyên bạn giống như anh ta bởi vì họ không biết bạn là người như thế nào. Diễn thuyết truyền cảm hứng là lĩnh vực trị giá hàng tỷ đô la của những người tự tin và hướng ngoại để đóng khung những người hướng nội vào suy nghĩ rằng họ sai trái khi là chính mình. Hãy lắng nghe những người hướng nội đã từng giải quyết chính vấn đề của mình.” Tôi quyết định làm theo lời khuyên của anh. Vì vậy, tôi trực tiếp phỏng vấn và thu thập dữ liệu từ hơn 100 chuyên gia hướng nội trong nhiều ngành khác nhau. Một số cuộc phỏng vấn được tiến hành với những câu hỏi định sẵn. Một số là các cuộc trao đổi không chính thức tại các công ty khách hàng hoặc các cuộc trò chuyện với những người ngồi cùng hàng ghế trên máy bay. Với con mắt của nhà báo, tôi quan sát các cuộc họp nhóm, các cuộc thảo luận và các buổi huấn luyện nhằm tìm kiếm những ví dụ cụ thể về cách thức các nhà lãnh đạo trầm tính điều khiển. Tôi ghi chép lại những quan sát của mình và đưa vào cuốn sách này. Tôi thấy rằng đặt ra các câu hỏi cụ thể trên các trang mạng xã hội cũng mang lại những câu trả lời hữu ích. Nhiều người thích trao đổi với tôi bằng chữ viết. Những lời khuyên của họ phong phú và đa dạng. Cuốn Nhà lãnh đạo hướng nội cũng khai thác những quan điểm độc đáo của những nhà tư tưởng trong lĩnh vực học thuật và kinh tế. Giới thiệu về cuốn sách Cuốn sách này sắp xếp thông tin từ tất cả các nguồn trên theo một bố cục hợp lý. Chương 1, Bốn thách thức chính, trình bày những thách thức bạn đối mặt khi tự gò mình vào những hành vi hướng nội không hiệu quả. Bạn sẽ tìm hiểu (1) sự căng thẳng, (2) khác biệt trong nhận thức, (3) yếu tố làm chệch hướng sự nghiệp và (4) hình ảnh mờ nhạt là rủi ro nghiêm trọng trong con đường lãnh đạo. Chương 2, Khám phá thành công: Quy trình 4P(1) mô tả phương pháp thiết thực và hữu ích để vượt ra khỏi tình trạng hiện tại và quản lý hiệu quả tính cách hướng nội của bạn. Quy trình 4P là bản chỉ dẫn giúp bạn hoạch định chiến lược của mình trong các tình huống lãnh đạo khác nhau. Bạn có thể sử dụng 4P để liên tục hoàn thiện bản thân bằng cách phân tích xem điều gì có hiệu quả và chưa có hiệu quả trong những việc bạn đã làm. Bạn sẽ thấy rằng (1) chuẩn bị có nghĩa là bạn có kế hoạch và thực hiện những biện pháp cần thiết cho các cuộc gặp gỡ mọi người; (2) hiện diện nghĩa là bạn có khả năng có mặt trọn vẹn trong giây phút hiện tại và tại “nơi bạn đặt chân”; (3) thúc đẩy nghĩa là bạn dám chấp nhận những rủi ro và vượt ra khỏi vòng an toàn; và (4) thực hành có nghĩa là bạn không ngừng thực hiện những hành vi này trong kế hoạch thường trực của bạn. Chương 3, Điểm mạnh và điểm yếu trình bày một bài trắc nghiệm gọi là Trắc nghiệm kỹ năng lãnh đạo hướng nội. Trắc nghiệm này sẽ giúp bạn nhận ra các hành vi mà bạn đã nắm vững trong quá trình trở thành nhà lãnh đạo hướng nội. Nó cũng sẽ giúp bạn tập trung vào các lĩnh vực bạn cần củng cố để hoàn thiện bản thân. Bên cạnh đó, trắc nghiệm đóng vai trò là cơ sở để đánh giá tiến bộ của bạn và là bước đệm ở những cuộc huấn luyện cho các nhà quản lý. Từ Chương 4 đến Chương 9, bạn sẽ học cách vận dụng các bước trong Quy trình 4P để giải quyết nhiều tình huống tiêu biểu. Một hệ thống các công cụ, các ví dụ cụ thể và các bí quyết hữu dụng sẽ giúp bạn làm được điều này. Chương 4, Nói trước công chúng, sẽ giúp bạn nắm vững các kỹ năng thuyết trình cho các nhóm và các cá nhân. Chương 5, Quản lý và lãnh đạo, chia sẻ nhiều bí quyết của các nhà lãnh đạo hướng nội thành công, những người đã học cách giành được sự kính trọng của nhân viên. Chương 6, Quản lý các dự án, tập trung vào khía cạnh con người trong hoạt động quản lý dự án. Bạn sẽ học cách các nhà lãnh đạo hướng nội tạo động lực cho nhóm giành được các kết quả tốt. Chương 7, Vượt lên trên, sẽ cung cấp cho bạn các phương pháp và công cụ để củng cố quan hệ của bạn với cấp trên. Chương 8, Hội họp, sẽ đưa sự tham gia của bạn vào các cuộc họp lên một tầm cao mới khi bạn học cách nêu ý kiến khiến mọi người lắng nghe. Chương 9, Xây dựng quan hệ, đề cập đến việc tạo dựng quan hệ cả ở trong và ở ngoài tổ chức của bạn. Cũng như trong các chương trước, bạn sẽ học cách phát huy tính cách hướng nội của mình để trở nên tập trung và sáng tạo trong nỗ lực lãnh đạo quan trọng này. Chương 10, Thành công từ việc sử dụng Quy trình 4P, đề cập đến những lợi ích mà cả bạn và tổ chức của bạn sẽ đạt được khi bạn phát huy các thế mạnh của bản thân và bước ra khỏi vùng tối. Chương 11, Bước kế tiếp là gì? Tiến tới thành công, tập trung vào những bước đi tiếp theo của bạn. Học cách điều chỉnh hành vi không phải là việc có thể làm xong trong một chốc một lát mà là một quá trình giống như rượu ngon ngấu và đậm đà hơn cùng với thời gian. Bạn sẽ xây dựng kế hoạch phát triển để tập trung vào những việc làm hữu ích cho hiện tại và tương lai khi lựa chọn mở rộng các vai trò lãnh đạo. Bên cạnh việc tham khảo cuốn sách này, tôi khuyến khích bạn truy cập vào trang web www. theintrovertedleaderblog.com. Từ trang web này, bạn có thể tải về các tài liệu và kết nối với các thành viên của cộng đồng các nhà lãnh đạo hướng nội qua các cuộc đối thoại thường xuyên và bổ ích. *** Review Cuốn sách "Lãnh đạo hướng nội - Phát huy thế mạnh tiềm ẩn nhờ quy trình 4P" của tác giả Jennifer B. Kahnweiler là một cuốn sách rất hữu ích cho những người hướng nội đang mong muốn phát triển bản thân và thành công trong sự nghiệp. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những kiến thức và kỹ năng cần thiết để vượt qua những thách thức và phát huy tối đa thế mạnh của người hướng nội trong môi trường làm việc. Những điểm nổi bật của cuốn sách: Cuốn sách được viết bởi một tác giả có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn và đào tạo doanh nghiệp. Tác giả đã nghiên cứu và phỏng vấn hơn 100 chuyên gia hướng nội trong nhiều ngành khác nhau để tìm ra những cách thức hiệu quả để các nhà lãnh đạo hướng nội phát triển bản thân và thành công. Cuốn sách được trình bày một cách khoa học và dễ hiểu, với nhiều ví dụ minh họa sinh động. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những công cụ và kỹ năng cụ thể để áp dụng trong thực tế. Những nội dung chính của cuốn sách: Chương 1: Bốn thách thức chính Chương 2: Khám phá thành công: Quy trình 4P Chương 3: Điểm mạnh và điểm yếu Chương 4: Nói trước công chúng Chương 5: Xây dựng mối quan hệ Chương 6: Tạo ra sự ảnh hưởng Chương 7: Lãnh đạo trong môi trường thay đổi Chương 8: Quản lý thời gian Chương 9: Cân bằng công việc và cuộc sống Đánh giá chung: Cuốn sách "Lãnh đạo hướng nội - Phát huy thế mạnh tiềm ẩn nhờ quy trình 4P" là một cuốn sách rất đáng đọc đối với những người hướng nội đang mong muốn phát triển bản thân và thành công trong sự nghiệp. Cuốn sách cung cấp cho người đọc những kiến thức và kỹ năng cần thiết để vượt qua những thách thức và phát huy tối đa thế mạnh của người hướng nội trong môi trường làm việc. Dưới đây là một số nhận xét của độc giả về cuốn sách: "Cuốn sách này đã giúp tôi hiểu rõ hơn về bản thân và những thách thức mà tôi phải đối mặt với tư cách là một nhà lãnh đạo hướng nội. Tôi đã áp dụng những lời khuyên trong cuốn sách và nhận thấy những cải thiện đáng kể trong hiệu quả công việc của mình." - John Smith, Giám đốc điều hành "Cuốn sách này rất hữu ích và thực tế. Nó đã cung cấp cho tôi những công cụ và kỹ năng cần thiết để thành công trong vai trò lãnh đạo." - Mary Jones, Quản lý dự án "Cuốn sách này đã thay đổi cách tôi nghĩ về bản thân và vai trò của mình trong tổ chức. Tôi đã học được cách sử dụng thế mạnh của mình để trở thành một nhà lãnh đạo hiệu quả hơn." - David Brown, Chuyên gia tư vấn Nếu bạn là một người hướng nội đang mong muốn phát triển bản thân và thành công trong sự nghiệp, thì cuốn sách "Lãnh đạo hướng nội - Phát huy thế mạnh tiềm ẩn nhờ quy trình 4P" là một cuốn sách mà bạn không nên bỏ qua. Mời các bạn mượn đọc sách Lãnh Đạo Hướng Nội - Phát Huy Thế Mạnh Tiềm Ẩn Nhờ Quy Trình 4P của tác giả Jennifer B. Kahnweiler.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hiệu Ứng Chim Mồi Tập 3
Thông thường, khi mua hàng ở một số trang thương mại điện tử, ta thường rất khó phát hiện ô điền mã khuyến mãi trong quá trình mua hàng. Thậm chí, ở trang chuyên bán các sản phẩm tên miền, máy chủ Godaddy, nơi điền mã khuyến mãi được “ngụy trang” chỉ bằng dòng chữ “Have a promo code?” Tại sao Godaddy phải làm như vậy, khi mà họ luôn có các chương trình khuyến mãi hàng tuần? Thuyết so sánh xã hội (Social comparison theory) của Festinger (1954) và nghiên cứu về công bằng giá của nhóm tác giả Xia, Monroe và Cox (2004) là nguyên nhân của hiện tượng này. Theo các nhà tâm lý học trên, con người luôn có xu hướng so sánh bản thân mình với người khác, trong trường hợp này là so sánh giá mình phải trả với các khách hàng khác. Theo nhóm nghiên cứu của Xia, ngoài việc xem xét mối thân tình giữa mình và công ty, cũng như tính toán mức chi phí thực của sản phẩm, thì người tiêu dùng còn tự suy đoán xem liệu mức giá mình phải trả so với những người khác có công bằng hay không. Nếu họ cho rằng mình phải trả mức giá bất công, họ có thể ngừng mua hoặc thậm chí nói xấu công ty với bạn bè! Như đã trình bày ở trên, khách hàng luôn so sánh mức giá bản thân mình phải trả với người khác. Một trong những cơ sở để họ lấy thông tin chính là ô điền mã giảm giá. Khi thấy ô điền mã giảm giá, khách hàng sẽ nhận ra rằng hiện đang có chính sách giảm giá và hoặc là mình không biết, hoặc là mình không nằm trong nhóm được giảm giá. Điều này khiến họ (1) ngưng mua và quay lại tìm thông tin giảm giá, và/hoặc (2) ngưng mua và tìm thông tin về đối tượng được giảm giá. Nếu phát hiện ra rằng mình không được giảm (hoặc tệ hơn là vừa mới có chương trình giảm giá xong), họ hẳn sẽ chẳng vui! Mà dù chuyện gì có xảy ra, thì ta cũng đã khiến họ đi lệch khỏi điều mà họ vốn đã định làm: đặt hàng! Như vậy, cho khách hàng dễ thấy ô điền mã khuyến mãi đồng nghĩa với việc kích thích thói quen so sánh của khách hàng trong lúc mà lẽ ra họ đã đặt hàng xong rồi! *** LỜI NÓI ĐẦU LỜI NÓI ĐẦU   Người ta hay coi lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn là hai thứ hoàn toàn đối nghịch nhau. Người đi theo hướng lý thuyết thường coi kiến thức kinh nghiệm là một thứ thiếu bền vững và không phổ quát, còn kẻ đi theo hướng thực hành thường gọi sách vở là lý thuyết suông, không dùng được. Thế nhưng, kể từ năm 2014, sau khi bắt đầu vừa tham gia nghiên cứu lý thuyết bậc sau đại học và viết các công trình khoa học, vừa tham gia bán hàng thực tiễn và ngã sấp mặt không biết bao nhiêu lần, chúng tôi phát hiện ra rằng lý thuyết và thực tiễn luôn song hành, gắn bó đến độ không thể tách rời: Người nắm lý thuyết nhưng không thực hành sẽ không thể biết những kiến thức của mình liệu có thể ứng dụng được trong thực tế hay không; ngược lại, người thực hành nhưng không có lý thuyết chống lưng sẽ không thể biết rằng liệu thành công của mình có cơ sở hay không, hay chỉ là may mắn và không thể áp dụng cho lần tiếp theo. Do vậy, quyển sách được cấu trúc thành các phần nhỏ với lý thuyết và ứng dụng đan xen. Mỗi hiện tượng hay kỹ thuật bán hàng đều được giải thích bằng lý thuyết, và mỗi lý thuyết đều có các ứng dụng minh họa, nhằm giúp các bạn độc giả có thể có kiến thức vững chắc và linh hoạt. Để thể hiện sự tôn trọng với các tác giả đi trước, mọi thông tin và số liệu lấy từ các nghiên cứu của các nhà khoa học khác đều được trích dẫn cụ thể, chính xác và ghi nguồn đầy đủ ở phần Tài liệu tham khảo. Một số thủ thuật ứng dụng là không chính thống và có thể không đúng chuẩn mực về đạo đức kinh doanh (thường gọi là thủ thuật "tà đạo"). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn sẽ trình bày đê các bạn độc giả có thể né tránh khi gặp phải — dưới vai trò người mua hàng. Chúng tôi viết sách này không nhằm biến bạn thành giáo sư, mà nhằm kích thích sự hứng thú của bạn với tâm lý học, một ngành khoa học có quá nhiều ứng dụng vào kinh doanh. Do vậy, các kiến thức phức tạp, chi tiết hơn mang tính hàn lâm được đưa vào các phần phụ lục để phục vụ các bạn có nhu cầu tìm hiểu để ứng dụng sâu. Nhờ đó, các kiến thức ở phần nội dung chính sẽ vẫn giữ được sự đơn giản, dễ hiểu và hấp dẫn của riêng mình. Hi vọng những kiến thức lý thuyết tích lũy trong quá trình nghiên cứu hàn lâm cùng với các ứng dụng tự suy từ kinh nghiệm tự doanh thực chiến của nhóm tác giả sẽ giúp cho công việc của bạn hiệu quả hon. Chúc bạn có những phút giây thư giãn có ích cùng Hiệu ứng chim mồi Sài Gòn, 16 tháng 4 năm 2016 Nhóm tác giả *** VÀI GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ VÀI GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ   Quý độc giả sẽ thấy trong sách sử dụng nhiều thuật ngữ. Có phần thì gọi là suy nghiêm, có lúc là thiên kiến, hiệu ứng, hay thủ thuật. Ở đây, các tác giả sẽ diễn giải ý nghĩa từng từ và quan điểm được sử dụng trong sách này. Suy nghiệm, thiên kiến, hiệu ứng, thủ thuật, công cụ, và học thuyết Suy nghiệm (heuristic) là các phương pháp giải quyết vấn đề nhanh, cho kết quả tốt (nhưng không hẳn là tối ưu). Có thể xem suy nghiệm là các "lối tắt" trong tư duy. Ví dụ, suy nghiệm đánh giá nỗ lực (cái gì càng mất nhiều thời gian để hoàn thành thì càng có giá trị) thường đúng với đa số sản phẩm. Một bức tranh vẽ trong 10 ngày thường có giá trị hơn bức tranh vẽ nhanh trong 10 phút. Suy nghiệm thường đúng, nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Nó giúp giải quyết nhanh vấn đề, nhưng tạo sự thiên lệch trong nhiều trường hợp. Trong sách này, những đánh giá thiên lệch được gọi là thiên kiến (bias). Các thiên kiến phối hợp cùng nhiều yếu tố tạo ra các hiện tượng đặc biệt, trong sách này gọi là hiệu ứng (effect). (Nói thêm: Suy nghiệm có thể tạo thiên kiến, tuy nhiên, nó cũng giúp ra quyết định hợp lý phần lớn thời gian. Do vậy, ở một số phần ta cũng sẽ nghiên cứu cách ứng dụng suy nghiệm để ra quyết định.) Tận dụng hiểu biết về các suy nghiệm, thiên kiến, hiệu ứng, kết hợp với những kiến thức ngành khác (đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh), các tác giả chỉ ra các thủ thuật. Mỗi thủ thuật thường là kết quả của sự phối hợp nhiều hiệu ứng, và mỗi hiệu ứng thường tạo ra được nhiều thủ thuật khác nhau. Để ứng dụng, đôi khi ta không thể làm thủ công, mà phải sử dụng một số công cụ để tăng tốc độ và sự chính xác. Ví dụ, để tính lãi suất một khoản vay, hàm Excel sẽ hiệu quả hơn rất nhiều việc nghiên cứu công thức và bấm máy tính. Khi nói về công cụ, các tác giả sẽ không giải thích quá nhiều cách vận hành của nó, chỉ tập trung trình bày cách sử dụng công cụ nhanh chóng và hiệu quả. Ví dụ, chúng tôi không giải thích cách Excel tính lãi suất theo công thức toán học, chỉ hướng dẫn cách điền đúng và hiệu quả hàm IRR để độc giả ứng dụng nhanh mà thôi. Trong sách này cũng xuất hiện các thuyết (theory). Các tác giả thường sử dụng thuyết làm công cụ suy luận và giải thích các hiện tượng. Ví dụ, hiện tượng con người thường bị thu hút bởi tình dục có nhiều hướng giải thích khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả đã sử dụng thuyết tâm lý học tiến hóa để giải thích: "Những đặc điểm tâm lý còn tồn tại ngày nay chính là kết quả của quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên." Những người không bị thu hút bởi tình dục đã tuyệt chủng và không truyền được vốn gene lại cho đời sau. Dựa trên cách lý luận này, ta cũng có thể diễn giải về việc con người thường bị thu hút bởi kích thước hay thức ăn, từ đó dự đoán được những yếu tố khác bằng cách suy luận dựa trên nguyên lý bên trên. Như vậy, mỗi hiện tượng có nhiều thuyết giải thích. Trong phạm vi sách này, các tác giả ưu tiên sử dụng thuyết dễ hiểu nhất để diễn giải. Các thuật ngữ đa ngành Tâm lý và kinh doanh không tồn tại riêng biệt, mà đa phần đan xen lẫn nhau, và với nhiều lĩnh vực khác nữa. Rất nhiều chiêu trò đánh lừa trong kinh doanh xuất hiện trong mảng thống kê; rất nhiều chỉ số tài chính là nhằm đo lường tâm lý thị trường; rất nhiều công thức thống kê xuất hiện để giải quyết các vấn đề trong nghiên cứu tâm lý. Thậm chí, một