Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tất Cả Vì N

Trong một căn hộ tại tòa chung cư cao tầng “Skyrose Garden”, người ta đã phát hiện ra thi thể của Noguchi Takahiro và vợ bị chết trong hoàn cảnh kỳ lạ. Cùng ở trong căn hộ với họ lúc đó là bốn người trẻ hơn hai mươi tuổi, có nam có nữ. Qua những lời làm chứng của họ, một sự thật đáng kinh ngạc dần dần được hé lộ... N, nhân vật được mỗi người trong số họ dành tất cả tình thương mến, rốt cuộc là ai? Đây là tác phẩm trinh thám đầu tiên của Minato Kanae nói về tình yêu thuần khiết, mang đầy nỗi u buồn. *** Tất cả vì N tiếp nối thành công của tiểu thuyết đầu tay “Thú tội”. Tác phẩm không hề dễ đọc hoặc có những tình huống nghẹt thở và gay cấn như những tác phẩm khác, nhưng Tất cả vì N vẫn sẽ làm hài lòng những ai yêu mến Minato Kanae. Một vụ án với những lời khai chặt chẽ với nhau đến hoàn hảo, hung thủ cũng đã tìm ra, chân tướng đã lộ diện. Kết thúc? Không! Với cuốn sách này, yếu tố trinh thám chỉ là đòn bẩy để đẩy “tình yêu thuần khiết”  lên đỉnh điểm. Thế nhưng, vì yêu mà hận, mà tội lỗi thì cũng không còn quá xa lạ với dòng sách văn học hiện nay. Vậy điều gì khiến Tất cả vì N trở nên khác biệt? Nơi giao thoa của những “vết sẹo” quá khứ Mở ra bằng hình ảnh một cuộc thẩm tra, nhịp văn và cái bầu không khí lúc này khiến người ta ngột ngạt như thể đang ngồi trong chính căn phòng kín bị tra hỏi. Xoáy sâu vào đau thương, tác giả gắn kết 6 con người lại, mỗi người là một mảnh ghép của bức tranh đượm buồn mà điểm giao thoa giữa họ chính là những “vết sẹo” từ cả quá khứ lẫn hiện tại.  Một vụ án mạng, không quá bí ẩn, cũng không hẳn còn điều gì đó khúc mắc với những gì chúng ta có ban đầu, Minato Kanae đã dẫn dắt độc giả từ vạch đích, khi mà hung thủ đã lộ diện, bằng chứng gây án cùng những lời khai của những người liên quan đều trùng khớp một cách tuyệt đối.  Nhưng, quả thực không có gì là tuyệt đối, những thứ ta nhìn thấy ban đầu không phải hoàn toàn lúc nào cũng là sự thật, hoặc có thể đó chỉ là một nửa sự thật. Nửa còn lại được che dấu vì mỗi người đều hướng tới một điểm khác nhau, vì “người đó” mà hi sinh bản thân, nói dối, thậm chí trở thành kẻ sát nhân. Và cho đến cuối chuyện, sự thật ấy, mới thực sự lộ diện.  Chất “lạ” trong một cuốn sách tình yêu mang hơi thở trinh thám Thay vì sẽ có một “thám tử” lần theo dấu vết để chỉ ra hung thủ cùng cách thức gây án thì trong cuốn sách này, độc giả chính là người đóng vai trò ấy.  Và sự thật cũng không hiện hữu một cách rành mạch, như để khiến người đọc thêm lạc lối trong mê cung của sự tò mò mà cũng không kém phần rối trí, lời kể của các nhân vật không chỉ xuôi theo một trình tự nhất định mà luôn đan xen giữa thực tại và quá khứ. Có lẽ đây chính là thách thức dành cho độc giả tự mình sắp xếp, xâu chuỗi và tự mò mẫm lối thoát. Đây có thể được coi là một cuốn tiểu thuyết khá “lạ”, không chỉ so với những cuốn sách cùng thể loại mà còn so với giới tiểu thuyết nói chung. Cuốn sách dẫn dắt người đọc bằng ngôi kể thứ nhất, nhưng không phải chỉ có một người kể chuyện, mà ở đây là góc nhìn từ tất cả các nhân vật tham gia vào diễn biến câu chuyện chung, những người vẫn còn có thể lên tiếng.  Qua lời kể của mỗi cái tên N, câu chuyện dường như đi theo một hướng khác nhau, nhưng cũng nhờ đó mà diễn biến câu chuyện được nhìn một cách đa chiều, khiến con người ta có thể thấu hiểu tính cách và con người của nhân vật, cả cái cách nỗi đau quá khứ ảnh hưởng tới sự trưởng thành của một con người. Bức tranh xã hội phức tạp Hơn cả một cuốn tiểu thuyết trinh thám, ở Tất cả vì N hội tụ những góc khuất trong bức tranh xã hội phức tạp. Đó là nạn bạo lực gia đình, là những hành động kì quái và điên rồ- thứ mà mình phân vân đó có được gọi là trầm cảm hay không- đến từ đổ vỡ trong hôn nhân, từ khái niệm “yêu” và “được yêu” cho tới những thứ ẩn sâu trong bản chất con người, bên ngoài ánh hào quang hay ấn tượng ban đầu.  Thế nào là tình yêu thuần khiết? Có lẽ đây chính là câu hỏi lớn nhất được đặt ra xuyên suốt tác phẩm. Từ một phụ nữ đem tình yêu để bao biện cho hành vi bạo lực, cho tới đứa trẻ tự phủ nhận việc mình là một “đứa trẻ đáng thương” chỉ để giữ hình tượng đẹp về tình yêu. Tình yêu ở đây, nó là thứ mà con người ta luôn chấp mê bất ngộ mà chìm đắm để rồi khi quay về với thực tại thì không thể nào chấp nhận nổi, nhưng nó cũng là sự hi sinh thầm lặng, mỗi người chỉ nghĩ cho người quan trọng nhất với mình, đều tìm cách để người ấy không bị tổn thương. Giá trị đích thực của văn học Trong cuốn sách này cũng chứa đựng hai tác phẩm văn học nhỏ mà tác giả của chúng, Nishizaki, sau tất cả, có lẽ là người đáng thương nhất. Từ một đứa trẻ chạy trốn quá khứ, tìm đến văn học để cố chứng tỏ thứ “tình yêu” mà mình được nhận, vậy mà cho tới khi chấp nhận quá khứ và tưởng chừng tìm được chân ái, phút cuối cùng anh ta lại như bị phản bội, và rồi cũng chính vì tình yêu mà anh chấp nhận trở thành kẻ sát nhân. Hình ảnh Nishizaki hiện lên chẳng khác nào con chim thiêu thân trong tác phẩm của mình, cũng chính là hình ảnh xuất hiện ở bìa cuốn sách. Tất cả vì N mang tới cho độc giả một cái nhìn hoàn toàn mới về tình yêu, đây có thể là cuốn sách đáng lưu tâm, nhất là đối với những ai vừa hứng thú với thể loại tình cảm, vừa yêu thích thể loại trinh thám, nhưng cũng không hẳn là một cuốn tiểu thuyết xuất sắc ngay từ cảm nhận ban đầu. Cuốn sách này sẽ dành để tư duy, nhìn nhận và suy luận nhiều hơn là chỉ những gì hiện hữu trên từng trang giấy! *** Tôi tên là Sugishita Nozomi, hai mươi hai tuổi. Là sinh viên năm thứ tư chuyên ngành Văn học Anh khoa Văn Đại học K. Địa chỉ các anh muốn hỏi là địa chỉ thường trú hay tạm trú? Hay cả hai? Địa chỉ thường trú của tôi là ở nhà số 5-37 thôn Aokage huyện XX, tỉnh Aichi. Vâng, nó là một ngôi làng, không phải trên đất liền đâu mà là làng trên đảo. Còn địa chỉ hiện tại của tôi là ở phòng số 102 nhà trọ Nobara-so, số 2-4, quận XX, Tokyo. Nó chỉ là một căn hộ cho thuê hai tầng tồi tàn bằng gỗ, không thể so sánh với khu chung cư cao cấp của anh Noguchi được. Tôi gặp vợ chồng anh Noguchi mùa hè hai năm về trước. Lúc đó tôi đang cùng với Ando - anh bạn thân hơn tôi một tuổi sống cùng nhà trọ - đi du lịch tới đảo Ishigaki ở Okinawa. Mục đích chuyến đi là để chúc mừng Ando vừa tìm được việc. Chúng tôi có duyên gặp vợ chồng anh Noguchi do cùng đi lặn biển với họ. Chúng tôi thuê một nhà nghỉ rẻ tiền do người dân mở, còn hai vợ chồng nhà họ ở tại một khách sạn nghỉ dưỡng nổi tiếng. Chúng tôi cùng thuê một tour dịch vụ lặn biển, cả bốn người đều lặn theo lộ trình cho người mới bắt đầu. Đây mới là lần lặn biển thứ năm của tôi và Ando, nhưng cũng chẳng sao vì tôi và cậu ấy dù không cùng quê quán nhưng từ khi còn nhỏ đều đã quen với biển, nên khi lặn xuống không có cảm giác “sợ sệt” gì cả. Thuyền chúng tôi cập bến ở một hòn đảo nhỏ không người. Chặng đầu tiên chạy từ bờ cát xuống nước, cái bình nặng trịch đeo sau lưng khiến chúng tôi muốn phàn nàn, nhưng rồi chúng tôi đã hoàn toàn mê mẩn ngắm nhìn những đàn cá nhiệt đới nhỏ nhiều màu hiện ra trước mắt mình. Ở chặng thứ hai, chúng tôi ra ngoài khơi bằng thuyền. Vùng biển này rất nổi tiếng vì có thể nhìn thấy cá nạng hải, chúng tôi quyết tâm đăng ký lộ trình đắt đỏ này cũng với hy vọng được ngắm chúng. Vậy mà chị Naoko - vợ anh Noguchi lại bị hoảng loạn khi đang lặn dưới tầm sâu mười mét. Chị