Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tuổi Già Tập 1 - Simone de Beauvoir

Simone de Beauvoir (1908 - 1986) là nhà văn, nhà triết học và một nhà đấu tranh cho nữ quyền người Pháp. Là một nhà văn từng được giải Goncourt nhưng cũng là một học giả uyên bác, các tác phẩm của bà được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời mình đồng thời đầy ắp các dữ kiện khoa học, lịch sử, thống kê… Hai tác phẩm non-fiction được biết ở Việt Nam nhiều nhất của bà là Giới tính thứ nhì và Tuổi già. Giới tính thứ nhì (xuất bản năm 1949), được xem là một trong những quyển sách hay nhất của thế kỷ 20, là một cuốn bách khoa toàn thư về các giai đoạn của cuộc đời phụ nữ từ lúc sinh ra, dậy thì, lấy chồng, làm mẹ; đồng thời vạch ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới. Với tác phẩm này, bà được xem là “Bà mẹ của phong trào nữ quyền". Tuổi già được viết lúc Beauvoir hơn 50 tuổi, mô tả chi tiết cuộc sống của người già và đấu tranh giành quyền cho họ. Người ta chỉ có thể hiểu được thân phận người già khi ở tuổi đó. “50 tuổi, tôi giật nảy mình khi một nữ sinh viên Mỹ kể lại với mình câu nói của một cô bạn: "Nhưng Simone de Beauvoir là một bà già chứ sao!" Cả một truyền thống dồn cho từ ngữ này một cái nghĩa xấu; nó vang lên như một lời thoá mạ. Vì vậy, người ta phản ứng, thường bằng giận dữ, khi nghe người khác bảo mình già. Tôi có biết nhiều người phụ nữ được biết tuổi tác của mình một cách khó chịu qua một kinh nghiệm giống như kinh nghiệm Marie Dormoy: một người đàn ông, bị vẻ trẻ trung của hình bóng bà đánh lừa, đi theo bà trên đường phố; đến khi đi vượt qua bà và trông thấy gương mặt bà, thì thay vì bắt chuyện, ông ta rảo bước.” "Bạn có biết khuyết tật nào lớn nhất trong các khuyết tật không? Đó là tuổi trên 55" – Tourgueniev. Vào tuổi 55, Trotsky phàn nàn người mệt mỏi, mất ngủ, hay quên; ông có cảm giác sức lực sút kém; và lo lắng. Ông gợi lại quá khứ: "Anh buồn bã nhớ lại tấm ảnh của em, tấm ảnh của chúng ta, trong đó chúng ta trẻ trung biết chừng nào”. Già đi – đó là một điều không thể tránh khỏi và cũng là một quá trình chấp nhận đầy đau đớn. "Wagner kinh hãi thấy mình già đi, 80 tuổi, ông viết: “Hình hài tôi làm người ta khiếp sợ và khiến tôi u sầu một cách xót xa”. Sự suy sụp về thể chất khiến người già không còn có thể tham gia sản xuất hay xây dựng, do đó họ bị xem như gánh nặng, phải phụ thuộc vào người khác. Beauvoir viết về những trại dưỡng lão ở ngoại ô Paris với những người già như bị xã hội bỏ quên, sống mòn mỏi chờ đợi những cuộc viếng thăm của con cháu. Theo Beauvoir, đối đãi công bằng với người già là cách ứng xử có trước có sau mà nếu khác đi là làm lung lay gốc rễ của xã hội hiện đại. *** Khi còn là thái tử Siddharta, bị vua cha nhốt trong một tòa lâu đài tráng lệ, nhiều lần Thích Ca trốn đi dạo chơi bằng xe ngựa trong vùng. Trong lần dạo chơi đầu tiên, thái tử gặp một người tàn tật, tóc bạc, răng rụng, da nhăn nheo, cúi gập người trên một cây gậy, miệng lập cập, hai tay run rẩy. Chàng lấy làm ngạc nhiên và người xà ích giải thích đó là một ông già. Thái tử liền thốt: “Những kẻ hèn yếu và dốt nát, chuếnh choáng vì niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ, không thấy được tuổi già. Khốn khổ biết chừng nào! Hãy trở nhanh về nhà thôi. Các trò chơi và niềm vui mà làm gì, vì ta là nơi ẩn náu của tuổi già mai sau”. Qua một ông già Thích Ca nhận ra số phận của chính mình, sinh ra để cứu vớt loài người, Thích Ca muốn chia sẻ hoàn toàn với số phận của họ. Và về điểm này, Người khác họ: họ lẩn tránh những gì không làm họ vui lòng. Và đặc biệt là tuổi già. Châu Mỹ đã loại trừ ra khỏi từ vựng của họ từ: người chết: mà chỉ nói người khuất bóng thân yêu; cũng giống như vậy, họ tránh liên hệ tới tuổi già. Ở nước Pháp ngày nay, đó là một đề tài cấm kỵ. Khi bắt buộc phải vi phạm điều cấm kỵ ấy, tôi đã bị người ta la ó! Chấp nhận mình đã bước vào ngưỡng cửa của tuổi già, tức là cho rằng nó rình rập tất cả mọi người phụ nữ, rằng nó đã tóm cổ nhiều người. Với thái độ dễ thương hay giận dữ, nhiều người, nhất là người già, không ngớt nhắc đi nhắc lại với tôi rằng làm gì có tuổi già! Có những người không trẻ bằng những người khác, chỉ thế thôi! Đối với xã hội, tuổi già xuất hiện như một điều bí ẩn đáng xấu hổ, mà nói tới là điều khiếm nhã. Trong mọi lĩnh vực, văn học viết rất nhiều về phụ nữ, về trẻ em, về thiếu niên; ngoài các công trình chuyên môn, người ta rất ít ám chỉ tới tuổi già. Một tác giả băng hoạt hình đã phải làm lại cả một loạt tác phẩm vì trước đó ông ta đã đưa vào trong số các nhân vật một cặp vợ chồng đáng tuổi làm ông làm bà: “Hãy loại bỏ người già đi!” - người ta hạ lệnh cho ông ta[1]. Khi tôi nói mình viết một cuốn tiểu luận về tuổi già, người ta thường thốt lên: “Sao lại kỳ thế!... Bà đâu có già!... Đề tài ấy, ngán lắm...” Chính vì lý do ấy mà tôi viết cuốn sách này: để phá tan sự đồng tình im lặng. Theo Marcuse, xã hội tiêu thụ đem một ý thức tốt đẹp thay thế cho ý thức xấu xa và bài xích mọi ý nghĩ tội phạm. Cần khuấy động sự yên ổn của nó. Đối với người có tuổi, nó chẳng những là phạm tội, mà còn là một tội ác. Ẩn náu phía sau các huyền thoại bành trướng và phong túc, nó cho người già là những kẻ khốn cùng. Ở Pháp, nơi tỷ lệ người già cao nhất thế giới - 12% dân số trên 65 tuổi - họ bị dồn vào cảnh khốn cùng, cô đơn, tàn tật, thất vọng. Ở Mỹ, số phận của họ cũng không sung sướng hơn. Nhằm dung hòa sự man rợ này với thứ đạo lý nhân văn chủ nghĩa mà họ thuyết giáo, giai cấp thống trị có cách đơn giản là không xem họ là những con người; nếu nghe tiếng nói của họ, người ta bắt buộc phải thừa nhận đó là một tiếng nói của con người; tôi sẽ buộc độc giả của mình nghe tiếng nói ấy. Tôi sẽ miêu tả hoàn cảnh của họ và cách họ sống; tôi sẽ nói những gì diễn ra thực sự trong đầu óc và trong con tim họ - những thứ bị dối trá, huyền thoại và những lời sáo rỗng