Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Linh Hồn Chết - Nikolai Vasilyevich Gogol

Ngay sau khi ra đời, Những linh hồn chết của Gogol đã gây một cơn chấn động lớn trên toàn nước Nga. Rất nhanh chóng, cơn địa chấn này đã lan rộng ra nước ngoài. Theo viện sĩ B.L. Riftin, tập I tác phẩm Những linh hồn chết hoàn thành vào năm 1842, thì năm 1846, khi tái bản lần thứ 2, đã được dịch sang tiếng Đức, năm 1849 được dịch sang tiếng Tiệp. Năm 1854 xuất hiện bản dịch Những linh hồn chết bằng tiếng Anh. Tới năm 1858, cùng với thiên trường ca, tác giả Quan thanh tra đã nổi tiếng khắp châu Âu và phương Tây. Đánh giá về vai trò của Gogol đối với văn học Nga, nhà nghiên cứu I. Zolotuski khẳng định: Gogol là người đầu tiên có công đưa văn học Nga hội nhập với thế giới. Thiên tài của Gogol là một thiên tài nhiều mặt, ít thấy ở một nhà văn. Mới hai mươi sáu tuổi, Gogol đã có những tác phẩm mẫu mực của năm loại văn rất khác nhau, tựa hồ của nhiều nhà văn khác nhau: truyện dân gian quái dị với Những đêm trong thôn gần Đikanka, tiểu thuyết sử thi hùng tráng với Tarax Bunba, truyện châm biếm hài hước với Câu chuyện về sự bất hòa giữa Ivan Ivanovits và Ivan Nikiforovits, tiểu thuyết hiện thực phê phán với Một đôi vợ chồng trang chủ kiểu xưa và Cái áo khoác, hài kịch đả kích xã hội với Quan thanh tra. Với cái thiên tài nhiều mặt, mà mặt nào cũng lớn và đang độ phát triển, dồi dào sinh lực ấy, Gogol bắt tay vào viết tác phẩm chủ yếu của đời mình, lớn hơn tất cả các tác phẩm kia: Những linh hồn chết. Từ lúc ấy, cuộc đời của Gogol còn mười sáu năm nữa, nhưng chỉ còn có một mục đích, một công việc, một sứ mạng: hoàn thành Những linh hồn chết, phấn đấu gian lao, đau khổ khủng hoảng tinh thần, lịch sử mười sáu năm cuối của đời Gogol chính là lịch sử của Những linh hồn chết. Ý định viết tác phẩm lớn ấy đến với Gogol, như trong Sám hối của một tác giả, văn hào viết: “Chính Puskin làm cho tôi quan niệm vấn đề một cách nghiêm túc. Từ lâu Puskin khuyến khích tôi bắt tay viết một tác phẩm lớn; Puskin bảo tôi: “- Tại sao có cái tài đoán ra chân tướng con người để chỉ phác vài nét là lẽ ra như nó sống thật, mà anh lại không bắt tay vào viết một tác phẩm lớn? Như thế thật quả là một tội lỗi!”. Để kết luận, Puskin cho tôi đề tài mà chính anh dự định viết thành một trường ca và, theo lời anh, thì không bao giờ nhường lại cho bất kỳ một ai. Đó là đề tài của Những linh hồn chết”. Puskin từng khuyên Gogol sáng tác Những linh hồn chết thành một thiên “trường ca” - poema - Chữ “poema” đây không phải có nghĩa là một tập thơ, mà là một tiểu thuyết trường thiên có tính chất sử thi rộng lớn. Đến khi xuất bản tác phẩm, Gogol cho in lên bìa chữ “poema” to hơn tên sách. Càng viết và càng nghĩ, Gogol càng thấy cái tầm rộng lớn của tác phẩm; vì vậy mà những cuộc phiêu lưu buồn cười của nhân vật chính Tsitsikôp hợp thành tình tiết của thiên trường ca đã được khoác một ý nghĩa biểu tượng: Tsitsikôp không phải chỉ là một tên bịp bợm đi mua nông phu chết, mà còn là Gogol đi tìm những “linh hồn sống”, nhưng chỉ gặp toàn những “linh hồn chết” - trong tiếng Nga cái từ “đusi” có cả hai nghĩa “những linh hồn” và “những nông phu”. Năm 1843, trong một bức thư Gogol viết rõ ràng: - “Quả thật có thể tin được điều người ta nói là: tất cả đều chết hết rồi, rằng ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho những linh hồn chết”.  Bởi vậy mà nhan đề của thiên trường ca trước dự định là Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp (Pôkhôjdênia Tsitsikôva) với phụ đề là Những linh hồn chết (miôrtvưe đusi) phải đổi lại là Những linh hồn chết với tiêu đề Những cuộc phiêu lưu của Tsitsikôp. Mùa hè 1841 phần thứ nhất Những linh hồn chết được hoàn thành. Tháng chín Gogol mang về nước để xuất bản. Ngày 12 tháng 11 bản thảo nộp cho Ủy ban kiểm duyệt Mạc tư khoa và dĩ nhiên là gặp ngay phải vô số khó khăn. Nhờ phu nhân Xmirnôva và mấy bạn vương công thần thế bảo trợ văn học, Những linh hồn chết mới được phép in, chỉ phải chữa lại đoạn nói về đại úy Kôpêikin. Ngày 23 tháng 5 năm 1842, Những linh hồn chết xuất bản lần thứ nhất. Tờ Người đương thời, trong bài phê bình, đã suy tôn tác giả cuốn sách là đệ nhất văn hào Nga; quả là một danh hiệu chính đáng; từ trước Biêlinxki vẫn nói rằng Puskin sớm chết thì Gogol đã thay vào chỗ mà Puskin để lại trong văn học Nga. Với những điều hiểu biết của một nghệ sĩ thiên tài, Gogol đã “vẽ lại cuộc đời với bộ mặt thật của nó”, và cái bộ mặt của xã hội Nga với các tầng lớp thống trị của nó thời ấy là ghê tởm; thì Gogol đã bắt các đại diện của chúng ta, “giật bộ trang phục mỹ lệ và cái mặt nạ anh hùng” của chúng, bắt chúng “đem thân cho thiên hạ mua cười”. Chỉ với Những linh hồn chết, sự nghiệp của Gogol cũng đã xứng đáng đặt ngang hàng với sự nghiệp của một nhà văn lớn khác của thế giới: Xervantex với bộ Đông Kisôt. Thuộc thể tiểu thuyết phê phán và châm biếm phong tục, - thể tiểu thuyết Picaret theo thuật ngữ văn học, do cái từ Tây Ban Nha picarô, chỉ tên bịp bợm, mà ra, - thì Những linh hồn chết của Gogol, Đông Kisôt của Xervantex và Những di văn của câu lạc bộ Pickuych của Dickenx là ba kiệt tác đứng hàng đầu trong văn học thế giới, và so với các tác phẩm cùng thể tài châm biếm ấy thì Những linh hồn chết đậm tính chất chân thực, gần với cuộc đời hơn cả. *** Bốn Bức Thư Của Tác Giả {Bốn bức thư này in trong chương XVII của cuốn Trích thư từ gửi các bạn tôi xuất bản cuối năm 1846; nhưng những thư này chỉ là những lời thanh minh của tác giả, không phải là những thư gửi đi cho ai cả} I. Anh có tỏ ý phẫn nộ vì cái giọng quá quắt của một số lời chỉ trích Những linh hồn chết. Tôi thấy như thế không được đúng: việc đó cũng có mặt tốt: đôi khi cũng cần có người phỉ báng mình. Người nào đã mê say với những