ấy dù đã trèo lên thuyền nhưng vẫn không hết run, thế là chúng tôi đành quay về mà chưa kịp nhìn thấy gì. Thực sự chúng tôi đã thất vọng và định đòi họ trả lại nửa số tiền của chuyến đi, cũng may là tôi chưa kịp nói ra. Tối hôm ấy vợ chồng anh Noguchi mời chúng tôi đến khách sạn dùng bữa tối. Họ nói lý do là muốn xin lỗi, nhưng có vẻ anh Noguchi đã có ý mời chúng tôi từ trước đó rồi. Hồi ấy tôi và Ando mê chơi cờ shogi... sở thích chẳng hợp với một nữ sinh đại học như tôi nhỉ? Tôi được giáo viên dạy chơi cờ thời còn học cấp ba. Ở giờ nghỉ giải lao giữa chặng một và chặng hai, chúng tôi trải bàn cờ shogi di động dưới bóng cây dừa trên bãi biển, một tay cầm cơm nắm ăn trưa, tay còn lại di chuyển quân cờ. Anh Noguchi có vẻ cũng thích cờ shogi. Mặc dù chỉ nhìn từ xa nhưng anh cũng đã nhận ra trình độ của chúng tôi, bản thân anh hình như cũng muốn đọ với chúng tôi một ván. Nói “trình độ” vậy thôi chứ cả hai chúng tôi đều chỉ là dân nghiệp dư. Tôi chỉ đơn giản là bắt chước những gì đã học lỏm được từ các cao thủ cờ mình từng xem trên truyền hình mà thôi. Bữa tối hôm ấy rất tuyệt. Lần đầu tiên trong đời tôi được ăn con tôm hùm to như vậy đấy. Sau bữa tối chúng tôi lên quán bar sáng rực đèn ở tít trên tầng thượng. Chúng tôi cùng uống rượu và Ando đã nói chuyện suốt với anh Noguchi. Thật trùng hợp là công ty nhận Ando vào làm cũng chính là công ty anh Noguchi đang làm việc. Hai người họ đã đấu với nhau một ván cờ thay cho việc chào hỏi xã giao thường lệ. Tôi và chị Naoko vừa xem hai người họ đánh cờ, vừa nói chuyện. Phần lớn chủ đề câu chuyện xoay quanh lớp dạy nấu ăn mà chị Naoko đang theo học. Tôi có nhớ chị ấy từng nói, nếu sau này có dịp theo chồng đi công tác nước ngoài, việc tiếp khách bản địa ở nơi đó sẽ là bổn phận của người vợ. Chị tuy nấu ăn không ngon nhưng vì không muốn cản trở con đường thăng tiến của chồng, nên chừng nào còn ở Nhật Bản chị vẫn sẽ cố gắng học nấu ăn. Họ quả là một đôi vợ chồng lý tưởng. Anh Noguchi làm ở công ty thương mại M thuộc một công ty thương mại tổng hợp lớn, có vẻ ngoài ưa nhìn, cả cử chỉ và cách nói chuyện đều toát lên phong thái đĩnh đạc. Còn chị Naoko thì là con gái của vị quan chức, dáng cao da trắng đẹp như người mẫu, không chỉ thế tính cách cũng hiền dịu. Tôi và Ando đã luôn ngưỡng mộ họ kể từ lần đầu gặp mặt. Chúng tôi giống như thể đã được khai sáng - thì ra có những con người như thế này tồn tại thật. Sau đó chúng tôi được hai người họ mời đến thăm nhà sau khi về Tokyo, làm sao mà từ chối được chứ. Nhà của hai người họ ở tầng bốn mươi tám khu chung cư cao cấp “Skyrose Garden” năm mươi hai tầng nổi tiếng. Nhưng nghe nói đó cũng chỉ là nhà ở tạm thời khi hai vợ chồng còn ở Nhật Bản thôi, không biết sau này sẽ ra sao... Nghe nói anh Noguchi xuất thân từ một gia đình bề thế, nhưng chúng tôi chưa bao giờ được nghe anh kể chi tiết chuyện gia đình. Họ cũng từng vài lần mời chúng tôi đi ăn ở những nhà hàng cao cấp, loại được đánh dấu sao trên sách hướng dẫn du lịch ấy. Nhưng nếu chơi cờ tướng thì thường là họ mời chúng tôi đến nhà riêng. Mỗi tháng chúng tôi được mời qua chơi khoảng một, hai lần. Hầu như lần nào tôi cũng đi cùng Ando, nhưng tháng Tư năm ngoái Ando bắt đầu đi làm nên từ đó tôi hầu như ghé qua một mình. Xin đừng hiểu lầm, khi chúng tôi chơi cờ luôn có chị Naoko ở đó. Gần như toàn là Ando chơi cờ cùng anh Noguchi. Ando từng kể do làm cùng phòng với anh Noguchi nên giờ giải lao hay được anh rủ cùng chơi cờ. Tôi cũng nhiều lần cùng chị Naoko ra ngoài chơi. Khi thì đi xem phim, khi đi nghe nhạc, khi đi mua sắm, khi cùng đi ăn... Tôi được chị chiều chuộng như cô em gái nhỏ vậy. Em gái cơ đấy, tôi đúng là trơ trẽn thật