Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tội Ác Dưới Ánh Mặt Trời

Arlena Marshall là một nữ diễn viên xinh đẹp, luôn liếc mắt đưa tình những người đàn ông hấp dẫn đối với cô. Cô đến Khách sạn Hải Tặc cùng chồng Kenneth Marshall, và con gái riêng của chồng, Linda Marshall, 16 tuổi. Linda rất ghét mẹ kế. Arlena đong đưa tán tỉnh anh chàng Patrick Redfern đẹp trai, trước sự giận dữ ra mặt của vợ anh ta, Christine, một cựu giáo viên. Cùng ngụ trong khách sạn này có Hercule Poirot; ông Horace Blatt khoác lác; thiếu tá Barry, sĩ quan người Anh gốc Ấn Độ về hưu hay kể chuyện lê thê; Rosamund Darnley, nhà tạo mẫu thời trang cao cấp, vốn là bạn thanh mai trúc mã với Kenneth; bà Carrie Gardener, một du khách người Mỹ lắm mồm, và ông chồng tên Odell; cha xứ Stephen Lane; và cô Emily Brewster, quý cô chưa chồng khỏe như vận động viên.  Arlena được phát hiện bị giết chết vào buổi sáng của một ngày đẹp trời. Các chứng cứ ngoại phạm bắt đầu được thu thập. Arlena chèo bè đến Vũng Tiên rõ ràng cho một cuộc hẹn hò. Nhưng cả Kenneth lẫn Patrick đều tìm cô. Cuối cùng Patrick xin cô Emily cho anh đi chèo thuyền cùng. Anh phát hiện một cái xác nằm sải tay, giấu mặt trong nón, những lọn tóc đỏ ló ra ngoài. Anh ở lại đó trong lúc Emily đi báo cảnh sát. Bác sĩ pháp y nhận định nạn nhân bị một đôi bàn tay rất khỏe mạnh siết cổ chết. Phải là đôi bàn tay của đàn ông. Hai người có động cơ giết Arlena rõ nhất là: ông chồng Kenneth, Christine – cô vợ của anh chàng nhân tình Patrick nọ. Nhưng Kenneth có chứng cớ ngoại phạm chắc nịch. Còn Christine là một phụ nữ tay chân đặc biệt nhỏ nhắn xinh xắn! Thế rồi cô con gái riêng Linda nổi lên thành kẻ tình nghi số một vì có đôi bàn tay to tướng khỏe mạnh như đàn ông lẫn ác cảm với mẹ kế… và chứng cớ ngoại phạm không vững!  Khi cảnh sát sở tại và Hercule Poirot phối hợp điều tra ráo riết, lần ra nhiều bí mật đen tối của các vị du khách. Ông Horace Blatt khoác lác có thể là một tay buôn lậu ma túy. Cha xứ Stephen Lane thù ghét đàn bà lẳng lơ đến phát bệnh thần kinh và từng phải vào bệnh viện tâm thần. Một lời khai bổ sung của nhà tạo mẫu thời trang Rosamund Darnley hóa ra là nói dối, hơn nữa mọi du khách cùng ở đó đều thấy rõ cô phải lòng Kenneth… Một mê hồn trận những động cơ gây án và nghi phạm!  Đùng một phát, Linda Marshall uống thuốc ngủ tự tử, để lại thư tuyệt mệnh thú nhận tội lỗi! Rất may cô hầu phòng phát hiện và Linda được đưa đi cứu chữa trong tình trạng thập tử nhất sinh. Phải chăng chỉ cần đợi cô bé sống lại là có thể làm rõ các bước gây án? Chỉ có Hercule Poirot mới trả lời được câu hỏi này. *** Khi thuyền trưởng Roger Angmering xây nhà vào năm 1782 trên hòn đảo trong Vịnh Leathercombe, người ta nghĩ căn nhà ấy biểu hiện tính lập dị tột đỉnh của ông. Một người con nhà khá giả như ông đáng lẽ phải có cơ ngơi đường hoàng tọa lạc giữa đồng cỏ rộng, với một dòng suối chảy qua và bãi cỏ ngon lành cho gia súc. Nhưng ông thuyền trưởng này chỉ có một tình yêu vĩ đại, tình yêu biển cả. Vì thế ông đã xây ngôi nhà của mình - còn là một ngôi nhà kiên cố vì cần phải như thể, trên một mũi đất nhỏ lộng gió nơi hải âu thường xuyên lui tới - cách biệt với đất liền mỗi khi thủy triều lên. Ông không lập gia đình, biển cả là hôn thê đầu tiên và cuối cùng của ông, và khi ông qua đời ngôi nhà và hòn đảo về tay một người em họ xa. Ông em họ đó và đàn con cháu ít nghĩ tới việc để lại một chúc thư. Đất đai của họ thu hẹp và những người thừa kế dần dần trở nên nghèo khó hơn. Vào năm 1922 khi cuối cùng thiên hạ bắt đầu đổ xô đi tắm biển vào dịp nghỉ hè, không còn nghĩ vùng bờ biển Devon và Cornwall quá nóng bức vào mưa hè nữa, Arthur Angmering nhận thấy ngôi nhà rộng mênh mông thiếu tiện nghi xây vào cuối thời vua George của mình không bán được, nhưng khu đất nhỏ xíu kỳ quặc do đại úy thuyền trưởng Roger tậu được đem lại một giá trị lớn lao. Ngôi nhà kiên cố đó được xây thêm và trang trí lại thật đẹp. Một con đường bằng bêtông bắt đầu được đắp cao trên bãi lầy nối đất liền ra đảo. Nhiều lối tản bộ và góc riêng tư được hình thành và xây dựng quanh đảo. Có hai sân quần vợt, những nền đất cao để phơi nắng dẫn xuống một vịnh nhỏ với những bè gỗ và ván nhào lặn tôn thêm vẻ đẹp của nó. Khách sạn Hải Tặc, Đảo Buôn Lậu, Vịnh Leathercombe ra đời, hân hoan đắc thắng. Và từ tháng 6 tới tháng 9 cùng với mùa Phục sinh ngắn ngủi, khách sạn đó thường đầy ắp khách đến tận tầng thượng. Nó được mở rộng và nâng cấp vào năm 1934, có thêm một quầy bar, một phòng ăn lớn hơn và một số buồng tắm phụ. Giá cả tăng lên. Người ta hỏi nhau: “Tới Vịnh Leathercombe chưa hả? Ở đó có một khách sạn hay cực kỳ, trên một chỗ như là hòn đảo. Rất tiện nghi thoải mái, chẳng có người dạo chơi hay xe buýt tham quan đâu. Nấu ăn ngon và tất cả đều tốt đẹp. Ông nên tới đó đi.” Và quả thật người ta đã tới. Có một nhân vật rất quan trọng lưu trú tại Khách sạn Hải Tặc (hay ít ra ông ấy tự đánh giá mình như vậy). Hercule Poirot rực rỡ trong bộ comlê bằng vải dày màu trắng, với cái mũ panama nghiêng nghiêng trên đôi mắt, hàng ria mép xoắn lại thật đẹp. Ông nằm dựa ngửa trên ghế bố kiểu cải tiến quan sát bãi tắm. Một dãy nền đất cao từ khách sạn dẫn xuống đó. Trên bãi biển còn có các phao tấm, phao nằm, thuyền hơi và vải bạt, những quả bóng và đồ chơi bằng cao su. Có một tấm ván nhún dài và ba bè gỗ ở những khoảng cách khác nhau từ bờ biển. Về phần những người tắm biển, một số đang ở dưới nước, một số nằm duỗi dài trên bãi phơi nắng, số khác thì đang bôi díu lên người thật kỹ lưỡng. Ở trảng đất cao bên trên, những người không xuống tắm thì chọn cách ngồi bình luận về thời tiết, phong cảnh trước mặt, tin tức trên báo buổi sáng hay bất cứ đề tài nào khác lôi cuốn họ. Về phía bên trái của Poirot những câu nói dông dài, dịu dàng đơn điệu không ngừng tuôn ra từ miệng bà Gardener, trong khi hai tay bà vẫn thoăn thoắt đan len, khiến hai que đan cứ chạm vào nhau kêu lách cách. Ở phía bên kia là chồng bà, ông Odell C. Gardener nằm trên ghế võng, cái mũ sụp xuống tận mũi. Thỉnh thoảng ông chỉ góp vài lời ngắn gọn khi được yêu cầu nói. Về phía bên phải của Poirot, cô Emily Brewster, một phụ nữ mạnh mẽ rắn rỏi có mái tóc hoa râm và khuôn mặt dạn dày sương gió vui vẻ dễ ưa, đưa ra một lời bình luận cộc lốc. Nghe gần như tiếng sủa ngắn, thật to và mạnh mẽ của một con chó chăn cừu làm gián đoạn tiếng kêu ăng ẳng không ngớt của một con chó dòng Pomerania. Bà Gardener đang nói: “Và thế là tôi nói với ông nhà tôi, à, tôi đã nói là các chuyến tham quan đều rất tốt, và quả là tôi thường đi tham quan suốt. Chúng tôi đã đi khá nhiều nơi khắp xứ Anh này rồi, nên bây giờ tôi chỉ muốn đến một nơi yên tĩnh ở miền biển và chỉ để thư giãn mà thôi. Em đã nói thế, đúng không Odell? Chỉ thư giãn thôi. Tôi cảm thấy mình phải thư giãn. Đúng như thể, phải vậy không Odell?” Từ sau cái mũ ông chồng khẽ đáp: “Phải, em yêu à.” Bà vợ tiếp tục theo đuổi đề tài của mình: “Và thế là khi tôi đề cập chuyện ấy với ông Kelso ở công ty du lịch Cook - ông ấy đã thu xếp cả lộ trình cho chúng tôi, hết sức hữu ích về mọi mặt. Thật tình tôi chẳng biết chúng tôi phải làm gì nếu không có ông ấy! - À, như tôi nói đó, khi tôi đề cập chuyện ấy, ông Kelso nói tốt hơn hết chúng tôi nên tới đây. Một địa điểm đẹp như tranh vẽ, hoàn toàn cách biệt, mà vẫn rất tiện nghi thoải mái và riêng tư. Tất nhiên ông nhà tôi đã xen vào ngay vào hỏi vệ sinh thì thu xếp ra sao? Bởi vì nếu ông chịu tin lời tôi, ông Poirot à, một cô em gái của ông Gardener có lần từng tới trọ ở một nhà khách mà họ bảo là rất riêng biệt giữa một bãi đất hoang, nhưng ông có tin không, chẳng có gì ngoài nhà xí lấy đất phủ lên phân. Vì thế lẽ tất nhiên chuyện ấy khiến ông nhà tôi nghi ngờ những nơi cách biệt với thế giới bên ngoài, có phải vậy không Odell?” “Ờ phải, em yêu à,” ông chồng đáp. “Nhưng ông Kelso lập tức cam đoan với chúng tôi một lần nữa. Ông ấy bảo chuyện vệ sinh tuyệt đối không cần phải bàn thêm gì, và nấu ăn thật xuất sắc. Tôi chắc chắn thế đó. Và điều khiến tôi rất thích là đúng giờ đúng giấc, chắc ông hiểu tôi muốn nói gì rồi. Là một nơi nhỏ bé nên tất cả chúng ta trò chuyện với nhau và ai nấy đều biết nhau. Người Anh nếu có một lỗi thì đó là họ hơi xa cách một chút xíu cho tới khi đã quen nhau chừng vài năm. Sau đó chẳng ai có thể tử tế hơn họ. Ông Kelso bảo những con người thú vị thường hay tới đây, và tôi thấy ông ấy nói đúng. Có các vị đây, ông Poirot và cô Darnley. Ôi! Đúng là tôi đã thích đến chết đi được khi khám phá ra các vị là ai, có phải vậy không Odell?” “Phải, em yêu à.” “Hà!” cô Brewster hùng hổ ngắt ngang câu chuyện. “Thật rộn ràng vui sướng quá, hử, ông Poirot?” Poirot giơ hai tay lên có vẻ không đồng tình. Nhưng đó chỉ là một cử chỉ lịch sự không hơn không kém. Bà Gardener nói tiếp như một dòng nước đang lững lờ trôi: “Xin hiểu cho, thưa ông Poirot, tôi từng nghe Cornelia Robson kể rất nhiều chuyện về ông đó. Tháng 5 vừa rồi, vợ chồng tôi đã tới Badenhoi Và tất nhiên Cornelia đã kể hết cho chúng tôi nghe vể vụ Linnet Ridgeway bị giết chết ờ Ai Cập. Bà ấy bảo ông thật tuyệt vời, và lâu nay tôi đã muốn gặp ông hết sức, có phải vậy không, Odell?” “Phải, em yêu à.” “Rồi sau đó còn cô Darnley nữa. Tôi mua rất nhiều đồ hiệu Rose Mond, và tất nhiên cô ấy là Rose Mond, đúng không? Cô ấy thiết kế trang phục quá thông minh. Một mặt hàng tuyệt diệu quá đỗi. Cái đầm tôi mặc đêm hôm qua là của cô ấy đó. Quả đúng là một phụ nữ đáng yêu về mọi mặt.” Từ phía bên kia cô Brewster, thiếu tá Barry nãy giờ vẫn ngồi dán cặp mắt ốc nhồi vào những người đang tắm, lẩm bẩm: “Cô nàng trông ngon lành đáo để!” Bà Gardener khua que đan lách cách: “Tôi phải thú nhận một điều thôi, ông Poirot à. Gặp ông ở đây