cái đẹp rồi thì không thấy được những cái xấu, cho nên cái gì cũng dung thứ cả; ngược lại người nào đã muốn dèm pha thì cố tìm cho ra những cái xấu của anh và nêu rõ cái xấu đó lên đến nỗi buộc lòng anh phải thấy. Người ta ít khi có dịp nghe sự thật lắm; cho nên chỉ cần được một phần nhỏ sự thật thôi, người ta cũng đã có thể dung thứ cái giọng phỉ báng của kẻ lên tiếng nói sự thật. Những lời phê phán của Bungarin Xenlôpxki, Pôlêvôi có nhiều cái đúng, kể cả lời họ khuyên tôi nên học tiếng Nga trước khi có tham vọng viết lách {Những linh hồn chết phần thứ nhất, ra đời năm 1842, bị những nhà phê bình lạc hậu và phản động ghen ghét la ó. Trong tờ Tín sứ Nga, nhà phê bình lãng mạn chủ nghĩa N.A Pôlêvôi cho rằng Những linh hồn chết chỉ là một bức biếm họa, không thể xem là nghệ thuật được và tác giả chưa biết viết văn, còn mắc nhiều lỗi ngữ pháp; Pôlêvôi viết: “- Hãy gác sang một bên những cảm hứng bồng bột của anh mà đi học tiếng Nga đi!”. Có người chế giễu chữ poema ở bìa sách và suy diễn ra, gọi cả những sách giáo khoa vật lý học và sách dạy làm vườn là poema. Nhưng những lối phê bình ấy làm cho quần chúng chân chính rất căm phẫn}. Quả nhiên, giá tôi giữ bản thảo trong ngăn kéo thêm một năm nữa, chứ đừng vội vã cho in; thì chính bản thân tôi cũng đã thấy rằng không thể nào đem nó ra mà xuất bản dưới một hình thức kém cỏi như vậy. Tuy những bài thơ châm biếm và những lời chế giễu lúc đầu có làm cho tôi khó chịu thật; nhưng vẫn rất bổ ích cho tôi. Ôi! Những lời dèm pha liên miên ấy, cái giọng phỉ báng và những lời chế giễu cay cú ấy, thật có lợi cho ta không biết bao nhiêu mà kể! Trong thâm tâm ta thường giấu nhiều tự ái ti tiện, nhiều tham vọng xấu xa, đến nỗi ta cần phải luôn luôn bị châm chích, đánh đập bằng đủ mọi thứ khí giới; và phải cảm ơn bàn tay đã đánh ta. Tôi những mong được phê phán nhiều hơn nữa, nhưng lại muốn rằng người phê phán không phải là những người làm văn học, mà là những người có kinh nghiệm về thực tế. Tiếc thay, ngoài những người làm văn học, không có một bộ óc thực tiễn nào lên tiếng cả. Tuy nhiên Những linh hồn chết cũng đã gây nên lắm xôn xao bàn tán, lắm lời đồn đại, đã xúc phạm đến lòng tự ái của khá nhiều người vì lối giễu cợt, vì tính xác thực, vì lối biếm họa. Tuy đầy rẫy những sự lầm lẫn, sai lệch hiển nhiên; nó cũng đả động đến một tình hình mà ai nấy đều được chứng kiến hàng ngày. Tôi lại còn xen vào đấy một số đoạn có tính chất khiêu khích, hy vọng rằng sẽ có người lên tiếng quát mắng tôi và trong cơn phẫn nộ, sẽ vô tình mách cho tôi biết cái sự thực mà tôi đang tìm kiếm. Tại sao chưa có ai lên tiếng cả? Ai ai cũng đều có thể làm việc đó, và có đủ cơ sở để làm việc đó. Người viên chức có thể công khai chứng minh cho tôi thấy rằng câu chuyện tôi kể là không xác thực, bằng cách kể ra vài ba sự kiện có thật đã xảy ra và như vậy là đã đưa ra một lời cải chính hùng hồn hơn bất cứ lời biện luận nào. Vả chăng, cũng bằng cách ấy, người kia cũng lại có thể xác nhận thêm những lời miêu tả của tôi. Việc dẫn sự kiện có sức thuyết phục hơn là những lời lẽ rỗng tuếch và những bài luận văn về văn học. Nhà buôn, trang chủ, nói tóm lại là bất cứ ai biết cầm bút, cũng đều có quyền làm như vậy; dù người ấy chỉ sống quanh quẩn trong nhà hay vẫn thường đi đây đó khắp đất nước Nga. Ngoài ý kiến cá nhân của mình ra, bất cứ người nào, dù giữ chức vụ gì, ở địa vị xã hội nào, nghề nghiệp, học vấn ra sao, cũng đều có dịp quan sát sự việc trên một quan điểm riêng. Với đề tài của Những linh hồn chết, lẽ ra quần chúng độc giả có thể viết nên một cuốn sách hay hơn Những linh hồn chết không biết bao nhiêu mà kể; một cuốn sách có thể dạy nhiều điều, không những cho tôi, mà ngay cho các bạn đọc nữa; bởi vì giấu giếm mà làm gì, chúng ta đều biết nước Nga rất ít. Chao ôi! Tại sao không có ai công khai lên tiếng! Thật có thể tưởng chừng như mọi vật đều đã chết; và ở nước Nga, những linh hồn sống đã nhường chỗ cho Những linh hồn chết! Thế mà người ta lại trách tôi không biết rõ nước Nga! Làm như thể do một phép lạ của Đức chúa Thánh thần tôi nhất thiết phải biết rõ tất cả những sự việc xảy ra ở bất cứ xó xỉnh nào; phải học cho kỳ hết, không cần ai chỉ dẫn cả. Tôi làm thế nào mà học hỏi được! Thử nghĩ một nhà văn như tôi, vì nghề nghiệp phải ngồi ru rú ở nhà, sống cuộc đời khổ hạnh, lại thêm bệnh tật nữa và buộc lòng phải sống xa nước Nga; thì còn học hỏi làm sao được? Tôi không thể học hỏi các nhà văn hay các nhà báo, vì họ cũng sống cô độc và quanh quẩn trong phòng giấy. Nhà văn chỉ có một người thầy: bạn đọc. Thế nhưng những bạn đọc ấy đã từ chối, không chịu dạy dỗ tôi. Tôi biết rằng tôi sẽ phải chịu trước Thượng đế một trách nhiệm ghê gớm vì đã không làm tròn bổn phận; nhưng tôi lại biết rằng những người khác cũng sẽ phải chịu một trách nhiệm như thế. Và đây không phải là những lời nói suông: có Thượng đế chứng giám cho tôi, đây không phải là những lời nói suông. 