của nền văn hóa tư sản xuyên tạc. Vả lại, thái độ của xã hội đối với họ mang tính chất đồng lõa sâu sắc. Nói chung, xã hội không coi tuổi già là một lớp tuổi rõ rệt. Cuộc khủng hoảng về tuổi dậy thì cho phép vạch ra giữa một thiếu niên và người trưởng thành một đường ranh giới chỉ mang tính võ đoán trong những giới hạn chật hẹp; ở tuổi 18, 21, thanh niên được chấp nhận vào xã hội con người. Hầu như bao giờ xung quanh sự thăng tiến ấy cũng có những “nghi thức chuyển giai đoạn”. Còn thời điểm bắt đầu tuổi già thì không được xác định rõ rệt, nó thay đổi theo từng lúc, từng nơi. Không ở đâu, người ta bắt gặp “nghi thức chuyển giai đoạn” thiết lập một quy chế mới[2], về chính trị, suốt đời, cá nhân giữ nguyên những quyền lợi và nghĩa vụ giống nhau. Luật Dân sự không mảy may phân biệt giữa một cụ già trăm tuổi và một người tuổi bốn mươi. Các nhà làm luật cho rằng ngoài những trường hợp bệnh lý ra, trách nhiệm hình sự của người có tuổi cũng hoàn toàn đầy đủ như của thanh niên[3]. Trong thực tiễn, người ta không coi họ là một lớp người riêng, vả lại, họ cũng không muốn như vậy; có sách, báo, sân khấu, những buổi truyền hình và truyền thanh dành cho trẻ em và thiêu niên: còn đối với người già thì không[4]. Trên tất cả những bình diện này, người ta đồng hóa họ với lớp người lớn tuổi trẻ hơn. Nhưng khi quyết định quy chế kinh tế của họ, hình như người ta cho là họ thuộc một lớp người xa lạ: họ không có những nhu cầu cũng như những tình cảm giống như những người khác, nếu chỉ cần ban cho họ một chút bố thí khốn khổ là cảm thấy hết nợ đối với họ. Các nhà kinh tế học, các nhà làm luật tin vào cái ảo ảnh thuận tiện ấy khi phàn nàn cái gánh nặng những người không hoạt động gây nên cho những người hoạt động: như thể những người này không phải là những người không hoạt động trong tương lai và không bảo đảm chính ngày mai của mình trong lúc xây dựng việc nhận lấy trách nhiệm đối với những người có tuổi. Còn các nhà hoạt động công đoàn thì không nhầm lẫn: khi đưa ra những đòi hòi, bao giờ họ cũng coi trọng vấn đề hưu trí. Những người già không tạo nên một lực lượng kinh tế nào thì không có cách gì để đòi hỏi quyền lợi của mình: lợi ích của những kẻ bóc lột, là tiêu diệt tình đoàn kết giữa người lao động và người không sản xuất, sao cho không một ai bênh vực những người này. Những huyền thoại và lời sáo rỗng theo tư duy tư sản tìm cách chỉ ra một con người khác trong người già. “Chính với những thiếu niên sống khá nhiều năm mà cuộc đời tạo nên lớp người già” - Proust từng nhận định như vậy - họ giữ lại những nết tốt và những tật xấu của con người trong họ. Điều đó, dư luận không muốn biết tới. Nếu biểu thị những ham muốn, những tình cảm, những đòi hỏi giống như những người trẻ tuổi, thì người già làm người ta công phẫn; ở họ, tình yêu nam nữ, lòng ghen tuông hình như là bỉ ổi hay lố bịch, còn tình dục thì đáng ghê tởm và bạo lực thì chẳng có nghĩa lý gì. Họ phải là tấm gương về mọi đức tính. Trước hết, người ta đòi hỏi ở họ sự thanh thản; người ta khẳng định họ có lòng thanh thản ấy, nên cho phép người ta không quan tâm tới nỗi bất hạnh của họ. Cái hình ảnh người ta tô vẽ về họ là hình ảnh một nhà Hiền triết trong ánh hào quang của một mái tóc bạc trắng, giàu kinh nghiệm và khả kính, vượt lên rất xa thân phận con người; nếu rời khỏi hình ảnh ấy, là họ rơi xuống phía dưới; cái hình ảnh đối lập với hình ảnh trên đây, là hình ảnh một lão già điên lẩm cẩm, lố lăng, bị trẻ em chế giễu. Dẫu sao, do đức độ hay do sự đê tiện của họ, họ ở ngoài nhân loại. Vì vậy, người ta có thể không ngại ngần khước từ đối với họ những gì tối thiểu được coi là cần thiết cho một cuộc sống con người. Người ta đẩy xa sự loại thải này tới mức làm cho nó quay trở lại chống chính bản thân mình; người ta sẽ không công nhận bản thân mình trong hình ảnh ông già mà chính mình là ông già đó. Proust nhận xét một cách xác đáng: “Trong mọi hiện thực, (tuổi già) có lẽ là hiện thực mà chúng ta giữ lại một khái niệm thuần túy trừu tượng lâu bền nhất trong đời”. Tất thảy mọi người đều khả tử: họ nghĩ tới điều đó. Nhiều người trong số họ trở thành người già: hầu như không một ai hình dung trước sự biến đổi ấy. Người ta không chờ đón, không dự kiến một cái gì khác ngoài tuổi già. Khi được hỏi về tương lai của họ, thanh niên, nhất là nữ thanh niên, cho đời mình kéo dài nhiều nhất đến tuổi 60. Một số cô gái bảo: “Em không chờ đến ngày ấy, em sẽ ra đi trước đó”. Và thậm chí, một vài cô nói: “Em sẽ tự sát trước ngày ấy”. Người trưởng thành hành động như thế không bao giờ phải trở thành người già. Thông thường, người lao động kinh hoàng khi điểm giờ nghỉ hưu: thời hạn nghỉ hưu vốn đã được ấn định trước, người đó biết thời hạn ấy, nhẽ ra họ phải chuẩn bị sẵn. Sự thật là sự hiểu biết ấy vẫn xa lạ đối với họ cho tới giây phút cuối cùng - trừ phi nó thực sự mang tính chất chính trị. Đến ngày đó, và khi đã bước tới gần, thông thường, người ta thích tuổi già hơn là cái chết. Tuy vậy, đứng cách xa, người ta xem xét cái chết sáng suốt hơn cả. Cái chết nằm trong phạm vi những khả năng trực tiếp của chúng ta, uy hiếp chúng ta ở mọi lứa tuổi; có lúc chúng ta suýt chết; thông thường, chúng ta sợ chết. Con người ta không trở nên già nua trong chốc lát; ở tuổi thanh niên hay lúc tráng niên, chúng ta không nghĩ là tuổi già tương lai đã tiềm ẩn trong con người mình như Thích Ca: tuổi già ấy cách xa chúng ta tới mức khoảng cách ấy lẫn lộn trước mắt mình với sự vĩnh hằng: tương lai đối với chúng ta như thể phi hiện thực. Vả lại, cái chết không là gì cả; người ta có thể cảm thấy một nỗi bàng hoàng siêu hình trước cái hư vô ấy, nhưng bằng một cách nào đó, nó làm người ta yên lòng, nó không đặt thành vấn đề. “Ta sẽ không còn nữa”. : ta giữ hình tích của mình trong sự tiêu vong ấy[5]. Ở tuổi 20, hay 40, tôi nghĩ mình già, tức là nghĩ mình là người khác. Trong mọi sự biến đổi, đều có một