khiến tôi bị điếng người kiểu nào đó - chẳng phải tôi không phấn khích khi gặp ông đâu, phấn khích quá đi chứ. Ông nhà tôi biết điều ấy. Nhưng tôi vừa nghĩ đến chuyện có thể ông tới đây - à, là để hành nghề. Ông biết tôi muốn nói gì chứ? À, tôi vốn cực kỳ nhạy cảm, như ông Gardener sẽ nói cho ông biết, và quả tôi chẳng thể chịu nổi nếu phải dính líu vảo bất cử kiểu tội ác nào. Xin ông hiểu cho.” Chồng bà ta đằng hắng rồi nói: “Xin ông hiểu cho, ông Poirot à, bà nhà tôi nhạy cảm lắm.” Hai tay thám tử Poirot giơ thẳng lên trời thật nhanh: “Xin cam đoan với bà, Madame, tôi tới đây cũng y như bà vậy thôi - để vui hưởng - để nghỉ hè thôi. Thậm chí tôi chẳng hề nghĩ tới tội ác.” Cô Brewster lại nói như tiếng chó sủa ngắn cộc cằn: “Chẳng có cái xác nào trên Đảo Buôn Lậu đâu.” “A!” Hercule Poirot nói. “Nói thế cũng không hoàn toàn đúng.” Ông chỉ tay xuống phía dưới. “Bà nhìn họ đang nằm dài ra đó từng hàng đi! Họ là gì vậy hả? Không phải đàn ông hay đàn bà. Chẳng có đặc điểm cá nhân nào cả. Họ chỉ là - những thân xác.” Thiếu tá Barry tán thành: “Một đám ngớ ngẩn trông cũng được mắt đó, vài người trong bọn họ. Mảnh khảnh, có lẽ vậy.” “Phải đó,” Poirot kêu lên, “nhưng có gì hấp dẫn? Có gì bí ẩn? Tôi già mất rồi, thuộc trường phái cũ xưa, hồi tôi còn trẻ người ta hiếm khi trông thấy mắt cá chân. Thoáng thấy một cái váy lót xốp cũng làm mình mê mẩn xiết bao! Một bắp chân căng tròn mém mại - một đẩu gối - ghim nịt vớ…” “Hư đốn, hư đốn!” thiếu tá Barry nói với giọng khàn khàn. “Đồ ta mặc ngày nay gợi cảm hơn nhiều,” cô Brewster nhận xét. “À phải đó, ông Poirot à. Bọn con trai con gái đời nay sống tự nhiên khỏe mạnh hơn nhiều. Chúng chỉ nô đùa đây đó với nhau rổi chúng - à, chúng nó…” bà Gardener hơi đỏ mặt vì đầu óc bà vốn rất tinh tế - “chúng chẳng nghĩ gì về chuyện ấy, ông hiểu ý tôi chứ?” “Tôi hiểu rồi,” Poirot đáp. “Thật đáng trách!” “Đáng trách sao?” bà Gardener rít lên. “Xóa bỏ hết tình cảm lãng mạn - hết còn bí ẩn! Ngày nay mọi thứ đều bị tiêu chuẩn hóa.” Ông thám tử phẩy tay về phía những hình hài nằm sấp nằm ngửa. “Cái cảnh đó nhắc tôi nhớ rất nhiều tới Nhà xác ở Paris.” “Ông Poirot!” bà Gardener cảm thấy bị xúc phạm. “Những cái xác - xếp trên những phiến dày và rộng - y hệt thịt ở cửa hàng bán thịt!” “Ông Poirot à, nói vậy chẳng phải là quá cường điệu sao?” Hercule Poirot thừa nhận: “Có lẽ thế, đúng vậy.” “Dù sao đi nữa,” bà Gardener đan len thật hăng, “tôi vẫn có thể đồng ý với ông về một điểm. Những cô gái đang nằm dài phơi nắng như thể kia sẽ bị mọc lông tay lông chân đó. Tôi từng bảo Irene - con gái tôi, ông Poirot à, - tôi bảo nó nếu cứ nằm dài phơi nắng như thế, con sẽ mọc lông khắp mình khắp mẩy, lông tay lông chân và lông ngực, khi ấy trông con sẽ như thể nào hở? Em đã nói với con bé, phải vậy không Odell?” “Phải, em yêu à,” chồng bà đáp. Mọi người im lặng, có lẽ đang mường tượng trong đầu hình ảnh của Irene khi tình huống xấu nhất đã xảy ra. Bà Gardener cuốn đồ đan len lại rổi nói: “Bây giở tôi tự hỏi..” Ông chồng hỏi: “Gì thế, em yêu?” Ông gượng đứng lên rời khỏi cái ghế võng, cầm lấy đồ đan len và quyển sách của vợ rổi hỏi: “Cùng uống với chúng tôi một ly nhé, cô Brewster?” “Ngay bây giờ thì không được, cảm ơn ông.” Hai vợ chồng đi trở lên khách sạn. Cô Brewster nói: “Các ông chồng người Mỹ thật tuyệt vời!” Cha Stephen Lane ngồi vào chỗ của bà Gardener. Đó là một ông thầy tu cao ráo sung sức ngoài năm mươi. Khuôn mặt rám nắng và cái quần dài bằng nỉ mỏng tanh màu xám sẫm thích hợp để đi nghỉ mát lại làm ô uế thanh danh của một kẻ tu hành. Ông nói thật hăng hái: “Miền quê này thật kỳ diệu! Ta đã đi từ Vịnh Leathercombe đến Harford rồi quay về chỗ gành đá.” “Hôm nay đi bộ làm ấm người lắm đó,” thiếu tá Barry nói, nhưng ông ta chẳng bao giờ đi bộ. “Rèn luyện thân thể là rất tốt,” cô Brewster thêm vào. “Tôi vẫn chưa chèo thuyền đây. Muốn tập cơ bụng thì không gì bằng chèo thuyền đâu.” Cặp mắt Hercule Poirot sụp xuống, hơi rầu rĩ liếc nhìn chỗ trương phình lên chính giữa bụng. Để ý thấy, cô Brewster nói thật tử tế: “Ông sẽ sớm làm chỗ ấy xẹp xuống thôi, ông Poirot ạ, nếu hằng ngày chèo thuyền ra biển.” “Merci, Mademoiselle. Tôi thì lại ghét cay ghét đắng các loại thuyền bè!” “Ông muốn nói đến những chiếc thuyền nhỏ sao ạ?” “Thuyền bè mọi kích cỡ.” Ông nhắm mắt lại và rùng mình. “Biển động thì chẳng hề dễ chịu.” “Chúa ban phúc lành cho cái ông này, hôm nay sóng yên biển lặng mà ông.” Poirot đáp lại với niềm tin vững chắc: “Thật ra chẳng có chuyện biển lặng đâu. Lúc nào, lúc nào cũng chuyển động.” “Nếu ông hỏi tôi,” thiếu tá Barry nói, “cứ mười người thì có tới chín người bị say sóng đó.” “Thế đấy,” ông thầy tu hơi nhếch mép mỉm cười, “là thủy thủ lành nghề mà cũng nói thế ư, ông thiếu tá?” “Chỉ bị say sóng mỗi một lần, đó là lúc tôi vượt Biển Manche! Đừng nghĩ tới say sóng, đó là phương châm của tôi.” “Say sóng thật sự là một chứng rất kỳ quặc,” cô Brewster có vẻ đâm chiêu. “Vì sao người này mắc chứng ấy, còn kẻ khác lại không chứ? Chẳng phải là quá bất công hay sao? Chẳng liên quan gì tới sức khỏe thể chất cả. Có người cực kỳ ốm yếu lại là thủy thủ giỏi. Từng có người bảo tôi chứng ấy liên quan gì đấy với cột sống. Rồi còn có cái kiểu chẳng chịu nổi độ cao. Chính tôi cũng chịu đựng không tốt lắm, nhưng bà Redfern còn tệ hơn nhiều. Hôm nọ ở lối đi trên vách đá đến Harford, bà ấy bỗng dưng bị chóng mặt, đến nỗi phải vịn vào tôi đấy. Bà kể tôi nghe có lần từng bị kẹt ở nửa chừng đường đi xuống cầu thang bên ngoài nóc Nhà thờ Milan. Bà ấy leo lên thì chẳng hề nghĩ ngợi gì, nhưng khi đi xuống lại bị choáng.” “Thế thì tốt hơn hết bà ấy không nên leo cái thang xuống Vũng Tiên,” cha Lane nhân xét. Cô Brewster nhăn mặt. “Chính tôi cũng khiếp nữa là. Bọn trẻ thì không sao cả. Thằng bé nhà Cowan với cậu Mastermans cứ leo lên trèo xuống nhoay nhoáy, ra cái điều thích thú lắm.” Ông thầy tu nói: “Bà Redfern vừa tắm xong lên đây kia kìa.” Cô Brewster nhận xét: “Ông Poirot phải tán dương bà ấy đấy. Bà ấy tắm biển không hề bắt nắng.” Cô Redfern trẻ trung đã cởi cái mũ cao su và đang giũ tóc. Đó là một phụ nữ tóc vàng xám tro và làn da trắng tinh rất hợp với màu tóc. Chân tay rất trắng trẻo. Thiếu tá Barry cười khềnh khệch: “Trông cô ấy còn tai tái một tí, chưa nướng chín như những người khác nhỉ?” Redfern từ bãi biển đi lên rồi leo các bậc thềm tiến về phía họ. Khuôn mặt nghiêm trang của cô thật xinh đẹp, một kiểu xinh đẹp trơ trơ vô vị, bàn tay bàn chân nhỏ nhắn xinh xắn. Cô mỉm cười với họ, buông mình ngồi xuống bên cạnh, kín mít trong lớp áo tắm bọc lấy người. Brewster nói: “Chị được ông Poirot đánh giá cao đấy. Ông ấy chẳng thích đám người da rám nắng. Bảo họ giống như những súc thịt trong hàng thịt, hay những từ mô tả vậy đấy.” Christine Redfern mỉm cười buồn bã: “Tôi vẫn ước ao da mình có thể ăn nắng thì tốt. Nhưng nó chẳng chịu đổi màu nâu. Chỉ bị rộp lên vì bỏng nắng và có những vết tàn nhang kinh khủng nhất khắp cả hai cánh tay.” “Còn đỡ hơn là bị mọc đầy lông như cô bé Irene con gái bà Gardener,” cô Brewster nói. Rồi đáp lại cái liếc nhìn dò hỏi của thiếu phụ xinh xắn trắng trèo, cô nói tiếp: “Sáng nay bà Gardener cực kỳ phấn khởi. Cứ luôn mổm nói liên tu bất tận. ‘Có phải vậy không Odell?’ Ông chồng liền đáp, ‘Phải, em yêu à.’” Cô dừng lại một lát rổi nói: “Tuy thế tôi vẫn ước ao, ông Poirot ạ, lẽ ra ông nên trêu bà ta một chút. Sao ông không làm thế? Sao không bảo bà ta rằng ông xuống đây để điều tra một án mạng ghê rợn, và kẻ gây án là một tên sát nhân cuồng loạn, mà nhất định là một trong số khách trọ của khách sạn này?” Hercule Poirot thở dài. “Tôi rất ngại bà ấy sẽ tin lời tôi.” Thiếu tá Barry cười khò khè khục khặc. “Chắc chắn bà ấy sẽ tin.” Cô Brewster nói: “Không đâu. Chắc ngay cả bà ấy cũng chẳng tin có án mạng xảy ra ở đây đâu. Đây không phải là nơi có thể tìm ra một cái xác.” Hơi nhúc nhích cựa quậy trong cái ghế, Poirot phản đối: “Nhưng sao lại không, thưa cô? Sao lại không có cái mà cô gọi là cái xác ở đây trên Đảo Buôn Lậu này?” Emily Brewster đáp: “Không biết nữa. Tôi cho rằng một số nơi ít có khả nàng xảy ra án mạng hơn những nơi khác. Đây không phải là nơi kiểu đó…” Đột nhiên cô ngừng lại, thấy khó lòng giải thích điều mình muốn nói. “Nơi này thật lãng mạn, đúng vậy,” Poirot đồng ý. “Thật bình an. Mặt trời chiếu sáng. Biển xanh. Nhưng cô quên rồi, cô Brewster à, tội ác có ở khắp mọi nơi dưới ánh mặt ười.” Ông thầy tu cựa quậy trong cái ghế bố của mình. Ông chồm người tới trước. Đôi mắt xanh lơ sáng rực lên. Cô Brewster nhún vai. “Ôi, dĩ nhiên tôi biết điều ấy chứ, nhưng dù sao đi nữa…” “Nhưng dù sao đi nữa nơi đây đối với cô hình như vẫn không có khả nàng là bối cảnh xảy ra một án mạng à? Cô quên mất một điều, thưa cô.” “Bản tính con người phải không ông?” “Đúng vậy đó. Vẫn luôn như vậy. Nhưng không phải là điều tôi vừa mới nói. Tôi vừa chỉ cho cô rõ ở đây mọi người đều đang đi nghỉ mát.” Cô Brewster quay khuôn mặt bối rối sang nhìn Poirot: “Tôi không hiểu.” Poirot tươi cười nhìn cô. Ông nhịp nhịp ngón trỏ vào không trung. “Giả sử cô có một kẻ thù. Nếu cô cố tìm cho ra hắn ở căn hộ của hắn, ở sở làm, ở ngoài đường phố, eh bien, cô phải có một lý do - cô phải giải thích hành vi của mình. Nhưng ở đây trên bờ biển chẳng ai cần phải giải thích về hành vi của mình. Cô tới Vịnh Leathercombe, sao hả? Parbleu! Bây giờ là tháng 8 - người ta thường ra biển vào tháng 8 - đi nghỉ hè. Hoàn toàn là lẽ đương nhiên chuyện cô và cha Lane tới đây, chuyện thiếu tá Barry và cô Redfern cùng chồng tới đây. Bởi vì đi nghỉ mát vào tháng 8 là tập quán ở xứ Anh này.” “À,” Brewster công nhận, chắc chắn đấy là một ý kiến rất tinh tế. “Nhưng còn ông bà Gardener thì sao? Họ là người Mỹ cơ mà.” Thám