1843 II. Tôi đã cảm thấy từ trước là những đoạn mạn đàm trữ tình trong thiên trường ca của tôi sẽ bị hiểu sai. Những đoạn ấy thiếu minh xác, ít ăn nhập với tình tiết và phong cách của cuốn truyện, đến nỗi khiến cho những người công kích tôi, cũng như những người bênh vực tôi, đều bị lầm. Người ta đã tưởng lầm rằng tất cả những đoạn nói về nhà văn nói chung, đều nhằm nói về tôi cả; tôi đã lấy làm xấu hổ khi thấy họ giải thích những đoạn ấy để bênh vực tôi. Chẳng qua, cũng đáng kiếp cho tôi! Lẽ ra, dù sao tôi cũng không nên cho xuất bản một tác phẩm tuy cắt khéo, nhưng khâu thì lại vụng, bằng chỉ trắng lên vải đen; như một bộ áo quần mà người thợ may vừa lược chỉ qua để thử. Tôi lấy làm lạ sao người ta ít có lời chê trách tôi về nghệ thuật và nghiệp vụ như vậy. Âu cũng tại những người phê phán tôi quá phẫn nộ, mà cũng tại họ không đủ sức khảo sát cách cấu tạo của một tác phẩm. Lẽ ra phải nêu rõ phần nào có vẻ dài một cách quái gở so với các phần khác; ở chỗ nào nhà văn đã tự phản mình, vì không nhất quán dùng cái giọng mà mình đã chọn từ đầu. Thậm chí cũng không có ai nhận thấy phần thứ hai của cuốn sách không được gọt giũa bằng phần đầu; nó chứa đựng những chỗ hổng lớn; những nét thứ yếu được khai triển quá mức, choán hết chỗ của những nét chính; các chương quá khác nhau, làm cho cuốn sách có tính chất vá víu, khiến người đọc không thấy tinh thần chung của nó. Nói tóm lại, lẽ ra nhà phê bình có thể có những lời phê phán sáng suốt và chính xác hơn, chê trách tôi nhiều hơn và một cách đích đáng hơn không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ ấy. Đây tôi muốn nói đến cái đoạn mạn văn trữ tình đã bị các nhà báo công kích nhiều hơn cả, vì họ thấy nó biểu lộ một sự kiêu ngạo, một lòng tự mãn {Biêlinxki phê bình Những linh hồn chết, phần thứ nhất, ngay khi sách mới xuất bản, trong tạp chí Niên san của Tổ quốc, ca tụng khả năng hiện thực chủ nghĩa và tâm hồn nhiệt thành của tác giả: nhưng cho rằng tác phẩm có những đoạn tỏ lòng yêu nước quá huênh hoang}, một lối khoác lác xưa nay chưa từng thấy ở một nhà văn nào. Đó là đoạn mạn văn ở chương cuối: sau khi tả Tsitsikôp ra đi, tác giả bỏ nhân vật của mình ở giữa đường thiên lý, thay mình vào chỗ đó và ngạc nhiên trước vẻ đơn điệu chán ngắt của sự vật, trước khoảng không gian bao la hoang vắng và tiếng hát ai oán từ dải đất Nga vang lên suốt từ biển này sang biển kia; trong một phút cảm khái, đã lên tiếng hỏi bản thân nước Nga, van xin nước Nga cắt nghĩa mối cảm xúc khó hiểu đang làm lòng mình thắt lại: tại sao cứ có cảm giác như tất cả mọi sinh linh, mọi sự vật trong nước Nga đều như đang nhìn mình đăm đăm và chờ đợi ở mình một cái gì? Người ta đã thấy trong những lời lẽ đó bằng chứng của kiêu ngạo, một sự huênh hoang không tiền khoáng hậu; nhưng thật ra đây không phải là huênh hoang, cũng chẳng phải là kiêu ngạo, mà chỉ là sự diễn đạt một cách vụng về của một tình cảm chân thành. Ngay giờ phút này, tôi vẫn còn cảm thấy ấn tượng đó. Tôi không sao chịu đựng nổi những âm thanh ai oán, não lòng của một bài ca Nga khi nó rung lên trong không gian vô tận của thôn quê ta. Những âm thanh ấy ám ảnh tâm hồn tôi. Thậm chí tôi còn lấy làm lạ sao mỗi một người trong chúng ta lại không biết đến cái cảm giác đó. Ai là người trông thấy những không gian vắng lặng, lạnh lẽo ấy mà không thấy lòng mình se lại; ai là người trong những âm thanh thê thiết của bài dân ca Nga, không nhận thấy những lời trách móc đau xót đối với bản thân mình - tôi nói rõ: đối với bản thân mình - thì người ấy đã làm xong bổn phận của mình một cách trọn vẹn, trừ phi không có một tâm hồn Nga. Sự vật như thế nào, ta hãy cứ nhìn nhận nó như thế. Gần một trăm năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Hoàng đế Piôtr đệ nhất mở mắt ra cho chúng ta, dắt dìu chúng ta bước lên con đường văn hóa Âu châu, và đặt vào tay chúng ta đủ mọi phương tiện hành động: thế nhưng nông thôn của ta vẫn buồn tẻ và hoang vắng như xưa. Quanh ta mọi vật đều có vẻ ghẻ lạnh, thù địch; tưởng chừng chúng ta chưa phải đang ở trong nhà mình, mà chỉ là đang cắm trại trên đường trường; tưởng chừng đối với ta, nước Nga không phải là một nơi trú ẩn ấm áp, thân tình, mà là một ngôi trạm phủ tuyết lạnh ngắt; ở đấy chỉ thấy hiện ra một gã coi trạm lãnh đạm buông thõng một câu trả lời gắt gao: “- Không có ngựa!”. Tại sao lại như thế? Lỗi tại ai? Tại chính phủ hay tại ta? Nhưng chính phủ vẫn hoạt động không ngừng: chứng cớ là những tập quy chế, chỉ thị, sắc lệnh dày cộm, cái số khổng lồ những tòa nhà đã xây, những cuốn sách đã xuất bản; những thiết chế đủ loại, giáo dục có, từ thiện có, bác ái có; không kể những thiết chế mà ở nước ngoài không thấy chính phủ nào lập ra. Từ trên có những câu hỏi đưa xuống, ở dưới có những lời giải đáp đưa lên. Đôi khi ở trên đưa xuống những câu hỏi chứng tỏ sự đại lượng của một vài nhà vua đã dám hy sinh cả quyền lợi bản thân. Thế mà ở dưới đã trả lời ra sao? Tất cả đều tùy ở cách thức, ở nghệ thuật ứng dụng một tư tưởng sao cho nó thành hiện thực và đi hẳn vào đời sống. Một đạo dụ, dù nội dung có hay ho, dù lời lẽ có chính xác bao nhiêu chăng nữa, cũng vẫn chỉ là một tờ giấy không hồn; nếu ở dưới không tỏ ra có ý muốn đem ứng dụng nó theo một cách thức thích đáng, theo cái cách thức mà chỉ có người nào quan niệm sự công bằng dưới ánh sáng của Thượng đế, chứ không phải dưới ánh sáng của con người, mới tìm ra được. Nếu không, tất cả sẽ thành ra có hại. Chứng cớ là những tay gian lận và ăn hối lộ tinh ma của chúng ta vốn biết cách xoay xở với tất cả các quy chế; một đạo dụ mới đối với họ là một nguồn thu hoạch mới, một phương tiện mới để làm cho sự giải quyết công việc rối ren thêm, để thọc thêm một gậy vào bánh xe. Nói tóm lại, nhìn về đâu tôi cũng thấy rằng thủ phạm chính là những kẻ có bổn phận thi hành pháp luật. Có người vì quá ước ao danh vọng và huân chương, mà đâm ra hấp tấp. Lại có người vì muốn tỏ ra nhiệt thành và tận tụy - một thói xấu rất Nga, - mà cứ đâm đầu vào công việc, không chịu khó nghiên cứu, những tưởng mình có thể điều khiển công việc một cách thành thạo; nhưng hễ thất bại một lần là nản chí ngay, và sau đó, - cũng một thói xấu không kém tính chất Nga, - lập tức thờ ơ với công việc. Lại có người, khi lòng tự ái nhỏ nhen của mình bị tổn thương, liền để lọt vào tay một tên trùm bịp bợm cái cương vị mà ở đấy mình đã bắt đầu phấn đấu cho chính nghĩa. Nói tóm lại, trong chúng ta, ít có người biết yêu cái thiện đến mức có thể vì việc thiện mà hy sinh tham vọng, tự ái cùng tất cả những cái nhỏ nhen của một lòng vị kỷ dễ đâm ra cay cú đến mức có thể khép mình vào một luật