Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Đứa Con Của Thuyền Trưởng Grant - Jules Verne

Những đứa con của thuyền trưởng Grant là một câu chuyện phiêu lưu hấp dẫn từ đầu đến cuối. Câu chuyện là cuộc hành trình của 2 người con đi tìm cha sau một vụ đắm tàu. Trên đường thám hiểm, thuyền trưởng Grant đã gặp nạn và cầu cứu đất liền bằng cách thả chai thủy tinh xuống biển. Một trong những bức thư đó đã đến được bờ biển quê hương của thuyền trưởng Grant. Một đoàn thám hiểm được thành lập. Trên đường đi tìm thuyền trưởng Grant, đoàn người đã trải qua nhiều sóng gió, thủy thủ nổi loạn, bị thổ dân bắt làm tù binh. Cuối cùng, bằng sự dũng cảm, mưu trí, đoàn tìm kiếm đã thoát khỏi nguy hiểm và tìm được thuyền trưởng Grant. Câu chuyện hấp dẫn với những tình tiết lý thú sẽ lôi cuốn độc giả, đặc biệt là những người thích phiêu lưu mạo hiểm.  *** Jules Gabriel Verne sinh ngày 8 tháng 2 năm 1828 tại Pháp và được coi là cha đẻ của thể loại Khoa học viễn tưởng. Để theo đuổi việc viết văn, Jules Verne đã bỏ học luật, nghề cha ông định hướng. Cuốn tiểu thuyết đầu tay thành công Năm tuần trên khinh khí cầu (1863) đã mở đầu cho hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng về sau của Jules Verne như Cuộc Thám Hiểm Vào Lòng Đất (1864), Hai vạn dặm dưới biển (1870), 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới (1873)… Các  tác phẩm của ông được dịch khắp nơi trên thế giới. Jules Verne mất ngày 24 tháng 3 năm 1905. Sau khi ông qua đời, nhiều tiểu thuyết chưa in của ông vẫn được tiếp tục xuất bản. *** Ngày 26 tháng 7 năm 1864, một chiếc tàu buồm lộng lẫy băng băng lướt trên sóng kênh Bắc Cực theo hướng gió Đông - Bắc đang thổi mạnh. Trên cột buồm trước của tàu phất phới lá cờ Anh, còn trên lá cờ hiệu màu xanh da trời nơi đình cột buồm cao nhất nổi lên hai chữ thêu kim tuyến " E" và 3G". Chiếc tàu buồm ấy mang tên " Duncan" và người chủ của nó là huân tước Edward Glenarvan, hội viên quan trọng nhất của câu lạc bộ thuyền buồm nổi tiếng khắp vương quốc liên hiệp Anh. Trên boong tàu Duncan " có huân tước Glenarvan với người vợ trẻ là huân tước phu nhân Helena và người anh họ của huân tước - thiếu tá Mac Nabbs. Mới đây không lâu, ngoài biển khơi, cách vịnh Fort of Clyde vài dặm, đã diễn ra cuộc chạy thử chiếc tàu buồm này và bây giờ chiếc tàu đang quay trở lại cảng Glasgow. Nơi chân trời hiện rõ đảo Arran. Khi ấy, người thủy thù trực phiên cho biết có một con cá to nào đó đang bơi sau tàu "Duncan". Thuyền trưởng John Mangles lập tức ra lệnh báo cho huân tước Glenarvan biết và huân tước, có thiếu tá Mac Nabbs đi cùng, đã lên ngay tầng lái. - Anh cho biết, theo anh đó là con cá gì? - Huân tước hỏi thuyền trưởng. - Thưa Huân tước, tôi nghĩ đây là một con cá mập bự. - John Mangles đáp. - Cá mập ở vùng nước nầy? - Huân tước kêu lên. - Điều đó không còn nghi ngờ gì nữa, - thuyền trưởng nói tiếp; Những con cá mập như thế này ở biển nào và vì độ nào cũng thấy có cá. Đó là con cá búa. Hoặc là tôi lắm lẫn hoặc là chúng ta đang phải