cái gì đó khủng khiếp. Ở tuổi ấu thơ, tôi bàng hoàng, và thậm chí kinh hoàng khi hiểu ra sẽ có ngày mình sẽ trở thành người lớn. Nhưng ý muốn mình vẫn là bản thân mình, thường được bù đắp ở buổi thiếu thời bởi những lợi thế của quy chế người trưởng thành. Còn tuổi già thì xuất hiện như một nỗi bất hạnh: ngay cả ở những người mà người ta cho là vẫn giữ được vẻ quắc thước, sự suy sụp về thể chất mà tuổi già kéo theo cũng vẫn lồ lộ trước mắt. Vì ở loài người, sự đổi thay do năm tháng là nổi bật nhất. Loài vật thì gầy đi, yếu đi, nhưng không biến đổi. Còn con người thì có. Người ta se lòng khi nhìn thấy bên cạnh một thiếu phụ trẻ, phảng phất trong gương hình ảnh chính mình những năm tháng sau này: tức là mẹ mình. Theo Lévi-Strauss, người Da đỏ Namblikwara chỉ có một từ để nói “trẻ và đẹp” và một từ để nói “già và xấu”. Trước hình ảnh người già gợi ý với chúng ta về tương lai của mình, chúng ta không tin; một tiếng nói nội tâm thầm thì một cách phi lý với chúng ta rằng điều đó sẽ không đến với mình: sẽ không còn là chúng ta nữa khi điều đó xảy tới. Trước khi nó ập xuống chúng ta, tuổi già là cái chỉ liên quan tới ngườl khác. Vì vậy, có thể hiểu vì sao xã hội có thể khiến chúng ta không coi người già là đồng loại của mình. Thôi, chúng ta đừng tự lừa dối mình nữa; ý nghĩa cuộc sống chúng ta nằm trong tương lai đang đón đợi mình; chúng ta không biết mình là ai, nếu không muốn biết mình sẽ là người thế nào: chúng ta hãy tự nhận biết mình ở ông lão kia, ở bà già nọ. Cần phải như vậy nếu chúng ta muốn đảm nhận thân phận con người của mình một cách trọn vẹn. Chỉ có như vậy, chúng ta mới không còn chấp nhận một cách thờ ơ nỗi bất hạnh của lứa tuổi cuối cùng, chúng ta sẽ cảm thấy mình ở trong cuộc: và quả chúng ta ở trong cuộc. Nỗi bất hạnh ấy tố cáo một cách vang dội chế độ bóc lột chúng ta đang sống. Người ta không thể tự mình thỏa mãn nhu cầu của mình, bao giờ cũng bị coi là một gánh nặng. Nhưng trong những tập thể có một sự bình đẳng nào đó - trong lòng một cộng đồng nông thôn, ở một số dân tộc nguyên thủy - người đứng tuổi, tuy không muốn biết, vẫn biết ngày mai thân phận của mình sẽ là thân phận mà ngày hôm nay người đó quy cho người già. Đấy là ý nghĩa truyện cổ tích của Grim, được thuật lại ở mọi miền thôn dã. Một gã nông dân bắt người cha già ăn riêng, trong một cái máng gỗ nhỏ; hắn bất chợt thấy đứa con trai đang ghép những miếng ván. Nó bảo ông bố: “Cho bố đấy, khi bố về già”. Thế là ông già lại ngồi vào bàn ăn cùng cả nhà. Trước lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, các thành viên còn hoạt động trong tập thể sáng tạo nên những sự thỏa hiệp. Tình trạng cấp bách của nhu cầu buộc một số người nguyên thủy giết chết bố mẹ, dù về sau, có phải chịu một số phận như thế. Trong những trường hợp ít căng thẳng hơn, sự phòng xa và tình cảm gia đình chế ngự tính ích kỷ. Trong thế giới tư bản, lợi ích dài hơn không còn tác dụng: những kẻ có đặc quyền và quyết định số phận của đám đông không sợ phải nếm trải số phận ấy. Còn những tình cảm nhân văn chủ nghĩa thì không bao giờ can thiệp tới, mặc dù những lời huyênh hoang dối trá. Cơ sở của nền kinh tế là lợi nhuận; trên thực tiễn, toàn bộ nền văn minh phụ thuộc vào nó: người ta chỉ quan tâm tới tập thể người trong một doanh nghiệp trong chừng mực tập thể ấy có lợi. Sau đó, họ bị vứt bỏ. Tại một hội nghị gần đây, tiến sĩ Leach, nhà nhân chủng học ở Cambritgiơ tuyên bố: “Trong một thế giới đang chuyển động, trong đó máy móc có những cuộc đời rất ngắn ngủi, con người không nên phục vụ quá lâu. Tất cả những gì vượt qua 55 năm tuổi đều phải loại bỏ”[6]. Cái từ “đồ bỏ đi” nói đúng điều nó muốn nói. Người ta kể lể với chúng ta rằng nghỉ hưu là thời gian của tự do và giải trí; có những nhà thơ ca ngợi “lạc thú nghỉ ngơi”. Đó là những lời dối trá vô liêm sỉ. Xã hội áp đặt cho số đông người già mức sống khốn khổ tới mức từ ngữ “già nua và đói nghèo” trở thành hầu như một từ thừa (pléonasme); ngược lại, số đông người bần cùng là người già. Nhàn rỗi không mở ra cho người nghỉ hưu những khả năng mới; vào lúc cá nhân, đến phút cuối cùng, được giải thoát khỏi những sự ràng buộc, người ta tước đoạt của họ mọi phương tiện sử dụng quyền tự do. Họ buộc phải sống lay lắt trong cô đơn và phiền muộn, như một vật phế thải không hơn không kém. Khi trong mười lăm hay hai mươi năm cuối đời, một con người chỉ còn là một vật chẳng ai đoái hoài, thì đó là sự thất bại của nền văn minh chúng ta: sự thật hiển nhiên ấy khiến chúng ta nghẹn ngào nếu chúng ta coi người già là những con người từng có một cuộc sống con người phía sau họ, chứ không phải là những xác chết dật dờ. Những ai tố cáo cái chế độ đọa đày vốn là chế độ chúng ta, phải đưa điều điếm nhục ấy ra ánh sáng. Chính bằng cách tập trung nỗ lực của mình vào thân phận những người xấu số nhất, người ta có thể làm lay chuyển một xã hội. Để phá hủy hệ thống đẳng cấp, Gandhi tìm cách giải quyết thân phận tầng lớp Tiện dân (parias); nhằm tiêu hủy gia đình phong kiến, nước Trung Hoa cộng sản giải phóng phụ nữ. Đòi hỏi con người cứ phải là con người ở lứa tuổi cuối cùng của họ bao hàm một sự đảo lộn triệt dể. Không thể thu được kết quả ấy với một vài cải cách hạn hẹp không đụng chạm tới hệ thống: chính nạn bóc lột người lao động, chính quá trình phân hủy xã hội và sự khốn cùng của một nền văn hóa chỉ dành riêng cho tầng lớp quan lại, dẫn tới những cảnh già nua phi-nhân văn ấy. Chúng chỉ ra rằng cần làm lại tất cả, từ đầu. Chính vì vậy, vấn đề này bị nhấn chìm trong im lặng hết sức kỹ lưỡng; và chính vì vậy, cần phá tan sự im lặng ấy: tôi mong đợi độc giả giúp đỡ tôi trong công việc này.   Mời các bạn đón đọc Tuổi Già Tập 1 của tác giả Simone de Beauvoir.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư
Quyển sách này là phiên bản mới của quyển Tài ba của luật sư xuất bản năm 2010 và tái bản hai lần sau đó. Đó là kết quả của những góp ý từ độc giả, của kinh nghiệm tác giả thu thập được qua các lớp học được tổ chức tại Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh cũng như sự tìm tòi và học hỏi của bản thân trong suốt 5 năm qua. Cũng như sách trước, quyển sách này được viết cho các luật sư mới bước chân vào nghề.  Tựa quyển sách nêu bật một điều kiện tri thức của luật sư, điều mà họ phải có khi hành nghề. Đó là công cụ của họ, giống như người nông dân phải có cuốc. Tư duy pháp lý của luật sư bắt nguồn từ khả năng phân tích của họ và kết quả của nó là các lập luận trình bày cho người khác. Luật sư phải giỏi phân tích vì trong nghề nghiệp của mình, họ phải đương đầu với các sự kiện hay các thực tại nhất định của cuộc sống. Khách hàng không đem một văn bản luật đến cho luật sư mà là một vụ tranh chấp, một vấn đề pháp lý cần có câu trả lời. Đáp ứng cho khách hàng, luật sư phải phân tích vụ việc và đề ra giải pháp phù hợp luật lệ. Vậy trước hết, luật sư biết cách tư duy pháp lý là để phục vụ mình!  Trong một vụ tranh chấp được xét xử ở tòa thì luôn luôn có hai bên. Luật sư của nguyên đơn nộp lý lẽ lên tòa để khởi kiện thay cho thân chủ. Họ khởi đầu một vụ kiện. Ở đó chống đỡ cho thân chủ – bị đơn – là một luật sư khác. Họ giúp kết thúc vụ án. Biết tư duy pháp lý, cả hai nghiên cứu vụ việc một cách “toàn diện, đầy đủ và khách quan”. Do vậy họ sẽ đóng góp nhiều lý lẽ để tòa án xem xét trong quá trình tố tụng. Chính luật sư của nguyên đơn sẽ làm cho công việc ban đầu của thẩm phán thành dễ dàng hay rắc rối. Như thế, tư duy pháp lý của luật sư đóng góp đáng kể cho tòa án.  Trong một vụ tư vấn, luật sư chỉ có đối tác, hiển hiện đâu đó. Tư duy pháp lý giúp họ phân tích vụ việc để thấy trọng tâm, bản chất của nó, hầu đề nghị cách thực hiện đúng và nhanh. Được như vậy là vì sự phân tích trong tư duy pháp lý đòi hỏi luật sư phải có kiến thức.  Tư duy pháp lý trình bày ở đây là một phương pháp, một “cái cuốc”. Nó sẽ giúp các luật sư mới vào nghề, khi chịu học và được chỉ bảo thêm, thì không bao lâu có thể một mình đảm nhận công việc. Ở đây, tác giả cố gắng trình bày phương pháp một cách rõ ràng và tỉ mỉ. Điều đó làm cho quyển sách này khác với các quyển trước có cùng nội dung. Và để cho quyển sách không dày quá, chỉ có một số vụ án mới được thêm vào.  So với quyển sách đầu tiên xuất bản năm 2003, đến quyển năm 2015 này, thời gian đã đủ dài để độc giả quen thuộc với phương pháp trong sách, vốn được du nhập từ nước ngoài và đã được “địa phương hóa”. Tất nhiên cố gắng đó đã không thể là một thành quả nếu không có Nhà xuất bản Trẻ làm ... “bà đỡ” trong thời gian đã nêu cũng như sự giúp đỡ của các bạn bè thân thiết. Dẫu sao, quyển sách này vẫn còn những khiếm khuyết. Lời nói đầu xin được ngưng ở đây với câu: Xin quý độc giả tha thứ và chỉ giáo về những khiếm khuyết, vốn không thể tránh được do sự bất toàn của con người.  Nguyễn Ngọc Bích Tháng 3 năm 2015 *** Đối tượng của quyển sách này là luật sư đang tập sự trong một đoàn luật sư. Nó giúp bạn “kiếm tiền từ thân chủ”. Bởi thế bạn nào còn đang là sinh viên hay học viên, tức đang phải “kiếm điểm từ thầy dạy” thì nên hỏi ý kiến các thầy của mình trước khi dùng.  Bạn có thể hỏi tôi là: Khi học ở Học viện Tư pháp, tôi đã được dạy và đọc nhiều về các kỹ năng của luật sư, vậy TDPL dạy thêm kỹ năng gì? Tôi xin trả lời là đi tìm các câu hỏi pháp lý (legal issue) nằm trong một vụ tranh chấp. Nó đi xa hơn và sâu hơn quá trình nghiên cứu một vụ án mà bạn đã học ở Học viện Tư pháp, vốn được khái quát như sau1:  i. Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án; ii. Đọc lướt qua toàn bộ hồ sơ; iii. Ghi chép các sự kiện chính theo ngày tháng, theo nội dung sự việc, theo sự kiện;  1 “Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ kiện dân sự”; (Hà Nội: Học viện Tư pháp; NXB Công  an Nhân dân, 2007); t.289.  iv. Sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ; v. Suy nghĩ về phương hướng để tìm ra giải pháp giải quyết vụ án có lợi  cho khách hàng của mình.  Để thực hiện công việc ấy, tôi chia quyển sách này ra làm bốn phần:  • Phần một: Giới thiệu với bạn về TDPL và đưa ra các điều kiện bạn phải có, hay phải thay đổi so với trước kia để có thể có TDPL. Tốt nghiệp trường luật xong bạn chưa có khả năng TDPL để làm luật sư; vì trường luật đào tạo bạn làm cán bộ pháp chế (tức là soạn luật để cho người khác áp dụng, và giám sát việc thực hiện luật). Bạn sẽ biết về điều này rõ hơn khi đọc Chương 2 của Phần này.  • Phần hai: Trình bày cách TDPL; gồm phương pháp thực hiện; các vụ án để bạn... luyện chưởng và biết tính chất của các CHPL.  • Phần ba: Đưa ra một số vụ án để các bạn tập làm một mình hầu kiểm tra mức độ sử dụng TDPL.  • Phần bốn: Một số bài đọc thêm để bạn mở rộng kiến thức.  Điều tôi chú trọng trong quyển sách là thu thập các sự kiện, vụ việc để phân tích. Chúng xuất phát từ thực tế, do tôi thu thập từ các bài của báo chí và các bản án của các tòa án khác nhau. Tuy nhiên, tôi không ghi lại các nguồn, số bản án, số báo... vì tôi muốn các bạn chỉ quan tâm đến các sự kiện hay vụ việc có thật để bạn có dữ kiện phân tích; và xin nhấn mạnh, không có một mục đích nào khác. Như đã nói ở Lời nói đầu, số vụ án trong sách này không tăng nhiều so với sách cũ; vì tôi sợ quyển sách sẽ dày như... từ điển, khó cầm. Vấn đề là đi vào chất lượng.  Đây là sách “dạy nghề”, không phải sách nghiên cứu. Ngoài ra vì “cái cuốc” mà bạn muốn trang bị cho mình vốn trừu tượng, nên nhiều khi tôi phải nhấn mạnh, làm cho nó rõ ra bằng hình minh họa, và lặp đi lặp lại ở nhiều chỗ. Việc này giống như cầm tay chỉ việc. Mong bạn không khó chịu vì cứ phải nghe đi nghe lại mãi.  Để đền cho bạn, tôi có nhờ một đồng nghiệp vẽ minh họa ở vài chỗ. Tự nhận họa sĩ tay ngang, người vẽ tên là Huỳnh Thị Kim Hồng.      Mời các bạn đón đọc Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư của tác giả Nguyễn Ngọc Bích.
