Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mùa Mưa - Nevil Shute

Tác giả Nevil Shute đã mất năm 1960, nhưng dự báo của Ông về một nước Anh hùng cường trong Khối Thịnh Vượng Chung đã thấy rõ. Đấy cũng là nhờ sự đóng góp tích cực của Vương Triều qua hình ảnh sống động, đầy gan dạ, mưu trí và đầy lòng nhân đức của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị và lòng trung thành của người dân Anh trong 50 năm qua, trước bao thử thách. Câu chuyện tình lãng mạn của một phi công người Úc lai một phần tư da đen với cô thư ký của Nữ Hoàng, tuy có hơi ước lệ trong khung cảnh của Hoàng Gia, nhưng đầy kịch tính của một xã hội nền nếp, gia phong của nước Anh, cộng với sự khoáng đạt, đầy nhiệt tình của một nước Úc đang trên đà phát triển. Chọn tác phẩm “Mùa Mưa” (In the wet) để dịch, Tôi muốn kêu gọi lòng thương yêu, đùm bọc trong Hoàng Gia Nguyễn Phước trước những thành quả lịch sử hết sức vĩ đại của Tiên Đế. Còn gì nữa mà chia năm xẻ bảy, còn gì nữa mà tranh phần, đoạt lợi, để con cháu nghìn đời mai mỉa !. Tôi lại muốn kêu gọi sự đoàn kết tôn giáo để nhân loại tránh đi bao nỗi thống khổ, chết chóc triền miên. Còn hình ảnh nào đẹp bằng một vị Cha Xứ của Thiên Chúa Giáo La Mã và một Mục Sư Tin Lành đều được người dân Úc trọng nễ như nhau như là những vị Thừa Sai của Chúa mang đến hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài ra trong một xã hội dân chủ pháp trị, thì quyền bầu cử của người dân là quan trọng hơn cả, nó định đoạt tương lai và vận mạng của một dân tộc. Vậy 7 quyền bấu cử Quốc Hội của nước Úc cũng đáng cho ta học hỏi, rút kinh nghiệm để làm cho đất nước phồn vinh. Và nếu chúng ta có được cái “Tâm Bồ Đề”, tâm Từ Vô Lượng, quả đất này sẽ không còn cảnh tranh bá đồ vương, tàn sát lẫn nhau, để cùng nhau xây dựng một “thiên đàng hạ giới”, cõi Nát Bàn ngay trong tim mình. *** Trước đây tôi chưa bao giờ chịu khó ngồi viết những chuyện dài dòng như thế này, tuy cũng đã viết nhiều những bài giảng đạo hay những đề tài khác cho các tạp chí trong họ đạo. Nói thật tôi cũng không biết cách sắp xếp câu chuyện hay cần viết dài hay ngắn như thế này cho thích hợp, nhưng chẳng có ai ngoài tôi ra đọc truyện này nên chẳng lấy đó làm quan trọng. Tuy vậy, sự thật là tôi cũng đã băn khoăn lo nghĩ từ khi ở Blazing Downs trở về nên cũng thường xuyên bị mất ngủ và không thể làm việc hết mình cho họ đạo, tuy rằng các buổi lễ ở nhà thờ vẫn tiến hành như thường lệ và máy móc. Tôi nghĩ rằng nếu cố gắng viết ra thì tâm hồn cũng nhẹ nhõm phần nào, điều mà từ lâu tôi vẫn đè nặng trong tâm tư, hơn nữa, sau khi viết, tôi sẽ gởi cho ngài Giám mục đọc qua. Điều băn khoăn của tôi, có lẽ tôi cảm thấy mình càng ngày càng già đối với công việc của họ đạo có hơi kỳ lạ này và điều đó chứng tỏ là trường hợp này tôi phải chấp nhận bất cứ điều gì khi bề trên đã quyết định. Viết tư liệu không phải dễ dàng gì ở nơi đây vì Landsborough là một thị trấn nhỏ. Chốc nữa tôi sẽ đi xuống cửa hàng sách Duncan để mua ít giấy viết, nhưng cửa hàng chỉ có những tập giấy mỏng để viết thư và những tập vở mà cô giáo Foster dùng cho các học sinh lớn tuổi hơn khi các em đã qua thời kỳ dùng bảng viết. Tôi mua sáu tập và hy vọng còn cần nhiều hơn nữa khi đã viết xong những điều cần nói ra, nhưng trong cửa hàng chỉ còn vỏn vẹn chín tập vở nên không muốn làm họ kẹt. Tôi đã yêu cầu họ mua thêm, và họ đã đặt hàng ở Townsville, chuyến máy bay tuần tới mới có. Để trung thực với những ai đọc tác phẩm của tôi viết, tôi nghĩ là nên nói thật về mình, ngõ hầu sẽ được đánh giá chính xác và có được tín nhiệm về những điều tôi viết hay không. Tôi tên là Roger Hargreaves, đã được thụ phong mục sư thuộc giáo hội nước Anh bốn mươi mốt năm qua, tháng trước đây tôi đã qua tuổi sáu mươi ba. Tôi sinh năm 1890 ở Portsmouth thuộc miền Nam nước Anh và đã tôt nghiệp trường cấp ba Portsmouth. Tôi đã được thụ phong vào năm 1912 và trở thành mục sư của nhà thờ Thánh Mark, thành phố Guildford. Năm 1914, thế chiến bùng nổ, tôi vào quân đội với chức vụ Tuyên uý. Tôi đã làm chủ lễ ở Gallipoli và ở Pháp. Trong chiến tranh tôi rất may mắn, bởi vì tuy bị một quả pháo dập ở Delville Wood trong suốt cuộc chiến Somme, tôi chỉ nằm bệnh viện vài tuần lễ và chỉ bốn tháng sau là trở ra tiền tuyến ngay. Sau chiến tranh tôi vẫn chưa có chỗ cố định và không muốn trở về với công tác giáo xứ trong một thị trấn nước Anh. Lúc ấy tôi mới hai mươi tám tuổi, chưa có gia đình và cũng chẳng có gì phải vướng bận nhiều khiến giữ chân tôi ở lại Anh. Theo tôi trong lúc còn trẻ trung và sức lực cũng nên hiến cuộc đời mình cho việc phụng vụ đến nhiều nơi khó khăn hơn và sau khi thảo luận với cha Giám mục, tôi sang Uùc theo chương trình huynh đệ Bush ở Queensland. Tôi đã phục vụ cho chương trình này bốn mươi năm, đi lại rất nhiều nơi từ Cloncurry đến Toowoomba, từ Birdsville