đưng đầu với một trong những con quái vật chết tiệt. Nếu như ngài huân tước cho phép và huân tước phu nhân Glenarvan vui lòng chứng kiến một cảnh săn bắn cá thú vị, thì chúng ta sẽ có thể mau chóng biết đích xác đó là con cá gì? - Còn ý kiến bác thế nào, bác Mac Nabbs? Glenarvan quay sang hỏi thiếu tá. - Chúng ta nên bắt nó chăng? - Tôi hưởng ứng trước tiên của chú, - thiếu tá điềm nhiên trả lời. - Nói chung, cần phải tiêu diệt nhiều càng tốt những con vật ăn thịt người ấy. John Mangles phán xét, - Nhân cơ hội này ta vừa được thấy một chuyện lạ thường, lại vừa làm một việc có ích. - Vậy thì ta bắt đaâu John - Huân tước Glenarvan nói. Ông sai người báo cho vợ biết và huân tước phu nhân Helena rất thích thú với cuộc săn cá hấp dẫn sắp diễn ra, đã vội vàng lên ngay tầng lái với chồng. Biển lặng sóng, nên từ đài chỉ huy theo dổi mọi hoạt động của con cá mập chẳng khó khăn gì; lúc thì nó lặn ngụp, lúc thì nó vọt thật mạnh lên mặt nước. John Mangles ra những mệnh lệnh cần thiết. từ mạn thuyền bên phải, các thủy thủ thả xuống biển một sợi dây cầu chác chắn. Lưỡi câu mốc một miếng thịt heo to làm mồi. Con cá mập háu ăn, mặc dù ở cách tàu "Duncan " đến 50 yards (1), nó đã đánh hơi thấy mồi và nhanh chóng đuổi kịp tàu. thấy rõ những cái vẫy của nó, đuôi vẫy màu xám, chân vãy màu đen, băng băng rẻ sóng, còn cái đuôi thì giúp nó giữ đường bơi thằng không chê được. Con cá mập càng bơi đến gần tàu, mọi người càng nhìn thấy rõ đôi mắt lồi to thâm ẩn của nó. Khi nó lật ngửa người cái mồm của nó để lộ bốn hàm răng, cái đầu của nó hé ra nom giống như một cái búa kép cấm vào càm. John Mangles đã không lầm - đó đúng là con cá mập háu ăn nhất - con cá búa. Cả hành khách lẫn đội thủy thủ tàu " Duncan " đều hết sức chăm chú theo dõi con cá mập. Kìa, nó đã đến sát lưỡi câu, kìa, nó đã ngữa mình lên đớp mồi cho dễ. Loang một cái, cả miếng mồi to tướng đã mất hút trong cái mồm tộng hoắc của nó, lai loang một cái, con cá mập giật mạnh sợi dây và bị mắc lưỡi câu. Các thủy thủ liên tranh thủ thời gian dùng hệ thống ròng rọc gắn vào trụ buồm lớn kéo con cá mắc câu lên. Con cá mập cảm thấy đang bị tách ra khỏi môi trường tự nhiên thân thuộc, nên giãy giụa một cách tuyệt vọng. Nhưng người ta đã nhanh chóng trị được nó bằng cách quăng dây thòng lọng xiết cứng đuôi, làm tê liệt hoạt động của nó. vài giây sau, con cá mập đã được trục lên khỏi mạn tàu và quăng trên boong. Lập tức, một người trong đám thủy thủ thận trọng tiến lại gần con cá mập và lấy rìu chặt mạnh một nhát đứt phăng cái đuôi kinh khủng của nó. Cuộc săn đã kết thúc. Chẳng còn gì đáng sợ con quái vật nữa. ý định trả thù của những người thủy thủ đã được thỏa mãn, nhưng tính tò mò của họ thì chưa. Cần phải nói rằng, trên tất cả các tàu biển người ta có quy định phải khám nghiệm kỹ lưỡng dạ dày của cá mập. Những người thủy thủ thừa biết giống cá mập háu ăn này rất liều mạng, nên thường chờ đoơi cuộc khám nghiệm như vậy đem lại một sự bất ngờ nào đó, và sự chờ đợi của họ không phải bao giờ cũng uổng