tử mỉm cười. “Chính bà Gardener cũng nói với chúng ta bà cảm thấy có nhu cầu được thư giãn. Hơn nữa bà đang tham quan xứ Anh, nên nhất thiết phải trải qua nửa tháng ngoài bờ biển mới đúng là một du khách sành điệu, chứ không làm điều gì khác. Bà ấy thích quan sát mọi người.” Christine Redfern khẽ hỏi: “Chắc ông cũng thích quan sát mọi người chứ?” “Thưa bà, tôi xin thú nhận điều đó. Tôi thích chứ.” Cô nói vẻ trầm ngâm: “Ông thấy - khá nhiều đấy.” Có một khoảnh khắc tạm dừng. Cha Lane đằng hắng rồi nối, hơi ngượng ngùng một chút. “Ta quan tâm đến điều ông vừa nói lúc nãy, ông Poirot ạ. Ông bảo tội ác hoành hành khắp nơi dưới ánh mặt trời. Đấy có vẻ như là một câu trích dẫn từ Sách Truyền Đạo.” Cha tạm dừng rồi sau đó tự trích dẫn: “Phải, trong tim con cái của con người cũng đầy rẫy cái ác, và sự điên cuồng ở trong tim họ trong khi họ sống.” Mắt ông rực lên một thứ ánh sáng gần như cuồng tín. “Ta rất vui khi nghe ông nói câu ấy. Đời nay chẳng ai tin có cái ác cả. Cùng lắm được xem đơn giản chỉ là phủ định của cái thiện. Người ta bảo cái ác được thực thi bởi những kẻ chẳng biết điều gì tốt hơn - những kẻ chậm phát triển - những kẻ đáng thương hơn là đáng trách. Nhưng ông Poirot này, cái ác có thật đấy. Đấy là một thực tế. Ta tin có cái ác cũng như ta tin có cái thiện. Nó tồn tại! Nó có quyền lực lớn lao! Nó bước đi khắp trên quả đất này!” Ông thầy tu dừng lại, hơi thở gấp gáp một chút. Ông lấy khăn tay lau trán và chợt có vẻ ân hận. “Ta rất tiếc vì đã quá sa đà.” Poirot nói thật điềm tĩnh: “Tôi hiểu ý của ông. Tôi đồng ý với ông về một điểm. Quả là cái ác vẫn bước đi khắp trên trái đất và ta có thể nhận biết điều đó.” Thiếu tá Barry đằng hắng. “Bàn về chuyện kiểu ấy thì, mấy thằng cha tu hành khổ hạnh ở Ấn Độ…” Thiếu tá Barry ở Khách sạn Hải Tặc đã đủ lâu để mọi người cảnh giác đề phòng cái khuynh hướng sa vào những câu chuyện Ấn Độ dài lê thê chán ngắt của ông ta. Cả cô Brewster lẫn Christine đều đột nhiên cùng cất tiếng. “Bây giờ chồng cô đang xuống bơi, phải không cô Redfern? Kiểu bơi sải của ông ấy thật cừ khôi. Ông ấy bơi giỏi kinh khủng.” Cùng lúc đó Redfern nói: “Ôi, xem kìa! Chiếc thuyền nhỏ có những cánh buồm đỏ ở ngoài kia đẹp quá! Là thuyền của ông Blatt, phải không?” Chiếc thuyền buồm đỏ đúng là đang băng qua cuối vịnh. Thiếu tá Barry lẩm bẩm: “Ý tưởng thật kỳ khôi, những cánh buồm màu đỏ.” Nhưng mọi người đã thoát khỏi câu chuyện phiền hà về những nhà tu khổ hạnh của ông ta. Hercule Poirot nhìn người đàn ông trẻ vừa bơi vào bờ, tấm tắc khen thầm. Patrick Redfern là một mẫu người thật tuyệt. Thanh mảnh, nước da màu đồng thau, đôi vai rộng và hai bắp đùi săn chắc, anh ta có cái kiểu vui vẻ khoan khoái dễ hòa đồng - tính hồn nhiên bẩm sinh mà tất cả đàn bà và hầu hết đàn ông đều quý mến. Anh ta đứng đó giũ nước trên người rổi giơ tay vui vẻ gọi vợ. Cô vợ vừa vẫy tay đáp lại vừa cất tiếng: “Đến đây đi, Pat!” “Anh đến ngay.” Anh ta đi một quãng ngắn dọc theo bãi biển để lấy cái khản tắm đã để lại đó. Ngay lúc ấy một phụ nữ từ khách sạn đi xuống bãi biển ngang qua chỗ họ. Chuyện cô ta tới chỗ đó có tầm quan trọng cỡ như một diễn viên bước ra sân khấu. Hơn nữa cô ta bước đi như thể biết rõ điều đó. Chẳng hề có vẻ ngượng ngùng gì cả. Dường như cô ta đã quá quen thuộc với hiệu quả bất biến do sự có mặt của mình. Dáng người cao ráo mảnh mai, cô ta mặc chiếc áo tắm một mảnh hở lưng màu trắng và từng li từng tí trên thân thể lộ ra ngoài đều nhuốm một chút màu đồng thau tuyệt đẹp. Hoàn hảo như một bức tượng. Mái tóc màu nâu đỏ rực lửa uốn quăn úp thật sát vào cái cổ rất đẹp. Nét mặt hơi nghiêm nghị thường thấy khi ba mươi năm đã đến rồi đi, nhưng toàn bộ tác động của cô ta là tác động của tuổi trẻ - của sức sống chiến thắng thật mãnh liệt. Khuôn mặt ấy bất động kiểu Trung Hoa và đôi mắt xanh sẫm xếch lên. Trên đầu đội một cái nón Trung Hoa bằng bìa cứng màu xanh ngọc thạch thật kỳ quái. Cô ta có điểm gì đó khiến mọi phụ nữ khác trên bãi biển dường như đểu lu mờ đi và chẳng có nghĩa lý gì. Cũng không thể nào tránh khỏi điều đó, mọi cặp mắt đàn ông hiện diện đều bị hút dính vào cô ta. Hercule Poirot mở to cặp mắt, hàng ria mép rung rinh tấm tắc khen thầm. Thiếu tá Barry ngổi thẳng dậy, cặp mắt ốc nhồi thậm chí còn lồi ra nhiều hơn vì quá phấn khích. Bên trái Poirot, cha Stephen Lane hít vào một hơi với một tiếng rít khe khẽ, còn toàn thân thì cứ cứng đơ ra. Thiếu tá Barry thì thào, giọng khàn khàn: “Arlena Stuart – là tên cô ta trước khi lấy Marshall. Tôi từng xem cô ta trong vở Đến và Đi trước khi cô ta rời bỏ sân khấu. Cũng có cái đáng để ngắm nhìn đó, hử?” Christine Redfern nói thật chậm rãi, giọng lạnh lùng: “Cô ta trông cũng được mắt - vâng. Tôi nghĩ - trông cô ta như một con thú thì đúng hơn!” Emily Brewster nói cộc lốc: “Lúc nãy ông vừa bàn về cái ác, thưa ông Poirot. Giờ đây trong tâm trí tôi người đàn bà này chính là hiện thân của cái ác! Cô ta là một ả đê tiện suốt từ đầu đến cuối. Tôi tình cờ được biết rất nhiều chuyện về cô ta.” Thiếu tá Barry hồi tưởng: “Tôi còn nhớ một ả ở bên Simla. Tóc ả cũng màu đỏ. Vợ của một trung úy hải quân. Có làm cho nơi ấy xào xáo hay không ư? Xin thưa là có ạ. Đàn ông phát điên lên vì ả. Tất nhiên hết thảy đàn bà đều muốn móc mắt ả ra! Ả đã phá nát hơn một gia đình rồi đó.” Ông ta cười khục khạc khi nhớ lại. “Chồng ả là một thằng cha trầm lặng thật tuyệt. Sùng bái cả mặt đất dưới bước chân ả. Chẳng bao giờ thấy cái gì - hay vờ không thấy.” Cha Lane nói với giọng trầm trầm đầy cảm xúc mãnh hệt: “Phụ nữ như thế là một mối đe dọa - đe dọa đối với… Ông dừng lại. Arlena Stuart đã ra tới mép nước. Hai cậu trai choai nhảy dựng lên rồi hăm hở tiến tới. Cô đứng lại mỉm cười với họ. Mắt cô lướt nhanh ngang qua họ tới chỗ Patrick Redfern đang đi dọc theo bãi biển. Hercule Poirot nghĩ như thể ông đang theo dõi cây kim la bàn. Patrick Redfern đi chệch đường, đôi chân anh ta đổi hướng. Kim la bàn dù muốn hay không cũng phải tuân theo quy luật của từ trường và xoay về hướng bắc. Hai chân Patrick Redfern đưa anh ta đến với Arlena Stuart. Cô đứng đó mỉm cười với anh ta. Rồi cô chầm chậm di chuyển dọc theo bải biển sát bên những ngọn sóng. Anh ta đi cùng với cô. Cô nằm duỗi dài ra cạnh một tảng đá. Patrick buông mình nằm xuống chỗ đay đá cuội ở bên cạnh. Christine Redfern lập tức đứng dậy và đi vào khách sạn. Có một thoáng im lặng không thoải mái sau khi cô ta bỏ đi. Rồi Emily Brewster nói: “Hơi quá tệ đấy. Cô ấy nhỏ bé, dễ thương. Họ chỉ mới lấy nhau chừng một hai năm thôi.” “Cái ả tôi vừa nhắc đến,” thiếu tá Barry nói, “ở Simla ấy. Ả đã làm đổ vỡ một cặp vợ chồng thật sự hạnh phúc. Có vẻ đáng thương, nhỉ?” Brewster nói: “Có một hạng đàn bà thích phá nát gia đình người ta.” Chừng một vài phút sau cô nói thêm, “Patrick Redfern là đồ ngu ngốc!” Hercule Poirot không nói gì. Ông đang chăm chú nhìn xuống bãi biển. Nhưng không phải nhìn Patrick và Arlena. Cô Brewster lại nói: “À, tôi nên đi chèo chiếc thuyền thì hơn.” Cô rời khỏi họ. Thiếu tá xoay cặp mắt như hai trái lý gai nấu chín ngó Poirot có vẻ hơi tò mò: “Này Poirot, ông đang nghĩ gì vậy? Ông chưa mở miệng. Nghĩ gì về ả mỹ nhân ngư ấy? Cũng nóng bỏng đấy chứ nhỉ?” Poirot trả lời: “C’est possible.” “À ra thế, ông bạn già. Tôi biết ngay ông là người Pháp mà.” Poirot lạnh lùng đáp lại: ‘Tôi không phải người Pháp!” “À, đừng nói với tôi ông chẳng hề để mắt đến gái đẹp nhé! Ông nghĩ gì về cô ả, hử?” “Cô ta không còn trẻ nữa.” “Điều ấy có quan trọng gì đâu chứ? Đàn bà trẻ hay già là tùy ở vẻ bề ngoài. Dáng cô ả cũng được đó chứ.” Poirot gật đầu nói: “Phải, cô ta xinh đẹp thật. Nhưng rốt cuộc sắc đẹp không phải là điều đáng quan tâm. Không phải sắc đẹp đã khiến mọi cái đầu – ngoại trừ một cái – đều xoay ra bãi biển để ngắm nhìn cô ta đâu.” “Chính thế, ông bạn ạ. Chính là điều ấy.” Thiếu tá nói, rồi đột nhiên tò mò hỏi, “Ông đang nhìn cái gì quá chăm chú vậy?” Poirot đáp: “Tôi đang nhìn trường hợp ngoại lệ. Người đàn ông duy nhất không ngước nhìn lên khi cô ta đi ngang qua.” Thiếu tá Barry nhìn theo ánh mắt đăm đăm của Poirot dừng lại nơi một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, tóc vàng hoe và da rám nắng. Khuôn mặt trầm tĩnh dễ ưa, ông ta đang ngồi trên bãi biển vừa hút ống điếu vừa đọc báo The Times. “À ra thế. Đó là ông chồng, ông bạn ạ, là Marshall đó.” “Phải, tôi biết rồi,” Hercule Poirot đáp. Thiếu tá Barry cười khục khặc. Là đàn ông độc thân, ông ta vẫn quen nghĩ Người Chồng có ba nghĩa - là kỳ đà cản mũi, kẻ gây phiền phức hay gã bảo vệ. “Có vẻ là một thằng cha tử tế đó,” ông ta nhận xét. Thật trầm lặng. Tôi tự hỏi phải chăng thời cơ của tôi đã tới?” Thiếu tá Barry đứng dậy và đi lên về phía khách sạn. Cái liếc nhìn của Poirot chầm chậm chuyển sang khuôn mặt cha Lane. Vị cha xứ đang chăm chú theo dõi Arlena Marshall và Patrick Redfern. Chợt ông quay sang Poirot. Trong đôi mắt ông có một thứ ánh sáng nghiêm khắc cuồng tín. “Người đàn bà ấy là cái ác suốt từ đầu đến cuối. Ông có nghi ngờ điều đó không?” cha Lane nói. Poirot đáp thật chậm rãi: “Thật khó lòng biết chắc ạ.” “Nhưng là người còn sống, ông không cảm thấy nó trong không trung hay sao? Khắp xung quanh ông. Sự hiện hữu của Cái Ác.” Poirot chầm chậm gật đầu. Mời bạn đón đọc Tội Ác dưới Ánh Mặt Trời của tác giả Agatha Christie & Trần Hữu Kham (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đếm Ngược