đến Burdekin. Trong suốt mười bốn năm, tôi chưa có chỗ ở cố định và thường không ngủ quá hai đêm ở cùng một nơi. Chương trình huynh đệ này trả cho tôi mỗi năm năm mươi Anh kim, số tiền này cũng đủ để may mặc và chi tiêu cá nhân. Tôi cũng được cung cấp một số tiền nhỏ để chi phí cho việc đi lại nhưng tôi chưa phải dùng tới. Dân chúng ở vùng xa xôi hẻo lánh hầu hết đều có lòng tốt muốn giúp tôi đi lại từ nơi này đến nơi khác trong các lễ nghi tôn giáo, cưới hỏi hay ma chay. Họ thường lấy xe hơi chở tôi đến một địa điểm tiếp theo. Vào mùa mưa, khi ngập bùn, xe hơi không đi được, họ lại cho tôi mượn một con ngựa, khoảng chừng ba tháng để tôi có tiếp tục công việc cho hết mùa mưa. Năm 1934 tôi bị đau ruột thừa ở một nơi tên là Goodwood gần Boulia; cách Longreach ba trăm dặm về phía tây có một bệnh viện. Vào thời ấy, chưa có bác sĩ lưu động bằng máy bay. Tôi được họ chở trên xe tải trong hai ngày. Thời tiết thì quá nóng nực, đường đi thì gập ghềnh, khó khăn lắm mới tới được bệnh viện. Đến được đấy, tôi bị viêm màng bụng và gần chết. Tôi nghĩ mình cũng sẽ chết thôi nếu không nhờ công ty xe hơi Billy Shaw ở Goodwood chở tôi chạy suốt đêm. Sau khi phẫu thuật, thằng tôi trông thật thảm thương và khó mà bình phục trở lại. Vì vậy tôi miễn cưỡng xin thôi việc chương trình huynh đệ và trở về nước Anh. Đức giám mục hết sức nhân từ và sắp xếp cho tôi một đời sống khá thoải mái ở nhà thờ Thánh Peter thuộc địa phận Godalming và tôi đã định cư ở đây, rồi kết hôn với cô Ethel. Những năm mới lập gia đình, chúng tôi sống rất hạnh phúc và tôi đã dằn lòng chứ không đã viết ra tất cả. Ethel chết năm 1943, lúc chúng tôi chưa có con. Vào thời chiến, ở nước Anh, một mục sư có nhiều việc phải làm và tôi không cảm thấy tiếng gọi phục vụ quan trọng hơn khi chiến tranh chưa chấm dứt. Nhưng tôi cũng nhận ra rằng miền Godalming cần một mục sư có gia đình hơn là một người goá vợ và còn rất nhiều miền ở Queensland cần một người đàn ông có kinh nghiệm như tôi, dầu người đó đã năm mươi sáu tuổi. Tôi đã từ bỏ giáo khu và trở lại Uùc như là một mục sư trên một chiếc tàu biển di dân, và tôi thật sự nhận ra rằng chương trình huynh đệ còn muốn nhận tôi trở lại công tác dầu tôi đã lớn tuổi. Chẳng bao lâu sau, tôi cũng nhận ra rằng công tác ở vùng xa xôi hẻo lánh dễ hơn nhiều trước đây mười năm. Chiến tranh đã làm đường sá thay đổi và cải tiến, có một điều là các đài thu và phát vô tuyến đã được sử dụng đại trà ở các nhà ga xa xôi hẻo lánh, do đó sự liên lạc đã dễ hơn nhiều. Điều quan trọng hơn cả là đã có nhiều người sử dụng máy bay, hầu như đâu cũng có phi trường, và những dịch vụ cho khách thường xuyên đã được mở. Tất cả những sự cải tiến này đã tạo thuận lợi cho một vị mục sư muốn phục vụ hết mình cho các tín đồ hơn là trước đây. Tôi cũng nhận ra rằng nhiều nơi ở trong quận của tôi ở có thể đến thăm dễ dàng, có thị trấn cứ sáu tháng tôi có mặt một lần, khác với trước đây phải mất hai năm mới tới được một lần như lúc tôi mới đến nước Úc lần đầu. Năm 1950 ở xứ Tân Guinea bị khan hiếm trầm trọng các nhà truyền giáo. Có một lúc người ta bỏ đi hay vì bệnh tật nên chỉ còn một mục sư của Giáo hội nước Anh ở đấy mà phải phục vụ một miền rộng một trăm tám mươi mốt ngàn dặm vuông ở Papua và lãnh thổ Ủy trị. Hình như tôi cũng đã nghĩ đến những nhu cầu quá lớn của họ so với nhu cầu ở Queensland và được sự thoa? thuận của chương trình huynh đệ, tôi đã tự nguyện đi đến đó một vài tháng để giúp đỡ họ giải quyết những khó khăn. Khi tôi đi máy bay đến cảng Moresby, tôi đã năm mươi chín tuổi, đối với công việc như thế này, tôi cảm thấy mình quá già, vì chẳng có ai khác dám đi. Trong một năm, tôi đã đi đến nhiều nơi trong xứ, từ con sông Fly đến Rabaul, từ các mỏ vàng ở Wau đến các đồn điền Samarai. Bây giờ tôi mới lo là mình quá bất cẩn không mang theo Paludrine vì vào tháng chín năm 1951 tôi bị bệnh sốt rét nặng ở Saramaua và phải nằm viện đến mấy tuần lễ ở cảng Moresby, do đó cũng chấm dứt luôn công tác của tôi ở Tân Guinea. Sở dĩ tôi nói đến chứng sốt rét bởi vì sau này tôi còn bị tái đi tái lại nhiều lần nữa, tuy có phần nhẹ hơn. Có một địa điểm mà trong các phần này tôi đã nói đến. Có người nói với tôi rằng khi chứng sốt rét đã bị một lần, vài năm sau có thể bị tái lại, trước khi dứt hẳn và lần tái phát này không mấy trầm trọng như cơn bệnh tôi đã bị lần đầu ở Salamaua. Tôi cũng biết là mình điều hành công việc tạm ổn tuy đang bệnh; nhất là vấn đề đi lại, có khi tôi cũng hoãn hành lễ trong một ngày và nằm cho mồ hôi toát ra. Tuy nhiên cơn đau đầu tiên quá nặng làm tôi yếu người hẳn đi, nên rời bỏ Tân Guinea mà chẳng mấy tiếc nuối, để trở về sống với các bạn hữu ở trên đồi Atherton Tableland phía sau Cairns thuộc miền Bắc Queensland, mong bình phục và khỏe mạnh trở lại. Đức Giám mục vào thời ấy, vẫn đi lại đều trong Quận