Nghiệp Tình Yêu
Geshe Michael Roach đã viết cuốn sách Năng đoạn Kim cương. Nó được đặt theo tên của một bộ kinh nổi tiếng giải thích về nghiệp cùng khía cạnh kém quan trọng hơn của nó, đó là khái niệm “không” trong Phật giáo. Nó đã trở thành cuốn sách kinh doanh bán chạy trên khắp thế giới, được dịch ra khoảng 25 thứ tiếng, và được hàng triệu người đón nhận; nổi tiếng nhất là bản tiếng Trung và nó đã giúp nhiều người đạt được tự do tài chính. Từ đó, mọi người bắt đầu mời ông đến nói chuyện về cuốn sách. Kể từ khi cuốn sách ra đời, Geshe cùng các đồng nghiệp tại Học viện Năng đoạn Kim cương đã tiến hành các buổi hội thảo kinh doanh và khóa tu cho hàng ngàn người thuộc nhiều quốc gia. Trong những chương trình này, họ thường tổ chức những buổi thảo luận nhỏ có tên là “Trí tuệ cho cuộc sống hàng ngày,” và ở đó, những người tham gia sẽ có cơ hội đặt các câu hỏi có liên quan đến công ty cũng như sự nghiệp của họ. Một hôm, trong một chương trình ở Trung Quốc, một người phụ nữ đã hỏi rằng liệu Geshe có thể trả lời một câu hỏi không liên quan đến kinh doanh mà về mối quan hệ của cô với chồng được không. Liệu các Nguyên tắc Năng đoạn Kim cương – các nguyên tắc về hạt giống nghiệp – có áp dụng được vào cuộc sống gia đình không? Geshe trả lời rằng, tất nhiên là được; rằng những hạt giống nghiệp trong tâm chúng ta, chịu trách nhiệm cho tất cả mọi thứ và tất cả mọi người xung quanh chúng ta. Đột nhiên, như thể một con đập vừa bị vỡ, mọi người bắt đầu đưa ra những câu hỏi mà từ lâu bị dồn nén về những vấn đề tế nhị nhất liên quan đến mối quan hệ của họ với người bạn đời của mình. Lúc đó, ông nhận ra rằng quan tâm đến các nhu cầu tâm linh – cũng như các nhu cầu cơm áo gạo tiền – không thôi là chưa đủ. Những mối quan hệ thân mật có lẽ chính là nguồn hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời; và chúng cũng có thể trở thành nguồn đau khổ lớn nhất. Nếu chúng ta muốn hạnh phúc, và nếu chúng ta muốn thế giới hạnh phúc, thì chúng ta phải giải quyết vấn đề về mối quan hệ này! Đáng ngạc nhiên là Phật giáo có rất nhiều lời khuyên dành cho chúng ta về mối quan hệ của chúng ta với người bạn đời. Có hàng ngàn quyển sách vô giá, chứa đựng mọi kiến thức về nguồn gốc của mọi sự vật trong cuộc sống của chúng ta, kể cả thông tin về người bạn đời của chúng ta. Chúng là những giáo lý về hạt giống nghiệp. Ngoài ra còn có một bí quyết khác, có tên là Đạo Kim cương, xuất hiện từ hàng ngàn năm trước. Nó cung cấp cho chúng ta những phương cách mới vô cùng độc đáo để gắn kết với người bạn đời của mình và cùng với họ đạt được những đỉnh cao tuyệt đẹp không gì có thể so sánh được. Để đủ tiêu chuẩn viết một cuốn sách về Nghiệp tình yêu, Geshe cảm thấy rằng mình là người may mắn nhất so với những nhà sư đồng đạo vì ông ã trải qua nhiều mối quan hệ trước khi trở thành một nhà sư (phần lớn người Tây Tạng vào tu viện trong độ tuổi từ 7 đến 12). Ngài biết phụ nữ như thế nào – biết những niềm vui mà một mối quan hệ đem lại, cũng như những nỗi đau khổ tột cùng của tình yêu mang lại. Chính bố mẹ ngài Geshe cũng đã phải trải qua một cuộc li dị đầy tổn thương, một sự kết hợp tồi tệ giữa việc yêu nhau nhưng không thể ở cạnh nhau. Và ông nghĩ điều quan trọng nhất là ông đã có một mối quan hệ mà ông cho là thần thánh – ở đó ông biết được sơ qua về mối liên hệ giữa Đức Phật và bà Tilottama, giữa Dante và Beatrice. Trong những năm sau đó, Geshe đã làm vững mạnh thêm trải nghiệm này và đạt được một sự hiểu biết sâu hơn về nó, thông qua hàng ngàn giờ học các giáo lý dưới chân 12 vị thầy vĩ đại của Tây Tạng. Gehse đã được trao cánh cửa bí mật để đi vào những phương pháp tương tác với người bạn đời, và ông đã dành nhiều năm để dịch cũng như nghiên cứu hàng ngàn trang văn bản cổ nói về những phương pháp này. Geshe đã nghiêm túc thử làm theo các phương pháp này và đôi khi thu hút sự chú ý không mong muốn của báo chí cũng như sự giận dữ của giới chức tu viện vì một vài người trong số đó cho rằng những kiến thức này không thể được chia sẻ cho đại chúng. Nhưng ông tin rằng có một thế giới hoàn hảo, ông tin rằng chúng ta có thể, cùng nhau tạo ra nó, và ông tin rằng nó bắt đầu và kết thúc bằng một mối quan hệ hoàn hảo – bằng sự hiểu biết về các mối quan hệ giữa các cặp đôi. Vì vậy, Geshe muốn chia sẻ với bạn những gì ông đã học được để giúp bạn cải thiện mối quan hệ của riêng bạn. Qua nhiều năm, hàng ngàn người từ gần như tất cả mọi nơi trên thế giới đã hỏi Geshe những câu hỏi về những mối quan hệ của họ. Ngài đã chọn lọc ra 100 câu hỏi phổ biến nhất và trả lời chúng ở đây dựa theo tri thức và trí tuệ cổ xưa của Tây Tạng, kèm theo lời chúc tốt lành đến từ trái tim lạt-ma của ngài. Hy vọng nó sẽ giúp được bạn và con người hoàn hảo kia trong cuộc đời bạn. *** Chúng ta đều biết đến câu nói “Gieo nhân nào gặt quả ấy”. Nếu bạn còn mơ hồ về nhân và quả cũng như làm thế nào để gặt được trái ngọt, hãy đến với cuốn sách Nghiệp tình yêu, cách các hạt giống nghiệp hoạt động, bản chất của chúng và cách chúng ta sử dụng các hạt giống để tạo nên cuộc đời như mong muốn càng trở nên rõ ràng. Với nhiều người, khi nghe nói đến chữ nghiệp, họ sẽ cảm thấy người nói là kẻ tâm linh và có chút gì đó không thực tế. Nhưng cuốn sách đã chỉ ra rằng thực chất mọi việc xảy ra với ta đều đến từ bên trong ta, đến từ những việc ta làm, những điều ta nghĩ trong quá khứ. Với 100 câu hỏi nằm trong các mảng nội dụng như tìm kiếm, gắn bó, tình yêu, sự tin tưởng, chung thủy, sống chung, tình dục, giao tiếp, sự an toàn, vui vẻ, một cái nhìn vào tương lai, những đứa con,… đến từ chính những người tác giả từng gặp, ông đã đưa ra những lời giải đáp, và dẫn dắt, hướng dẫn từng người cách giải quyết vấn đề của mình. Những thắc mắc của họ cũng chính là những băn khoăn của rất nhiều người. Trong 100 câu hỏi ấy, bạn chắc chắn sẽ bắt gặp được hoàn cảnh của mình và nhờ cách tác giả chỉ dẫn, bạn có thể tự mình xử lí vấn đề. Chúng ta sẽ dừng oán trách, sẽ ý thức về những việc phải làm, biết cách gieo những hạt giống tốt, và biết cách dừng việc khuếch tán những hạt