Sau khi thân phận được minh bạch trong cuốn thứ nhất của series Đặc vụ Grace Allendale, nữ sĩ quan điều tra vẫn chưa được yên ổn với hạnh phúc mới chớm nở ở Stoke-on-Trent. Tích tắc! Tích tắc! Những án mạng liên tiếp khi đội cảnh sát điều tra chưa kịp trở tay. Nạn nhân gần như không có gì liên quan tới nhau, từ nữ sinh đến một người mẹ trẻ đang nuôi con nhỏ. Kỳ quái hơn, đội điều tra dần nhận ra án mạng liên hoàn này có sự lặp lại của một vụ án từ mấy năm trước, về cách thức gây án và những thu nhận hiện trường. Nhưng hung thủ của vụ án cũ đang ngồi tù. Liệu đây chỉ là một kẻ bắt chước có ý đồ mờ ám hay có một kẻ giật dây từ đầu đến cuối? Đặc vụ Grace và các đồng nghiệp liệu có tìm ra mối kết nối giữa vụ án trước khi nạn nhân thứ năm rơi vào tay kẻ giết người? Không chỉ đấu trí, để bắt được hung thủ còn là một pha rượt đuổi căng thẳng đến nghẹt thở. Tích tắc! Tích tắc! “Một sự tái hiện chân thực, cuốn và gấp gáp khiến bạn không thể bỏ cuốn sách xuống.” - Caroline Mitchell, tác giả của The Secret Child. ĐẾM NGƯỢC là cuốn sách thứ hai trong series Đặc vụ Grace Allendale. Cuốn đầu tiên là SUỴT! YÊN NÀO đã được I love Books phát hành. *** Mel Sherratt là nữ nhà văn người Anh, đồng thời cô là tác giả của 13 cuốn tiểu thuyết tội phạm và tất cả đều đã trở thành những cuốn sách bán chạy nhất. Trong vòng 4 năm qua, cô được ca ngợi là một trong 100 người có sức ảnh hưởng nhất nơi quê hương cô – thành phố Stoke-on-Trent. *** Tác giả: Mel Sherratt. Dịch giả: B.OF Khi hai cuốn “Suỵt yên nào” và “Đếm ngược” của nữ tác giả Mel Sherratt được phát hành, tôi lập tức chú ý vì tông màu bìa, ngoài ra còn nghe một người bạn trong nhóm đọc sách khoe rằng bạn ấy đã đặt tựa Việt cho cuốn “Suỵt yên nào” nên tôi hốt liền cả hai cuốn. Thế nhưng khi đọc tập 1, tôi rất thất vọng (đã viết review chê) và định không đọc tập 2. Nhân dịp soạn sách để cho bớt, tôi thấy tiếc tiếc nên đọc thử vài trang đầu của tập 2, thì lại bị lôi cuốn bởi nội dung truyện và đã đọc chớp nhoáng trong vòng hai ngày. Nói luôn là hai cuốn này cần đọc theo thứ tự, và trong cuốn 2 thì tác giả spoil hết cuốn 1. Sau khi trở lại quê nhà Stoke-on-Trent và phá giải một vụ án lớn liên quan đến gia đình mình, nữ cảnh sát Grace Allendale từ từ quen dần với nhịp sống nơi thành phố này, đồng thời cũng chậm rãi tiến tới trong mối quan hệ tình cảm với chàng phóng viên Simon Cole. Tại ngôi trường trung học Dunwood trong vùng, vào tiết chạy thể dục băng đồng, một nữ sinh 16 tuổi đã bị sát hại bằng cách siết cổ. Sự việc gây ra nỗi đau khôn nguôi cho người thân và bạn bè của cô, làm xáo trộn sinh hoạt của ngôi trường và gây xôn xao dư luận. Grace Allendale và đội của cô nhận trách nhiệm điều tra vụ án. Trong nhóm bạn bè của nữ sinh bị sát hại có cả Teagan Cole – cô con gái vị thành niên bướng bỉnh của người đàn ông mà Grace đang hẹn hò. Chưa đầy vài ngày sau vụ giết nữ sinh trung học, một nạn nhân nữ khác cũng bị sát hại với cách thức tương tự nhưng tàn nhẫn hơn. Sự căng thẳng tăng cao, dân địa phương oán trách và bất mãn với cảnh sát vì không nhanh chóng bắt được hung thủ. Tôi nhớ loáng thoáng là mình chê cuốn 1 ở các ý sau: Cốt truyện có sáng tạo nhưng cách viết chưa hấp dẫn, còn rời rạc và dông dài không cần thiết; Tính cách của nữ chính quá trẻ con, tuy được xây dựng hình tượng là cảnh sát lâu năm nhưng không biết kiểm soát cảm xúc của chính mình. Tuy vậy, đến cuốn 2, tính cách của nữ chính Grace Allendale lại thay đổi đến mức tôi cứ lầm tưởng mình đang đọc về một người khác! Trong cuốn “Đếm ngược”, Grace thể hiện được nghiệp vụ điều tra, biết làm chủ cảm xúc trong quan hệ với đồng nghiệp và người yêu, và nhất là không lúng túng khi đối mặt với đại gia đình xã hội đen của cô. Grace trong cuốn này mềm mỏng và mạnh mẽ đến mức khiến tôi vài lần liên tưởng đến Tracy Crosswhite >> đây là một sự so sánh rất mang tính đề cao Grace, vì Tracy Crosswhite là nhân vật nữ cảnh sát mà tôi ưa thích từ lâu. Lại đề cao thêm nữa, ngoài nhân vật chính đã khiến tôi bớt chán thì cốt truyện và diễn biến truyện của “Đếm ngược” cũng vài lần khiến tôi nhớ đến các quyển trinh thám của bác Robert Dugoni – ông hoàng trinh thám pháp lý chuyên viết cho đối tượng độc giả nữ. Nhịp truyện của “Đếm ngược” đủ nhanh, lôi cuốn và kịch tính để khiến tôi tạm gác lại những cuốn khác để tập trung đọc một mình nó. Quá trình điều tra và diễn biến tâm lý của nhân vật được miêu tả hợp lý, dù đã soi nhưng tôi cũng không phát hiện lỗ hổng nào. Cách thức gây án có hơi khiên cưỡng và có điểm vô lý, nếu có dịp trò chuyện với tác giả thì tôi sẽ góp ý thêm!! Tiếp theo, bàn đến yếu tố quan trọng nhất nhì của truyện – Động cơ gây án – thì tôi thấy nó khá nhảm, nhưng hôm nọ thấy trong truyện Con An rằng người ta có thể giết người chỉ vì sách của tác giả yêu thích bị rẻ rúng, hoặc có thể đem người khác đi câu sấu (treo ngược chân lên rồi quăng cho cá sấu ăn thịt) chỉ vì bị spoil truyện trinh thám… nên tôi đành tạm chấp nhận động cơ gây án của cuốn này. Dù khoa học kỹ thuật phát triển đến đâu thì những gì diễn ra trong bộ não con người mãi mãi vẫn là ẩn số, những gì diễn ra trong bộ não tội phạm càng khó giải thích hơn. Tôi nhận thấy tác giả đã cố gắng viết phần cuối truyện thật kỹ càng và hồi hộp, nhưng tôi vẫn thấy thiếu thiếu gì đó. Có lẽ tôi mong đợi nạn nhân sẽ kiên cường phản kháng hơn, nhưng thành thật mà nói nếu rơi vào tình thế đó thì khả năng cao là tôi còn bánh bèo thảm hại hơn nhiều. Cuối truyện cũng có một phân cảnh thẩm vấn khá gây cấn và ngộ nghĩnh (!), tôi không rõ tác giả Mel Sherratt có tham khảo ý kiến của cảnh sát và luật sư trước khi viết đoạn này hay không. Cuối cùng của cuối cùng là một chương ngắn mà tôi nghĩ là dư thừa, sách hay cũng như món ăn, vừa đủ mới ngon. Dù vừa đọc vừa soi lỗi, tôi không nhớ mình có tìm ra lỗi chính tả – dịch thuật – biên tập nào hay không. Dường như là không. Ngay cả những câu thoại mà tôi nghĩ rằng trong nguyên tác không ghi chủ ngữ thì trong bản dịch Việt vẫn có chủ ngữ rõ ràng và ‘đúng vai’. Tôi cũng hài lòng với ngoại hình cuốn “Đếm ngược”, tổng thể bìa trước đẹp hơn cuốn “Suỵt yên nào”. Ban đầu định soạn cả hai cuốn ra để tặng nhưng giờ tôi quyết định sẽ tặng cuốn 1 và giữ lại cuốn 2, sau này nếu series này được dịch tiếp thì tôi sẽ tìm đọc.(Sea, 25-9-2021) Cáo Biển Non Xanh *** Melissa Wyatt chạy dọc trên con đường hướng về phía cánh đồng, phần tiếp theo trong hành trình của cô. Cô đang tập luyện cho giải marathon London sẽ diễn ra sau vài ngày nữa. Đây là lần thử đầu tiên, quãng đường dài nhất mà cô từng chạy, nhưng cô biết rằng mình có thể hoàn thành nó. Lúc này, cô hoàn toàn tin tưởng rằng mình có thể làm bất cứ điều gì một khi đã tập trung. Mới hai năm trước, khi quyết định làm mẹ ở tuổi ba mươi mốt, cô còn không nghĩ rằng mình có thể chạy nổi ba dặm, chứ đừng nói là hai mươi sáu. Cô từ từ giảm tốc, một mẹo để giảm mỡ. Ban đầu, mỗi buổi tập đều giống như bị tra tấn, nhưng rồi cô không còn cảm thấy khó thở hay đau đớn nữa và dần bắt nhịp được với nó. Sau ba tháng, cô cảm thấy mình đã bị cuốn hút. Giờ thì không gì có thể ngăn cô được nữa, bởi ngoài việc giữ dáng, nó còn cho cô một cuộc sống mới. Nó giúp cô giảm căng thẳng, mang lại cho cô cảm giác yên bình. Khi chạy, tâm trí cô như được dứt khỏi những rắc rối thường ngày. Cô có thể lại được là chính mình. Con trai cô, Joshua, sẽ không ăn vạ vì chương trình tivi đã kết thúc và không còn thời gian để xem thêm gì nữa. Chồng cô, Lloyd, sẽ thôi cằn nhằn vì không thể tìm thấy thứ gì đó mà anh ta đã đặt ở một nơi “an toàn”. Cô không phải chực chờ phục vụ đám nhân viên và khách hàng luôn sẵn sàng ngắt lời cô trong nháy mắt, đối lập hoàn toàn với công việc thường ngày của cô là giám đốc chăm sóc khách hàng của một hiệp hội nhà ở địa phương. Cô sẽ chỉ còn là Melissa. Ở cuối đường, cô leo lên bậc thang nằm cạnh cổng và chạy vào một khoảng rừng nhỏ, lối chạy mà cô vẫn thích. Nó tối tăm và có chút u ám vào thời điểm này của buổi sáng. Khi đã trèo qua những bậc thang nhân tạo để tới cánh đồng rộng mở, cô tự hỏi liệu mình nên nấu gì cho buổi trà sáng. Có lẽ là bánh nhân thịt, nếu cô đã nhớ lấy thịt băm ra khỏi tủ đông. Không còn kịp để tạt qua chợ mua một ít thịt tươi. Cô đã về muộn bởi phải ở lại đào tạo nhân lực suốt một tiếng sau khi chi nhánh đóng cửa lúc năm giờ. Cô chạy tới một sườn đồi mấp mô, hoàn toàn trống trải, vẫn còn sớm, hầu hết mọi người đều đang ngủ. Melissa thích chạy vào sáng sớm hơn so với chiều muộn. Có ít người hơn và xe cũng ít hơn, điều đó thật tốt bởi đường sá vô cùng chật hẹp. Là một người ngại thay đổi, cô đã chạy trên cùng một tuyến đường suốt nhiều tháng trước khi kiếm tìm thử thách mới cho bản thân. Khi lên tới đỉnh đồi, cô dừng lại một lát để nghỉ lấy hơi. Cô có thể nhìn xa hàng dặm từ trên này. Các căn hộ cao tầng, các nhà máy xen lẫn với những dải màu xanh kỳ quặc, nhưng chủ yếu được xây thành từng dãy. Manchester sẽ luôn là nhà của cô. Sau một phút nghỉ ngơi, cô tiếp tục chạy. Nếu may mắn, cô có thể về đến nhà trước khi bất cứ ai thức dậy. Điều đó sẽ giúp cô bình yên thưởng thức cà phê trước khi Josh rời khỏi giường. Cô đã chạy gần tới đầu kia của cánh đồng thì nghe được tiếng ai đó. Cô quay lại, chân vẫn tiếp tục chạy và thấy một người đàn ông đang đuổi theo mình. Cô bước chậm lại, tránh sang một bên để nhường đường, và chẳng mấy chốc kẻ đó đã bắt kịp. Cô vô cùng sửng sốt vì bị hắn đấm thẳng vào mặt. Cô thở hổn hển khi hắn lại ra tay lần nữa, trượt chân ngã về phía sau và đập mạnh người xuống đất. Gần như ngay lập tức, gã đàn ông kia ngồi đè lên người và đưa tay vòng quanh cổ cô. Cô cô đẩy hắn ra, nhưng hắn quá khỏe. Cô cào vào tay hắn, hắn càng siết mạnh hơn. Dù biết chỉ vô ích, nhưng cô vẫn phải cố gắng. Trông hắn có vẻ mất tự chủ, mặt nhăn lại vì giận dữ. Khi mọi thứ bắt đầu mờ đi, cô tự hỏi tại sao lại là mình. Cô đã làm gì để phải chết như thế này? Hắn đang giết cô, không phải sao? Và cô chẳng thể làm gì để chống lại chuyện đó cả. Mời các bạn đón đọc Đếm Ngược của tác giả Mel Sherratt & B.OF (dịch).