và Ngài đã viết thư đề nghị là sẽ đến thăm tôi và bàn bạc những chuyện mà tôi thấy chưa xứng đáng được Ngài quan tâm như thế. Tôi đi xuống Innisfail để gặp Ngài ở đấy vì tôi cảm thấy đã bình phục nhiều. Qua câu chuyện thân mật, Ngài đã đề cập đến tuổi tác của tôi và mong muốn tôi tiếp tục làm việc nhưng ít năng nổ hơn. Ngài nói là Ngài nóng lòng mở lại nhà thờ Giáo xứ Landsborough và muốn cử một Mục sư lo việc họ đạo tại địa phương. Ngài đã đề cập đến kinh nghiệm của tôi ở vùng nông thôn và hỏi nếu tôi bằng lòng sẽ cử tôi đến đấy vài năm để xây dựng lại tinh thần Giáo hội ở trong Quận ấy. Ngài cũng không mong tôi đi hết họ đạo rộng gần hai mươi tám ngàn dặm vuông, trong một vùng mà dân cư thưa thớt, vì Ngài hy vọng trong một năm thôi là có một mục sư trẻ về thay thế. Dĩ nhiên vấn đề tài chính là một vấn đề khó khăn cho nhà thờ, nhưng Ngài nói là sẽ gởi cho tôi một chiếc xe tải trong vài tháng tới, mặc dầu nó đã hơi cũ. Xe chẳng thấy tới, nhưng tôi đã điều hành tốt mà không có xe. Landsborough là một thị trấn nằm phía trên vịnh Carpentaria, người ta thường gọi là Gulf Country. Cách đây năm mươi năm, thị trấn rộng hơn bây giờ. Thời săn vàng bùng nổ, cả thị trấn có chừng hai mươi lăm khách sạn, hầu hết là quán nhậu, nhưng bây giờ chỉ còn lại hai. Có chừng tám mươi cư dân da trắng ở đấy gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em và một số dân da đen độ hai ba trăm người trồi sụt bất thường, họ sống trong điều kiện đáng thương, trong các túp lều che bằng các tấm sắt rỉ, ở ngoại ô thành phố. Nơi ấy cách Cloncurry hai trăm dặm và cách Cairns và thị trấn Townsville về phía biển năm trăm dặm bằng đường hàng không. Ở đấy có một bệnh viện điều hành bởi hai chị em cô y tá và một nhà riêng cho bác sỹ mặc dầu từ trước tới giờ chẳng có bác sỹ nào bị lôi cuốn về thực tập ở đấy. Gặp trường hợp khẩn cấp, người ta gọi về Cloncurry và bác sỹ cứu hộ sẽ đến bằng máy bay. Trong chiến tranh người ta xây ở đấy một phi trường thật tốt và mỗi tuần một lần cũng có máy bay chở thư và đồ tiếp tế đến. Nhà thờ ở Landsborough thuộc loại kiến trúc rất đơn giản, phía ngoài đóng bằng cây, mới được xây dựng lại cách đây ba mươi năm sau một vụ cháy rừng. Tôi thấy nhà thờ được trang bị quá sơ sài nên định bụng nếu nhận được chút ít tiền là tôi sẽ sơn trong và ngoài luôn thể. Nhà thờ chỉ có ghế dựa chứ không có ghế dài hành lễ và đây cũng có cái lợi vì cứ hai hay ba tháng một lần, chúng tôi có đoàn chiếu bóng lưu động ở Landsborough và chúng tôi có thể đem những ghế dựa này ra khỏi nhà thờ đặt trong sảnh Shire hay trước sân nhà sách Duncan vào mùa nắng. Cá nhân tôi cũng thấy tiện lợi nữa, vì trong tòa Cha sở chẳng có ghế bàn gì cả, nếu có ai đó muốn đến gặp tôi, tôi có thể đến nhà thờ mượn ghế và trả lui cho buổi lễ sau. Cả nhà thờ và tòa Cha sở chẳng được ai ngó ngàn tới, bởi vì vị mục sư cuối cùng bị rắn cắn chết năm 1935 và từ đấy chẳng có mục sư sở tại nào ở Landsborough cho tới khi tôi tới nhận việc vào mùa thu 1952. Dĩ nhiên, nhà thờ thỉnh thoảng cũng được sử dụng để làm lễ do các Mục sư vãng lai. Còn chính bản thân tôi sử dụng nhà thờ trong rất nhiều dịp khi tôi có mặt ở trong Quận, để mong tìm hiểu những gì thuộc địa phương Landsborough. Tôi rất hoan hỉ được đi trên đó, bởi vì tùy theo những chuẩn mực của nước Anh, nhưng không còn nhiều đối với một giáo xứ. Có lẽ theo chuẩn mục của nước Anh, tôi không mấy giống một mục sư. Theo tôi đó là một nơi tôi có thể tiếp tục tiến hành công tác đã quen thuộc và cũng từ đấy tôi có thể góp nhặt một số sách mới, cũng như được sống thoải mái và tương đối tiện nghi. Dầu cho đã trình bày với đức Giám mục, tôi cũng phải nhận ra rằng, cá nhân tôi không còn là người đàn ông trước khi bị bệnh sốt rét. Tôi hy vọng cơn bệnh sẽ qua đi và thể lực sẽ được phục hồi. Tôi hy vọng như thế vì có quá nhiều việc để làm mà quỹ thời gian chẳng còn bao năm nữa. ... Mời các bạn đón đọc Mùa Mưa của tác giả Nevil Shute.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Và Thế Là Chúng Ta Tiêu - Joshua Ferris
Tại sao, tại sao nhắc đến dân văn phòng lại có người tưởng tượng đến một chàng trai hay cô gái có khuôn mặt rạng ngời, ngày tám tiếng trong phòng điều hoà mát rượi, sếp quý đồng nghiệp yêu, tháng tháng nhận lương bảy số không, đời lúc nào cũng rặt một màu hồng? Ảo tưởng, quá ảo tưởng ! Không biết ngồi lê đôi mách, không biết làm việc riêng trong giờ? Không vài lần bị sếp đập bàn mắng mỏ? Không bao giờ thấp thỏm lương bị trừ, phụ cấp giảm? Chưa từng lo lắng bị đồng nghiệp cười trước mặt đá sau lưng? Chẳng biết thế nào là nỗi hoang mang trong thời khủng hoảng kinh tế? Thế thì sao dám vỗ ngực tự xưng ta là dân văn phòng? Thôi thôi, nhìn thử vào Và thế là chúng ta tiêu đi, đời sống bi hài thăng trầm khúc khuỷu của dân văn phòng đấy. *** Joshua Ferris sinh năm 1974, tốt nghiệp cử nhân Văn chương và Triết học tại Đại học Iowa. Anh từng theo học khóa Viết Sáng tạo tại Đại học California ở Irvine. Và thế là chúng ta tiêu là tiểu thuyết đầu tay của anh. Cuốn sách đã được dịch ra 24 thứ tiếng đồng thời giành nhiều giải thưởng văn học trong đó có giải PEN/Hemingway. Hiện Ferris đang sống tại New York, Mỹ.   