lệ bất di bất dịch là phụng sự đất nước, chứ không phải phụng sự bản thân mình; luôn luôn nhớ rằng mình ở cương vị là để mưu cầu hạnh phúc cho người khác, chứ không phải cho bản thân. Ngược lại từ ít lâu nay người Nga chúng ta tuồng như có dụng tâm muốn phô trương tính vị kỷ và dễ chạnh lòng của mình ra. Không biết trong chúng ta liệu có những người mà sau khi làm tròn nhiệm vụ mình rồi, có thể đứng trước toàn thể thiên hạ tuyên bố rằng mình không có lỗi gì đối với nước Nga hết; rằng khắp những khoảng đồng không mông quạnh của đất nước này, không có cái gì có thể coi như một lời trách móc đối với mình cả; rằng mọi vật đều hài lòng về mình và không còn mong chờ gì hơn nữa không? Tôi không biết số người có thể làm như vậy có nhiều không. Tôi chỉ biết rằng riêng tôi, tôi đã nghe thấy lời trách móc thầm lặng đó. Giờ đây, nó vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. Sự nghiệp văn chương của tôi có hèn kém thật, nhưng lẽ ra dù sao nó cũng có thể giúp tôi là một việc có ích hơn. Tuy lòng tôi xưa nay vẫn ấp ủ khát vọng làm điều thiện và chỉ vì khát vọng đó mà tôi cầm bút; những cái đó phỏng có gì quan trọng đâu! Tôi đã làm tròn nhiệm vụ ấy như thế nào? Chẳng hạn, cuốn sách vừa rồi của tôi, nhan đề Những linh hồn chết, liệu có gây được cái ấn tượng mà lẽ ra nó phải gây nên; nếu nó được viết cho đúng với yêu cầu không? Vì không biết diễn đạt những ý nghĩ của chính mình; tuy đó là những ý nghĩ khá giản đơn, tôi đã làm cho nó bị hiểu sai, và lại hiểu sai theo một hướng có phần tai hại. Lỗi tại ai đây? Tôi có nên viện cớ là đã nghe theo những thị hiếu xốc nổi của những kẻ tài tử ưa chuộng những phong cách hào nhoáng và trống rỗng không? Tôi có nên đổ lỗi cho hoàn cảnh và tuyên bố rằng vì cần kiếm kế sinh nhai mà phải cho in vội, in vàng tác phẩm của mình không? Không. Ai là người đã từng quyết chí làm tròn nhiệm vụ một cách trung thực thì không thể để cho hoàn cảnh chi phối mình được; nếu cần, thà ngửa tay ra ăn xin, chứ quyết không nhượng bộ trước những lời chê trách hời hợt hay những ước lệ giả dối của xã hội được. Người nào đã vì muốn tuân theo những ước lệ giả dối đó mà làm hỏng một tác phẩm có ích cho nước nhà, thì người đó không phải là người yêu nước. Chính vì tôi đã cảm biết được cái tính nhu nhược đáng hổ thẹn của tôi, cái tính hèn nhát đáng khinh của tôi, nỗi bất lực của lòng yêu nước của tôi; cho nên tôi mới nghe thấu được lời trách móc đau xót mà tất cả những sự vật đang ở trong nưóc Nga đã lên tiếng nói với tôi. Nhưng một sức mạnh cao cả đã nâng tôi dậy; không có lỗi lầm nào không bổ cứu được; và tuy lúc đầu tôi đã chán nản trước cảnh tượng những không gian hoang vắng, về sau chính cảnh tượng ấy đã làm cho tôi đầy nhiệt tình: tôi đã thấy khoảng không vô tận ấy là một môi trường hoạt động tuyệt vời. Và tự đáy lòng tôi đã thốt lên lời kêu gọi đất nước Nga: “- Chẳng phải Ngươi vốn có sứ mệnh sinh ra những bậc anh hùng đó sao? Ngươi hiến cho họ biết bao nhiêu là không gian để xây dựng sự nghiệp!” Đó không phải là một câu văn viết cho kêu để lòe người, cũng không phải là một lời huênh hoang. Không: lời kêu gọi đó tôi thốt ra tự đáy lòng, và đến nay lòng tôi vẫn còn rung cảm vì nó. Giờ đây, sống ở nước Nga bất cứ lúc nào người ta cũng có thể trở thành một bậc anh hùng. Mỗi địa vị, mỗi chức vụ đều đòi hỏi bản lĩnh anh hùng. Mỗi người trong chúng ta đã làm ô uế tính chất thiêng liêng của địa vị và chức vụ của mình (tất cả mọi chức vụ đều thiêng liêng), đến nỗi phải có những sự cố gắng anh dũng mới đưa được địa vị và chức vụ trở lại trạng thái cao cả thích đáng. Trực giác tôi đã cảm thấy được sự nghiệp cao quý ấy, sự nghiệp ngày nay chỉ dành cho dân tộc Nga mà thôi; vì chỉ có dân tộc Nga biết được chủ nghĩa anh hùng và thấy trải ra trước mắt mình những khoảng không vô tận như vậy. Chính vì thế mà tôi đã thốt lên lời than kia, lời than mà người ta đã tưởng lầm là một biểu hiện của tính kiêu ngạo, một lời huênh hoang. 1843 III. Tôi lấy làm lạ rằng một người am hiểu lòng người như anh mà lại có thể đi hỏi tôi những câu ngớ ngẩn chẳng khác gì những người khác. Phần lớn những câu hỏi ấy đều liên quan đến phần sau này của bộ sách: tò mò như vậy mà làm gì? Chỉ có mỗi một câu hỏi thật là tế nhị và xứng đáng với anh; và tuy cũng chưa dám chắc là có thể trả lời một cách thỏa đáng, tôi vẫn ước ao rằng có những người khác cũng hỏi tôi câu đó. Cụ thể là: tại sao những nhân vật trong các tác phẩm gần đây của tôi, nhất là trong Những linh hồn chết, tuy không phải là những bức chân dung của người thật, lại cũng chẳng có gì hấp dẫn cho lắm, mà sao vẫn có vẻ thân thuộc, gần gũi với chúng ta; tưởng như có thể tìm thấy ở các nhân vật đó những nét riêng của bản thân mình? Mới năm ngoái đây thôi, giá có ai hỏi như vậy, dù người đó là anh đi nữa, thì tôi sẽ lúng túng, khó trả lời. Nhưng bây giờ thì tôi xin thú hết: sở dĩ các nhân vật của tôi gần gũi với lòng người là vì chúng ở lòng người mà ra; tất cả những tác phẩm gần đây của tôi đều là lịch sử của tâm hồn tôi. Để anh hiểu rõ hơn những điều này, tôi xin giãi bày để anh rõ tôi là nhà văn như thế nào. Người ta đã bình luận về tôi khá nhiều: người ta đã xác định một số khía cạnh trong tài năng của tôi, nhưng vẫn chưa nhận ra nét căn bản của nó. Puskin là người duy nhất đã nhận thấy nét đó. Puskin vẫn nói với tôi rằng chưa có nhà văn nào có được đến mức như tôi, cái năng khiếu làm hiện rõ sự nhạt nhẽo của cuộc đời, làm cho sự tầm thường dung tục nổi lên, sắc sảo đến nỗi những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đập ngay vào mắt người ta. Đó chính là cái khả năng thiên bẩm trội nhất của tôi, cái khả năng mà quả nhiên không còn nhà văn nào có. Tôi bẩm sinh đã có khả năng đó, và sau một cơn khủng hoảng tinh thần, nó lại càng phát triển