Cô Gái Trong Chiếc Thùng Gỗ
7 năm trước, Flora Dane – một sinh viên đại học vô tư vô lo – bị bắt cóc khi đang đi uống với bạn tại một quán bar trong kỳ nghỉ xuân. Cô bị trong một chiếc thùng gỗ rẻ tiền có kích cỡ như một cỗ quan tài, dưới căn hầm ở một nơi biệt lập với khu dân cư và nhiều ngày không được ăn uống. Trong suốt 472 ngày, Flora đã nhận ra được giới hạn chịu đựng của một con người.  May mắn được cứu thoát nhưng Flora trở về là thành một người hoàn toàn khác. Cô đã dành 5 năm để học về tâm lý tội phạm, tự vệ. Sau nhiều lần cô biến mất dài ngày và trở về, người ta tự hỏi chuyện gì xảy ra với Flora, một nữ anh hùng hay một tên tội phạm ám ảnh với quá khứ? Trích dẫn:  ĐÂY LÀ ĐIỀU TÔI BIẾT: Không có gì nhiều để làm ngày qua ngày trong cái thùng gỗ có kích cỡ như một cỗ quan tài ấy. Trên thực tế, chỉ có duy nhất một điều đáng để ám ảnh, tưởng tượng, trù tính trong từng phút kinh hoàng, từng giờ hãi hùng. Một lý do duy nhất khiến bạn tiếp tục. Một ý nghĩ duy nhất đem lại cho bạn sức mạnh. Bạn sẽ tìm thấy nó. Bạn sẽ hun đúc nó. Và nếu bạn giống tôi, bạn sẽ không bao giờ để nó biến mất. Trả thù. Nhưng hãy cẩn thận với điều ước của bạn, đặc biệt khi bạn chỉ là một con bé ngốc nghếch bị giam cầm trong cái thùng gỗ có kích cỡ như chiếc quan tài. --- “Lisa Gardner là bậc thầy trong dòng truyện tâm lý ly kỳ… Thế giới về FBI, nỗi kinh hoàng của những vụ bắt cóc và tiếng nói ủng hộ các nạn nhân được hòa quyện trong tác phẩm trinh thám đầy kịch tính này.” _Thông tấn xã Hoa Kỳ_ -- LISA GARDNER là nữ nhà văn người Mỹ, có những sáng tác nổi bật thuộc các series như loạt sách Đặc vụ FBI Quincy và chuỗi vụ án của Thanh tra D.D. Warren. Bà cũng viết nhiều tiểu thuyết lãng mạn với bút danh Alicia Scott. Gần đây, bà nhận giải thưởng Silver Bullet với những đóng góp cho trẻ em nhiều nguy cơ và động vật vô gia cư. Hiện nay, Lisa sống cùng gia đình ở New England. Một số tác phẩm cùng tác giả đã được Đinh Tị Books mua bản quyền: - Cô gái trong thùng gỗ - Vỏ bọc hoàn hảo - Di sản kinh hoàng - Săn đuổi đến cùng *** ~ CÔ GÁI TRONG CHIẾC THÙNG GỖ ~ Tác giả: Lisa Gardner. Dịch giả: Phạm Hoa Phượng Thể loại: Trinh thám. Mức độ ưa thích: 7/10 . . Sau 472 ngày bị giam trong chiếc thùng gỗ hình quan tài, cô gái trẻ Flora Dane được giải thoát, trở về với gia đình, nhưng cô không còn là con người mà mọi người xung quanh yêu thương và mong chờ. Flora tự biến bản thân thành một dạng nữ hiệp chuyên đi tìm kiếm + giải cứu những nạn nhân bị bắt cóc khác, đồng thời nếu có cơ hội thì trừng trị thủ phạm luôn. Điều này khiến cô vướng vào những vụ rắc rối với bên cảnh sát. Thượng sĩ Thanh tra D.D. Warren là người chịu trách nhiệm điều tra vụ án nghiêm trọng mới nhất mà Flora gây ra. Ngay khi vụ án còn chưa được giải quyết thì một sự kiện tồi tệ khác lại xảy ra. Sau ấn tượng tốt với “Săn đuổi đến cùng” thì Biển không ngần ngại mua thêm hai quyển nữa của Lisa Gardner, nhưng phải công nhận “Cô gái trong chiếc thùng gỗ” không được hay. Cốt truyện mang tính sáng tạo và ly kỳ, văn phong không nhanh nhưng đủ để cuốn hút độc giả. Tuy nhiên, có lẽ vì không hiểu nổi / không đồng tình với cách hành xử của nhân vật chính nên Biển cho rằng cốt truyện hơi vô lý. Những điều ác mà đầu óc con người có thể nghĩ ra quả thật không có giới hạn, nhưng cách mà các nạn nhân phản ứng lại với những điều ác đó đôi khi cũng nằm ngoài tầm hiểu biết + xử lý của cảnh sát. Thanh tra D.D. Warren trong truyện là một phụ nữ tương đối chính trực, khá dũng cảm, có tư chất thích hợp để làm việc trong ngành hành pháp, cụ thể là lĩnh vực thực chiến khi truy bắt tội phạm. Vì một tai nạn mà cô bị gãy tay, không thể cầm súng, tạm thời làm một “sĩ quan giám sát bị hạn chế nhiệm vụ” (tức là công việc bàn giấy, viết và nộp báo cáo các vụ án) nhưng D.D. vẫn năng nổ đến các hiện trường vụ án hoặc tham gia truy tìm chứng cứ. Tuy vậy, theo Biển thì hình tượng và vai trò của D.D. Warren trong truyện này hơi mờ nhạt, chưa khiến độc giả ấn tượng sâu được như Tracy Crosswhite trong loạt truyện của Robert Dugoni. Sau khi đọc cuốn “Kẻ giấu mặt” của Nicholas Sparks thì Biển có cái nhìn lạc quan hơn về chuyện làm quen với các anh chàng pha chế đẹp trai trong quán bar, nhưng cuốn “Cô gái trong chiếc thùng gỗ” sẽ gieo vào lòng người đọc yếu bóng vía nỗi sợ hãi đối với việc đi bar. Cá nhân Biển KHÔNG thích đi bar vì vừa tốn tiền vừa hại màng nhĩ, nếu cần giải trí thì Biển sẽ tự mở bài Star Sky và uống trà xanh gạo rang nóng :3 Hình bìa không vẽ thùng gỗ nhưng Biển nghĩ minh họa trên bìa sách cũng diễn đạt khá chính xác ý tưởng trong truyện. Sách to dày nhưng đọc không có cảm giác thỏa mãn mà chỉ thấy hơi lê thê. Phần dịch thuật và trình bày ổn, không có lỗi chính tả hoặc lỗi in ấn. Hy vọng cuốn “Vỏ bọc hoàn hảo” sẽ có cốt truyện lý thú hơn để tình cảm của Biển đối với truyện trinh thám của Lisa Gardner chưa bị hao mòn đi. (Sea, 18-12-2019) Camellia Phoenix *** [Review] Cô gái trong chiếc thùng gỗ Tác giả: Lisa Gardner Dịch giả: Phạm Hoa Phượng Thể loại: Trinh thám tâm lý —————————————————————————— Đã bao giờ bạn tưởng tượng mình thức dậy và phát hiện mình bị nhốt trong một chiếc thùng gỗ chưa? Tối tăm. Tù túng. Kích thước chính xác bằng kích cỡ của bạn. Không đủ chỗ để co đầu gối. Không đủ chỗ để lăn người qua. Như thể nó là cỗ quan tài của riêng bạn. 7 năm trước, Flora Dane – sinh viên đại học, bị bắt cóc bởi Jacob Ness. Hắn nhốt cô trong một chiếc thùng gỗ. Không đồ ăn, không nước uống trong nhiều ngày liền. Sau 472 ngày bị giam cầm, may mắn đã đưa Flora trở về. Cô dành 5 năm để học về tâm lý học tội phạm và tự vệ, trở lên mạnh mẽ hơn nhưng cũng trở thành một con người hoàn toàn khác. Tác giả mở đầu truyện bằng vụ bắt cóc Flora lần thứ hai. Bằng kỹ năng tự vệ đã được học, Flora đã thiêu cháy tên bắt cóc với gói thuốc dưỡng hoa và dung dịch làm mát. Cô trở về căn nhà với ba lớp bảo vệ an toàn của cô. Nhưng một lần nữa, Flora lại trở thành nạn nhân bị bắt cóc. Lisa Gardner viết cuốn truyện này gồm 2 phần xen kẽ lẫn nhau. Giữa 472 ngày bị giam cầm trong chiếc thùng gỗ và vụ bắt cóc Flora do Thượng sĩ Thanh tra D.D. Warren điều tra. Xen giữa những ngày tháng sống khổ sở, bị giam cầm, bị ép làm nô lệ tình dục là những tình tiết gay cấn hồi hộp của vụ án. Flora Dane là cô gái sống sót hay là kẻ sát nhân bị ám ảnh bởi chuỗi ngày đen tối trong cuộc đời mình? “Cô gái trong chiếc thùng gỗ” bắt đầu bằng vụ án mạng giống như cuốn “Săn đuổi đến cùng”. Tuy nhiên nhịp độ câu chuyện lại khác nhau do tính chất của cốt truyện. Nếu như “Săn đuổi đến cùng” sự kịch tính được đẩy lên cao ngay từ chương đầu thì “Cô gái trong chiếc thùng gỗ” lại khá chậm rãi. Cá nhân mình thấy khoảng 20 chương đầu tiên đọc rất dễ nản bởi Lisa Gardner viết về chuỗi 472 ngày bị bắt cóc của Flora khá nhàm chán, còn vụ án thì có quá nhiều manh mối rời rạc, làm mất đi sự tò mò của độc giả. Bắt đầu từ chương 25 thì cuốn sách này trở nên thú vị hơn. Căng thẳng đẩy lên cao hơn, sự hồi hộp nghẹt thở trong cuộc chạy đua với thời gian của cảnh sát xen với những chi tiết mới trong vụ bắt cóc Flora khiến độc giả không thể rời mắt khỏi truyện. Điểm trừ cho cuốn sách này là chi tiết về tâm lý nhân vật được viết khá nhiều, làm giảm nhịp độ câu truyện cũng như tốc độ đọc của các mọt. Ngoài ra cũng có một vài lỗi chính tả nho nhỏ, có thể bỏ qua. Đánh giá: 8/10 Đặng Minh Đức *** “Thật buồn cười, kẻ tổn thương lại muốn làm tổn thương người khác” Vậy có khi nào một người sống sót từ tay của một kẻ sát nhân lại muốn trở thành một kẻ sát nhân? Cuốn sách này có lẽ là phần tiếp theo của cuốn “ Di sản kinh hoàng”, sau khi thanh tra D.D giải quyết xong vụ án sát thủ hoa hồng. Nhân vật chính là Flora Dane – một nạn nhân đồng thời là một người sống sót. Câu hỏi thực sự là … cô ta liệu có phải một kẻ tự coi mình là người thực thi pháp luật, săn đuổi những kẻ sát nhân