giống xấu cho cuộc đời mình. Bạn sẽ được biết về Bốn Bước Starbuck, về thiền café, Bốn quy luật nghiệp và nhiều điều thú vị khác nằm trong cuốn sách này. Có rất nhiều nội dung khác nhau trong quyển sách này như tôi đã đề cập ở trên. Khi đọc cuốn sách hãy bắt đầu bằng những câu hỏi đầu tiên để hiểu thế nào là hạt giống, nghiệp và các bước thực hiện. Đến khi bạn nắm được cách thức mọi thứ trong cuốn sách “vận hành”, bạn có thể đi thẳng đến với những nội dung mà mình quan tâm. Chẳng hạn bạn có vấn đề về sự gắn bó với người mình yêu thương, hãy mở trang sách đó và đọc những câu hỏi trong ấy để tìm ra hướng đi cho mình. Sẽ thật khó nếu ta đi qua lần lượt từng trang, vì vậy để cuốn sách thật sự hữu ích, hãy nắm những điều cơ bản, sau đó tìm đến đúng vấn đề bạn cần. Và bạn sẽ thấy, cuốn sách sẽ luôn đưa ra cho bạn được câu trả lời bất cứ khi nào bạn muốn. Tuy nói về tình yêu, nhưng những gì thu lại từ cuốn sách có thể áp dụng cho rất nhiều mối quan hệ khác, với nhiều tình huống khác nhau mà không phải là người yêu, là chồng/vợ mình (cũng hời đó chứ, đây được gọi là học 1 biết 10 chăng) Ủa, vậy rồi ai mà viết về nghiệp và hạt giống vậy? Đó là Geshe Michael Roach. Michael Roach (sinh ngày 17 tháng 12 năm 1952) là một giáo viên phi truyền thống của Phật giáo Tây Tạng. Là một nhà sư theo phái Gelugpa, ông là người Mỹ đầu tiên nhận bằng Geshe tại Tu viện Sera ở Tây Tạng (wikipedia). Geshe là danh hiệu dùng để phong cho một vị đã hoàn tất khóa huấn luyện dài hạn về triết học, giống như một người đạt được học vị Tiến sĩ của Tây Tạng chuyên ngành nghiên cứu Phật giáo. Ông cũng vô cùng nổi tiếng về thuyết năng đoạn kim cương của mình trong kinh doanh (trong trường hợp bạn hứng thú thì có khóa học Năng đoạn kim cương). Qua tìm hiểu có thể thấy có rất nhiều tranh cãi trong vai trò nhà sư Phật giáo của ông như ông vẫn để tóc dài và chung sống cùng một người phụ nữ (hi vọng điều này sẽ không ảnh hưởng đến cách bạn cảm nhận cuốn sách) Đây không phải là cuốn sách dành cho ai thích những gì nhẹ nhàng, giải trí. Khi đọc nó, bạn sẽ thấy như mình không thể đọc được hết cuốn sách ngay lập tức, bởi vì có thể sau mỗi câu hỏi bạn có thể sẽ phải dừng lại và ngẫm nghĩ để thật sự hiểu và nắm bắt được nó. Với tôi, cuốn sách giống một cuốn cẩm nang, để những khi cảm thấy đầu óc tràn ngập trong suy nghĩ, tôi mở ra, tìm đọc các câu hỏi và tìm thấy lối đi cho mình. Nhờ cuốn sách này, tôi trở nên tự tin hơn vì cảm thấy làm chủ được cuộc sống, không còn tìm kiếm giải pháp ở đâu xa ngoài chính mình, không cần trông chờ ai đó đến giải cứu mình nữa. Tôi đã thử áp dụng các hạt giống nghiệp, và kết quả tuyệt vời hơn những gì tôi cho đi. Tôi nghĩ rằng đây là một cuốn sách nên đọc, đặc biệt khi bạn cảm thấy mình đang nhận quá nhiều điều tồi tệ, thì rất có thể rằng đó là do bạn đã gieo chúng lúc trước và giờ chúng xuất hiện trên chính bạn. Và nếu bạn đang có cuộc sống tuyệt vời thì bạn sẽ biết mình đang gieo những hạt giống tốt đẹp và biết cách khuếch tán chúng lên. Một cuốn sách hay là khi bạn đọc nó vào đúng thời điểm nhận thức, sóng của bạn cùng rung một tần số với cuốn sách ấy. Chúc bạn có thời gian vui vẻ bên cuốn sách!                                                       Ngồi xuống, tĩnh lặng và thả mình vào trang giấy                                            _Mindful_Review Mời các bạn đón đọc Nghiệp Tình Yêu của tác giả Geshe Michael Roach.
Bạn Không Thông Minh Lắm Đâu
Hiệu ứng Dunning-Kruger Bạn Vẫn Tưởng Bạn có thể dự đoán được chính xác khả năng của mình ở mọi tình huống. Sự ThậT Là Về cơ bản thì bạn khá kém trong việc đánh giá khả năng của bản thân và độ khó của những công việc phức tạp. Hãy tưởng tượng rằng bạn chơi rất giỏi một trò nào đó. Trò nào cũng được - cờ vua, Street Fighter1, bài poker - không quan trọng. Bạn thường xuyên chơi trò này với lũ bạn và lúc nào cũng thắng. Bạn cảm thấy mình thật giỏi, và bạn tin rằng mình có thể giành chiến thắng ở một giải đấu nếu có cơ hội. Vậy là bạn lên mạng tìm xem giải đấu khu vực sẽ diễn ra ở đâu và khi nào. Bạn trả phí tham gia và rồi bị hạ đo ván ngay trong hiệp đầu tiên. Hóa ra là bạn không giỏi lắm đâu. Bạn cứ nghĩ rằng mình thuộc dạng đỉnh của đỉnh, nhưng mà thực chất bạn chỉ là một tay ngang thôi. Đây được gọi là hiệu ứng Dunning-Kruger, và nó là một phần cơ bản trong bản chất của con người. Hãy thử nghĩ về những ngôi sao Youtube mới nổi trong mấy năm gần đây - những người múa máy một cách vụng về với các loại vũ khí, hoặc là hát chẳng bao giờ đúng tông cả. Những màn trình diễn này thường rất tệ. Không phải họ cố tình dùng bản thân để mua vui cho người khác đâu. Trình độ của họ thực sự tệ, và chắc hẳn bạn cũng thắc mắc là tại sao lại có người có thể tự đặt mình lên một sân khấu toàn cầu với những màn trình diễn đáng xấu hổ như vậy. Vấn đề nằm ở chỗ họ không tưởng tượng được là công chúng toàn cầu có thể khắt khe và đòi hỏi cao hơn so với lượng khán giả nhỏ bé họ vốn đã quen thuộc là bạn bè, gia đình và những người đồng cấp. Như nhà triết học Bertrand Russell đã từng phải than thở: “Trong thế giới hiện đại ngày nay thì những kẻ khờ khạo luôn tự tin hết mức trong khi những người khôn ngoan thì lại luôn nghi ngờ.” Hiệu ứng Dunning-Kruger là lý do tại sao mà những chương trình như America’s Got Talent1 hay American Idol2 có thể diễn ra. Ở trong phòng karaoke với lũ bạn, bạn có thể là người hát hay nhất. Nhưng để đối chọi với các thí sinh trong cả một quốc gia? Khó lắm. *** Nói cho vuông thì sách chỉ đáng 3.5* thôi, nhưng vì là sách mượn mà người mượn còn chưa đọc nên mình dúi thêm cho 0.5 * nữa, gọi là Tô có ghi công :sss Cuốn sách trình bày về các hiện tượng tâm lý thường gặp (ai hay theo dõi page “10 sự thật thú vị” trên facebook thỉnh thoảng sẽ gặp những bài tương tự và vừa hay, admin của trang cũng đang PR cho cuốn này :))) Chắc do đã đọc nhiều bài viết về lĩnh vực này nên mình không choáng ngợp đến mức sững sờ về nội dung sách :sss Dù vậy, có một cuốn sách tổng hợp lại và Việt hóa triệt để các thuật ngữ tiếng Anh (hay Đức kiểu Baader-Meinhof = thiên kiến xác nhận) thì cũng tiện cho tra cứu và chấn chỉnh bản thân mỗi khi lên cơn vĩ cuồng :3 Đọc xong dễ nảy sinh ham muốn lôi người khác ra test và nghiêm túc tập ngồi thiền, vì rõ ràng, với một tâm trí quá náo động dẫn tới quá tải như tâm trí người phương Tây thì không có gì lạ nếu nó mắc chứng này tật nọ. Giờ đến phần bình xét :sss 1. Hình thức sách =)))) Cái bìa như muốn gào vào mặt độc giả: Bạn không biết chữ như bạn tưởng đâuuuuu :/ và ngoài ra, người đọc có thể gặp chứng mù màu đột xuất :3 Sách dày nhưng đóng keo ở gáy hơi mỏng nên chưa gì đã bị gãy gáy :