công. Huân tước phu nhân Glenarvan không muốn tham dự cuộc mổ xẻ gớm ghiếc này đã dđ lên mui tàu. Con cá mập vẫn còn thở. Nó dài 10 feet (2) và nặng 600 pound 3. Đó là kích thước và trọng lượng thông thường đối với loại cá mập này. Nhưng cá búa, dầu là không phải giống cá mập to nhất, song lại được coi là giống cá nguy hiểm nhất. Chẳng mấy chốc con cá to tướng ấy đã bị người ta dùng rìu phanh thây mà không cần thủ tục gì cả. Chiếc lưõi câu đã lọt xuống tận dã dày con cá. Hóa ra cái dạ dày của nó rổng tuếch. Có lẽ con cá mập đã ăn chay từ lâu. Những người thủy thủ thất vọng, đã định quẳng con cá mập xuống biển, bỗng phó thuyền trưởng để ý thấy một vật gì đó bám chặt vào nội tạng con cá. - Ồ, cái gì thế này? - Ông ta kêu lên. - Ừ đúng rồi, một mảnh đá, con cá mập đã nuốt mảnh đá để giữ thăng bằng khi bơi, - một thủy thủ đáp. - Làm gì có chuyện ấy! - Một thủy thủ khác lên tiếng, - Đó chỉ đơn giản là một miếng mồi mà thôi; miếng mồi ấy đã trôi vào dạ dày con cá và chưa kịp tiêu hóa. - Im đi các cậu! - Phó thuey-én trưởng Tom Austin xen vào câu chuyện. Các cậu không thấy con cá này là một con sâu rượu sao? Để không mất đi cái gì cả, nó không những đã nốc cạn rượu maàcòn nuốt luôn cả chai nữa. - Thế đó! - Huân tước Glenarvan kêu lên - Một cái chai trong bụng con cá mập? Một cái chai chính cống, - phó thuyền trưởng khẳng định. Nhưng có lẽ, cái chai này đã ra khỏi hầm rượu từ đời tam hoánh nào rồi. Vậy thì Tom, huân tước Glenarvan nói: - anh khui nó ra, nhưng hãy cẩn thận đó. Vì trong những cái chai tìm thấy ở biển thường có những bức thư quan trọng. - Chú nghĩ vậy ư! Thiếu tá Mac nabbs hỏi: - Ít nhất cũng có thể là như thế. - Ồ, tôi sẽ không tranh luận với chú, - thiếu tá đáp lại. - Không chừng cái chai này ẩn giấu điều bí mật nào đấy cũng nên. - Bây giờ đây chúng ta sẽ biết điều đó, - Glenarvan thốt lên. Tom, anh cho rửa sạch chai đi, rồi đưa lên mui. Tom tuân lệnh và cái chai tìm thấy trong bối cảnh lạ lùng ấy chẳng bao lâu đã được để trên bàn trong căn phòng chung. Huân tước Glenarvan, thiếu tá Mac Nabbs, thuyền trưởng John Mangles và huân tước phu nhân Helena - quả người ta nói không ngoa rằng mọi người phụ nữ đều tò mò - đứng vây quanh bàn. Ở trên biển, bất kỳ điều nhỏ nhất nào cũng trở thành một sự kiện. Mọi ngưòi im lặng chừng một phút. Ai nấy đều nhìn cái chai mỏng manh cố đoán xem trong đó đựng cái gì. Bí mật của một tai nạn đấm tàu ư, hay đơn giản là bức thư của một người đi biển vô tích sự nào đó phó mặc cho sóng gió? Nhưng đã đến lúc cần khám phá xem sự thế ra sao, và huân tước Glenarvan bắt đầu xem xét cái chai, sau khi đã có những biện pháp cần thiết đề phòng trường hợp bất trắc xảy ra. Lúc ấy nom ông giống như một điều tra viên hình sự đang phân tích một trọng tội. và đương nhiên ông ta chăm chú vào công việc như vậy là đúng, bỡi vì thường khi cái tưởng không đâu lại có thể hé mở rất hiều điều. Trước khi mở chai. Glenarvan xem xét kỹ bên ngoài cỏ. Cổ chai dài, cứng cáp còn nguyên đoạn dây thép buộc đã bị gỉ. Thành chai chắc chắn tới mức có thể chịu được áp suất vài atmasphete. Điều ấy nói lên rằng đây là một cái chai đựng rượu Champagne. Đó chính là cái chai mà các nhà trồng nho tên là Épernay và Ai đã đập vào thanh ghế, nhưng không hề bị một vết nứt nhỏ nào. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chính cái chai ấy đã có thể vượt qua mọi thử thách của những cuộc viễn du. ... Mời các bạn đón đọc Những Đứa Con Của Thuyền Trưởng Grant của tác giả Jules Verne.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bác Sĩ Cuối Cùng Dưới Tán Hoa Anh Đào
[REVIEW] "BÁC SĨ CUỐI CÙNG DƯỚI TÁN HOA ANH ĐÀO" - NIỀM TIN SẼ TẠO NÊN KÌ TÍCH? - CUỐN TIỂU THUYẾT HẤP DẪN VÀ XÚC ĐỘNG KHÔNG THỂ BỎ QUA - "Bác sĩ cuối cùng dưới tán hoa anh đào" của tác giả Atsuto Ninomiya là cuốn tiểu thuyết tâm lí - y học mới được phát hành vào ngày 28/5 bởi Ai Novel. Ngoài phần mở đầu ngắn, cuốn sách gồm 3 chương chính tương ứng với 3 cái chết đặc biệt của nhân viên văn phòng, sinh viên và bác sĩ (được thể hiện ngay ở tên chương). Ung thư hay các bệnh về tế bào thần kinh... nếu chỉ nghe qua hay chưa từng chứng kiến thì sẽ không thể nào tưởng tượng được hết sự kinh khủng, nguy hiểm và cả những xúc cảm mãnh liệt của bệnh nhân. Fukuhara - Viện phó bệnh viện với trái tim nồng cháy, luôn hết mình với bệnh nhân, mong muốn và tin tưởng vào cái gọi là "kỳ tích": giống như sau cơn mưa trời lại sáng, trải qua hành trình chống bệnh gian khổ dài đằng đẵng, kỳ tích nhất định sẽ xuất hiện, căn bệnh quái ác nhất định sẽ bị đập tan. Kiriko - Bác sĩ có biệt danh "Tử Thần", với suy nghĩ sống mà phải chịu đau đớn, dày vò thì thà lùi lại 1 bước để ngắm nhìn cuộc sống tươi đẹp xung quanh và tận hưởng tháng ngày quý báu ít ỏi còn lại sẽ tốt hơn nhiều. 2 bác sĩ, 2 tư tưởng, 2 định hướng... nhưng lại có chung mục đích: tất cả là vì bệnh nhân. Nghe thật lạ lùng nhưng sự thật chính là vậy! Sẽ có người vì không muốn gia đình thương tổn mà chấp nhận chịu đau để thực hiện hóa - xạ trị, sẽ có người lại chấp nhận hy sinh để sống một cuộc sống đúng nghĩa trước khi quá muộn... Lựa chọn theo tư tưởng của vị bác sĩ nào thì cũng chẳng có gì là sai trái hay bất hợp lí cả, vì mỗi bệnh nhân sẽ có thứ đáng giá để coi trọng và suy nghĩa riêng biệt. Cách viết của tác giả vô cùng chân thực và giàu cảm xúc khiến cho người đọc có thể dễ dàng cảm nhận được những chiêm nghiệm và ý nghĩa sâu sắc về sự sống, sức khỏe và thời gian mà tác giả muốn truyền đạt. Chắc chắn là khi đọc xong, bạn sẽ thấy cuốn sách được đánh giá cao trên Amazon là hoàn toàn hợp lí! *** “Ông còn nửa năm để sống…”. Tại một bệnh viện nọ, bác sĩ Kiriko – người được mệnh danh là thần chết – đã nói với bệnh nhân như vậy. Anh giải thích rằng khi đón nhận cái chết, ta sẽ trân trọng những ngày còn lại. Tuy nhiên, phó viện trưởng Fukuhara lại tin vào điều kỳ diệu, anh sẽ không ruồng bỏ ‘sự sống’ cho đến phút cuối cùng. Kết cục của cuộc đối đầu trong thời gian có hạn giữa hai con người đối lập này là? Trước lựa chọn cuối cùng, bệnh nhân có thể quyết định