để trả thù cho 472 ngày cô bị giam giữ? Cuốn sách gồm 2 phần song song là 472 ngày bị giam giữ của Flora bởi Jacob Ness và cuộc sống hiện tại sau 5 năm. Flora bị bắt cóc và giam giữ như một thứ súc vật trong một chiếc quan tài thông, không gian hẹp hòi đến mức cô không thể làm gì ngoài việc ngủ để đánh mất đi ý thức về hiện tại, bị Jacob Ness lạm dụng tình dục và bỏ đói trong kế hoạch hủy hoại ý thức, nhân cách và làm lại cô dưới cái tên Molly, một người phụ nữ phụ thuộc hoàn toàn vào hắn ta. Chuỗi ngày kinh khủng đó đã được chấm dứt sau 472 ngày và cô ấy vẫn sống sót. Sau khi trở về, Flora trở nên mạnh mẽ và khác hoàn toàn với cô của 5 năm trước. Cô tự đưa bản thân mình vào tầm ngắm của những kẻ săn mồi và hủy diệt chúng với tư cách là một nạn nhân. Hãy tưởng tượng, một cô nàng tóc vàng bị trói hai tay đã đốt cháy một gã trai lực lưỡng bằng một loại bột có trong những bó hoa. Một việc tưởng chừng như vô lý nhưng lại rất hợp lý. Sau khi dính dáng vào vụ việc đó, cô ấy đột nhiên bị bắt cóc trong chính ngôi nhà với 3 lớp bảo vệ của mình và một cuộc chạy đua khác lại bắt đầu. Liệu đây chỉ là một sự tình cờ hay có liên quan gì đến quá khứ của cô? Câu chuyện cuốn hút mình ngay từ những chi tiết mở đầu với nhịp điệu khá nhanh, gấp gáp và đầy sự tò mò. Những tháng ngày bị giam giữ của Flora thực sự là những điều mình không thể tin được, gây ám ảnh, kinh tởm và cũng thật đáng thương. Những điều con người có thể đối xử với nhau thật ngoài sức tưởng tượng của một người có cuộc sống bình yên như mình. Cuốn sách đã chứng minh một điều rằng sức sống của con người thật là mãnh liệt, làm sao một cô gái bé bỏng như vậy lại có thể chịu được những điều không tưởng đó và sống sót trở về. P/S: Cuốn sách khá dày, một câu chuyện dài nên cũng không thể tránh được có những sự việc thừa thãi, lê thê bởi vậy mọi người cũng nên cân nhắc trước khi tìm đọc. Anh SoShi *** Đây là những điều tôi đã không biết: Khi thức giấc lần đầu tiên trong một chiếc thùng gỗ tối tăm, bạn sẽ tự nhủ, điều này không thể xảy ra. Bạn sẽ đẩy nắp thùng, tất nhiên là như vậy. Không được. Bạn đấm mạnh các cạnh bằng nắm tay mình, đạp gót chân xuống phần đáy. Bạn sẽ đập đầu mình liên tục vào thành thùng, lần nữa rồi lần nữa, mặc dù từng cú đập đều khiến bạn đau nhói. Và bạn sẽ hét lên. Bạn gào lên, bạn la hét, và tiếp tục như vậy. Dòng nước sền sệt từ mũi bạn chảy ra. Nước mắt cũng không ngừng tuôn rơi trên má. Tiếng gào trở nên khản đặc, giật cục. Rồi bạn nghe thấy những âm thanh lạ lùng, buồn bã, thê lương. Và bạn hình dung ra được cái thùng gỗ. Này, mình đang bị nhốt trong một cái thùng gỗ tối tăm. Bạn nhận ra những âm thanh đó xuất phát từ chính mình. Những cái thùng gỗ thông dạng này không có bề mặt trơn nhẵn toàn bộ. Những lỗ thông khí được khoan một cách sơ sài. Khi miết tay chạy tròn theo cạnh của chúng, khi chọc ngón tay vào kiếm tìm một cái gì đó trong tuyệt vọng… bạn sẽ chỉ thấy được những mẩu vụn gỗ mà thôi. Bạn sẽ nhai những mảnh gỗ cứng. Bạn sẽ mút những ngón tay trầy xước của mình, liếm những chỗ máu ứa ra, miệng phát ra những âm thanh ư ử như chó con bị đau. Bạn chỉ có một mình trong chiếc thùng. Thật đáng sợ. Kinh hãi. Khủng khiếp. Phần lớn là bởi bạn chưa biết mình sẽ còn phải sợ hãi đến mức nào nữa. Dần dần, bạn biết rõ chiếc thùng hơn, nơi đã trở thành nhà bạn, xa thật xa ngôi nhà thân quen của mình. Bạn lắc lư đôi vai để xác định bề rộng. Bạn đo chiều dài bằng đôi tay. Bạn nâng chân mình lên. Không đủ chỗ để co đầu gối. Không đủ chỗ để lăn người qua. Chiếc thùng chính xác bằng kích cỡ của bạn. Như thể nó được làm cho riêng bạn. Một cỗ quan tài gỗ thông của riêng bạn, đang làm căng cứng phần thắt lưng, bầm giập hai vai, đau nhói phía sau đầu bạn. Tiện nghi duy nhất: giấy báo lót dưới đáy thùng. Thoạt đầu bạn không để ý đến chi tiết này. Khi nhận ra sự tồn tại của chúng, bạn không hiểu chúng để làm gì. Cho đến khi bạn đi tiểu lần đầu tiên. Rồi ngày qua ngày, nằm trên đống bẩn thỉu của mình. Như một con vật, bạn sẽ thầm nghĩ như vậy. Ngoại trừ phần lớn các con vật đều được đối xử tử tế hơn thế. Miệng bạn sẽ trở nên khô khốc, đôi môi nứt nẻ. Bạn sẽ bắt đầu miết ngón tay vào những lỗ thông khí sẽ cào mạnh da mình, chỉ để có chút gì đó cho vào miệng, để nuốt, để mút. Bạn sẽ biết được bản thân mình ở một khía cạnh bạn chưa từng biết đến trước đó. Suy sụp. Mãnh liệt. Mùi khai nồng của nước tiểu. Vị mặn của máu. Nhưng bạn vẫn chưa biết gì cả. Khi nghe tiếng bước chân bạn sẽ không tin được. Mình hoang tưởng thôi, bạn tự nhủ. Mình mơ thôi. Bạn chỉ là một mớ rác thảm hại trong tấm da người. Một con bé ngốc nghếch lẽ ra đã biết nhiều hơn và giờ nhìn lại mình xem. Thế nhưng, âm thanh của chiếc khóa kim loại vang lên ở bên ngoài thành thùng, chỉ cách tai bạn một chút… Có thể bạn lại khóc. Và lại khóc, nếu vẫn còn chút nước sót lại trong người. Khi bạn nhìn thấy khuôn mặt hắn, người đã làm điều này với bạn, bạn cảm thấy nhẹ nhõm. Thậm chí vui mừng. Bạn nhìn chăm chăm vào đôi má béo phị của hắn, đôi mắt tròn, cái miệng đang mở ra, để lộ hàm răng ố vàng, và bạn nghĩ tạ ơn Chúa. Tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa. Hắn để cho bạn ra khỏi thùng. Hắn nhấc bạn lên, thực tế là như vậy, bởi đôi chân bạn không thể đứng được nữa, các bắp cơ của bạn mất tất cả sức mạnh vốn có của nó, và đầu bạn ngắc ngoẻo. Ngắc ngoẻo. Từ này khiến bạn buồn cười. Một trong những từ bạn chưa bao giờ hiểu được ý nghĩa. Nhưng giờ thì bạn đã rõ. Ngắc ngoẻo. Đầu bạn ngắc ngoẻo. Chúa ơi, mùi gì thật kinh khiếp. Mùi tỏi, mùi cơ thể, mùi quần áo chưa giặt và mùi tóc bẩn thỉu. Thứ mùi đó là từ người bạn sao? Hay từ hắn? Bạn nôn ọe, không cưỡng lại được. Và điều đó khiến hắn cười thành tiếng. Khi hắn cầm chai nước lên. Khi hắn nói chính xác điều bạn phải làm để có được chai nước ấy. Hắn trông ục ịch. Già nua. Gớm guốc. Kinh tởm. Bộ râu rối bù, mái tóc bết dính, mấy vệt tương cà lốm đốm trước ngực chiếc sơ mi ca rô rẻ tiền. Bạn quá cao sang so với hắn. Trẻ trung, tươi tắn, xinh đẹp. Kiểu những cô gái được xếp vào hạng top trong buổi tiệc trường. Bạn có tất cả. Hay từng có tất cả? Bạn khóc khi nghĩ đến mẹ. Bạn van nài hắn thả bạn, khi bạn nằm phủ phục dưới chân hắn. Và rồi cuối cùng, sau rốt, với chút sức lực còn sót lại, bạn cởi bỏ bộ đồ đang mặc trên người. Bạn để hắn làm cái điều mà hắn muốn. Bạn hét lên, nhưng cổ họng bạn khô khốc không thể cất thành lời. Bạn nôn ọe, nhưng bụng bạn trống rỗng không còn chút gì trong đó. Bạn sống sót. Và sau đó, khi hắn ta cuối cùng cũng đưa cho bạn chai nước đó, bằng cách đổ thẳng lên đầu bạn. Bạn không chút hổ thẹn nâng tay mình lên hứng càng nhiều càng tốt dòng chất lỏng quý giá ấy. Bạn liếm lòng bàn tay mình. Bạn mút những lọn tóc bết dính, bẩn thỉu của mình. Và đợi lúc hắn không để ý, bạn liếm đốm tương cà từ chiếc sơ mi cởi ra của hắn. Trở về lại cái thùng. Cái thùng. Cái thùng. Nắp thùng đóng lại. Khóa bấm lại. Gã đàn ông kinh tởm ấy đi khỏi. Để lại bạn một lần nữa, chỉ một mình. Trần truồng. Bầm tím. Rớm máu. Biết những điều bạn không bao giờ muốn biết. “Mẹ ơi!” Bạn thì thầm. Nhưng con quái vật ấy là có thật. Không ai có thể làm bất cứ điều gì để cứu bạn nữa. Đây là điều tôi biết: Không có gì nhiều để làm ngày qua ngày trong cái thùng gỗ có kích cỡ như một cỗ quan tài ấy. Trên thực tế chỉ có duy nhất một điều đáng để ám ảnh, tưởng tượng, trù tính trong từng phút kinh hoàng, từng giờ hãi hùng. Một lý do duy nhất khiến bạn tiếp tục. Một ý nghĩ duy nhất đem lại cho bạn sức mạnh. Bạn sẽ tìm thấy nó. Bạn sẽ hun đúc nó. Và nếu bạn giống tôi, bạn sẽ không bao giờ để nó biến mất. Trả thù. Nhưng hãy cẩn thận với điều ước của bạn, đặc biệt khi bạn chỉ là một con bé ngốc nghếch bị giam cầm trong cái thùng gỗ có kích cỡ như chiếc quan tài. Mời các bạn đón đọc Cô Gái Trong Chiếc Thùng Gỗ của tác giả Lisa Gardner & Phạm Hoa Phượng (dịch).