thêm. Và đó chính là điều mà dạo ấy tôi chưa thể thú nhận, dù là với Puskin cũng vậy. Trong Những linh hồn chết, khả năng đó còn thể hiện một cách mạnh mẽ hơn nữa. Sở dĩ Những linh hồn chết đã làm cho nước Nga hoảng sợ và đã gây nên nhiều tiếng xôn xao như vậy, không phải là vì nó phát hiện những ung nhọt hay những bệnh tật ở bên trong; đó không phải là vì nó bày ra cái cảnh đắc thắng của sự xấu xa và cái cảnh những người vô tội bị áp bức, khiến người ta sửng sốt. Không, các nhân vật của tôi không phải là những kẻ vô lại. Tôi chỉ cần thêm một nét dễ ưa vào một trong các nhân vật đó là bạn đọc sẽ vừa lòng với tất cả các nhân vật khác; nhưng vẻ tầm thường dung tục của toàn thể khiến bạn đọc ghê tởm. Các nhân vật của tôi nối đuôi nhau xuất hiện, nhân vật này lại tầm thường hơn nhân vật kia; và độc giả hoài công đi tìm một đoạn có thể an ủi mình, một nơi có thể dừng lại để thở; gấp sách lại, bạn đọc tưởng như vừa từ cái hầm ngột ngạt bước ra để trở lại với ánh mặt trời. Giá đó là những tên gian phi có lắm màu, lắm vẻ đẹp mắt, thì hẳn người ta đã bỏ quá cho tôi; đằng này lại là những kẻ rất mực tầm thường, nên người ta không dung thứ được. Sự vô nghĩa lý của người Nga đã làm cho bạn đọc hoảng sợ hơn là những thói hư tật xấu của họ. Đáng khen thay nỗi kinh hoàng đó! Đã thấy ghê tởm như vậy trước sự đê tiện, hẳn phải có những đức tính trái ngược với sự đê tiện. Vậy thì cái khả năng trội nhất của tôi chính là ở chỗ đó; và xin nhắc lại rằng cái khả năng ấy lẽ ra không phát triển mạnh như vậy nếu tâm trạng của tôi và quá trình diễn biến tinh thần của tôi không góp sức vào đấy. Trong các bạn đọc của tôi, không có ai biết rằng trong khi cười các nhân vật của tôi, họ cũng cười cả chính bản thân tôi đó. Tôi không có một tật xấu, một đức tính nào đủ mạnh để chế ngự các tật xấu, các đức tính khác; ngược lại, tất cả những tính xấu mỗi cái một tí, đều họp nhau trong con người tôi; tôi chưa từng thấy ai tập họp nhiều tính xấu như thế. Thượng đế đã phú cho tôi một bản tính rất phức tạp. Người đã cho tôi một vài đức tính; đức tính đẹp nhất mà tôi không biết làm thế nào để tạ ơn người, là ước vọng tu thân. Tôi chưa bao giờ thích thú với những thói xấu của mình và cũng may mà Thượng đế chí nhân đã cho tôi phát hiện dần từng thói xấu một chứ không phải đột nhiên khám phá ra tất cả một lúc, trong khi tôi chưa quan niệm được lòng từ bi vô cùng vô tận của Người; nếu không thì chắc chắn tôi đã treo cổ mà chết cho rồi. Trong khi tôi dần dần phát hiện ra những tính xấu của mình, thì một sự xui khiến kỳ diệu của bề trên làm cho tôi tăng thêm ý muốn trút bỏ những tính xấu đó đi; một cơn khủng hoảng tinh thần kỳ dị đã thúc đẩy tôi chuyển những tính xấu đó cho các nhân vật của tôi. Cơn khủng hoảng đó cụ thể ra sao thì anh cũng không nên biết làm gì; ví thử điều đó có chút gì bổ ích cho bất cứ ai, thì tôi đã nói ra từ lâu rồi. Từ dạo ấy, tôi bắt đầu lấy những tính xấu của tôi thêm vào các tính xấu của nhân vật. Tôi làm như thế này: tôi lấy tính xấu của tôi gán cho một người nào mà cương vị và chức vụ khác tôi, rồi theo dõi tác dụng của nó trong người ấy; tôi cố gắng hình dung người đó là một kẻ thù không đội trời chung của tôi, đã từng lăng nhục tôi một cách tàn tệ; tôi hằn học, chế nhạo, dè bỉu hắn. Giá có ai trông thấy những quái vật mà ngòi bút tôi đã vẽ ra lúc đầu, người đó hẳn phải rùng mình, sởn gáy. Tôi chỉ xin nói với anh rằng khi nghe tôi đọc những chương đầu của Những linh hồn chết dưới dạng thức nguyên sơ, thì Puskin, - tính vốn hay cười xưa nay và bao giờ cũng vui lên khi nghe tôi đọc, - lần này lại cau mặt, mỗi lúc một thêm ủ dột. Khi tôi đọc xong, Puskin thốt lên, giọng thảm đạm: “Trời ơi, nước Nga của chúng ta thật buồn quá!” ... Mời các bạn đón đọc Những Linh Hồn Chết của tác giả Nikolai Vasilyevich Gogol.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cô Gái Chọc Tổ Ong Bầu
Tên Ebook: Cô gái chọc tổ ong bầu (full prc, pdf, epub) Bộ Sách: Millennium (tập 3)   Tác Giả: Stieg Larsson   Thể Loại: Best seller, Tiểu Thuyết, Trinh thám, Văn học phương Tây   Dịch giả: Trần Đĩnh   Nhà xuất bản: Nxb Phụ Nữ   Số trang: 700 Trọng lượng vận chuyển: 720 g   Hình thức bìa: Bìa mềm   Kích thước: 15,5cm x 23,2cm   Ngày xuất bản: 09/2013   Giá bìa: 98.000 VNĐ Tạo prc:  DgHien Nguồn: tve-4u.org   Ebook: www.dtv-ebook.com Bìa sách Cô gái chọc tổ ong bầu Giới thiệu: Bắt đầu từ phần kết “không thể nghẹt thở hơn” của  Cô gái đùa với lửa (tải eBook) , Salander được người bạn đồng hành Blomkvist đưa đi cấp cứu sau khi cô bị chính bố đẻ bắn trọng thương, bị người anh cùng cha khác mẹ chôn sống… Từ đây, trong  Cô gái chọc tổ ong bầu, cảnh sát điều tra, nhân viên tư pháp và giới báo chí chính thức bước vào cái gọi là “Vụ Salander”. Họ lục vào quá khứ của cô, họ lần theo những đầu mối bị mất hoặc bị đánh lạc hướng, họ lựa chọn đứng về lợi ích của cá nhân hay số đông… và họ bàng hoàng trước sự thật, chân thực và nghiệt ngã. Nhận xét “Lisbeth Salander! Lạ thường... chào mừng tính bất tử của hư cấu”. (Mario Vargas Llosa - Nhà văn Peru nhận giải Nobel Văn học 2010) “Tập kết thúc của tam bộ khúc Millennium cũng nghẹt thở như hai tập đầu. Khi mà không còn ai có thể miêu tả Salander và Blomkvist giống như Stieg Larsson vĩ đại đã quá cố nữa thì thật buồn biết mấy, bởi sẽ không còn có thêm những cuộc phiêu lưu tiếp theo của họ.” (Scotland on Sunday) “Đọc sách này sẽ mệt, như một thứ gì đó rất đặc biệt trong thế giới truyện hình sự giật gân... Đây là một cái kết khỏe và thỏa mãn cho một tam bộ khúc có tham vọng lớn và được kết cấu hoàn hảo.” (Daily Express)       Bộ Millennium gồm 3 tập: - Cô gái có hình xăm rồng; - Cô gái đùa với lửa; - Cô gái chọc tổ ong bầu Mời các bạn đón đọc Cô gái chọc tổ ong bầu của tác giả Stieg Larsson.  