số' ngành "lai" cũng đã xuất hiện, như hành vi tổ chức, tài chính hành vi... và xóa mờ ranh giới giữa các ngành. Do đó, các bạn cũng sẽ thấy một số khái niệm không thuộc mảng tâm lý hay kinh doanh, nhưng lại có liên quan mật thiết đến tâm lý kinh doanh. * * * Do thuật ngữ hiện nay chưa thống nhất, nên độc giả sẽ thấy một số thuật ngữ dùng trong sách này không giống với các sách khác. Ví dụ, efficiency được gọi là hiệu suất trong sách này, nhưng nơi khác lại gọi là hiệu quả; heuristic trong sách này gọi là suy nghiệm, nhưng có nơi phiên âm thẳng thành ơ-rít-tíc. Đó là điều không thể tránh khỏi, do vậy, để tránh hiểu nhầm và tiện tra cứu, các tác giả đều cố gắng ghi chú thuật ngữ tiếng Anh. *** GIỚI THIỆU TẬP 3 Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung gặp Phong Thanh Dương và được chỉ điểm Độc Cô Cửu Kiếm. Trong quá trình này, khi nhắc đến các hậu bối đương thời trong Ngũ nhạc kiếm phái, Phong Thanh Dương nhận xét: Chúng cho rằng cứ học những chiêu kiếm tinh thục của sư phụ truyền cho là trở thành cao thủ. Hừ! Học thuộc lòng 300 bài thơ Đường thì kẻ không biết làm thơ cũng ngâm được thật. Nhưng chỉ thuộc thơ người ta, thì mình có làm thơ cũng chẳng ra hồn. Nếu tự mình không có óc sáng tác liệu có thành đại thi gia được không? Vốn dĩ các chiêu thức trong các bộ kiếm phổ chỉ là những thành tố căn bản, luyện cho nhuần nhuyễn nhập tâm để rồi quên đi. Để có thể biến thành những đòn đánh có giá trị, cần vận dụng sáng tạo các chiêu thức, tùy cơ ứng biến. Giao đấu võ công không phải là hô to tên từng chiêu thức rồi ra đòn như trong truyện tranh Nhật Bản; giao đấu võ công là tung ra những đòn đánh tối ưu phối hợp vô số chiêu thức để triệt hạ đối thủ. Đến người ra đòn cũng không phân biệt rõ mình đang sử dụng chiêu thức này hay chiêu thức kia. Cũng vì đó, đối thủ không thể tra bất kì sách vở nào để hóa giải. Câu chuyện ứng dụng tâm lý học và các môn khoa học khác trong kinh doanh cũng vậy. Biết tên của từng chiêu thức - hay hiệu ứng - chỉ là bước đầu tiên. Vận dụng nhuần nhuyễn kết hợp các hiệu ứng với nhau và với các chiêu thức khác bên ngoài lĩnh vực tâm lý học để gia tăng hiệu quả kinh doanh mới thực sự là mục đích cuối cùng. Tập 1 và 2 Hiệu ứng chym mồi trình bày các hiệu ứng đơn lẻ để độc giả có thể hiểu sâu từng hiệu ứng, nhưng bấy nhiêu đó là chưa đủ để khai thác tối đa các hiệu ứng tâm lý trong kinh doanh. Nhiều bạn đọc khi áp dụng một số hiệu ứng đơn lẻ chắc cũng thấy rằng, đôi khi hiệu ứng ấy đã quá phổ biến, hầu như ai cũng biết bạn đang áp dụng chiêu nào, nên mức độ hiệu quả giảm đi không ít. Nên nhớ, nếu mọi người biết ta đang áp dụng hiệu ứng này hay hiệu ứng kia, thì điều đó không có nghĩa là ta đã áp dụng hiệu ứng tâm lý “đúng bài”- điều đó chỉ có nghĩa là mức độ vận dụng hiệu ứng tâm lý của ta chưa được nhuần nhuyễn, đòn đánh đang quá lộ liễu ở mức độ “thuộc bài”! Một khi các chiêu thức trong Hiệu ứng chim mồi ngày càng phổ biến, việc ứng dụng máy móc chỉ những hiệu ứng đơn lẻ chắc chắn sẽ ngày càng mất đi hiệu quả. Và đó là lý do Hiệu ứng chym mồi (Tập 3) ra đời. *** Vậy Hiệu ứng chym mồi (Tập 3) có gì mới? Thứ nhất, là hiệu ứng tâm lý mới - hay “chiêu thức” mới -chưa được trình bày trong 2 tập trước. Các hiệu ứng này sẽ bổ sung những hiểu biết mới để bạn phối hợp ứng dụng vào công việc kinh doanh của mình. Thứ hai, là chiêu thức từ những ngành khoa học khác có liên quan đến tâm lý kinh doanh - hay có thể gọi là “trường phái” mới. Ở trong tập 2, hẳn các bạn đã chú ý thấy một số chiêu thức thuộc lĩnh vực toán học (Sự vi diệu của toán học) hay văn học (Thủ thuật rút ruột trong viết nội dung kể chuyện). Trong tập 3 này, một số chiêu thức của các ngành khác cũng sẽ được bổ sung, giúp quá trình vận dụng được linh hoạt và đa dạng hơn. Thứ ba, là tư duy mới - tư duy mở rộng và phối hợp. Trong tập này, sẽ có những phần tập trung vào việc mở rộng hiệu ứng sang các bối cảnh mới, hoặc phối hợp hai hoặc nhiều hiệu ứng lại với nhau. Cách làm này có 2 lợi ích lớn: (1) khiến cho chiêu thức của bạn khó bị người ngoài phát hiện hơn, từ đó hiệu quả hơn; và (2) gia tăng đột biến số lượng “combo” chiêu thức bạn có thể sử dụng. Sẽ có nhiều ví dụ minh họa thực tiễn theo tư duy này. Thứ tư, là công cụ mới. Ở đây, chúng tôi sẽ cung cấp một số hướng ứng dụng các công cụ đơn giản (mà có thể bạn đã quen thuộc) theo những cách mới, giúp bạn tìm phương hướng ứng dụng các hiệu ứng một cách hiệu quả và đỡ tốn thời gian hơn. Thứ năm, là ví dụ mới. Từ khi Tập 1 ra đời đến nay đã 4 năm. Trong quá trình này, nhiều chuyện đã xảy ra, mang đến cho chúng tôi những trải nghiệm mới. Nhờ đó, kinh nghiệm của các tác giả được gia tăng về số lượng và chất lượng trong nhiều lĩnh vực mới. Các hiệu ứng cũng có nhiều cơ hội thử nghiệm trong thực tiễn hơn. Trong Tập 3, các bạn sẽ thấy nhiều ví dụ thực tế trong các mảng ăn uống, bán lẻ... dựa trên các kinh nghiệm này. *** Hy vọng, với những chiêu thức mới, trường phái mới, tư duy mới, công cụ mới, và ví dụ mới, Hiệu ứng chim mồi (Tập 3) sẽ giúp bạn ứng dụng tốt hơn tất cả những nội dung trong chuỗi sách Hiệu ứng chym mồi, để công việc kinh doanh của bạn hiệu quả hơn bội phần. Mọi thứ đã có sẵn trong tay, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào chính bạn! Mời các bạn mượn đọc sách Hiệu Ứng Chim Mồi Tập 3 của tác giả Hạo Nhiên & Quốc Khánh.