Cuốn sách Và Thế Là Chúng Ta Tiêu đã mang lại cho Joshua Ferris giải PEN/Hemingway, khiến anh được so sánh với Joseph Heller của Catch 22, đưa anh trở thành tác giả bestseller quốc tế, và trên hết thảy, lấy cho dân văn phòng một chỗ đứng nữa trong tiểu thuyết đương thời. *** Nhận định về tác phẩm: “Cái nhìn thoáng qua tưởng như một tiểu thuyết châm biếm về văn hóa chốn công sở, khi nhìn kỹ hơn, hóa ra lại là một tiểu thuyết rất nghiêm túc về chính nước Mỹ. Thậm chí, theo cách khiêm nhường của nó, một tiểu thuyết Mỹ vĩ đại.”  - Los Angeles Times       “Một tiểu thuyết xúc động đích thực về công việc, niềm tin, tình yêu và nỗi cô đơn.”  - Michael Upchurch, Seattle Times       “Ferris đã nắm bắt được, một cách xuất sắc, cái tù túng của cuộc sống văn phòng đương đại.”  - The New Yorker   Mời các bạn đón đọc Và Thế Là Chúng Ta Tiêu của tác giả Joshua Ferris.
Truyện Kể Genji - Murasaki Shikibu
Truyện kể Genji (源氏物語), là một trường thiên tiểu thuyết của nữ sĩ cung đình Nhật Bản có biệt danh là Murasaki Shikibu sống dưới trướng của thứ phi Akiko trong cung Fujitsubo, triều đại Thiên hoàng Nhất Điều (986-1011), không rõ tên thật của bà là gì. Truyện được sáng tác vào khoảng những năm 1010 thời đại Heian bằng chữ viết kana, theo thể loại monogatari (truyện) cổ điển đã có lịch sử phát triển từ 200 năm trước đó của Nhật Bản. Xoay quanh hình tượng nhân vật hoàng tử Genji trong phần chính và Kaoru, người con trai trên danh nghĩa của Genji trong phần thập thiếp cùng mối quan hệ của họ với những người phụ nữ, tác phẩm gồm 54 chương, thuộc một trong những truyện rất lớn về dung lượng, rất phức tạp về nội dung và rất quyến rũ về mặt hình thức trong lịch sử văn học thế giới. Trở thành một hiện tượng có một không hai đối với văn học nhân loại vào thời kỳ trung cổ tiền Phục Hưng: về mặt lịch sử truyện được đánh giá là tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, sớm hơn rất nhiều so với sự ra đời của tiểu thuyết ở châu Âu với tác phẩm Đôn Kihôtê của Miguel de Cervantes vào thế kỷ 16 *** Murasaki Shikibu (Kana: むらさきしきぶ; Kanji: 紫式部, Hán Việt: Tử Thức Bộ; 978 - 1016) là biệt hiệu của một nữ văn sĩ cung đình thời Heian Nhật Bản, tác giả của cuốn tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, kiệt tác Truyện kể Genji, được viết bằng tiếng Nhật vào khoảng năm 1000 đến 1012. Cái tên Murasaki Shikibu chỉ là biệt hiệu của bà, không ai biết rõ tên thật của bà là gì và bà sinh ra ở đâu, chỉ biết bà thuộc dòng dõi dòng họ Fujiwara và mất tại Tokyo, tuy một địa điểm tham quan phía Bắc Kyoto hiện nay được coi như mộ của bà. Murasaki Shikibu thuộc cành thứ của dòng họ lớn đang trị vì đất nước là họ Fujiwara. Thành viên của gia tộc này làm chức nhiếp chính thay cho các Thiên hoàng trong suốt phần lớn thời Heian, cùng tổ phụ về phía họ nội 6 thế hệ trước đó với Fujiwara Michinaga, quan đại chưởng ấn điều khiển việc nước trong buổi đầu thế kỷ 11. Tuy nhiên khi Murasaki Shikibu mới ra đời chi họ của bà bị tụt xuống hạng thứ trong giới quý tộc cung đình. Cha bà, ông Fujiwara no Tametoki (藤原為時) chỉ là một nhà thơ, người có địa vị khiêm nhường ở thủ đô và đã 2 lần làm tỉnh trưởng tỉnh Echizen. Không ai biết gì nhiều về thời thơ ấu của Murasaki Shikibu ngoài những điều bà tự nói với chúng ta. Trong lời mào đầu nổi tiếng của cuốn Nhật ký Murasaki Shikibu (Murasaki Shikibu nikki) mô tả các biến cố triều đình từ cuối 1008 đến đầu 1010 cho chúng ta biết cha bà, thấy con gái có khả năng trong việc học hành, đã than phiền bà không sinh ra là con trai. Cha bà trở thành tỉnh trưởng Echizen ở duyên hải Biển Nhật Bản, phía bắc Tokyo, vào năm 990 và bà đã đi theo cha đến nơi nhậm chức cho đến khi lấy chồng thì trở về. Murasaki vào triều hầu hạ thứ phi Akiko, con gái của Michinaga, trong cung điện Fujitsubo thời Thiên hoàng Ichijō (986-1011) trong khoảng giữa thập niên đầu của thế kỷ 11. Cuốn Nhật ký Murasaki Shikibu của Murasaki có nhắc đến sự ra đời của hai người con trai hoàng hậu và cả hai hoàng tử sau đó đều trở thành vua. Trong nhật ký của mình Murasaki cho biết bà vào triều ngày 29 tháng 12 âm lịch nhưng không cho biết năm, có thể là năm âm lịch 1005 và/hoặc 1006. Hoàng hậu Akiko góa chồng năm 1011, khi Thiên hoàng Ichijo băng hà, và Murasaki Shikibu còn ở lại trong cung phục vụ hai năm tiếp theo. Chịu sự giáo dục chu đáo, tỉ mỉ của một phụ nữ trẻ cùng tầng lớp trong cung, và mặc dầu có một trí tuệ khác thường, Murasaki Shikibu đã phải tiếp thu một cách chậm chạp nhưng chắc chắn