nhỉ. Xét cả về ngoại hình lẫn học thức, chúng tôi đều một trời một vực mà. Chị Naoko có nói chưa từng sống một mình bao giờ nên muốn xem phòng của tôi ra sao, vì vậy chị đã ghé thăm căn hộ tồi tàn của tôi đúng một lần. Sau khi nhìn qua một lượt căn phòng rộng sáu chiếu và hầu như không có đồ đạc ấy, chị lặng thinh một lúc rồi như thể nhớ ra điều gì đó, thốt lên: “Căn phòng đẹp quá. Như thể ‘Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên’ vậy!” Tôi đâu có sở thích sưu tầm mấy món đồ vật nhỏ xinh, nội thất cũng chẳng gợi nhớ gì về cảnh đồng quê cả. Không lẽ chị thấy trong phòng tôi một chút không khí gì của những người đi khai phá, giống như bộ phim truyền hình đó sao? Vài ngày sau, chị gửi cho tôi một cái bàn trang điểm rất đẹp, giống kiểu nội thất người ta sắm sửa khi mới về làm dâu, bảo là để cảm ơn vì đã đi chơi cùng với chị. Nhưng đến khoảng tháng Mười một không thấy chị rủ tôi cùng đi đâu nữa. Tôi nhớ là mình chưa từng nói gì sai làm mất lòng chị. Lần cuối cùng gặp nhau chị còn nói về những dự định như là “Chị muốn đi ăn một bữa tối có nhạc sống” hay “Thấy bảo tháng sau có quán cà phê này sắp mở cửa, đẹp lắm đấy”. Tôi thấy hơi lo nên đã gửi tin nhắn đến di động của chị: “Đã lâu không gặp. Chị có khỏe không?” Nhưng tin nhắn không gửi đi được. Điện thoại cũng không gọi được nên ngày nghỉ tôi đành gọi điện vào số di động của anh Noguchi. Mặc dù vợ chồng anh Noguchi sống ở nơi đắt đỏ như vậy nhưng nhà lại không có điện thoại bàn, tôi cũng không có địa chỉ mail của anh. Sau khi nghe tôi nói không gọi được vào di động của chị Naoko, anh Noguchi lập tức chuyển máy cho chúng tôi nói chuyện. Chị nói “Chị xin lỗi, gần đây chị không được khỏe”, đúng như tôi đã đoán. Tôi ngạc nhiên khi nghe chị giải thích “Chị không đi ra ngoài, dùng điện thoại cũng chẳng để làm gì nên chị cắt luôn hợp đồng điện thoại”. Chị thì nói là không có chuyện gì, nhưng tôi chỉ lo chị có bệnh nặng gì đấy nhưng giấu tôi. Vì vậy, tôi rủ Ando - gần đây do bận bịu công việc nên ít qua lại với họ - cùng đến chung cư thăm chị. Chúng tôi đến vào trưa thứ Bảy của tuần thứ hai tháng Mười hai. Giọng nói của chị trên điện thoại nghe không được khỏe và khi gặp trực tiếp, tôi thấy da mặt vốn trắng trẻo của chị Naoko đã tái xanh, như thể khuôn mặt chị sắp trở nên trong suốt và biến mất vậy. Chỉ nhìn thôi tôi cũng thấy xót. Nhưng hai vợ chồng anh chị ấy vẫn ân cần tiếp đón chúng tôi. Nhà anh Noguchi có một phòng nhỏ dành cho sở thích cá nhân, kiểu giống như phòng đọc sách, hình như anh cũng thích nghe nhạc jazz nên phòng có cách âm. Chúng tôi thường chơi cờ trong phòng đó nhưng hôm ấy anh mang bàn cờ ra phòng khách và chơi cờ cùng Ando ở ngoài ấy, để lại tôi trong phòng pha trà và nói chuyện cùng chị Naoko. Lúc đầu tôi đã yên tâm vì có vẻ chị Naoko khỏe mạnh hơn ấn tượng khi thoạt nhìn, nhưng càng lúc tinh thần chị càng trở nên bất an, thỉnh thoảng chị lại im bặt không nói gì, nước mắt rơi lã chã, tay run rẩy. Anh Noguchi bình thường lúc chơi cờ tập trung đến mức điện thoại rung cũng không thèm nghe, nhưng có vẻ hôm ấy anh vừa chơi vừa để mắt đến chị Naoko. Đến khi chị Naoko đột ngột bật khóc to thành tiếng, anh lập tức đứng dậy vừa ôm chị vừa nói “Không sao, không sao mà” rồi dẫn chị vào phòng phía trong. Mang tiếng là đến thăm nhưng cảm giác như chúng tôi đang làm phiền vợ chồng họ vậy. Tôi và Ando xin lỗi anh Noguchi rồi xin phép ra về. Anh Noguchi tiễn chúng tôi ra cửa. Khi đến cửa cả hai cùng lúc nhận ra “Ơ, sao lại có cái này ở đây?” Không biết phải diễn đạt cảm giác khó hiểu lúc đó thế nào, chúng tôi chỉ nhìn chằm chằm vào vật ấy. Là cái khóa xích. Ngoài nó ra trên cánh cửa còn có hai chỗ bắt khóa nữa, dùng loại khóa tối tân mà tôi cũng không hiểu phần nào là khóa, có vẻ rất phù hợp với một chung cư an ninh cẩn mật, nhưng phía dưới chúng lại thêm một cái khóa xích - loại khóa rẻ tiền hay bán ở các siêu thị mà căn hộ nhà tôi cũng dùng. Thế nên chúng tôi mới thấy khó hiểu, nhưng không chỉ có thế.   Mời các bạn đón đọc Tất Cả Vì N của tác giả Minato Kanae & Nga Pháp (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Sự thật về vụ án Harry Quebert hay Chuyện nàng Nola - Joël Dicker