Hiệu Ứng Chim Mồi Tập 2
Thông thường, khi mua hàng ở một số trang thương mại điện tử, ta thường rất khó phát hiện ô điền mã khuyến mãi trong quá trình mua hàng. Thậm chí, ở trang chuyên bán các sản phẩm tên miền, máy chủ Godaddy, nơi điền mã khuyến mãi được “ngụy trang” chỉ bằng dòng chữ “Have a promo code?” Tại sao Godaddy phải làm như vậy, khi mà họ luôn có các chương trình khuyến mãi hàng tuần? Thuyết so sánh xã hội (Social comparison theory) của Festinger (1954) và nghiên cứu về công bằng giá của nhóm tác giả Xia, Monroe và Cox (2004) là nguyên nhân của hiện tượng này. Theo các nhà tâm lý học trên, con người luôn có xu hướng so sánh bản thân mình với người khác, trong trường hợp này là so sánh giá mình phải trả với các khách hàng khác. Theo nhóm nghiên cứu của Xia, ngoài việc xem xét mối thân tình giữa mình và công ty, cũng như tính toán mức chi phí thực của sản phẩm, thì người tiêu dùng còn tự suy đoán xem liệu mức giá mình phải trả so với những người khác có công bằng hay không. Nếu họ cho rằng mình phải trả mức giá bất công, họ có thể ngừng mua hoặc thậm chí nói xấu công ty với bạn bè! Như đã trình bày ở trên, khách hàng luôn so sánh mức giá bản thân mình phải trả với người khác. Một trong những cơ sở để họ lấy thông tin chính là ô điền mã giảm giá. Khi thấy ô điền mã giảm giá, khách hàng sẽ nhận ra rằng hiện đang có chính sách giảm giá và hoặc là mình không biết, hoặc là mình không nằm trong nhóm được giảm giá. Điều này khiến họ (1) ngưng mua và quay lại tìm thông tin giảm giá, và/hoặc (2) ngưng mua và tìm thông tin về đối tượng được giảm giá. Nếu phát hiện ra rằng mình không được giảm (hoặc tệ hơn là vừa mới có chương trình giảm giá xong), họ hẳn sẽ chẳng vui! Mà dù chuyện gì có xảy ra, thì ta cũng đã khiến họ đi lệch khỏi điều mà họ vốn đã định làm: đặt hàng! Như vậy, cho khách hàng dễ thấy ô điền mã khuyến mãi đồng nghĩa với việc kích thích thói quen so sánh của khách hàng trong lúc mà lẽ ra họ đã đặt hàng xong rồi! *** LỜI NÓI ĐẦU LỜI NÓI ĐẦU   Người ta hay coi lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn là hai thứ hoàn toàn đối nghịch nhau. Người đi theo hướng lý thuyết thường coi kiến thức kinh nghiệm là một thứ thiếu bền vững và không phổ quát, còn kẻ đi theo hướng thực hành thường gọi sách vở là lý thuyết suông, không dùng được. Thế nhưng, kể từ năm 2014, sau khi bắt đầu vừa tham gia nghiên cứu lý thuyết bậc sau đại học và viết các công trình khoa học, vừa tham gia bán hàng thực tiễn và ngã sấp mặt không biết bao nhiêu lần, chúng tôi phát hiện ra rằng lý thuyết và thực tiễn luôn song hành, gắn bó đến độ không thể tách rời: Người nắm lý thuyết nhưng không thực hành sẽ không thể biết những kiến thức của mình liệu có thể ứng dụng được trong thực tế hay không; ngược lại, người thực hành nhưng không có lý thuyết chống lưng sẽ không thể biết rằng liệu thành công của mình có cơ sở hay không, hay chỉ là may mắn và không thể áp dụng cho lần tiếp theo. Do vậy, quyển sách được cấu trúc thành các phần nhỏ với lý thuyết và ứng dụng đan xen. Mỗi hiện tượng hay kỹ thuật bán hàng đều được giải thích bằng lý thuyết, và mỗi lý thuyết đều có các ứng dụng minh họa, nhằm giúp các bạn độc giả có thể có kiến thức vững chắc và linh hoạt. Để thể hiện sự tôn trọng với các tác giả đi trước, mọi thông tin và số liệu lấy từ các nghiên cứu của các nhà khoa học khác đều được trích dẫn cụ thể, chính xác và ghi nguồn đầy đủ ở phần Tài liệu tham khảo. Một số thủ thuật ứng dụng là không chính thống và có thể không đúng chuẩn mực về đạo đức kinh doanh (thường gọi là thủ thuật "tà đạo"). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn sẽ trình bày đê các bạn độc giả có thể né tránh khi gặp phải — dưới vai trò người mua hàng. Chúng tôi viết sách này không nhằm biến bạn thành giáo sư, mà nhằm kích thích sự hứng thú của bạn với tâm lý học, một ngành khoa học có quá nhiều ứng dụng vào kinh doanh. Do vậy, các kiến thức phức tạp, chi tiết hơn mang tính hàn lâm được đưa vào các phần phụ lục để phục vụ các bạn có nhu cầu tìm hiểu để ứng dụng sâu. Nhờ đó, các kiến thức ở phần nội dung chính sẽ vẫn giữ được sự đơn giản, dễ hiểu và hấp dẫn của riêng mình. Hi vọng những kiến thức lý thuyết tích lũy trong quá trình nghiên cứu hàn lâm cùng với các ứng dụng tự suy từ kinh nghiệm tự doanh thực chiến của nhóm tác giả sẽ giúp cho công việc của bạn hiệu quả hon. Chúc bạn có những phút giây thư giãn có ích cùng Hiệu ứng chim mồi Sài Gòn, 16 tháng 4 năm 2016 Nhóm tác giả *** VÀI GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ VÀI GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ   Quý độc giả sẽ thấy trong sách sử dụng nhiều thuật ngữ. Có phần thì gọi là suy nghiêm, có lúc là thiên kiến, hiệu ứng, hay thủ thuật. Ở đây, các tác giả sẽ diễn giải ý nghĩa từng từ và quan điểm được sử dụng trong sách này. Suy nghiệm, thiên kiến, hiệu ứng, thủ thuật, công cụ, và học thuyết Suy nghiệm (heuristic) là các phương pháp giải quyết vấn đề nhanh, cho kết quả tốt (nhưng không hẳn là tối ưu). Có thể xem suy nghiệm là các "lối tắt" trong tư duy. Ví dụ, suy nghiệm đánh giá nỗ lực (cái gì càng mất nhiều thời gian để hoàn thành thì càng có giá trị) thường đúng với đa số sản phẩm. Một bức tranh vẽ trong 10 ngày thường có giá trị hơn bức tranh vẽ nhanh trong 10 phút. Suy nghiệm thường đúng, nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Nó giúp giải