tất cả những kiến thức văn hóa rộng lớn đương thời mà người thiếu phụ này truyền cho, từ lịch sử Trung Hoa, thơ ca trữ tình Trung Hoa và Nhật Bản cho đến các trước tác triết học Khổng giáo và Phật giáo. Về truyện hư cấu bằng văn xuôi, bà cũng chỉ biết không nhiều hơn là những trước tác buổi đầu của chính người Nhật Bản vào thế kỷ 10 và ngay cả văn xuôi trong văn học Trung Hoa đương thời, vốn không phải là loại hình được người Trung Hoa ca ngợi hay thành thạo vào thời đó. Murasaki Shikibu lấy chồng khoảng năm 998 hoặc năm 999, chồng là một người bà con xa với bà. Có lý do để tin rằng, so với thời bấy giờ bà lấy chồng khá muộn, có lẽ vào tuổi 20. Bà sinh được một con gái vào năm 999 và góa bụa vào năm 1001. Chịu nhiều đau khổ sâu sắc trong đời tư nên Murasaki Shikibu đã sớm rút lui khỏi thế giới trần tục và dồn sinh lực của đời mình vào việc học tập cũng như sáng tạo nghệ thuật. Bà đã đạt được những thành tích xuất sắc trong âm nhạc, thơ, hội họa, và đặc biệt là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Truyện kể Genji 54 chương, viết xong vào khoảng năm 1004, một kiệt tác đứng vào hàng lớn nhất của văn xuôi cổ điển Nhật Bản cũng như văn xuôi nhân loại. *** KIRITSUBO Dưới triều của một vị vua không rõ thời nào, trong số rất nhiều thứ phi và cung nữ, có một người tuy không thuộc dòng dõi quý tộc có đẳng cấp cao nhưng lại được nhà vua hết mực yêu chiều. Ngay từ đầu, nàng đã bị những người có địa vị cao và tự đắc về thân thế của mình ganh ghét, cho là vô lễ. Những người ngang bằng hoặc thấp hơn nàng về địa vị thậm chí còn khó chịu với nàng hơn. Ngày ngày, khi phụng sự nhà vua trong cung, nàng đã làm cho những người khác bực mình vì ghen tỵ. Và có lẽ vì những hờn giận ấy chồng chất quá nhiều nên sức khỏe của nàng cứ yếu dần. Nàng cảm thấy buồn phiền, cô đơn và hay trở về quê. Nhà vua lại càng thấy tội nghiệp cho nàng, không để tâm đến những lời đàm tiếu xung quanh. Tình cảm của nhà vua dành cho nàng trở thành một đề tài đàm tiếu quen thuộc của người đời. Tình yêu ấy khiến cho cả các vị quan lớn trong triều cũng cảm thấy bất ổn và cứ ngoảnh đi không muốn nhìn trực tiếp. Ở Trung Quốc thời Đường cũng xảy ra một chuyện như thế đã làm cho tình hình xã hội xấu đi dẫn đến loạn lạc. Dần dà, người đời cũng cho rằng đây là chuyện không hay và đem ví với chuyện nàng Dương Quý Phi với vua nhà Đường. Nàng cung phi ấy rất đau khổ nhưng vẫn sống nhờ vào tình cảm cao quý hiếm có mà nhà vua dành riêng cho nàng. Bố nàng là quan Dainagon nhưng đã qua đời. Mẹ nàng - được gọi là phu nhân sống ở cung phía Bắc - là một người nệ cổ và có hiểu biết. Nàng được bố mẹ dạy dỗ để có thể đảm đương mọi chuyện lễ nghĩa trong cung đình không kém gì những người được xã hội đương thời trọng vọng nhưng nếu có chuyện gì thì vẫn thiếu người hậu thuẫn, nên không khỏi cảm thấy cô đơn vì thiếu nơi nương tựa mỗi khi có chuyện bất ngờ. Có lẽ vì duyên nợ sâu nặng từ tiền kiếp, nàng cung phi Kiritsubo đã sinh hạ một hoàng nam có vẻ đẹp rực rỡ lạ thường và trong sáng như một viên ngọc quý. Nhà vua rất nóng lòng mong được gặp con nên khi vừa hết thời gian ở cữ là ngài vội vã mời cung phi và hoàng tử về cung. Trông thấy hoàng tử lúc ấy mới là một đứa trẻ sơ sinh, nhà vua đã nhận thấy con mình có khí sắc phi thường. Hoàng tử thứ nhất của nhà vua là con của hoàng phi con gái quan Hữu đại thần, có thế lực hậu thuẫn rất tốt tại triều đình và theo sự ngưỡng vọng của dân tình lúc đó thì "chuyện chàng được kế thừa ngôi vua không còn gì có thể nghi ngờ nữa". Nhưng hoàng tử mới ra đời lại có vẻ đẹp không ai sánh bằng. Vì thế nhà vua vẫn hết lòng yêu quý hoàng tử thứ nhất như một người con bình thường, còn với hoàng tử mới sinh thì ngài dành cho một tình yêu vô hạn và nâng niu như một báu vật của riêng mình. Mẹ của chàng hoàng tử vốn không phải thuộc loại cung nữ tầm thường chỉ chuyên làm công việc hầu hạ. Mọi người đều biết rằng nàng được nhà vua hết mực yêu thương và cũng có địa vị khá cao trong cung đình. Nhà vua lúc nào cũng muốn giữ nàng bên cạnh. Bất cứ cuộc vui tao nhã nào trong cung, nhà vua cũng cho gọi nàng trước hết. Cũng có lúc nhà vua qua đêm với nàng, và hôm sau lại tiếp tục giữ nàng ở lại không cho về, nên tất nhiên nàng bị những người khác coi thường, cho là loại người thiếu ý tứ và hời hợt. Sau khi nàng sinh hạ hoàng nam thì tình yêu thương của nhà vua đối với nàng càng sâu đậm hơn bao giờ hết. Vì vậy mẹ của hoàng tử thứ nhất cũng lo lắng nghĩ rằng "biết đâu hoàng tử nhỏ này chiếm được vị trí đông cung". Hoàng phi này vào cung sớm nhất và cũng được nhà vua rất yêu thương, quý trọng. Nàng cũng đã sinh cho nhà vua hoàng tử và các công chúa nhưng đôi khi những điều nàng hay phàn nàn không khỏi làm cho nhà vua cảm thấy "phiền toái, buồn lòng". ... Mời các bạn đón đọc Truyện Kể Genji của tác giả Murasaki Shikibu.