Tiểu thuyết từng vượt mặt 'Hỏa ngục' ra mắt ở Việt Nam. Cuốn "Sự thật về vụ án Harry Quebert hay Chuyện nàng Nola" của nhà văn sinh năm 1985 được cho là đã thổi làn gió mới vào dòng tiểu thuyết trinh thám đương đại. Chỉ vài tuần sau khi ra mắt vào năm 2012, tiểu thuyết "Sự thật về vụ án Harry Quebert hay Chuyện nàng Nola" đã liên tục giành được những giải thưởng lớn: Giải Goncourt do học sinh trung học bình chọn và Giải thưởng dành cho tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp. Cuốn tiểu thuyết cũng đã bán được hai triệu bản trong năm đầu phát hành, dịch ra 32 ngôn ngữ. Vào mùa hè năm 2013, nó có cú lật nhào ngoạn mục đối với Hỏa ngục của Dan Brown để chiếm vị trí đầu trong các bảng xếp hạng best-seller trên toàn châu Âu.  Với cách viết "tiểu thuyết trong tiểu thuyết" và văn phong kịch tính rùng rợn kiểu Mỹ, "Sự thật về vụ án Harry Quebert hay Chuyện nàng Nola" là tác phẩm hấp dẫn về nội dung, kết cấu. Tác phẩm là những trải nghiệm, suy nghĩ, trăn trở của tác giả về tình hình nước Mỹ, về những điều ngang trái trong xã hội hiện đại, về văn chương, về công lý và các phương tiện truyền thông. Không chỉ là một tác phẩm trinh thám nghẹt thở, tiểu thuyết của Joel Dicker còn là một câu chuyện tình yêu lãng mạn diễn ra trong bối cảnh vùng quê bình lặng, tù túng và đạo đức giả của Mỹ những năm 1970. Thiếu nữ Nola là một nhân vật đa nhân cách, một Lolita trinh trắng, một nàng thơ khêu gợi cảm hứng sáng tác và một nữ thần trong tổ ấm của Harry Quebert, người hơn nàng những 17 tuổi đời. *** Tác giả Joel Dicker sinh ngày 16/6/1985, tại thành phố Geneva, Thụy Sĩ. Cuốn "Sự thật về vụ án Harry Quebert hay Chuyện nàng Nola" là một thành công vang dội cho nhà văn trẻ thuộc cộng đồng Pháp ngữ.  Joel Dicker là nhà văn Thụy Sĩ, nhưng tác phẩm của anh viết với bối cảnh ở Mỹ. Nhân vật chính trong truyện là Marcus Goldman - một nhà văn trẻ, vừa có thành công vang dội với cuốn tiểu thuyết đầu tay. Nhưng sự nổi tiếng và giàu có mà tác phẩm đầu mang lại không khiến Marcus dễ dàng hơn khi viết ra tiểu thuyết thứ hai của mình. Anh vật lộn để sáng tác bằng được tác phẩm mới cho nhà xuất bản trong vài tháng tới.  Tác phẩm giành được nhiều lời khen ngợi từ giới chuyện môn, báo chí cũng như độc giả. Lisa Gardner, tác giả cuốn sách bán chạy Fear Nothing của Mỹ nhận định: "Đã lâu lắm rồi tôi mới đọc một cuốn tiểu thuyết ly kỳ làm mình bất ngờ đến nhường ấy. Joel Dicker là một ngôi sao mới tỏa sáng ở thể loại trinh thám, anh đã chứng tỏ những lát cắt nghiêm túc của mình trong tác phẩm không ngừng gây sốc, thắt nút nghẹt thở và cực kỳ hồi hộp này". Tờ Metro của Anh đánh giá: "Một tiểu thuyết phải giở trang liên tục với cốt truyện ấn tượng, thông minh, không ngừng gây bất ngờ cho đến tận trang cuối cùng... Một bước ngoặt liên tục, thôi thúc, khiến ta mê mẩn câu chuyện, làm thỏa mãn bất kỳ người đọc nào...". Nhật báo Corriere della Sera của Italy viết: "Sau Sự thật về vụ án Harry Quebert hay Chuyện nàng Nola, dòng tiểu thuyết đương đại sẽ không còn như trước, không một ai còn có thể giả vờ không nhận ra nó". Mời các bạn đón đọc Sự thật về vụ án Harry Quebert hay Chuyện nàng Nola của tác giả Joël Dicker.