Biến mất - Tess Gerritsen
Tên eBook: Biến Mất (full prc, pdf, epub) Tác giả: Tess Gerritsen Thể loại: Best seller, Tiểu thuyết, Trinh thám, Văn học phương Tây   Nguyên tác: Vanish [Rizzoli & Isles #5]   Nhà xuất bản: Văn Hóa Thông Tin   Người dịch: Đỗ Thị Đào   Số trang: 388   Năm xuất bản: 2008   Hình thức: Bìa Cứng   Trọng lượng: 660 g   Kích thước: 15 x 22.5 cm   Giá bìa: 88.000    Scan: Rusie [ETV]   Tạo prc: Hoàng Liêm   Nguồn: fb.com/smartebooksvn   Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Bìa sách Biến Mất Giới thiệu:   Một cái xác vô danh được chuyển đến nhà xác chờ được khám nghiệm tử thi. Maura Isles - nhân viên pháp y của Boston chợt phát hiện thấy cái xác mở mắt. Jane Doe - tên cái xác - chống cự điên cuồng khi được chuyển vào bệnh viện. Cô ta lạnh lùng bắn chết viên bảo vệ, đồng thời bắt giữ các con tin, trong đó có Jane Rizzoli - một phụ nữ đang mang thai, đồng thời cũng là thám tử của đội điều tra án mạng. Từng giờ trôi qua, Maura cùng với chồng của Jane là Gabriel Dean - một nhân viên FBI, đã cố gắng nhận diện kẻ giết người. Nhưng vụ việc còn đi xa hơn nhiều một vụ bắt giữ con tin thông thường và Jane - người đang bị mụ điên có vũ khí ấy bắt giữ lại là người duy nhất biết được điều bí mật. *** Tess Gerritsen là một bác sĩ điều trị và một tác giả nổi tiếng thế giới. Tác phẩm tiểu thuyết đầu tay của bà về sự trì hoãn trong y học đã dành được rất nhiều lời khen ngợi. Harvest là cuốn sách bán chạy nhất theo tờ Thời báo New York. Bà cũng là tác giả của nhiều cuốn sách bán chạy khác như The Mephisto Club, Vanish, Body Double, The Sinner, The Apprentice, The Surgeon, Life Support, Bloodstream và Gravity. Tess Gerritsen sống tại Maine. Có thể ghé thăm website của bà tại địa chỉ www.tessgerrritsen. Là nhà tâm lý giải nghệ nên khi chuyển sang viết lách, nữ nhà văn người Mỹ Tess Gerritsen tỏ ra rất thấu hiểu nội tâm của các nhân vật của mình. Văn phong của bà bị ảnh hưởng bởi xu hướng diễm tình trong những tiểu thuyết mà bà đọc khi còn trẻ, nhưng sau đó đã được chuyển hóa một cách vô cùng mượt mà, hiệu quả sang thể loại trinh thám đen tối hơn. Dù vậy, Tess Gerritsen vẫn giữ được nhiều tình tiết rất ngọt ngào đậm chất phái nữ, giúp cho các tác phẩm như Call After Midnight (1987), Peggy Sue Got Murdered (1994), The Bone Garden (2007)... tạo được ấn tượng lâu dài trong lòng người đọc. Đặc biệt, những kiến thức về hình sự, tội phạm cũng được nữ nhà văn nghiên cứu rất kỹ và chuyển tải đầy đủ, trọn vẹn, hợp lý trong những cuốn sách của mình. Tác phẩm: Nạn Nhân Thứ Tư (Rizzoli & Isles #1) Quái Vật (Rizzoli & Isles #2) Tội Ác (Rizzoli & Isles #3) Chôn Sống (Rizzoli & Isles #4) Biến Mất (Rizzoli & Isles #5) Dấu Của Quỷ (Rizzoli & Isles #6) Mùa Gặt Mạng Sống Mong Manh Khu Vườn Xương Titanic Trong Vũ Trụ ,,, *** Những lời ca ngợi dành cho cuốn sách:    “Gerritsen đã làm người đọc phải gấp gáp cuốn theo diễn biến của câu chuyện để mong sớm biết được hồi kết. Độc giả luôn phải đoán định điều gì sẽ xảy ra theo nhưng vẫn không ngờ được một kết thúc hoàn toàn bất ngờ.”  Bangor Daily News    “Một câu chuyện có sức mạnh đặc biệt. Mãi đến khi gấp sách lại rồi mà nó vẫn còn đeo đuổi trong tâm trí chúng ta.”  Orlando Sentinel    “Mê ly… không gì có thể phủ nhận sức mạnh trong cách kể chuyện của Gerritsen. Biến mất là một ví dụ điển hình của thể loại truyện tội phạm: hành động, giải trí và rất dễ hiểu.”  Chicago Sun - Times   Mời các bạn đón đọc Biến mất của tác giả Tess Gerritsen.
Tình Khờ
Bạo Liệt Đầy Đam Mê, hài hước cùng mỉa mai, biến thái nhưng lãng mạn... Tình khờ là điểm đồng quy toàn hảo của những áng văn diễm tình nức tiếng - Lolita, Lady Chatterley’s Lover và Pygmalion... Bằng nghệ thuật dẫn dắt bậc thầy, một lần nữa Tanizaki lại khiến người đọc trầm luân trong bể ái tình không lối thoát, say sưa trong những khát khao khó nói thành lời, cảm thông với những ám ảnh tính dục lệch chuẩn và đồng thời thấu hiểu phần nào những rối ren của Nhật Bản lúc giao thời, khi cái cũ bị cái mới thay thế, khi truyền thống và đạo đức cũng theo đó phai dần... *** Review Hồ Huy Sơn: Tanizaki Junichiro đưa độc giả vào câu chuyện tình đẹp, đầy đam mê nhưng không kém lập dị giữa hai con người. Tác phẩm là câu chuyện tình mang đầy đủ cung bậc: đắm say, tuyệt vọng, bạo liệt, hài hước, biến thái, lãng mạn giữa hai nhân vật chính - Joji và Naomi. Truyện bắt đầu từ cuộc gặp gỡ tình cờ giữa chàng Joji khi đó 28 tuổi và Naomi một thiếu nữ 15 tuổi ít nói và buồn bã. Naomi có vẻ đẹp lai Tây, với người ngoài, Naomi có khuôn mặt “tai tái, lì lì như một tấm kính trong dày cộp” nhưng với Joji, cô mang một sức hút khó cưỡng. Bằng nghệ thuật dẫn dắt bậc thầy, Tanizaki đã tái hiện chân thực và sinh động câu chuyện tình có phần lập dị giữa Joji và Naomi. Kể từ lúc phải lòng Naomi, một mặt ngưỡng mộ vẻ đẹp của cô, mặt khác với lòng nhân từ của mình, Joji đã quyết định đưa Naomi về nhà, nuôi dưỡng cô nên người. Sau này, họ trở thành vợ chồng. Joji chu cấp tiền để Naomi đi học tiếng Anh, học khiêu vũ, học đàn. Anh cũng trực tiếp tắm cho cô, làm ngựa để Naomi cưỡi nhong nhong trong nhà, hạnh phúc khi nghe Naomi gọi mình là "Papa". Tình khờ ra đời trong bối cảnh nước Nhật bị tác động bởi văn hóa phương Tây, những giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ rạn vỡ. Điều này thể hiện trong lối sống, suy nghĩ của các nhân vật. Joji đại diện cho đàn ông Nhật lúc đó, say mê và mộng tưởng đến các nàng minh tinh Hollywood da trắng, chân dài, ngực nở. Còn phụ nữ Nhật qua hình ảnh Naomi lại là những người ưa chưng diện, học đòi, không còn mặn mà với vai trò của mình trong gia đình. Qua con mắt của Joji, Naomi chính là hiện thân của Mary Pickford - một minh tinh nổi tiếng của Hollywood. Điều đó khiến anh say cuồng đến mức sau này, khi Naomi lộ ra con người thật: chỉ có vẻ đẹp bên ngoài còn trí não thì rỗng tuếch, lại dâm đãng, nhưng Joji vẫn không thể dứt ra khỏi cô. Joji là nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm văn học Nhật Bản, một tâm hồn duy mỹ, tôn sùng cái đẹp và có chút bất thường về tâm lý. Ở nhân vật này, người đọc nhận ra bóng dáng của Mizoguchi, nhân vật trong tác phẩm Ngôi đền vàng của nhà văn Yukio Mishima. Ở Mizoguchi, vẻ đẹp của ngôi đền vàng khiến anh gần như bị tê liệt mà sau cùng phải chọn giải pháp đốt ngôi đền để giải thoát cho mình. Ở Joji, vẻ đẹp của Naomi cũng gần