Viên Kim Cương Quyền Lực - Tamora Pierce
Alanna lại lên đường kiếm hiểm nguy: cô đi tìm Viên Kim Cương Quyền Lực có khả năng mang lại cho một nhà cầm quyền thông thái những quyền lực tối cao để bảo vệ vương quốc trước thảm họa và bất an. Một kết cục đẹp cho Alanna, giờ đã trở thành một phụ nữ trẻ tuổi tự tin: cô có trong tay viên kim cương và tình yêu thực thụ, sau nhiều trải nghiệm và giằng xé. Ý chí mạnh mẽ và khả năng tiến tới mục tiêu của Alanna cũng hút hồn người đọc y hệt như thế giới tưởng tượng đầy pháp thuật của cô. Một thế giới vô cùng duyên dáng với những thế lực siêu nhiên, với vẻ xa lạ bí hiểm, với những nền văn hóa cổ xưa... nhưng lại rất gần gũi chúng ta bởi sức sống tinh thần nồng ấm, ý chí quật cường, nỗi khát khao tình người khắc khoải. Những cá nhân, đặc biệt là những người đàn ông bao quanh Alanna, khiến bạn có thể tưởng tượng chính xác tới từng chi tiết và cực kỳ sông động: hoàng tử Jonathan lãng mạn, chú Coram ân cần như một người cha, chàng kẻ trộm tinh tế Georg, và chiến binh rồng Liam thâm sâu cường tráng... Và một tình yêu sâu đẹp giản dị, qua biết bao đắn đo hồi hộp, cuối cùng cũng đã ở lại với Alanna. Đây là cuốn cuối trong bộ tứ truyện fantasy hút hồn xoay quanh nữ binh quả cảm Alanna, con Sư Tử Cái của vương quốc Tortall. Tác giả đã thành công xuất sắc trong việc miêu tả những con người sống động. Dòng hành động logic và thuyết phục. Những tình huống nguy hiểm và cuộc phiêu lưu rởn tóc gáy luôn được làm mềm bằng những trang văn đẹp đẽ về những mối quan hệ ấm áp, tình bạn chân thành và tình yêu say đắm. *** Bài ca về Nữ hiệp sĩ - Sư Tử Cái Alanna von Trebond​ Đằng sau cuộc phiêu lưu của một thiếu nữ thuở dậy thì, với ám ảnh dai dẳng của cảm xúc sợ hãi và nghi ngờ bản thân, là bài ca về tình yêu về lòng quả cảm về trí thông minh về đức tin và lòng trung thành... Tất cả được nữ tác giả vẽ nên thật sắc sảo và tinh tế. Câu chuyện được kể hấp dẫn đến nỗi bộ sách đã trở thành hiện tượng SÁCH BESTSELLER DÀNH CHO TEEN ở Mỹ và châu Âu, và được nhận Giải thưởng "Những Con Mọt Sách" của đài truyền hình ZDF (CHLB Đức). Alanna là một trong những nhân vật mang dáng dấp nữ anh hùng trong loạt tác phẩm giả tưởng của nữ văn sĩ Mỹ này. Bốn tập truyện (Thành phố đen, Trong vòng tay Ðức Mẹ, Cây kiếm vỡ, Viên kim cương quyền lực) đưa bạn đến với những cuộc tranh hùng giữa các bộ tộc, giữa các vị quốc vương của những miền đất mang những cái tên đầy bí ẩn. Bạn đọc sẽ được đồng hành cùng Alanna với cái tên con trai là Alan và sau này là nữ hiệp sĩ có biệt danh "Sư tử cái của vương quốc Tortall", dấn thân vào cuộc trường chinh đầy kỳ thú và bất ngờ. Nữ hiệp sĩ Alanna Von Trebondnày được dành riêng cho lứa tuổi 12-19, nhưng người lớn đọc sách cũng nhận được rất nhiều. Những triết lý trong sách được gài vào khéo léo và giản dị, chẳng có gì to tát nhưng chúng sẽ cho bạn đọc những khái niệm đầu tiên mới mẻ về cái gọi là số phận, về sự sắp đặt không vô tình của vũ trụ, và dù có hay không sự can thiệp của các vị thần linh và thế giới siêu hình thì con người vẫn là những nhân vật "có khả năng ảnh hưởng đến dòng sự kiện". Với những người lớn, điều này không phải là không có ý nghĩa! Trọn bộ 4 cuốn của Nữ hiệp sĩ Alanna von Trebond: Cuốn 1: Thành Phố Đen Cuốn 2: Trong vòng tay Đức Mẹ Cuốn 3: Cây kiếm vỡ Cuốn 4: Viên kim cương quyền lực *** Tamora Pierce là một nhà văn tiểu thuyết giả tưởng người Mỹ dành cho thanh thiếu niên, được biết đến nhiều nhất với những câu chuyện có các nữ anh hùng trẻ tuổi. Nhà văn Tamora Pierce sinh năm 1954 tại Connellsville, Pennsylvania. Tốt nghiệp phổ thông, Tamora Pierce theo học môn tâm lý tại Đại học tổng hợp Pennsylvania. Ngay từ khi 11 tuổi, Tamora Pierce đã bắt đầu sáng tác. Hầu như tất cả các tiểu thuyết của bà đều là truyện fantasy dành cho lứa tuổi dậy thì. Cho tới nay Tamora Pierce đã cho in trên 20 tiểu thuyết và 3 truyện ngắn. Say đọc sách từ nhỏ, nhưng với tất cả những gì đọc được, mà đa phần là các tác phẩm khoa học viễn tưởng và các tác phẩm kinh điển thuộc dòng fantasy (Star Trek, Tolkien...) cô bé Tamora Pierce luôn băn khoăn một điều: Tại sao trong tất cả những cuốn sách tuyệt vời mà cô mê mẩn đến nóng bỏng đó không bao giờ có một thiếu nữ anh hùng, quyết đấu bảo vệ con đường của mình? Bởi tin chắc là hầu như không thể thuyết phục các nhà văn khác suy nghĩ lại và sửa chữa thiếu sót khó hiểu này, nên Tamora đã quyết định tự mình cầm