Địch Công Kỳ Án Tập 2: Tứ Bình Phong - Robert van Gulik
Mùa hè năm 663, khi mới 33 tuổi, Địch Công được bổ nhiệm chức vụ cấp huyện đầu tiên là Huyện lệnh của Bồng Lai. Vị trí này đi kèm với một nhiệm vụ hóc búa: điều tra vụ bỏ độc mưu sát cố Huyện lệnh - vị quan tiền nhiệm của ông. Nhưng niềm háo hức khi mới nhậm chức mau chóng chuyển thành nỗi kinh hãi, khi ông phải đối mặt với một vong hồn lang thang nơi nha phủ, một con cọp tinh ăn thịt người ẩn nấp chốn rừng rú và một vị tân nương biến mất gần ngôi miếu bỏ hoang… Một Huyện Bồng Lai xa xôi lại ẩn chứa vô số bí ẩn phức tạp đan xen nhau tạo thành mối bòng bong khó tháo gỡ. Hàng loạt các vụ án dây mơ rễ má xuất hiện, không manh mối, không dấu vết. Thậm chí còn cả hồn ma, ma sói xuất hiện trong một không gian mờ ảo, bất định. Liệu Địch Công có tìm ra lời giải thích hợp lý cho những sự kiện kỳ dị và kịp thời phá giải một âm mưu đen tối liên quan đến tận kinh thành hay không? Một tác phẩm trinh thám vừa có tính liêu trai, kì bí, vừa mang đậm nét "duy vật" của Phương Tây. Cái hay của tác giả Robert Van Gulik là lấy ảo để tả thực, lấy cảnh để nói người.. *** Robert Van Gulik (1910-1967) là một nhà Đông phương học uyên thâm, từng học Pháp luật và Ngôn ngữ phương Đông tại Hà Lan; năm 1935 nhận học vị tiến sĩ nhờ công trình nghiên cứu về Ấn Độ, Tây Tạng (Trung Quốc) và Viễn Đông. Những năm tiếp theo, liên tục làm công việc của một quan chức ngoại giao tại Trùng Khánh, Nam Kinh (Trung Quốc), Tôkyô (Nhật Bản) và một số nước khác; cuối đời trở thành đại sứ Hà Lan tại Nhật Bản. Ông là tác giả của hàng loạt cuốn sách nổi tiếng về văn hóa phương Đông, như “Trung Quốc cổ đại cầm học”, “Kê Khang cầm phú”, “Trung Quốc hội họa giám thưởng”, “Địch công án”, “Xuân mộng tỏa ngôn”, “Bí hí đồ khảo”, Trung Quốc cổ đại phòng nội khảo”… Celebrated Cases of Judge Dee (Địch Công Án/ Những cuộc điều tra của quan Địch) gồm 16 tập. Một loại tiểu thuyết trinh thám - công án về quan án Địch Công được xây dựng dựa trên nguyên mẫu của tể tướng Địch Nhân Kiệt (630 - 700) một nhân vật có thật sống vào đời nhà Đường thế kỷ thứ VII. Sinh tại Tĩnh Châu, phủ Thái Nguyên (Sơn Tây) Địch Nhân Kiệt đã làm quan tại các địa phương dưới các chức vụ huyện lệnh, Pháp tào Tham quân, Tuần phủ,Thứ sử. Năm 47 tuổi ông về kinh đô Trường An làm Đại lý thừa Tự khanh rồi lần lượt được thăng lên Thị ngự sử, Thị lang bộ Công, thượng Thư tả thừa, hai lần làm Trung thư lệnh (tể tướng) và đô đốc dưới quyền nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên. Phẩm chất đạo đức và tài phá án của ông đã được người đời ca tụng sủng ái đến mức như huyền thoại. Không những là người có hiểu biết về pháp luật, về tâm lý con người, Địch Công còn biết cả kiếm thuật, võ thuật lẫn chữa bệnh, một quan toà cổ đại Trung Quốc mang dáng dấp của Sherlock Holmes... Cùng với bốn hộ vệ mưu trí, dũng cảm, xả thân vì chủ như Hồng Lương, Mã Tôn, Triệu Thái và Tào Can - những giang hồ hảo hán được ông giác ngộ và cho đi theo, Địch Công đã phá được rất nhiều vụ án ly kỳ. Robert Van Gulik cũng khéo léo đưa vào bộ tiểu thuyết trinh thám này những nét văn hóa, lịch sử, phong tục của Trung Quốc.  *** Tường sự lạ, Địch Công cảm thán Thăm Mậu Bình, Quan án đổi tên Đặng Tri huyện đứng im giữa cửa thư phòng, cảm thấy vô cùng bối rối, mắt mờ đi, không dám bước về phía án thư. Ông ta đứng dựa vào khung cửa, mắt nhắm nghiền, từ từ đưa hai tay lên bóp nhẹ huyệt thái dương. Cơn đau đầu giờ không còn dữ dội mà chuyển sang âm ỉ, thỉnh thoảng lại nhói lên một hồi. Tai không còn ong ong, Đặng Tri huyện có thể nghe thấy tiếng gia nhân bắt đầu công việc thường nhật sau giờ nghỉ trưa nơi hậu viện. Chỉ một chốc nữa thôi, lão quản gia sẽ mang trà chiều tới cho ông ta. Đặng Tri huyện gắng hết sức làm chủ bản thân, cảm thấy nhẹ nhõm phần nào khi hai mắt đã nhìn rõ hơn. Ông ta vội đưa hai tay lên quan sát thật kỹ nhưng không thấy vết máu nào cả. Ông ta nhìn sang cái bàn gỗ mun lớn, mặt bàn được đánh bóng loáng, phản chiếu hình ảnh của những bông hoa cắm trong chiếc lọ ngọc bích giữa bàn. Hoa đã héo úa hết cả, ông ta lờ mờ nghĩ rằng phu nhân đáng ra phải thay hoa mới rồi, mọi khi hiền thê vẫn thường tự mình lựa hoa từ hoa viên. Đột nhiên, Đặng Tri huyện cảm thấy trống rỗng, ông ta lập cập bước vào phòng, tay vịn mép án thư, vừa thở nặng nhọc vừa đi một vòng quanh bàn rồi thả mình xuống ghế bành. ... Mời các bạn đón đọc Địch Công Kỳ Án Tập 2: Tứ Bình Phong của tác giả Robert van Gulik.
Phi Vụ Cuối - Lawrence Block
Phi vụ cuối khắc họa thành công sự trở lại của một trong những nhân vật điển hình của Block- sát thủ Keller. Trong tác phẩm mới nhất và cũng có thể là cuối cùng độc giả sẽ được phiêu lưu cùng Keller trong hành trình thực thi phi vụ cuối. Mặc dù Keller cũng phát điên vì những mệnh lệnh kỳ quặc trong khi làm nhiệm vụ nhưng hắn vẩn quyết định làm tới cùng để rồi nhận ra mình đã mắc vào một cạm bẫy đã được sắp sẵn một cách hoàn hảo. Có thể nói đây là một Keller xuất sắc nhất từ trước khi được giới thiệu lần đầu tới công chúng trong Hit Man- Kẻ săn người. Hit and Run- Phi Vụ Cuối cũng là một trong những tiểu thuyết bán chạy nhất nước Mỹ mùa hè năm nay. Điều đó chứng tỏ rằng Block vẩn luôn là một tác giả bậc thầy của thể loại tiểu thuyết về tội phạm, và sẽ để lại một chõ trống trong long độc giả nếu một ngày nào đó ông thật sự giải nghệ. Chicago Sun- Times *** Lawrence Block là một nhà văn tội phạm người Mỹ nổi tiếng nhất trong hai bộ phim dài tập New York-set về sự phục hồi của người nghiện rượu. Matthew Scudder và tên trộm quý ông Bernie Rhodenbarr. Mời các bạn đón đọc Phi Vụ Cuối của tác giả Lawrence Block.