Đức Tự Chủ
Nếu con người tự nhiên hoàn toàn thì không cần bàn vấn đề tự chủ. Song, tiếc chút là con người tự nhiên không hoàn toàn. Những yếu tố căn bản cấu thành bản chất người như lý chí, ý chí, bản năng thường hoạt động không đồng hợp. Lý trí dùng khai quang chân lý lại hay bị ý chí lôi cuốn: Lấy hư làm thực. Ý chí có đối tượng đặc biệt là hạnh phúc, lại nhiều lần bị bản năng chi phối quyến rũ: Lấy dữ làm lành. Có hai lực lượng chính và tà ác liệt tranh đấu thường xuyên trong mỗi con người. Ta cần có một năng lực đanh thép để tự hướng về con đường chính. Ai trong chúng ta cũng tự nhiên ưa ăn nhiều, ưa ở không, ưa kiêu ngạo, ưa bón kiết, ưa dâm tà… Epicure nói trong mỗi người có một (con heo). Nhưng kỳ thực chẳng những có một (con heo) mà nhiều (con vật) khác tà ác, thúc đẩy con người đi sai đường lối, định mạng mình. Phải làm sao chế ngự được mình, hoàn toàn làm chủ lấy mình, nói năng, hoạt động do huấn luyện ý thức của mình thì mới đi vững trên nẻo chính, mới mong xây cho cuộc đời một chân giá trị trường cửu. Cái bí quyết của thành công, cái miếng nghề của hạnh phúc, cái chìa khóa giá trị đời ta, thưa bạn là Đức tự chủ. Có nó ta có thể có tất cả. Không có nó ta chắc chắn sẽ không làm nên được việc gì. Thành công được không? Một người trong bất cứ công việc chi hễ vui làm, buồn thôi. Thành công được đại sự không? Kẻ không ép mình chịu khó thu hoạch những thành công nhỏ-nhỏ. Hạnh phúc được không? Một con người gặp trở lực, gặp sầu buồn thì bi quan ngập đời sống, thối chí và bỏ ăn bỏ ngủ. Giá trị bao nhiêu? Con người gặp nghịch ý chút là mắt trợn dọc, miệng la rùm và chân nhảy đong đỏng. Thưa bạn! Vậy cần thiết bạn phải lo cho mình có đức tự chủ để thành công. Bạn phải làm sao bạn chỉ nói những gì bạn tự ý muốn và không làm những gì mình muốn không làm. Bạn phải đặt cho bộ thần kinh bạn một dây cương chế ngự nó và bắt nó ngoan ngoãn tuân lệnh ý chí trui rèn rất già của bạn. Về mặt tiêu cực bạn phải coi như dịch tả1 những tật nói xàm xạp, tật múa tay chân cách vô lý, tật háo động không cần, tật vụt chạc, tật đa tình, đa cảm, đa xúc, tật hay than thân trách phận, bàn chuyện tâm phúc vô ích, tật náo động tâm thần, phiêu lưu trong biển tưởng tượng, mộng mơ vô bờ bến, tật thả hồn trong những tư tưởng hắc ám, dâm ô, bi quan, sầu tủi, hối tiếc, nản lòng… Về mặt tích cực bạn hãy thinh lặng, thinh lặng ít nói đã đành mà thinh lặng trong hành động nữa. Cử động điềm đạm. Hoạt động khi cần thôi, làm gì cũng chỉnh đạt, chu đáo. Có ý chí gang thép. Ưa trầm lặng suy nghĩ, cân đo, dè dặt. Ăn chịu đau khổ. Tìm trong đau khổ, cô đơn nguồn hứng thú. Không tư tưởng chi cần thiết, thì để tâm thần tịnh không. Dùng ý chí hướng dẫn não tưởng tượng cho có chừng mực. Thường thả hồn lên giới tư tưởng, siêu thiêng trong sạch. Nuôi óc bằng những ý tưởng bác ai, hi sinh, lạc quan, ưa đời, hi vọng, kiên nhẫn… Để giúp bạn tự chủ, để tập những điều khuyên trên, chúng tôi viết phỏng quyển sách này. Gọi là viết phỏng song nhiều chỗ trong nguyên văn chúng tôi đích xác. Và dù phiên dịch hay phỏng dịch chúng tôi bao giờ cũng lột hết đại ý của tác giả và trình bày theo tinh thần tiếng mẹ. Chỗ nào tác giả lập lại hay nói không hay, không cần [thì] chúng tôi miễn dịch để thêm vô chút ít riêng những gì bổ ích cho cuộc rèn luyện tâm hồn bạn. Làm công việc này, chúng tôi nhớ trước hết là giới nam và nữ thanh niên. Chúng tôi xin cung hiến riêng cho quí bạn. Chúng tôi trông cậy quyển sách này mỗi bạn đều có nó bên mình để tự luyện tinh thần tự chủ. Chân trời tương lai của bạn sẽ rực rỡ ánh sáng thành công, hạnh phúc, hay âm u những thất bại, khốn nguy, là do bạn có cái chìa khóa và biết sử dụng chìa khóa này [hay] không. Chúng tôi đã trộn tâm tưởng mình với tâm tưởng tác giả để cung hiến bạn mấy giòng chân thành sau đây. Xin bạn chịu khó đọc kỹ lưỡng, suy nghĩ, học thuộc lòng những qui tắc và thực tập những bài chúng tôi chỉ. Sau một tháng áp dụng các phương pháp trong sách này bạn sẽ thấy đời bạn đổi mới cách lạ. Bạn sẽ nghe trong người bạn cường dũng. Bạn sẽ ảnh hưởng bao kẻ xung quanh và ai giao tiếp bạn cũng nhận rằng mình đang bị lôi cuốn, thu phục bởi một dũng lực khác thường. Chúc Bạn mau đoạt kết quả mỹ hảo, như ý, và thân mến chào bạn.   HOÀNG XUÂN VIỆT Sài Gòn, cuối đông 1954 *** 1. Bạn! Trong đời sống bạn có muốn thành công mọi việc không? Bạn có mong ước sự thành công dưới mọi hình thức, thứ thành công chính đáng, duy nhất, mà người lương thiện có thể tìm được chăng? Chắc chắn bạn ước mong, bạn muốn cách cương quyết. Vậy thì xin bạn hãy rất mực chú ý đọc và học quyển sách này. Chúng tôi hân hạnh tặng nó cùng tất cả những ai có tham vọng cao cả, thiện dụng những phú bẩm cá biệt của mình và những hoàn cảnh để canh tân địa vị, để tự hoàn thiện về đường tân đức và gây xung quanh mình ảnh hưởng tốt đẹp. Viết quyển sách này chúng tôi không có tham vọng làm văn, mà chỉ với mục đích cung hiến độc giả một Phương pháp Thực Hành và rõ rệt đảm bảo chắc chắn cho độc giả mọi thành công. Quả thực trong mấy trang này, chúng tôi xin trân trọng tặng chiếc chìa khóa, giúp bạn mở dần dần các cánh cửa khác nhau của thành công. Sau cùng nhờ chìa khóa này bạn được vào tận lâu đài bí nhiệm của thành công và hạnh phúc; không có chìa khóa này, bạn sẽ nhu nhược chôn vùi trọn kiếp đời sống mình trong đám quần chúng vô số những kẻ xoàng xoàng, thất bại của cuộc sống. 2. Chiếc chìa khóa nhiệm lạ này, thưa bạn! tức là Đức Tự Chủ Bạn hãy làm chủ lấy bạn. Bạn