như khiến anh phát điên, bị quy phục hoàn toàn: chấp nhận tất cả yêu cầu Naomi đưa ra. Với Tình khờ, một lần nữa Tanizaki Junichiro cho thấy biệt tài xây dựng và khắc đậm tâm lý nữ giới. Từ Kakiuchi trong Chữ Vạn đến Ikuko trong Hai cuốn nhật ký, và giờ đây là Naomi trong Tình khờ, Tanizaki đã gần như "lột trần" họ, phô bày những góc khuất đằng sau lớp vỏ đoan chính. Ngòi bút của ông mạnh bạo khắc đậm ẩn ức dục vọng đàn bà. Naomi đầy những mánh khóe, tráo trở đến mức xảo quyệt. Ban đầu, tưởng rằng mối "tình khờ" do Joji làm chủ, dẫn dắt nhưng thực tế, người giữ vai trò làm chủ cuộc chơi chính là Naomi. Từ một cô bé 15 tuổi, chấp nhận sự bảo bọc chăm sóc của Joji, bằng tài tình và khôn khéo của mình, Naomi đã gần như quy phục Joji hoàn toàn, thậm chí khiến Joji sẵn sàng chết dưới chân cô. Tanizaki Junichiro (1886 - 1965) là một thiên tài văn chương của Nhật Bản với văn nghiệp đồ sộ. Ông là một trong những nhà văn Nhật Bản hiện đại lớn của thế kỷ 20, được đánh giá là nhà tiểu thuyết chỉ đứng sau Natsume Soseki. Văn chương Tanizaki vừa thâm trầm, cổ kính, vừa bóng bảy, diễm tình, vừa bệnh hoạn nhưng không kém phần tinh tế. Trong gần 50 năm cầm bút, Tanizaki Junichiro đã có khoảng 30 tác phẩm lớn nhỏ. Ở Việt Nam, ngoài Tình khờ, bạn đọc còn biết đến ông qua nhiều tác phẩm được xuất bản như: Ca tụng bóng tối, Yêu trong bóng tối, Chữ Vạn, Hai cuốn nhật ký, Tuyển tập truyện ngắn Tanizaki. *** Review sách Tình khờ Viii Tieu:   Đúng như chính nhân vật tự nhận xét mình thì đây chính là một chuyện tình ngu ngốc. Đầy rẫy sự vớ vẩn đến nực cười từ nhân vật chính. Xuất phát ban đầu là nỗi niềm muốn có được một "thành tựu" trong cuộc đời, để rồi tự chuốc lấy một cái hoạ đúng nghĩa. Tác giả vẽ ra một chuyện tình rất phi thực tế mà lại hợp lý đến ngỡ ngàng, ngoài đời thực sẽ xảy ra chuyện tình như vậy không. Mình tin là có, nhưng với đôi chút giảm nhẹ đi chứ ngu như trong truyện thì chắc không bao giờ tồn tại. . Truyện chẳng những làm người đọc phát bực mà còn gây ra muôn vàn ức chế. Cả quyển là quá trình "đào tạo" "thất bại" rồi "quy phục" của ông thần Geogre, ở một vài phân đoạn những tưởng sẽ thoát ra được, đang mừng thầm cho nhân vật thì BÙM một phát, đâu lại vào đấy, thậm chí còn có phần tệ hơn đi. Nhưng mà tại sao, tại sao ông Tanizaki Junichiro lại viết ra một tác phẩm như vầy, tại sao. Một tác phẩm đầy khiên cưỡng và có phần lập dị. Có đầu có thân có cuối mà lại chẳng tới đâu, kết cục là như vậy à. Cả quyển mang hàm ý gì, nội dung gì ??? Thật lòng là ai chưa yêu thì đừng đọc, sẽ không dành được bất kì sự cảm thông hay thấu hiểu gì cho quyển này. Mà ai đã yêu rồi cũng không nên đọc, khéo bước chân theo tác phẩm thì nguy to. *** Review sách Tình Khờ Binh Boog:   Boog không biết gọi Naomi là yêu nhền nhện hay là hồ ly tinh chuyên quyễn rũ hút máu đàn ông nữa. Người phụ nữ này thật “đáng ghét”. Một yêu nhền nhện, hồ ly tinh đúng nghĩa. Muốn biết vì sao Boog gọi thế thì các bạn phải đọc mới thấy hết được sự lợi hại của Naomi. Nếu nói về tình yêu trong Tình Khờ thì nó đúng là mối tình khờ của anh chàng Joji dành cho Naomi. Mối tình ấy cũng thật lãng mạn nhưng cũng thật mỉa mai, hài hước. Tình là bể trầm luân quả thật không sai. Boog không thích anh chàng Joji này. Anh ta đúng là quá “khờ” đến hoá “ngu dại” trong biển tình. Anh ta quá luỵ tình, luỵ đến mức trở nên yếu đuối, nhu nhược. Nhưng vướng vào chữ “Tình” thì không ai có thể nói trước được điều gì, không ai điều khiển nổi “con tim” của mình cả. Nếu nói về Drama thì Tình Khờ không thiếu Drama. Từng khung cảnh, từng tình tiết biến chuyển của một drama đúng nghĩa. Không chỉ là vở tuồng kịch, Tình Khờ còn là sự châm biếm, mỉa mai cho lối sống lệch lạc trong thời kỳ giao thời của xã hội Nhật Bản. Lối sống lệch chuẩn, bỏ qua truyền thống theo đuổi lối sống phù phiếm của phương Tây. Điển hình là sự phô trương thứ tiếng Anh bồi, sự đua đòi thay đổi diện mạo, kệch cỡm, diêm dúa đua theo những bộ quần áo tây hợp mốt, tụ tập tới các quán bar uống rượu, dẩy đầm. Tất cả chỉ là sự đả kích, châm biếm, mỉa mai. Không chỉ là một câu chuyện, Tình khờ còn là bức tranh xã hội Nhật Bản rối ren lúc giao thời, như kiểu: “Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” Cái cũ bị cái mới thay thế, truyền thống và đạo đức cũng theo đó phai nhạt dần. Không hiểu sao viết tới đây Boog lại nhớ tới sự “Âu Hoá” kệch cỡm trong tác phẩm Số Đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Đúng như nhận xét về tác phẩm. Tình khở là một bức tranh bạo liệt đầy đam mê, hài hước cùng mỉa mai, biến thái nhưng lãng mạn. Những quyển cùng tác giả Boog chưa đọc nên chưa biết nội dung hay giọng kể của nó như nào nhưng Boog khá là thích giọng kể của tác giả trong quyển này. Mời các bạn đón đọc Tình Khờ của tác giả Tanizaki Junichiro.
Britt-Marie Đã Ở Đây
Britt-Marie không chịu được sự bừa bãi. Một cái khay đựng đầy dao kéo vô tổ chức luôn nằm ở đầu danh sách những tội ác không thể dung thứ của bà. Bà không phải là kẻ đi phán xử khác người – bất kể họ là kẻ có cư xử kém văn hóa hay bê bối, hoặc khả nghi đạo đức. Chỉ là đôi khi người ta cứ suy diễn sai những gợi ý đầy tính giúp đỡ của bà như là sự chỉ trích, mà thực sự không phải ý định của bà. Nhưng ẩn bên trong sự kỳ quặc về mặt xã hội và dáng điệu tất bật đó là một người phụ nữ có nhiều trí tưởng tượng, những đam mê bay bổng và một trái tim nồng hậu mà không ai xung quanh nhận ra. *** Một con người, bất kỳ con người nào, có rất ít cơ hội để đứng nguyên đó, buông thả thời gian, rơi vào một khoảnh khắc. Và yêu ai đó vô bờ bến. Nổ tung vì đam mê. Một vài lần khi chúng ta còn bé, có lẽ thế, đối với những người từng được là trẻ con. Nhưng sau đó, chúng ta được phép hít bao nhiêu hơi thở bên ngoài sự tù túng của bản thân? Bao nhiêu cảm xúc chân thực khiến chúng ta cười phá lên mà không cảm thấy xấu hổ? Chúng ta có bao nhiêu cơ hội để được ban phước bởi sự lãng quên? Sự đam mê đúng là trẻ con. Nó tầm thường và ngây ngô. Nó không phải là một điều mà chúng ta học được, nó thuộc về bản năng, và nó áp đảo chúng ta. Xô ngả chúng ta. Nó cuốn phăng chúng ta đi. Mọi cảm xúc khác thuộc về trái đất, còn đam mê thuộc về vũ trụ. *** Fredrik Backman là blogger, nhà báo, nhà văn người Thụy Điển với các tác phẩm nổi tiếng đã được được dịch ra hơn 40 thứ tiếng như Người đàn ông mang tên Ove, Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi, Britt-Marie