được không? Ánh sáng lấp lánh của sự sống được vẽ theo cách sống của từng người. Câu chuyện về nghề y nghẹt thở và đầy cảm động. *** Atsuto Ninomiya Sinh năm 1985 tại vùng đô thị Tokyo. Tốt nghiệp khoa Kinh tế Đại học Hitotsubashi. Là một tác giả của thế hệ mới được chú ý, có tác phẩm “! (Bikkurimāku)” đã bán ra 200.000 bản, Atsuto Ninomiya liên tiếp xuất bản các tác phẩm mới. *** Bệnh viện trọng điểm khu vực - bệnh viện Musashi no Shichijuuji. Ba tòa nhà chín tầng với những dãy tường trắng dài dằng dặc; ở góc tầng hai, của phòng tư vấn đang hé mở. Bài trí trong phòng vô cùng tối giản. Chỉ đặt bàn, ghế và bảng trắng. Bốn người sắc mặt buồn bã đang ngồi. Một trong số đó là bệnh nhân luống tuổi, mặc bộ pyjama phủ thêm tấm áo choàng. Ba nhân vật còn lại là người nhà gồm bạn đời và hai vợ chồng con trai ông. Họ lắng tai nghe từng tiếng bước chân với nhịp điệu đều đặn, chuẩn xác như đồng hồ quả lắc. “Xin lỗi vì đã để mọi người phải chờ.” Tiếng bước chân dùng lại trước phòng tư vấn. Đấy cánh của và bước vào phòng, Kiriko Shuuji cất tiếng. Khi anh ngồi xuống, tà áo trắng lay động khe khẽ. Vóc người nhỏ nhắn, làn da trắng và đôi mắt mang sắc nâu nhàn nhạt. Vị bác sĩ với ngoại hình hơi mềm mại nữ tính, đâu đó tỏa ra cảm giác lành lạnh này nhìn lướt qua khuôn mặt của bốn người rồi nói: “Bác là bệnh nhân Hashida đã yêu cầu tư vấn cùng người nhà phải không ạ. Cháu là Kiriko.” “Vâng, bác sĩ ơi, chuyện là…” “Bác muốn bệnh viện kiểm tra tình trạng bệnh hiện giờ và nói rõ phương hướng điều trị về sau phải không ạ?” Kiriko không tán chuyện phiếm dù chỉ một câu. Thấy bác sĩ lập tức đi thẳng vào vấn đề, bốn người cùng nín lặng. Không ngập ngừng, không do dự, Kiriko nói tiếp. “Cháu đã xem bệnh án rồi, tình trạng của bác không thể cải thiện được đâu. Một phần do tuổi tác đã cao ạ. Bác còn khoảng nửa năm. Giờ chỉ còn xem trì hoãn thời hạn này được bao lâu thôi ạ.” “Ơ…” Giữa lúc cả gia đình còn đang ngơ ngác, Kiriko nhìn thẳng vào mắt bệnh nhân lớn tuổi, anh hỏi: “Bác Hashida, bác muốn ra đi như thế nào ạ? Kể cả khi dùng thuốc điều trị ung thư bác cũng chỉ sống thêm được vài tháng thôi và sẽ phải nhập viện suốt vài tháng đó. Bác có thế lựa chọn chuyển hẳn sang chăm sóc giảm nhẹ* đồng thời sử dụng thời gian còn lại sao cho có ý nghĩa ạ.” “Chờ, chờ đã!” Anh con trai ngồi bên cạnh hấp tấp chồm hẳn người lên. “Bố tôi đang làm hóa trị*… Bác sĩ phụ trách bảo chỉ số của bố đang khá lên mà.” Kiriko xem tập giấy tờ. “Đúng vậy ạ. Tình trạng của bác không xấu đi, Nhưng chỉ số ở mức độ này thì gia đình không nên kỳ vọng tình trạng bệnh sẽ có khởi sắc đâu ạ. Về mặt y học, trường hợp của bác đã vô phương cứu chữa rồi ạ. Giờ chúng ta chì có thể vừa kéo dài thời gian vừa cầu nguyện sẽ xảy ra một điều kỳ diệu thôi.” “Nhưng, nhưng, bố tôi vừa thi lấy bằng lái thuyền mơ ước từ lâu… Ông ấy đã rất cố gắng dành thời gian mới thi được để từ giờ còn lái thuyền mà. Các cậu phải có cách gì khác chứ? “Không có cách nào đâu ạ. Nếu còn phương pháp chữa trị khác thì tôi đã nói