quyết nhanh vấn đề, nhưng tạo sự thiên lệch trong nhiều trường hợp. Trong sách này, những đánh giá thiên lệch được gọi là thiên kiến (bias). Các thiên kiến phối hợp cùng nhiều yếu tố tạo ra các hiện tượng đặc biệt, trong sách này gọi là hiệu ứng (effect). (Nói thêm: Suy nghiệm có thể tạo thiên kiến, tuy nhiên, nó cũng giúp ra quyết định hợp lý phần lớn thời gian. Do vậy, ở một số phần ta cũng sẽ nghiên cứu cách ứng dụng suy nghiệm để ra quyết định.) Tận dụng hiểu biết về các suy nghiệm, thiên kiến, hiệu ứng, kết hợp với những kiến thức ngành khác (đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh), các tác giả chỉ ra các thủ thuật. Mỗi thủ thuật thường là kết quả của sự phối hợp nhiều hiệu ứng, và mỗi hiệu ứng thường tạo ra được nhiều thủ thuật khác nhau. Để ứng dụng, đôi khi ta không thể làm thủ công, mà phải sử dụng một số công cụ để tăng tốc độ và sự chính xác. Ví dụ, để tính lãi suất một khoản vay, hàm Excel sẽ hiệu quả hơn rất nhiều việc nghiên cứu công thức và bấm máy tính. Khi nói về công cụ, các tác giả sẽ không giải thích quá nhiều cách vận hành của nó, chỉ tập trung trình bày cách sử dụng công cụ nhanh chóng và hiệu quả. Ví dụ, chúng tôi không giải thích cách Excel tính lãi suất theo công thức toán học, chỉ hướng dẫn cách điền đúng và hiệu quả hàm IRR để độc giả ứng dụng nhanh mà thôi. Trong sách này cũng xuất hiện các thuyết (theory). Các tác giả thường sử dụng thuyết làm công cụ suy luận và giải thích các hiện tượng. Ví dụ, hiện tượng con người thường bị thu hút bởi tình dục có nhiều hướng giải thích khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả đã sử dụng thuyết tâm lý học tiến hóa để giải thích: "Những đặc điểm tâm lý còn tồn tại ngày nay chính là kết quả của quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên." Những người không bị thu hút bởi tình dục đã tuyệt chủng và không truyền được vốn gene lại cho đời sau. Dựa trên cách lý luận này, ta cũng có thể diễn giải về việc con người thường bị thu hút bởi kích thước hay thức ăn, từ đó dự đoán được những yếu tố khác bằng cách suy luận dựa trên nguyên lý bên trên. Như vậy, mỗi hiện tượng có nhiều thuyết giải thích. Trong phạm vi sách này, các tác giả ưu tiên sử dụng thuyết dễ hiểu nhất để diễn giải. Các thuật ngữ đa ngành Tâm lý và kinh doanh không tồn tại riêng biệt, mà đa phần đan xen lẫn nhau, và với nhiều lĩnh vực khác nữa. Rất nhiều chiêu trò đánh lừa trong kinh doanh xuất hiện trong mảng thống kê; rất nhiều chỉ số tài chính là nhằm đo lường tâm lý thị trường; rất nhiều công thức thống kê xuất hiện để giải quyết các vấn đề trong nghiên cứu tâm lý. Thậm chí, một số' ngành "lai" cũng đã xuất hiện, như hành vi tổ chức, tài chính hành vi... và xóa mờ ranh giới giữa các ngành. Do đó, các bạn cũng sẽ thấy một số khái niệm không thuộc mảng tâm lý hay kinh doanh, nhưng lại có liên quan mật thiết đến tâm lý kinh doanh. * * * Do thuật ngữ hiện nay chưa thống nhất, nên độc giả sẽ thấy một số thuật ngữ dùng trong sách này không giống với các sách khác. Ví dụ, efficiency được gọi là hiệu suất trong sách này, nhưng nơi khác lại gọi là hiệu quả; heuristic trong sách này gọi là suy nghiệm, nhưng có nơi phiên âm thẳng thành ơ-rít-tíc. Đó là điều không thể tránh khỏi, do vậy, để tránh hiểu nhầm và tiện tra cứu, các tác giả đều cố gắng ghi chú thuật ngữ tiếng Anh. *** Giới Thiệu Tập 2 Kể từ khi xuất bản Hiệu ứng chim mồi, tập 1, nhóm tác giả đã nhận được sự ủng hộ từ quý độc giả trên toàn quốc. Dựa trên nền tảng đó, nhóm xin giới thiệu với các bạn Hiệu ứng chim mồi, tập 2. Trong tập này, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu các hiệu ứng tâm lý độc đáo cùng những ứng dụng tuyệt vời của các hiệu ứng này trong kinh doanh cũng như đời sống hàng ngày. Ngoài ra, trong tập này, tâm lý học cũng sẽ được phối hợp với các ngành khoa học khác như toán học hay thiết kế, để nâng cao mức độ hiệu quả và tính ứng dụng của từng hiệu ứng tâm lý. Xin chú ý rằng, các hiệu ứng tâm lý sẽ luôn hiệu quả hơn nếu được phối hợp lại với nhau hoặc với các hiểu biết của ngành khác (như chúng tôi đã làm với các chiêu trò định giá khuyến mãi-một sự kết hợp giữa toán học, thủ thuật bán hàng và tâm lý-sẽ được trình bày ở những phần sau trong sách này). Hy vọng những sự phối hợp ban đầu được minh họa trong Hiệu ứng chim mồi sẽ tạo cảm hứng cho quý bạn đọc nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn các hiệu ứng tâm lý với nhau, với hiểu biết kinh doanh và với ngành riêng của mình. Một số hiệu ứng tâm lý được trình bày trong tập này có mức độ hiệu quả cực kỳ cao, do đó rất nguy hiểm nếu không sử dụng cho mục đích chính đáng nói một cách bình dân thì đó là những hiệu ứng và ứng dụng “tà đạo”). Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, nhóm tác giả quyết định vẫn trình bày những hiệu ứng này, phần là để độc giả biết, hiểu và tránh; phần là để các bạn có thể ứng dụng vào những mục đích tốt. Chúng tôi tin rằng, không có vũ khí tốt hay xấu, sự tốt xấu chỉ tùy thuộc vào người sử dụng. Sức mạnh đáng gờm của các hiệu ứng cũng là lý do vì sao bạn sẽ thấy chúng tôi cứ nhắc đi nhắc lại quý độc giả hãy nên tỉnh táo và thiện tâm để sử dụng các chiêu thức ấy. Không dông dài nữa, xin mời quý độc giả bước vào thế giới của tâm lý học ứng dụng và khám phá sự vô lý của trí não con người... Mời các bạn mượn đọc sách Hiệu Ứng Chim Mồi Tập 2 của tác giả Hạo Nhiên & Quốc Khánh.