Bãi Săn Người
"Tôi là Diệp Tứ Minh, mọi người thường gọi tôi là anh Tứ. Tôi cảm thấy biệt danh này khắc mình, vì tôi phát hiện mình buộc phải kết liễu sinh mạng trong vòng 4 ngày, nếu không chờ đợi tôi phía trước chính là "sống không bằng chết".  Do một nhiệm vụ nằm vùng, cảnh sát Diệp Tứ Minh bị nghiện ma túy. Khi cai nghiện, anh lại mắc phải chứng lệ thuộc thuốc. Biết mình sắp thân bại danh liệt, anh quyết định tự sát. Đúng lúc này, ở bờ sông có người phát hiện ra một cánh tay cụt. Cho rằng anh là cảnh sát hiện trường nên người dân níu lại và báo án. Đồng thời ở ngoại ô thành phố, người ta phát hiện 61 thi thể dưới một đập chứa nước, trở thành một án giết người liên hoàn chưa phá lớn nhất trong thành phố. Chỉ còn 4 ngày nữa, Diệp Tứ Minh sẽ nhận được phán xét cuối cùng, anh quyết định đánh cược: hoặc là sẽ phá giải vụ án thành công hoặc là tìm cơ hội "hi sinh" trong khi làm nhiệm vụ? Giới thiệu tác giả: Ntybooks xin giới thiệu tác giả Lương Kha - tác giả trinh thám thuộc thế hệ 8X - Sơn Đông. Tác giả đã di cư sang Đức, là một trong những nhà văn rất thích dòng tiểu thuyết trinh thám và rất thành công với tác phẩm: Bãi săn người *** Nếu bạn nào thích trinh thám Trung Quốc thì có thể cho quyển này vào danh sách tìm đọc nha, cũng khá lắm. Diệp Tứ Minh (Anh Tứ) một cảnh sát nằm vùng. Trong một lần xâm nhập để triệt phá một tổ chức buôn bán ma tuý, anh bị nghiện. Việc cai nghiện tưởng chừng đơn giản nhưng không hề đơn giản, trong quá trình cai nghiện anh bị lệ thuộc vào thuốc. Cuộc sống của anh gặp nhiều bất hạnh từ đó. Gia đình tan vỡ, con không nhận cha, đồng nghiệp nhìn anh với con mắt khác và nhiều vấn đề đen tối khác. Chán nản và thất vọng, Diệp Tứ Minh định tự tử. Nhưng khi định nhảy xuống sông để kết liễu sinh mệnh, thì có người phát hiện một cánh tay cụt có hình xăm một nửa bông hoa hồng (cái này ở bìa có vẽ) và giữ anh lại vì tưởng anh là cảnh sát được cử đến xử lý hiện trường. Cùng thời điểm đó, 61 bộ hài cốt được tìm thấy dưới một đập chứa nước ở ngoại ô thành phố. Phá án lập công xoá nỗi ô nhục hay liều chết “hi sinh vì nhiệm vụ” … Diệp Tứ Minh quyết tâm lao vào điều tra vụ án. Bãi Săn Người là sự kết hợp của kinh dị, hành động, sự biến thái vẹo vọ tâm lý lẫn trinh thám điều tra thông thường. Giết người, phân xác, lột da mặt. Những pha hành động đầy tính điện ảnh. Tâm lý lệch lạc, méo mó của hung thủ lẫn quá trình hành động, điều tra truy tìm manh mối thông thường của cảnh sát. Lối viết khá hấp dẫn, lôi cuốn hồi hộp. Nhiều những bất ngờ không ngờ được đưa vào để đánh lạc hướng. Mang một màu u tối, mỗi người đều như sống dưới đáy của xã hội, mang những tổn thương day dứt trong lòng. Chỉ sống thôi sao mà cũng khó quá. Gọn lại quyển này rất khá, hồi hộp, hấp dẫn, khó đoán trước được điều gì sẽ xảy ra, nội dung đầy trăn trở 8,25/10 P.s: Nếu làm cảnh sát mà khổ, be bét như này thì chắc ai cũng muốn bỏ ngành. Binh Boog *** BÃI SĂN NGƯỜI Tác giả: Lương Kha Dịch giả: Tuệ Tâm Reviewer: Điền Yên Công ty phát hành: Phuc Minh Books —— Hiếm khi gặp một truyện trinh thám nào mà số nạn nhân với hung thủ lại nhiều thế này. Án lồng án, vừa tưởng thằng này là hung thủ thì lại phát hiện nó đúng là hung thủ, nhưng lại là của vụ khác chứ không phải vụ chính. Dĩ nhiên, người đọc có thể đoán bằng cách đơn giản hơn: thấy truyện mới đi được non nửa độ dài thì chẳng thể nào boss cuối đã bị bắt được. Nhân vật chính là anh Tứ – một cảnh sát ngầm, chuyên thâm nhập vào hang ổ tội phạm dưới các vỏ bọc khác nhau. Một trong những lần đó, anh buộc phải hít ma túy để tạo lòng tin cho kẻ thù. Thôi thì ít ra anh cũng không phải bắn vào đầu đồng đội như anh Khánh trong Mê cung. Nhưng kể từ đó, anh Tứ nghiện. Cai rồi tái nghiện liên tục do đặc thù nghề nghiệp. Điều này tôi biết. Dù bạn đã cai bao lâu, chỉ cần thuốc ở trước mặt, chưa cần hít, bạn đã tái nghiện rồi. Một cảnh sát dương tính với ma túy, sự nghiệp của anh ta coi như chấm dứt. Ai tin anh? Ai dám đặt trọng trách vào tay một thằng nghiện? Anh Tứ vào sinh ra tử, một đời sống mái với nghề, vợ li dị, con không nhận cha. Tất cả những gì anh còn là công việc này. Nếu kết thúc trong nhục nhã thì chết còn hơn. Và anh quyết chết. Hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ là tuyệt nhất. Người chết rồi, chẳng ai kể về sai lầm của anh nữa, họ chỉ nhắc đến điều tốt đẹp thôi. Khổ nỗi, chẳng hiểu sao, phàm những thằng càng liều mạng muốn chết ngay lại càng sống dai. Anh Tứ muốn hy sinh, thần Chết cũng không chấp nhận. Anh quyết phá được vụ án cuối cùng, chết không hối hận. Vụ án này không ngờ lại quá rắc rối, làm anh mãi không chết nổi. Chiếc lá cuối cùng bên ngoài cửa sổ mãi không rời cành. Trong lúc chờ nó lìa cành thì anh Tứ kịp tìm được bông hoa mới. Đã rất nhiều lần tôi nghĩ lấy chồng đừng lấy cảnh sát nếu bạn không có thần kinh thép. Vất vả chưa nói, đó là điều dĩ nhiên. Đáng sợ nhất là bị bỏ rơi và chờ đợi vô vọng. Trong Đại mễ tiểu mạch, vợ của Hình Long Nhược li dị dù vẫn yêu chồng vì chị không thể chịu nổi cảnh chờ đợi chồng hàng đêm, luôn lo lắng anh bị thương hoặc hy sinh. Chị có thể cáng đáng gia đình, con cái nhưng không thể chịu nổi sự tra tấn dày vò tinh thần. Đằng sau sự hy sinh của các chiến sĩ công an là sự hy sinh của cả gia đình họ. Tác giả viết rất khéo, một tập truyện mà cảm giác như đọc cả series giết người. Đọc truyện mà tôi cứ phải chép miệng: “đời có lắm thằng điên”. Tôi tin rằng nếu tác phẩm này được dựng thành phim thì nó đủ gay cấn. Điểm trừ (nhẹ) là đoạn đối đầu giữa boss cuối và boss gần cuối chóng vánh quá, chưa đủ thỏa mãn tôi. Vốn có quan điểm lấy ác trị ác, tôi thấy boss gần cuối chết hơi nhanh, chưa kịp tận hưởng cảm giác của các nạn nhân của hắn. Tôi thích cuốn sách này, trừ cái bìa. Phong cách bìa quá “Tây” cho một truyện trinh thám Á. *** Tôi là Diệp Tứ Minh, mọi người thường gọi là anh Tứ. Tôi cảm thấy biệt danh này khắc mình, vì tôi phát hiện mình buộc phải kết liễu sinh mạng trong vòng bốn ngày, nếu không chờ đợi tôi phía trước chính là “sống không bằng chết”. Giờ nghĩ lại, mọi nguồn cơn của sự việc đều bắt đầu từ chiếc sofa năm năm về trước. Chiếc sofa đỏ bọc vải, khó có thể mô tả màu sắc của nó một cách chính xác, nhưng có lẽ lúc mới mua thì nó màu trắng. Lại gần sẽ ngửi thấy một hỗn hợp mùi quái lạ: mùi thức ăn thừa, mùi mồ hôi, mùi thuốc lá… Khi đó tôi mặc chiếc áo sơ mi trị giá ít nhất hai ngàn tệ, nhưng tôi cũng không thể vì tiếc của mà không ngồi xuống đống rác đó. Vì ngay sau gáy tôi là một họng súng lạnh ngắt. “Từ đầu đến giờ mày luôn bình tĩnh.” Kẻ cầm súng tên là Đảng Siêu. Hắn không nói to, nhưng giọng nói sắc nhọn như muốn xuyên thủng màng nhĩ. “Mày là thằng nào? Cớm hả?!” “Cớm” là tiếng lóng, ám chỉ “cảnh sát”. Nhiều người không thích cảnh sát, nguyên nhân rất đa dạng. Đảng Siêu không thích cảnh sát thuần túy vì lý do nghề nghiệp. Hắn buôn lậu súng ống, thuốc phiện và hắn giết người. Các bó cơ toàn thân tôi cứng ngắc, nội tạng như thể biến mất trong phút chốc. Lẽ ra tôi phải đổ mồ hôi như tắm mới phải, nhưng trán tôi lại khô rang như sa mạc Gobi. Có lẽ tôi nên phản bác hoặc biện giải đôi câu, nhưng tôi quyết định không mở miệng. Bởi vì tôi có thể cảm thấy giọng mình sẽ căng thẳng đến mức hụt hơi, chỉ cần mở miệng là để lộ nỗi sợ hãi đang dâng trào. Trong phòng lặng phắc, chỉ có tiếng tích tắc của đồng hồ treo tường. Bàng Tam nhìn tôi, mồ hôi vã đầm đìa khắp mặt. Điều này rất dễ hiểu, tôi mà chết thì cậu ta cũng khó mà sống sót nổi. Nghĩ đến đây, tôi quyết định phải làm gì đó. “Có lý đấy! Dẫu nói thì lũ nghèo kiết xác bọn mày cũng không hiểu…” Tôi chậm rãi đứng dậy, đồng thời tận dụng chút thời gian ít ỏi nhanh chóng nuốt nước bọt để dây thanh quản khôi phục chức năng đôi chút, “Nếu tao muốn làm trò thì còn phải ngày nào cũng tự mua dây buộc mình sao?” Không ai đáp lời, không ai phụ họa. Bọn chúng đều nhìn tôi chằm chằm. Không còn lựa chọn nào khác. “Không mang!” Tôi vứt thuốc lá và bật lửa lên bàn đánh “xoạch” một tiếng, cố cất cao giọng, “Ai cho mượn chút?” Tên nào đó quẳng một gói bột trắng nho nhỏ lên bàn. Bàng Tam đưa cho tôi miếng giấy bạc. Tôi thành thục lấy thuốc lá cuộn thành điếu, đổ bột trắng ra giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng. Một mùi quái dị mà quen thuộc xộc thẳng vào mũi. Thứ đó bắt đầu hóa lỏng, sủi bọt rồi biến thành màu cam nhạt ghê tởm, nom nó giống nham thạch trong miệng núi lửa vẫn thường thấy qua tivi. Tôi bần thần giây lát, rồi nhắm mắt, hít mạnh một hơi. Họng súng rời khỏi gáy tôi. Đảng Siêu ngồi xuống bên cạnh, đưa cho tôi cốc nước. Tôi uống một ngụm liền phun hết ra ngoài. Bọn chúng cười phá lên. “Hít mạnh quá cơ…” Bàng Tam đứng bên cạnh cười xiểm nịnh, đế vào một câu. “Giỡn chơi ấy mà, anh Tứ đừng kích động thế!” Đảng Siêu vỗ vai tôi, “Hít gấp quá hại người lắm, ngay cả anh Thương cũng không dám nữa là.” “Giỡn gì thế hả?” Tôi đẩy hắn một cái, “Lẫn cả phân ngựa à? Để lần sau mang cho bọn mày hàng nguyên chất, cho bọn mày mở mang tầm mắt.” Đảng Siêu cuời, sau đó hạ giọng nói chuyện với tôi. Nói thật, phần lớn chuyện chúng kể, tôi chẳng nghe thấy gì. Khi đó, tôi nằm trên sofa, cảm giác cơ thể mình trôi bồng bềnh, mí mắt như công tắc ngàn cân, liên tục nhắm lại, mở ra. Đầu tôi biến thành cái lồng, mọi thông tin từ thế giới bên ngoài đi vào não qua tai và mắt, rồi chảy ra tứ tán khắp nơi như bị rò nước. Tuy nhiên, câu nói dưới đây thì ngoại lệ, “Anh cần bao nhiêu bánh? Ngắn hay dài?” Tôi cười. Thế giới trước mắt bắt đầu trở nên méo mó, xoay chuyển. Mọi thứ trong phòng đều tan chảy, nguội dần, rồi đúc thành chiếc huân chương khảm huy hiệu của ngành cảnh sát. Đó là lần đầu tiên tôi hít thuốc phiện. Quả thật tôi là cảnh sát. Chẳng biết đó là lần thứ bao nhiêu tôi phải xâm nhập vào hang ổ của tội phạm. Khi ấy, tôi không hề cảm nhận được một lần hít thuốc phiện sẽ khiến bản thân ra sao. Trên thực tế, khi ấy tôi cảm thấy không gì mình không thể làm được và mình sẽ mãi mãi “siêu sao” thế này. Mời các bạn đón đọc Bãi Săn Người của tác giả Lương Kha & Tuệ Tâm (dịch).