bút. Nguyên tắc này vẫn được Tamora Pierce cùng các tác phẩm của bà trung thành tuân thủ cho tới hôm nay. Tamora Pierce cùng trí tưởng tượng và ý chí mạnh mẽ đang bơi ngược dòng, chống lại con sông ào ạt của những người hùng phái nam đang thống trị thế giới văn học fantasy. Bà đã mang lại cho bao thế hệ thiếu niên nam nữ những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hút hồn với những nhân vật thuyết phục sâu sắc và những dòng hành động trôi chảy tinh tế. Những nữ anh hùng trong truyện của Tamora Pierce thật quyết liệt, mạnh mẽ và dịu dàng: Alanna von Trebond, Dhana, Keladry, Beka Cooper và sau này tới con gái của Alanna là Aly. Bởi thế, Tamora Pierce và thế giới fantasy của bà xứng đáng là người bạn đường thân cận của các thiếu nữ trong quá trình trở thành người lớn. Cùng rất nhiều câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm cực kỳ thuyết phục, bà mang lại cho bạn đọc niềm tin rằng: Nếu những nhân vật chính của bà - vốn là những thiếu nữ bình thường và không khỏi có lúc nghi ngờ bản thân - đã thành công và trở thành nữ anh hùng, thì bạn cũng có thể làm được. Trong tất cả các cuốn tiểu thuyết cúa mình, Tamora Pierce miêu tả quá trình khẳng định bản thân và con đường tiến vào thế giới người lớn của các thiếu nữ (dĩ nhiên là không chỉ có một phái, các nam nhân vật của bà cũng rất tuyệt vời) bằng bút pháp vô cùng lôi cuốn, vô vàn chi tiết hài hước, bay bổng, độc đáo mà không bao giờ lặp lại, không hề nhàm chán hoặc thậm chí bị trượt vào những khuôn thức chung chung sáo rỗng. Truyện fantasy của bà luôn được nêm nếm gia vị rất mặn mà tinh tế với những cảnh kịch ngang bướng và hài hước. Thế giới thời Trung cổ chỉ là bối cảnh, những vấn đề bà đề cập tới và đặt ra mang tính thời sự cao. Trong những cuốn sách của bà có tất cả những gì hứa hẹn mang lại cho bạn một buổi chiều đọc sách đẹp đẽ: tiếng loảng xoảng của vũ khí, cảnh chiến đấu, bạn bè, lòng chung thủy, sự trung thành và kể cả tình yêu, kinh nghiệm tự trải qua, pháp thuật, những phong cảnh đẹp tuyệt vời, lòng vị tha và sự cảm thông, một số chàng trai có trái tim vàng và dĩ nhiên là các thế lực u ám, thứ mà ta phải chống đối và chiến thắng. Mời các bạn đón đọc Nữ Hiệp Sĩ Alanna Von Trebond Tập 4: Viên Kim Cương Quyền Lực của tác giả Tamora Pierce.
Cây Kiếm Vỡ - Tamora Pierce
Đóng giả trai, Alanna von Trebond đã học hành luyện tập và vượt qua kỳ thi hiệp sĩ của triều đình. Giờ cô phi ngựa vào sa mạc miền Nam để chứng tỏ tài năng hiệp sĩ và pháp thuật. Có rất nhiều thử thách nguy hiểm khôn cùng cũng như những băn khoăn khao khát mà Alanna phải trải qua. Thế rồi sau đó, người yêu của cô, hoàng tử Jonathan, cũng xuất hiện giữa sa mạc... Cuốn sách này nối kết yếu tố phiêu lưu mạo hiểm với những vấn đề hàng ngày của một cận vệ trong triều đình và những khó khăn trong tình yêu, thật hay và thật hấp dẫn, đến độ người ta dễ dàng tưởng tượng được mình trong cảnh chuyện. Cây kiếm vỡ kể về năm đầu tiên trong cuộc đời hiệp sĩ của Alanna. Sau khi xuống tới sa mạc, cô gặp gỡ và làm quen với nền văn hóa của dân tộc Bazhir. Alanna bây giờ đã tự tin hơn nhiều so với thuở trước, nhưng vẫn thấy cô đơn và vẫn chưa thể chấp nhận bản thân mình một cách dễ dàng. Cũng giống như trong tập hai của bộ tứ này, Tamora Pierce tận dụng vẻ cô đơn (gần như hoàn hảo) của nữ nhân vật chính để có cơ hội nhìn sâu hơn vào đời sống tình cảm nội tâm của một thiếu nữ, và cho Alanna cơ hội phát triển tài năng cùng tính cách. Bốn cuốn trong bộ sách này là lời mời gọi bạn dấn thân vào cuộc đời tự do phóng khoáng với lý tưởng cao cả của một hiệp sĩ có đầy đủ võ thuật lẫn pháp thuật cao cường, với lòng quả cảm, sự kiêu hãnh đầy tự trọng và một tình yêu không thể đắm say hơn. *** Bài ca về Nữ hiệp sĩ - Sư Tử Cái Alanna von Trebond​ Đằng sau cuộc phiêu lưu của một thiếu nữ thuở dậy thì, với ám ảnh dai dẳng của cảm xúc sợ hãi và nghi ngờ bản thân, là bài ca về tình yêu về lòng quả cảm về trí thông minh về đức tin và lòng trung thành... Tất cả được nữ tác giả vẽ nên thật sắc sảo và tinh tế. Câu chuyện được kể hấp dẫn đến nỗi bộ sách đã trở thành hiện tượng SÁCH BESTSELLER DÀNH CHO TEEN ở Mỹ và châu Âu, và được nhận Giải thưởng "Những Con Mọt Sách" của đài truyền hình ZDF (CHLB Đức). Alanna là một trong những nhân vật mang dáng dấp nữ anh hùng trong loạt tác phẩm giả tưởng của nữ văn sĩ Mỹ này. Bốn tập truyện (Thành phố đen, Trong vòng tay Ðức Mẹ, Cây kiếm