sẽ sử dụng có lợi nhất những năng lực mà nhân tính đã đặt định để bạn dùng mà bạn bỏ không; bạn sẽ ứng dụng có kết quả khả quan những hoàn cảnh; bạn sẽ trong một chừng mực nào đó chế ngự những hiện tượng mà không để bị chúng lôi cuốn, quản trị bạn. Hãy khắc ấn sâu vào tâm não bạn quyết định này là không tự chủ bạn sẽ không thành tựu được công việc gì cả. Bạn nên trầm nghĩ một chút. Những phú bẩm tinh thần minh suốt nhất không đảm bảo đủ cho bạn thành công. Bạn coi những kẻ đồng đăng bạn xưa bây giờ làm gì, những kẻ thuộc hạng có thiên phú dồi dào nhất phần nhiều người ta thất vọng; họ vất vơ sống cách đáng tiếc khi bao nhiêu kẻ khác xem ra ít tài năng hơn mà đã xây dựng cho mình những địa vị rực rỡ. Tại sao thế? Tại họ thiếu nghị lực cần thiết chứ gì. Khởi thắng là thứ bông hoa khó trồng, không phải đất nào cũng hợp; nó cần có ánh sáng mặt trời ý chí để rực nở nữa. Những cuộc thành công vĩ đại đâu phải chỉ vì số may. Ở dương thế này, mọi người không lúc này thì lúc khác đều gặp cơ hội thuận tiện, kẻ tự chủ nhanh chóng chụp lấy thời cơ, kẻ bạc nhược vì bỏ qua cơ hội nên chính sự yếu đuối của họ gây khó cho họ chớ không phải số phận. Thời vận là con chim hay đổi tính, nếu nó đáp cánh sát bạn, bạn phải lo chụp, bằng không nó vụt bay mất. Vậy xin bạn đừng bảo thất bại là con đẻ của bạc mệnh. Giữa bao nhiêu khó khăn bạn hãy anh dũng tranh đấu; sau cùng bạn sẽ chiến thắng mọi trở lực. Vật không động lực, sống bấp bênh như lục bình mặc tà ác cuốn lôi. Mỗi giờ phút bất động khiến cho tình thế nó thêm nguy ngập. 2. Nếu bạn muốn cảm thấy cách xâu xa sự cần thiết tự chủ thì hãy để vài phút hồi tưởng dĩ vãng của mình, bạn hãy nghiệm xét lịch sử đời tư mình Các công việc bạn có thịnh hành như bạn nguyện vọng không? Bạn học tập có tiến triển khả quan chăng? Tài năng bạn có gây ảnh hưởng gì trong xã hội không? Đời sống tinh thần và tâm đức của bạn có được nâng đỡ đúng cùng lý tưởng cao cả mà bạn thấy thì có những ước vọng tốt đẹp chăng? Nếu thành tâm tự xét, bạn sẽ mau mắn nhìn nhận sự canh tân thêm cho tình trạng mình và có thể hoàn toàn đổi lối cho nó nữa. Bạn đã không biết lợi dụng cơ hội thuận tiện này, lầm lẫn trong quyết định kia, đã thiếu tinh thần tiếp tục trong hoàn cảnh nọ. Và bạn cũng đã lùi bước trước một cuộc tiến nào đó không kém quan hệ. Bạn à! Tại sao bạn lại hành động thế ấy? Tôi bói đúng bạn trả lời sao. Bạn để mình bị lôi cuốn bởi một cơn bồng bột vô nghĩa, hoặc bởi một sức giục nóng nảy. Có khi bạn không thể chế ngự tính nhút nhát, hay mà bạn tâm tính tự tỷ mà bạn cảm [thấy] rất khổ đau trong những giờ phút mệt mỏi, thất bại. Lần khác bạn vụt nói một tiếng chua chát, cười nhạo, tuy có thể tha thứ được, song đã khiến bạn gieo ác cảm tai hại rất mực cho sự thành công. Còn nữa, nhiều lắm, nhiều lần bạn hành động theo dục tính thúc đẩy mà bất chấp tiếng nói của lý trí. Bạn không phải là một người tự chủ mà biến thành một con người máy, biến thành cái lò xo hễ động là bung… Con người muốn có giá trị, thưa bạn, đâu thể vậy được mà phải quản trị óc tưởng tượng, bộ thần kinh mình và hành động theo trí tuệ ý chí.   4. Trong quyển sách bé con này bạn sẽ tìm gặp một phương pháp luyện tự chủ trong một thời gian ngắn PHƯƠNG PHÁP cực kỳ đơn giản. Chúng tôi cố gắng gạn lọc bớt những lý thuyết hay bàn cãi không đưa dẫn trực tiếp đến thực hành. Phương pháp cực kỳ hiệu nghiệm.–Bạn cứ thí nghiệm những điều chúng tôi chỉ đi. Kinh nghiệm riêng sẽ chứng cùng bạn những điều chúng tôi nói là sự thật. Phương pháp để theo.–Nó chỉ đòi buộc vài sự cố gắng cần thiết. Bạn sẽ thấy dễ dàng thực hiện nó vì chúng tôi trình bày rõ ràng và bạn thực hiện nó mà cảm thấy hứng thú. Thực hành nó bạn mê say như mê say một môn thể thao chớ không phải nghe mình bị áp bức bởi luật lệ. Nó tăng dần những việc bạn cần luyện tập để từ từ làm chủ lấy mình mà khỏi phải Ép mình cực nhọc. Leo lên lầu một nhà cao tầng bằng thang máy êm ái, dễ leo hơn là một cây thang bắt dựng đứng khiến ta leo suýt cúp cổ. Cũng thế ấy mỗi ngày bạn sẽ cảm thấy bạn chắc chắn thành công trong việc tự chủ bằng những phương pháp hiệu nghiệm. Bạn hãy: Quen tưởng nhiều về những đức tính mà chúng tôi vừa chỉ cho bạn. Suy nghĩ kỹ rồi bạn sẽ tự bảo rằng: “Quả là một phương pháp siêu vượt các phương pháp khác giống vậy gặp trong những sách viết lộn xộn, đọc nát óc và đòi buộc nhiều việc mà ý chí còn non mềm không dễ gì thực hiện được”. Vậy bạn nên tín nhiệm hoàn toàn và theo sát từng điểm những lời khuyên của chúng tôi. Nếu bạn trung thành thực tập các lời khuyên ấy, thì bạn sẽ nhận thấy rõ ràng con người bạn ngày càng thay đổi dũng cường tốt đẹp.   5. Làm sao bạn dùng quyển sách này Bạn hãy đọc chậm, đọc chậm từng chương. Đọc và tiêu hóa xong các điều viết trong chương trước, rồi hễ qua chương sau. Muốn thành công trong việc tự chủ bạn đừng hấp tấp. Nhất là bạn đừng cẩu thả những việc luyện tập mà chúng tôi chỉ định. Chúng cấu thành một thứ thao luyện tâm linh và bạn sẽ được những kết quả khả quan bằng một sự thúc đẩy tinh thần. Khi mà bạn cảm nhận có tấn tới chút gì thì bạn dùng sự tấn tới ấy ám thị mình. Bạn sẽ chạy mau trong sự cải hóa đời mình. Bạn hãy tự nói những lời này hay là những lời giống vậy. “Chắc chắn là tôi cải tân tôi. Tôi mới tự kiểm soát mình trong một việc khó mà trước kia tôi không làm được. Tôi trở thành một con người cương dũng vì tôi biết sử dụng ý chí tôi. Tôi không để những lực lượng tâm linh tôi không sinh lợi ích gì và tôi dùng tất cả năng lượng, khí lực của tiềm thức tôi. Dồi rèn phú bẫm của tôi như vậy, mỗi ngày tôi làm chủ lấy tôi. Thế là tôi đã khởi sự chiếm đoạt lý tưởng của tôi và trở thành người mà tôi mơ ước trở thành”. 6. Khi bạn đã ngẫm nghiền xong những tư tưởng chứa đựng trong chương nói đầu này thì bạn hãy nghiên cứu những trang sau. Bấy giờ là bạn đã tiêm nhiễm tận đáy lòng phương pháp rồi vậy Bạn nhắm thành công à? Bạn sẽ thành công mau hay không tùy bạn trung thành cùng không trong việc thi hành phương pháp chúng tôi chỉ cho bạn. Mời các bạn đón đọc Đức Tự Chủ của tác giả Hoàng Xuân Việt.