Hiệu Ứng Chim Mồi Tập 1
Thông thường, khi mua hàng ở một số trang thương mại điện tử, ta thường rất khó phát hiện ô điền mã khuyến mãi trong quá trình mua hàng. Thậm chí, ở trang chuyên bán các sản phẩm tên miền, máy chủ Godaddy, nơi điền mã khuyến mãi được “ngụy trang” chỉ bằng dòng chữ “Have a promo code?” Tại sao Godaddy phải làm như vậy, khi mà họ luôn có các chương trình khuyến mãi hàng tuần? Thuyết so sánh xã hội (Social comparison theory) của Festinger (1954) và nghiên cứu về công bằng giá của nhóm tác giả Xia, Monroe và Cox (2004) là nguyên nhân của hiện tượng này. Theo các nhà tâm lý học trên, con người luôn có xu hướng so sánh bản thân mình với người khác, trong trường hợp này là so sánh giá mình phải trả với các khách hàng khác. Theo nhóm nghiên cứu của Xia, ngoài việc xem xét mối thân tình giữa mình và công ty, cũng như tính toán mức chi phí thực của sản phẩm, thì người tiêu dùng còn tự suy đoán xem liệu mức giá mình phải trả so với những người khác có công bằng hay không. Nếu họ cho rằng mình phải trả mức giá bất công, họ có thể ngừng mua hoặc thậm chí nói xấu công ty với bạn bè! Như đã trình bày ở trên, khách hàng luôn so sánh mức giá bản thân mình phải trả với người khác. Một trong những cơ sở để họ lấy thông tin chính là ô điền mã giảm giá. Khi thấy ô điền mã giảm giá, khách hàng sẽ nhận ra rằng hiện đang có chính sách giảm giá và hoặc là mình không biết, hoặc là mình không nằm trong nhóm được giảm giá. Điều này khiến họ (1) ngưng mua và quay lại tìm thông tin giảm giá, và/hoặc (2) ngưng mua và tìm thông tin về đối tượng được giảm giá. Nếu phát hiện ra rằng mình không được giảm (hoặc tệ hơn là vừa mới có chương trình giảm giá xong), họ hẳn sẽ chẳng vui! Mà dù chuyện gì có xảy ra, thì ta cũng đã khiến họ đi lệch khỏi điều mà họ vốn đã định làm: đặt hàng! Như vậy, cho khách hàng dễ thấy ô điền mã khuyến mãi đồng nghĩa với việc kích thích thói quen so sánh của khách hàng trong lúc mà lẽ ra họ đã đặt hàng xong rồi! *** LỜI NÓI ĐẦU LỜI NÓI ĐẦU   Người ta hay coi lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn là hai thứ hoàn toàn đối nghịch nhau. Người đi theo hướng lý thuyết thường coi kiến thức kinh nghiệm là một thứ thiếu bền vững và không phổ quát, còn kẻ đi theo hướng thực hành thường gọi sách vở là lý thuyết suông, không dùng được. Thế nhưng, kể từ năm 2014, sau khi bắt đầu vừa tham gia nghiên cứu lý thuyết bậc sau đại học và viết các công trình khoa học, vừa tham gia bán hàng thực tiễn và ngã sấp mặt không biết bao nhiêu lần, chúng tôi phát hiện ra rằng lý thuyết và thực tiễn luôn song hành, gắn bó đến độ không thể tách rời: Người nắm lý thuyết nhưng không thực hành sẽ không thể biết những kiến thức của mình liệu có thể ứng dụng được trong thực tế hay không; ngược lại, người thực hành nhưng không có lý thuyết chống lưng sẽ không thể biết rằng liệu thành công của mình có cơ sở hay không, hay chỉ là may mắn và không thể áp dụng cho lần tiếp theo. Do vậy, quyển sách được cấu trúc thành các phần nhỏ với lý thuyết và ứng dụng đan xen. Mỗi hiện tượng hay kỹ thuật bán hàng đều được giải thích bằng lý thuyết, và mỗi lý thuyết đều có các ứng dụng minh họa, nhằm giúp các bạn độc giả có thể có kiến thức vững chắc và linh hoạt. Để thể hiện sự tôn trọng với các tác giả đi trước, mọi thông tin và số liệu lấy từ các nghiên cứu của các nhà khoa học khác đều được trích dẫn cụ thể, chính xác và ghi nguồn đầy đủ ở phần Tài liệu tham khảo. Một số thủ thuật ứng dụng là không chính thống và có thể không đúng chuẩn mực về đạo đức kinh doanh (thường gọi là thủ thuật "tà đạo"). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn sẽ trình bày đê các bạn độc giả có thể né tránh khi gặp phải — dưới vai trò người mua hàng. Chúng tôi viết sách này không nhằm biến bạn thành giáo sư, mà nhằm kích thích sự hứng thú của bạn với tâm lý học, một ngành khoa học có quá nhiều ứng dụng vào kinh doanh. Do vậy, các kiến thức phức tạp, chi tiết hơn mang tính hàn lâm được đưa vào các phần phụ lục để phục vụ các bạn có nhu cầu tìm hiểu để ứng dụng sâu. Nhờ đó, các kiến thức ở phần nội dung chính sẽ vẫn giữ được sự đơn giản, dễ hiểu và hấp dẫn của riêng mình. Hi vọng những kiến thức lý thuyết tích lũy trong quá trình nghiên cứu hàn lâm cùng với các ứng dụng tự suy từ kinh nghiệm tự doanh thực chiến của nhóm tác giả sẽ giúp cho công việc của bạn hiệu quả hon. Chúc bạn có những phút giây thư giãn có ích cùng Hiệu ứng chim mồi Sài Gòn, 16 tháng 4 năm 2016 Nhóm tác giả *** VÀI GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ VÀI GHI CHÚ VỀ CÁC THUẬT NGỮ   Quý độc giả sẽ thấy trong sách sử dụng nhiều thuật ngữ. Có phần thì gọi là suy nghiêm, có lúc là thiên kiến, hiệu ứng, hay thủ thuật. Ở đây, các tác giả sẽ diễn giải ý nghĩa từng từ và quan điểm được sử dụng trong sách này. Suy nghiệm, thiên kiến, hiệu ứng, thủ thuật, công cụ, và học thuyết Suy nghiệm (heuristic) là các phương pháp giải quyết vấn đề nhanh, cho kết quả tốt (nhưng không hẳn là tối ưu). Có thể