Án Mạng Ở Nhà Mục Vụ - Agatha Christie
Đại tá Protheroe, viên chức tư pháp đồng thời là người quản lý tài sản cho nhà thờ bị mọi người trong làng St. Mary Mead ghét. Vào ngày hẹn kiểm kê sổ sách với mục sư quản nhiệm, đại tá Protheroe bị bắn vào đầu, chết ngay trong văn phòng làm việc của mục sư, gục lên trên một bức thư viết dở gửi cho ông mục sư. Vậy là các bà cô già không chồng trong làng có nhiều việc để làm! Ngay sau khi cảnh sát vào việc, có hai kẻ nối tiếp nhau đầu thú: anh chàng họa sĩ Lawrence Redding và bà vợ góa của ông đại tá. Cả hai người này tư tình với nhau từ trước khi ông đại tá bị giết, thế nên chẳng nghi ngờ gì nếu họ là những kẻ tình nghi số 1. Đường dây vụ án càng lúc càng rối tung vì phát hiện thêm rất nhiều nhân vật khả nghi hơn, từ viên trợ tế trẻ tuổi của nhà thờ cho đến một mệnh phụ bí ẩn mới dọn về làng này sống chưa lâu… Ông mục sư Clement ngoài việc hợp tác với cảnh sát điều tra vụ án, còn luôn bị các bà cô già mời tới gặp riêng để báo cáo những tình tiết mới phát hiện, mà thường toàn là những kể lể dông dài kèm chỉ trích cay nghiệt! Duy chỉ có bà Marple, bà già sắc sảo và cũng “nhiều chuyện” nhất cái làng St. Mary Mead đó có cách tư duy manh mối tài tình, hiến kế để cảnh sát ‘đặt bẫy’ dụ kẻ giết người lộ diện. Án mạng ở nhà mục vụ đánh dấu lần đầu ra mắt nhân vật phá án điềm tĩnh và rất được yêu thích của Agatha Christie, bà Jane Marple. Với biệt tài phát hiện ra cái ác trong bản chất con người, bà Marple vạch ra dấu vết kẻ giết người bí ẩn trước sự mù mờ của cảnh sát địa phương. *** Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.    Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920). Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. *** Bà Marple hay còn gọi là Jane Marple là một nhân vật thám tử giả tưởng của Agatha Christie. Bà là thám tử được yêu thích thứ hai sau Hercule Poirot. Bà Marple xuất hiện trong 12 tiểu thuyết và 20 truyện ngắn của Agatha Christie Bà Jane Marple là một phụ nữ lớn tuổi sống tại ngôi làng Anh nhỏ bé St. Mary Mead. Bà Marple là một phụ nữ cao gầy trông khoảng 65 đến 70 tuổi. Bà có mái tóc trắng như tuyết, đôi mắt xanh xám và khuôn mặt hồng hào nhăn nheo. Trông bà như một cụ bà bình thường, ăn mặc gọn gàng trong bộ váy áo vải tuýt và thường xuyên đan áo hoặc nhổ cỏ trong vườn. Nhân vật Jane Marple trong cuốn sách Miss Marple đầu tiên, The Murder at the Vicarage, có sự khác biệt rõ ràng so với hình tượng của bà trong những cuốn sách sau đó. Phiên bản đầu tiên này của bà Marple là một người ngồi lê đôi mách và không đặc biệt tử tế. Trong những cuốn sau, bà trở thành một người tốt bụng và hiện đại hơn. Bà Marple không kết hôn và không có họ hàng gần. Cuốn Vicarage có sự xuất hiện của cháu trai cô Marple, "nhà văn nổi tiếng" Raymond West. Vợ anh ta Joan (ban đầu có tên là Joyce), một họa sĩ hiện đại, xuất hiện vào năm 1933 trong The Thirteen Problems. Raymond tỏ ra quá tự tin vào bản thân và đánh giá thấp năng lực trí tuệ của Cô Marple. Trong những năm sau này, Cô Marple sống chung với một người bầu bạn tên là Cherry Baker. Mặc dù chưa bao giờ kết hôn, The Murder at the Vicarage có hé lộ vài điều về bà Marple thời trẻ. Bà cho biết mình từng yêu một người đàn ông đã có vợ, người muốn bỏ vợ để cưới bà. Ông bị gọi vào lính trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và bà Marple bắt ông hứa không được ly hôn. Ông hy sinh trên chiến trường không bao giờ trở lại và bà Marple không bao giờ kết hôn nữa. Bà Marple có thể phá những vụ án hóc búa không chỉ do trí thông minh sắc sảo của mình, mà còn bởi St. Mary Mead, trong suốt cuộc đời bà, đã cho bà những ví dụ dường như vô tận về khía cạnh tiêu cực của bản tính con người. Điểm này bà khác với Poirot, vì bà tin rằng tất cả mọi người ở tất cả mọi nơi đều giống nhau, với những thói xấu và ham muốn xấu xa (thậm chí trong ngôi làng nhỏ nơi bà sống). Bà không cần "những tế bào xám" của Poirot hay sự giúp đỡ của Scotland Yard, thuần túy chỉ có óc quan sát và sự hiểu biết về con người đã dẫn bà đến với sự thật. St. Mary Mead là một ngôi làng hư cấu nơi bà Marple sống. Qua năm tháng và tiểu thuyết, ngôi làng đã có những thay đổi và phát triển vượt bậc. Ngôi làng này cách London 25 dặm và cách bờ biển khoảng 12 dặm. Thành công của bà Marple phần nhiều đến từ sự quan sát của bà về cư dân trong làng. Christie viết cuốn tiểu thuyết kết thúc cho sê-ri Marple, "Sleeping Murder", vào năm 1940. Bà đã khóa nó trong két sắt ngân hàng để giữ an toàn phòng trường hợp bà chết trong vụ oanh tạc. Cuốn tiểu thuyết không được xuất bản cho đến thời điểm sau cái chết của Christie năm 1976, khoảng 36 năm sau khi được viết ra. Sleeping Murder tạo ra một số thay đổi trong tiến trình thời gian của sê-ri, trong đó một số nhân vật đã chết trong những tiểu thuyết xuất bản trước đó lại xuất hiện trở lại. Không như Hercule Poirot, Jane Marple vẫn sống trong cuốn tiểu thuyết cuối cùng của bà.   Mời các bạn đón đọc Án Mạng Ở Nhà Mục Vụ của tác giả Agatha Christie.