Cuộc Đời Là Một Tiểu Thuyết
Với anh, mọi thứ đã được viết sẵn Với cô, mọi thứ đang đợi viết tiếp “Sáu tháng trước, ngày 12 tháng Tư năm 2010, con gái ba tuổi của tôi, Carrie Conway, đã bị bắt cóc trong lúc hai mẹ con đang chơi trốn tìm trong căn hộ nhà mình ở Williamsburg.” Câu chuyện của Flora Conway, nữ tiểu thuyết gia nổi tiếng sống kín đáo, đã bắt đầu như thế. Carrie đột ngột mất tích, không cách nào lý giải được. Cửa chính và các cửa sổ đều đóng kín, các camera giám sát trong tòa nhà không phát hiện điều khả nghi nào. Cuộc điều tra của cảnh sát không mang lại kết quả gì. Cùng thời điểm ấy, ở bờ kia Đại Tây Dương, một nhà văn với trái tim tan nát trốn tránh xã hội trong một ngôi nhà xập xệ, bế tắc với tiểu thuyết đang viết dở. Anh là người duy nhất nắm giữ chìa khóa của bí ẩn.  Và Flora sẽ đánh bật anh. Với Cuộc đời là một tiểu thuyết, bạn sẽ bắt gặp một Guillaume Musso hoàn toàn mới, người dẫn bạn bước vào mê cung, dắt bạn đi theo mạch truyện ly kỳ bằng nguồn sức mạnh rút từ quyền năng của những cuốn sách và khát khao mãnh liệt sống cuộc đời của các nhân vật. “Guillaume Musso là một cao thủ phù phép, luôn biến hóa ra điều bất khả trong cuộc đời các nhân vật giữa lúc ta không ngờ tới.” - Anne Michelet, Version Femina “Một câu chuyện tuyệt vời làm hài lòng cả độc giả sách trinh thám lẫn tín đồ văn chương. (…) Guillaume Musso, chắc chắn là nhà văn lớn và độc giả phi thường, trở lại với chủ đề nghề viết, nguồn cảm hứng, cuộc đời thực và tưởng tượng… một cách thật điêu luyện (…) Cuộc đời là một tiểu thuyết không khỏi khiến ta nghĩ tới Romain Gary.” - Alain-Jean Robert, AFP TÁC GIẢ: Guillaume Musso sinh năm 1974 tại Antibes, thị trấn nhỏ bên bờ Địa Trung Hải. Ngay từ năm mười tuổi, cậu bé Guillaume đã phải lòng văn chương và tuyên bố một ngày nào đó sẽ viết tiểu thuyết. Lớn lên, anh theo học ngành kinh tế rồi trở thành giáo viên sau khi tốt nghiệp, nhưng niềm đam mê thuở ban đầu vẫn tràn đầy. Năm 2001, tiểu thuyết đầu tay của anh ra đời và nhận được tín hiệu tốt từ giới phê bình. Tác phẩm thứ hai, Rồi sau đó, xuất bản năm 2004, đã gây ấn tượng mạnh và đưa tên tuổi Guillaume Musso đến với công chúng. Từ đó đến nay, anh đều đặn cho ra đời các tiểu thuyết mới và giành được thành công vang dội không chỉ tại Pháp mà còn trên khắp thế giới. Các tác phẩm của Guillaume Musso đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được chuyển thể thành phim. Các tác phẩm của Guillaume Musso đã được Nhã Nam xuất bản: - Rồi sau đó - Hãy cứu em - Hẹn em ngày đó - Bởi vì yêu - Trở lại tìm nhau - Nếu đời anh vắng em - Cô gái trong trang sách - Cuộc gọi từ thiên thần - Bảy năm sau - Ngày mai - Central Park - Giây phút này - Cô gái Brooklyn - Dưới một mái nhà ở Paris - Cô gái và màn đêm - Cuộc đời bí mật của các nhà văn *** 'Cuộc đời là một tiểu thuyết' - khi hư cấu gọi tên hiện thực. Sau "Cuộc sống bí mật của các nhà văn", Guillaume Musso bật mí thêm những ngõ ngách khác trong hành trình kiến tạo một tác phẩm văn chương trong "Cuộc đời là một tiểu thuyết". Tại New York, Mỹ, cô bé 3 tuổi Carrie Conway bị bắt cóc trong khi đang chơi trốn tìm cùng mẹ mình trong căn hộ. Flory Conway - mẹ của nạn nhân - nữ tiểu thuyết gia nổi tiếng sống ẩn dật và truyền thông chỉ biết Flory thông qua một tấm ảnh mờ nhạt. Carrie bốc hơi khi các cửa tòa nhà đều đóng kín, camera giám sát không ghi lại được hình ảnh nào khả nghi và cuộc điều tra rơi vào bế tắc. Ở Paris, Pháp, Romain Ozorski là tiểu thuyết gia 40 tuổi đã viết được 19 cuốn sách và tất cả đều trở thành bestseller. Nhưng đó là quá khứ, bởi hai năm gần đây Romain không viết thêm quyển tiểu thuyết nào.  Anh ly dị vợ, không nhận được quyền nuôi con cùng với những hóa đơn chưa thanh toán và một quyển tiểu thuyết đang còn dang dở.  Hai nhà văn nổi tiếng ở hai bờ Đại Tây Dương, với bao cuộc đời được tạo ra từ 2 khối óc đầy sáng tạo. Cha mẹ đẻ của những niềm vui và nỗi buồn trong hành trình đi tìm con chữ. Hai con người cùng bước chân vào bi kịch đời mình. Liệu có sợi dây nào liên kết Flory Conway và Romain Ozorski, khi cả hai dấn thân vào cuộc viễn chinh đi tìm cái kết? Cuốn sách Cuộc đời là một tiểu thuyết sẽ đem đến câu trả lời thỏa mãn cho người đọc. "Đặc sản" Guillaume Musso với cái kết bất ngờ  Có thể nói với hầu hết tác phẩm của Guillaume Musso, cái kết bất ngờ luôn là dấu ấn mà độc giả tò mò và ngóng đợi. Dưới sự dẫn dắt tài tình, câu chuyện được ông bóc tách và ghép lại như trò chơi xếp hình. Chỉ đến khi mảnh ghép cuối cùng được đặt vào, bức tranh toàn vẹn mới hiện ra trước sự trầm trồ của người đọc. Cuộc đời là một tiểu thuyết vẫn chứa đựng plot twist nằm ở những trang cuối cùng, với điểm sáng riêng biệt chính là một Guillaume Mussohoàn toàn mới. Câu chuyện tưởng chừng dễ đoán nhưng cài cắm những “ngòi nổ” mà chính độc giả chính là người giật kíp và tự nhận ra khi đi cuối hành trình. Ở cuốn tiểu thuyết này, tác giả tạo nên một tổng thể chỉn chu khi hư cấu gọi tên hiện thực. Các tuyến nhân vật đan cài lẫn nhau, song hành vào giao nhau ở điểm cuối truyện, hòa làm một và biến cuộc đời thành một quyển tiểu thuyết, hay nói đúng hơn tiểu thuyết phản ánh trung thực một cuộc đời. Những lát cắt trong cuộc đời của các nhà văn  Nếu Cuộc đời bí mật của các nhà văn là trải nghiệm công việc của người viết lách nơi ánh hào quang, tiền bạc và sự thành công chỉ là bề nổi cho những phần chìm trước mắt độc giả, thì Cuộc đời là một tiểu thuyết lại là những ngõ ngách khác trong hành trình xây dựng nhân vật, vật lộn với tình huống và đem cuộc đời thực vào trong tác phẩm. Tác phẩm mới của Musso hé lộ những lát cắt nằm phía trong tâm hồn và được bóc tách bởi chính sự dấn thân trên hành trình đi tìm con chữ. Mỗi tiểu thuyết gia có quyền lấy chất liệu đời thực đưa vào tác phẩm hay ngông cuồng cầm nắm trong tay quyền sinh sát mỗi nhân vật.  Nhưng dường như họ cũng có câu chuyện riêng cần kể. Sự cô đơn, niềm tin yêu thậm chí là bi kịch trở thành nguyên liệu quý giá trong việc tạo tác những cuộc đời tưởng chừng đã mất. Phía sau một tác phẩm thành danh luôn chứa đựng một bí mật mà người giữ chìa khóa để mở toang cánh cửa mà không ai khác chính là tác giả. Họ cho phép độc giả bước vào những cuộc đời song song khác của họ với đầy đủ dư vị cảm xúc hỉ nộ ái ố. Cuộc đời là một tiểu thuyết phần nào làm thỏa sự tò mò nơi độc giả khi hiểu thêm về công việc viết lách và những cuộc đời hiện sinh bằng con chữ với câu hỏi đặt ra rằng: Liệu cuộc đời là một quyển tiểu thuyết hay tiểu thuyết chính là cuộc đời? *** Quay về với một cuốn tiểu thuyết của Guillaume Musso. Sau cuốn “Cô gái và màn đêm” hơi gây thất vọng mình đã tự nhủ “Thôi thì cả thanh xuân đọc truyện lãng mạn của Guillaume Musso của tôi kết thúc tại đây”. Tuy vậy, lúc đó mình đã mua cuốn “Cuộc đời là một tiểu thuyết” rồi nên vẫn quyết định đọc dù đọc qua review thấy rate không cao lắm. Thực sự, mình thích cuốn sách này. Nó cũng lấy lại niềm tin của mình vào tác phẩm của Guillaume Musso. Thôi thì những cuốn sách của chú cùng cháu lớn lên, cháu cũng quyết định là cũng có thể cùng nhau về già :D. Mình nhận thấy từ rất nhiều cuốn sách, nhân vật chính của Guillaume Musso đều là những nhà văn. Và từ cuốn sách này, mình cảm thấy dường như Guillaume Musso đã mượn văn chương để nói về cuộc đời mình và để bộc bạch những suy tư mà cuộc sống đời thường khó có thể làm được. Musso cũng công nhận “Sức mạnh to lớn của văn chương hư cấu nằm ở quyền năng nó cho phép chúng ta chạy trốn thực tại hay bang bó những vết thương ta phải chịu đựng do bạo lực xung quanh gây ra.” Cuộc đời là một cuốn tiểu thuyết kể về 2 nhân vật Flora Coway và Romain Ozorski đều là những người viết. Đến một ngày, sau những biến cố đau đớn, họ cảm thấy nghi ngờ về cuộc sống của mình. Nội dung cuốn sách này lấy cảm hứng từ câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng của Plato về những người tù, bị giam trong một hang động từ khi mới sinh ra. Những người tù này luôn bị xích và phải quay mặt về phía trong hang, thay vì phía cửa/miệng hang. Trong suốt cả cuộc đời, họ sẽ chẳng bao giờ thấy đc thế giới bên ngoài ra sao. Thứ duy nhất mà họ có thể là những cái bóng phản chiếu của những sự vật đi ngang qua cửa hang vào lúc có ánh sáng mặt trời chiếu vào. Họ cho rằng những cái bóng chính là những con người, con vật và đồ vật ấy. Đến một ngày, một trong số những người tù này trốn thoát và chạy ra khỏi hang. Lần đầu tiên anh ta thấy thế giới thật thay vì những cái bóng. Nhận thức cũ về thế giới xung quanh của anh ta bị sụp đổ. Những cái bóng anh ta nhìn thấy mỗi ngày khi xưa hóa ra chỉ là một phần rất rất nhỏ của thế giới thực ngoài kia. Thế rồi anh ta trở lại hang kể với những bạn tù của mình về thế giới ngoài hang mà anh ta nhìn thấy. Nhưng không may, những người bạn của anh ta, vì vẫn luôn giữ nhận thức cũ, nên không thể hiểu được những điều anh ta nói, họ không thể tưởng tượng ra tại sao lại có một thế giới như vậy tồn tại ngoài kia. Từ đó, tác giả đẫn dến những suy tư trong trích dẫn của Bergson “Chúng ta không thực sự thấy bản chất của mọi thứ: thường thì ta chỉ tự giới hạn mình ở việc đọc nhãn dán trên chúng”. Bergson “Thực tại… Hư cấu… Suốt cuộc đời tôi đã đi tìm ranh giới rất mơ hồ giữa chúng. Không gì gần với cái thật bằng cái giả trong thế giới thực, bởi khi con người coi một hoàn cảnh nào đó là thực tế, thì sau đó chúng sẽ trở thành thực tế…”. Guillaume Musso Tuy vậy, tác giả cũng nhắc đến nối sự và sự đau khổ của những con người bị giam cầm khi được ra khỏi hang, rằng “họ nhận ra bóng tối thật dễ chịu và ánh sáng khiến họ đau khổ” và họ không muốn chấp nhận sự thật. Đôi khi biết được sự thật cũng không phải chuyện vui, nhưng liệu chúng ta có muốn sống mãi trong hang tối? Một vài bộ phim và cuốn sách cũng xoay quanh chủ đề này, có thể kể đến bộ phim Ma trận 9 Lana Wachowski & Lilly Wachowski, 1999) hay cuốn sách gần đây của David Chalmers “Reality+: Virtual world and the problems of philosophy”. Khi được hỏi “Nếu chúng ta đang sống trong một mô phỏng máy tính thì khả năng mô phỏng đó sẽ như thế nào?”, tác giả David Chalmers trả lời rằng: Có nhiều loại mô phỏng khác nhau. Có loại gọi là mô phỏng hoàn hảo, nó làm việc tốt đến mức không ai có thể phân biệt được nó với thực tại vật lý. Nếu chúng ta đang ở trong một mô phỏng hoàn hảo, chúng ta sẽ không bao giờ biết được điều đó. David Chalmers Vậy liệu có phải chúng ta đang sống trong một thế giới mô phỏng? Mình nghĩ đây là một câu hỏi triết học khá thú vị để đi sâu hơn vào nhận thức con người, và cũng có khá nhiều tài liệu đi sâu hơn vào câu hỏi này, mình sẽ trích dẫn ở cuối bài. Guillaume Musso đang dùng tác phẩm văn chương của mình để gợi lên những câu hỏi sâu sắc hơn cho độc giả. Tuy nhiên, triết học luôn là những vấn đề trừu tượng, bàn về triết học đòi hỏi chiều sâu hiểu biết về con người và thế giới quan. Do đó, một tác phẩm văn chương đủ sâu sắc, đủ hấp dẫn đẻ bàn về triết học cũng không phải điều đơn giản. Mình thấy, trong Guillaume Musso mới hình thành một ý tưởng sơ lược, chưa thực sự hiểu sâu sắc về nó. Do đó, mình đánh giá các tình tiết trong câu chuyện này còn một số đoạn hơi “lỏng lẻo”, và dường như tác giả đã hơi lúng túng không biết kết truyện sao cho vừa.  Mặc dù vậy đây vẫn là một cuốn sách mình thấy hay bởi ý tưởng và những thông điệp mà Guillame Musso muốn gửi đến độc giả về sự thức tỉnh, mở rộng thế giới quan và đi tìm  ánh sáng của sự thật. Vì đọc phải có bất ngờ khi đọc truyện mới hay nên mình không tóm tắt nội dung chi tiết mà chỉ ghi lại phần mình ấn tượng nhất trong cuốn sách này, nhưng mà sách hay và đáng đọc nhé