đã ở đây. Tác phẩm: Người Đàn Ông Mang Tên Ove Bà Ngoại Tôi Gửi Lời Xin Lỗi Britt-Marie Đã Ở Đây ... *** Review sách Britt-Marie Đã Ở Đây (Fredrid Backman) Binh Boog:   ạn muốn tìm một cái gì đó văn chương bóng bẩy, điêu luyện trong từng câu chữ? Không, bạn sẽ không tìm thấy cái đó trong Fredrick Backman đâu. Tất cả những gì trong đó là một sự gần gũi đời thường như cân đường hộp sữa vậy. Đâu đó chỉ là những câu chuyện giữa cuộc sống đời thường, những cái gì thân thuộc có thể nói là thường nhất trong những cái bình thường nhưng nó như một ly cafe sữa vậy. Nhấm từ từ để thưởng thức vị đắng rồi vị ngọt vào đầu lưỡi, nó từ từ thấm dần thấm dần vào trong bạn. Fredrik Backman rất có duyên và rất giỏi trong việc xây dựng hình tượng các nhân vật “cây cao bóng cả”. Trong con mắt mọi người họ là những người kỳ lạ, có thể là phiền phức. Nhưng ai cũng có quá khứ, cũng có những khó khăn của mình chẳng qua là họ cho nó vào trong mà ít ai hiểu được. Hài hước là chất không thể thiếu trong Fredrik Backman. Mọi sự việc với những hành động tưởng như không bình thường của các nhân vật lại là chất để gây cười, thậm chí một vụ cướp cũng trở nên hài hước. Nhưng đâu chỉ hài hước, mà cái hài hước ấy chỉ là gia vị để che dấu đi những tổn thương, những khó khăn trong lòng mỗi người thôi. Một lần nữa chào mừng các bạn đến với thế giới của bà Britt Marie. Cuộc sống của bà là sống cuộc sống của người khác, suốt 40 năm bà không ra khỏi nhà, cuộc sống của bà là ông Kent chồng bà mặc dù ông là người đàn ông mắc lỗi khi có bồ, là natri bicarbonate là Faxin những chất tẩy rửa để làm sạch, là sự sạch sẽ ngăn nắp khi dao nĩa trong tủ bếp lúc nào cũng phải được phân chia theo loại rõ ràng, mọi thứ lúc nào cũng cần phải ngăn nắp, sạch sẽ và đặc biệt là không có bóng đá. Nhưng bà ở tình thế bắt buộc lại vô tình trở thành huấn luận viên của một đội mà không thể coi là một đội bóng. Những ai yêu bóng đá nhất là giải Ngoại hạng Anh có lẽ sẽ tìm thấy sự đồng cảm và yêu thích trong quyển sách này. Bóng đá đem lại cho cuộc sống như đã chết, đã lụi tàn ở Borg một cái gì khác. Đôi khi bạn ủng hộ một đội bóng chỉ vì không có ai ủng hộ nó. Làm kẻ ngoại đạo như bà Britt Marie cũng khản cả tiếng chỉ vì hò hét, đau như chính mình bị đau khi các cầu thủ ở Borg bị thương. Tỷ số một trận đấu bóng liệu có quan trọng không khi bạn thua với tỷ số 1- 14 nhưng bạn vẫn sẵn sàng hò hét ăn mừng chỉ vì bàn thắng mà mình đã ghi được hay bạn thua 0 - 5 nhưng trận đấu vẫn bị gián đoạn chỉ vì bạn cản phá được một quả phạt đền trong trận đấu đó. Mọi thứ với đội bóng ngẫu nhiên của bà Britt Marie là cách mà họ chiến đấu, cách mà họ được vui vẻ khi được làm điều đó. Luôn tìm thấy một cái gì đó nghèn nghẹn khi người ta vẫn phải ra đi dù không mong muốn. Nhưng vẫn còn cả một tương lai phía trước, cuộc sống vẫn cứ phải tiếp diễn. *** Review Thu Hoài - zing.vn: Đến một độ tuổi nhất định, gần như mọi câu hỏi mà người ta tự vấn đều xoay quanh một điểm, ta nên sống cuộc đời mình như thế nào? Britt-Marie cảm thấy những yêu cầu của bà không hề khó thực hiện. Tất cả những điều bà muốn chỉ là một ngăn kéo cất nĩa dao muỗng gọn gàng theo đúng thứ tự. Và bất cứ ai cũng phải chùi giày ở thảm trước khi bước vào sàn nhà bóng loáng bà mới lau. Và ăn tối lúc 6 giờ. Và không chơi bóng đá. Không phải Britt-Marie ghét bóng đá, hay bất cứ môn thể thao nào khác. Bà chỉ đơn giản là không hiểu được tại sao người ta phải khiến mình bị lấm bẩn, bị gãy chân, xước xát mặt chỉ để tranh giành một quả bóng. Hơn nữa, môn bóng đá ở Borg cũng không được chăm chút nhiều cho lắm. Britt-Marie tìm đến Borg, một nơi khỉ ho cò gáy ở vùng nông thôn không phải để làm người lau dọn, hay một người giải quyết các xung đột, và càng không phải là huấn luyện viên của một đội bóng nhí. Bà đơn giản chỉ muốn tìm một công việc để chứng minh với thế giới rằng mình vẫn còn sống và tồn tại, thay vì chỉ thu lu ở nhà đợi chồng đi làm về và rồi bị phản bội. Từ một phụ nữ “văn minh” trở thành ban huấn luyện bóng đá bất đắc dĩ cho lũ trẻ ở Borg, Britt-Marie bỗng trở thành điểm tựa cho tất cả những người dân nơi đây, thổi bừng sức sống cho cái thị trấn xám xịt này. Và khi đó, lần đầu tiên trong đời, Britt-Marie thực sự tìm được một nơi thuộc về. Tiếp nối thành công của Người đàn ông mang tên Ove và Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi, Fredrik Backman tiếp tục cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Britt-Marie đã ở đây, giữ nguyên tinh thần của bộ truyện: chỉ những người đặc biệt mới làm nên điều khác biệt. Britt-Marie là một nhân vật phụ đã xuất hiện trong cuốn sách trước về mối quan hệ giữa bà ngoại và cô gái nhỏ Elsa, nay trở lại với cuốn sách mới, bạn đọc có cơ hội được biết nhiều hơn về cuộc sống của bà. Ở tuổi 63, lần đầu tiên trong đời Britt-Marie có một chuyến phiêu lưu thực thụ. Vốn là một người ưa sạch sẽ ngăn nắp và chỉ muốn sống một cuộc sống bình thường nhất có thể, nhưng kể từ khi Britt-Marie đặt chân đến Borg, bà đã phá bỏ hầu hết hết các nguyên tắc của mình. Ẩn bên trong sự kỳ quặc mọi người chỉ thấy được bằng mắt thường là một tâm hồn giàu trí tưởng tượng, những đam mê bay bổng và một trái tim nhân hậu chỉ có thể cảm nhận được bằng trái tim. Nếu nhìn vào Britt-Marie và ông Ove, mở đầu mọi câu chuyện của họ đều khá buồn cười và hài hước, bởi họ đều là những người khác biệt – những người như họ rất hiếm trong xã hội này, nếu như họ có thực sự tồn tại. Vậy nên khi cư xử không giống như người bình thường, họ thực ra đang chứng minh bản thân mình khác biệt, ta chỉ nhận ra điều đó rõ hơn qua Elsa và những câu chuyện thần tiên của bà ngoại đã giải thích về thế giới người lớn như cách chúng ta sống bây giờ: lo lắng, sợ hãi, cô đơn, buồn bã và đau đớn. Đây chính là sự kỳ diệu trong những cuốn sách của Fredrik Backman: khả năng mang lại nước mắt cho độc giả cả trong niềm vui và nỗi buồn, đôi khi chỉ cần đến một chương truyện. Nói như vậy không có nghĩa là ta so sánh cuộc sống của Backman theo bất kỳ cách nào với cuộc sống của các nhân vật trong sách hoặc câu chuyện của họ. Ông đơn giản chỉ nói ngôn ngữ của nhân vật qua chuyện họ đang trải qua, và để giúp họ phát triển vượt ra ngoài bản thân mình theo cách mà chỉ những người kể chuyện thành thạo mới thực sự làm được. Mời các bạn đón đọc Britt-Marie Đã Ở Đây của tác giả Fredrik Backman.