xem suy nghiệm là các "lối tắt" trong tư duy. Ví dụ, suy nghiệm đánh giá nỗ lực (cái gì càng mất nhiều thời gian để hoàn thành thì càng có giá trị) thường đúng với đa số sản phẩm. Một bức tranh vẽ trong 10 ngày thường có giá trị hơn bức tranh vẽ nhanh trong 10 phút. Suy nghiệm thường đúng, nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Nó giúp giải quyết nhanh vấn đề, nhưng tạo sự thiên lệch trong nhiều trường hợp. Trong sách này, những đánh giá thiên lệch được gọi là thiên kiến (bias). Các thiên kiến phối hợp cùng nhiều yếu tố tạo ra các hiện tượng đặc biệt, trong sách này gọi là hiệu ứng (effect). (Nói thêm: Suy nghiệm có thể tạo thiên kiến, tuy nhiên, nó cũng giúp ra quyết định hợp lý phần lớn thời gian. Do vậy, ở một số phần ta cũng sẽ nghiên cứu cách ứng dụng suy nghiệm để ra quyết định.) Tận dụng hiểu biết về các suy nghiệm, thiên kiến, hiệu ứng, kết hợp với những kiến thức ngành khác (đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh), các tác giả chỉ ra các thủ thuật. Mỗi thủ thuật thường là kết quả của sự phối hợp nhiều hiệu ứng, và mỗi hiệu ứng thường tạo ra được nhiều thủ thuật khác nhau. Để ứng dụng, đôi khi ta không thể làm thủ công, mà phải sử dụng một số công cụ để tăng tốc độ và sự chính xác. Ví dụ, để tính lãi suất một khoản vay, hàm Excel sẽ hiệu quả hơn rất nhiều việc nghiên cứu công thức và bấm máy tính. Khi nói về công cụ, các tác giả sẽ không giải thích quá nhiều cách vận hành của nó, chỉ tập trung trình bày cách sử dụng công cụ nhanh chóng và hiệu quả. Ví dụ, chúng tôi không giải thích cách Excel tính lãi suất theo công thức toán học, chỉ hướng dẫn cách điền đúng và hiệu quả hàm IRR để độc giả ứng dụng nhanh mà thôi. Trong sách này cũng xuất hiện các thuyết (theory). Các tác giả thường sử dụng thuyết làm công cụ suy luận và giải thích các hiện tượng. Ví dụ, hiện tượng con người thường bị thu hút bởi tình dục có nhiều hướng giải thích khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả đã sử dụng thuyết tâm lý học tiến hóa để giải thích: "Những đặc điểm tâm lý còn tồn tại ngày nay chính là kết quả của quá trình tiến hóa và chọn lọc tự nhiên." Những người không bị thu hút bởi tình dục đã tuyệt chủng và không truyền được vốn gene lại cho đời sau. Dựa trên cách lý luận này, ta cũng có thể diễn giải về việc con người thường bị thu hút bởi kích thước hay thức ăn, từ đó dự đoán được những yếu tố khác bằng cách suy luận dựa trên nguyên lý bên trên. Như vậy, mỗi hiện tượng có nhiều thuyết giải thích. Trong phạm vi sách này, các tác giả ưu tiên sử dụng thuyết dễ hiểu nhất để diễn giải. Các thuật ngữ đa ngành Tâm lý và kinh doanh không tồn tại riêng biệt, mà đa phần đan xen lẫn nhau, và với nhiều lĩnh vực khác nữa. Rất nhiều chiêu trò đánh lừa trong kinh doanh xuất hiện trong mảng thống kê; rất nhiều chỉ số tài chính là nhằm đo lường tâm lý thị trường; rất nhiều công thức thống kê xuất hiện để giải quyết các vấn đề trong nghiên cứu tâm lý. Thậm chí, một số' ngành "lai" cũng đã xuất hiện, như hành vi tổ chức, tài chính hành vi... và xóa mờ ranh giới giữa các ngành. Do đó, các bạn cũng sẽ thấy một số khái niệm không thuộc mảng tâm lý hay kinh doanh, nhưng lại có liên quan mật thiết đến tâm lý kinh doanh. * * * Do thuật ngữ hiện nay chưa thống nhất, nên độc giả sẽ thấy một số thuật ngữ dùng trong sách này không giống với các sách khác. Ví dụ, efficiency được gọi là hiệu suất trong sách này, nhưng nơi khác lại gọi là hiệu quả; heuristic trong sách này gọi là suy nghiệm, nhưng có nơi phiên âm thẳng thành ơ-rít-tíc. Đó là điều không thể tránh khỏi, do vậy, để tránh hiểu nhầm và tiện tra cứu, các tác giả đều cố gắng ghi chú thuật ngữ tiếng Anh. Mời các bạn mượn đọc sách Hiệu Ứng Chim Mồi Tập 1 của tác giả Hạo Nhiên & Quốc Khánh.
Tái Lập Công Ty - Tuyên Ngôn Của Cuộc Cách Mạng Trong Kinh Doanh
Tái Lập Công Ty - vấn đề và giải pháp cho việc xây dựng lại một mô hình tổ chức mới đối với họat động của các doanh nghiệp trong thời đại đầy thách thức ngày nay. Trong hơn hai trăm năm qua, người ta đã thành lập và xây dựng các công ty dựa vào phát minh tuyệt vời của Adam Smith về sự phân chia hoạt động công nghiệp thành các công đoạn đơn giản nhất và cơ bản nhất. Trong thời đại kinh doanh hậu công nghiệp mà chúng ta đang bước vào, các công ty sẽ được thành lập và xây dựng dựa trên tư tưởng thống nhất những công đoạn đó lại vào một quá trình kinh doanh gắn bó với nhau. Trong cuốn sách này, các tác giả sẽ lý giải các công ty hiện đang hoạt động có thể tự đổi mới bản thân mình như thế nào; và các tác giả đã gọi các phương pháp mà các công ty sẽ thực hiện để đạt được mục đích này là sự tái lập doanh nghiệp. Phương pháp này là kỹ thuật đối với cuộc cách mạng mới trong kinh doanh đang diễn ra, cũng giống như sự chuyên môn hoá lao động và kỹ thuật mới đối với cuộc cách mạng công nghiệp hai trăm năm trước đây. Mời các bạn mượn đọc sách Tái Lập Công Ty - Tuyên Ngôn Của Cuộc Cách Mạng Trong Kinh Doanh của tác giả Michael Hammer & James Champy.