vỡ, Viên kim cương quyền lực) đưa bạn đến với những cuộc tranh hùng giữa các bộ tộc, giữa các vị quốc vương của những miền đất mang những cái tên đầy bí ẩn. Bạn đọc sẽ được đồng hành cùng Alanna với cái tên con trai là Alan và sau này là nữ hiệp sĩ có biệt danh "Sư tử cái của vương quốc Tortall", dấn thân vào cuộc trường chinh đầy kỳ thú và bất ngờ. Nữ hiệp sĩ Alanna Von Trebondnày được dành riêng cho lứa tuổi 12-19, nhưng người lớn đọc sách cũng nhận được rất nhiều. Những triết lý trong sách được gài vào khéo léo và giản dị, chẳng có gì to tát nhưng chúng sẽ cho bạn đọc những khái niệm đầu tiên mới mẻ về cái gọi là số phận, về sự sắp đặt không vô tình của vũ trụ, và dù có hay không sự can thiệp của các vị thần linh và thế giới siêu hình thì con người vẫn là những nhân vật "có khả năng ảnh hưởng đến dòng sự kiện". Với những người lớn, điều này không phải là không có ý nghĩa! Trọn bộ 4 cuốn của Nữ hiệp sĩ Alanna von Trebond: Cuốn 1: Thành Phố Đen Cuốn 2: Trong vòng tay Đức Mẹ Cuốn 3: Cây kiếm vỡ Cuốn 4: Viên kim cương quyền lực *** Tamora Pierce là một nhà văn tiểu thuyết giả tưởng người Mỹ dành cho thanh thiếu niên, được biết đến nhiều nhất với những câu chuyện có các nữ anh hùng trẻ tuổi. Nhà văn Tamora Pierce sinh năm 1954 tại Connellsville, Pennsylvania. Tốt nghiệp phổ thông, Tamora Pierce theo học môn tâm lý tại Đại học tổng hợp Pennsylvania. Ngay từ khi 11 tuổi, Tamora Pierce đã bắt đầu sáng tác. Hầu như tất cả các tiểu thuyết của bà đều là truyện fantasy dành cho lứa tuổi dậy thì. Cho tới nay Tamora Pierce đã cho in trên 20 tiểu thuyết và 3 truyện ngắn. Say đọc sách từ nhỏ, nhưng với tất cả những gì đọc được, mà đa phần là các tác phẩm khoa học viễn tưởng và các tác phẩm kinh điển thuộc dòng fantasy (Star Trek, Tolkien...) cô bé Tamora Pierce luôn băn khoăn một điều: Tại sao trong tất cả những cuốn sách tuyệt vời mà cô mê mẩn đến nóng bỏng đó không bao giờ có một thiếu nữ anh hùng, quyết đấu bảo vệ con đường của mình? Bởi tin chắc là hầu như không thể thuyết phục các nhà văn khác suy nghĩ lại và sửa chữa thiếu sót khó hiểu này, nên Tamora đã quyết định tự mình cầm bút. Nguyên tắc này vẫn được Tamora Pierce cùng các tác phẩm của bà trung thành tuân thủ cho tới hôm nay. Tamora Pierce cùng trí tưởng tượng và ý chí mạnh mẽ đang bơi ngược dòng, chống lại con sông ào ạt của những người hùng phái nam đang thống trị thế giới văn học fantasy. Bà đã mang lại cho bao thế hệ thiếu niên nam nữ những cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hút hồn với những nhân vật thuyết phục sâu sắc và những dòng hành động trôi chảy tinh tế. Những nữ anh hùng trong truyện của Tamora Pierce thật quyết liệt, mạnh mẽ và dịu dàng: Alanna von Trebond, Dhana, Keladry, Beka Cooper và sau này tới con gái của Alanna là Aly. Bởi thế, Tamora Pierce và thế giới fantasy của bà xứng đáng là người bạn đường thân cận của các thiếu nữ trong quá trình trở thành người lớn. Cùng rất nhiều câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm cực kỳ thuyết phục, bà mang lại cho bạn đọc niềm tin rằng: Nếu những nhân vật chính của bà - vốn là những thiếu nữ bình thường và không khỏi có lúc nghi ngờ bản thân - đã thành công và trở thành nữ anh hùng, thì bạn cũng có thể làm được. Trong tất cả các cuốn tiểu thuyết cúa mình, Tamora Pierce miêu tả quá trình khẳng định bản thân và con đường tiến vào thế giới người lớn của các thiếu nữ (dĩ nhiên là không chỉ có một phái, các nam nhân vật của bà cũng rất tuyệt vời) bằng bút pháp vô cùng lôi cuốn, vô vàn chi tiết hài hước, bay bổng, độc đáo mà không bao giờ lặp lại, không hề nhàm chán hoặc thậm chí bị trượt vào những khuôn thức chung chung sáo rỗng. Truyện fantasy của bà luôn được nêm nếm gia vị rất mặn mà tinh tế với những cảnh kịch ngang bướng và hài hước. Thế giới thời Trung cổ chỉ là bối cảnh, những vấn đề bà đề cập tới và đặt ra mang tính thời sự cao. Trong những cuốn sách của bà có tất cả những gì hứa hẹn mang lại cho bạn một buổi chiều đọc sách đẹp đẽ: tiếng loảng xoảng của vũ khí, cảnh chiến đấu, bạn bè, lòng chung thủy, sự trung thành và kể cả tình yêu, kinh nghiệm tự trải qua, pháp thuật, những phong cảnh đẹp tuyệt vời, lòng vị tha và sự cảm thông, một số chàng trai có trái tim vàng và dĩ nhiên là các thế lực u ám, thứ mà ta phải chống đối và chiến thắng. Mời các bạn đón đọc Nữ Hiệp Sĩ Alanna Von Trebond Tập 3: Cây Kiếm Vỡ của tác giả Tamora Pierce.