với gia đình rồi ạ.” “Kể cả thế, tôi nghe nói dùng chiết xuất nấm tác dụng rất tốt, liệu pháp Proton*, rồi còn thảo dược nữa… Phải, phải có cách khác chứ? Cậu đã tìm hiểu kĩ càng chưa đấy?” “Không còn cách nào đâu ạ. Phương pháp điều trị có căn cứ khoa học, được nhận định mang lại hiệu quả là thuốc chống ung thư bác đang dùng. Loại thuốc chống ung thư này không thế ngăn bệnh tình tiến triển, chỉ có tác dụng đến thế thôi ạ. Giờ không phải lúc chúng ta nên tranh luận vấn đề bác nhà có tử vong hay không, phí phạm thời gian. Tử vong là chắc chắn. Sang năm bố anh sẽ không còn nữa đâu ạ. Mọi người cần bàn xem nên làm gì trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại trước khi bác mất. Với tư cách là một chuyên gia, tôi sẽ hỗ trợ mọi người hết khả năng ạ.” “Cậu, cậu! Sao cậu lại có thể nói đến chuyện… chết chóc ở đây. Cậu nói gì với chồng tôi vậy hả? Chúng tôi chỉ trông chờ một tia hy vọng. Vậy mà cậu ăn nói như thế, thật quá quắt…” Đến lượt vợ người bệnh lên tiếng, mắt bà đỏ hoe. Kiriko nghiêng đầu, vẻ mặt đầy khó hiểu. “Bác trai rất quan trọng với mọi người phải không ạ?” “Đương nhiên rồi!” “Cháu nghĩ, chính vì bác trai rất quan trọng nên mọi người càng cần nghiêm túc cân nhắc về việc ra đi của bác ấy mới phải.” Giọng điệu lãnh đạm của Kiriko khiến cả gia đình bùng nổ. Ba người họ đều cực kỳ giận dữ. Phòng tư vấn ngập tràn những tiếng tranh cãi. Lông mày không hề máy động, Kiriko lẳng lặng quan sát toàn bộ khung cảnh trước mắt, bình thản như thể mình đang xem kịch. Anh nghĩ mãi vẫn không hiểu vì sao họ phải làm ầm ĩ đến mức này. Chỉ riêng bệnh nhân là không lên tiếng. Ông im lìm cúi đầu, gương mặt trắng bệch. Trời rất đẹp, gió thổi mạnh. Vừa ngắm tán cây tiêu huyền rung rinh Fukuhara Masakazu vừa sải rộng bước chân trên hành lang nối giữa hai tòa nhà. Nước da rám nắng khỏe khoắn, vóc dáng rắn rỏi cứng cáp, gương mặt anh mang những đường nét sắc cạnh và đôi mắt chứa đựng một ý chí mạnh mẽ. Vừa thẳng tiến anh vừa chào hỏi nhân viên bệnh viện và bệnh nhân mình chạm mặt trên đường. “Bác sĩ gì mà không hiểu tâm trạng người bệnh! Chúng tôi sẽ không bao giờ đến cái bệnh viện này nữa!” Đột nhiên có tiếng quát tháo vọng tới. Fukuhara vừa nhìn sang liền thấy người nhà bệnh nhân lao ra từ phòng tư vấn tòa nhà phía bắc. Mặt họ đều đỏ gay lên vì giận dữ. Một người phụ nữ ôm mặt khóc nức nỏ đang được chàng trai ôm vai dìu đi. “Có chuyện gì vậy?” Fukuhara vội vàng đi tới. Thấy Fukuhara cao lớn lại gần, người phụ nữ thoáng giật mình, nhưng thấy tấm bảng tên “Bác sĩ khoa Ngoại Fukuhara Masakazu” đính trên ngực áo anh, bà cất tiếng như nài nỉ. “Bác sĩ chỗ các anh cứ nói chồng tôi sẽ chết.” “Nghĩa là sao ạ?” “Cậu ta hết lần này đến lần khấc khăng khăng bảo chồng tôi sắp chết. Bác sĩ ăn nói kiểu đó, chúng tôi chữa cũng như không… Bác sĩ đã mặc kệ thì chúng tôi còn biết làm thế nào. Các anh định vứt bỏ bệnh nhân đang khốn khổ hay sao?” “Xin bác bình tĩnh đã ạ. À, bác là… bác Hashida ở khoa Huyết học? Bác đang làm hóa trị đợt đầu* phải không ạ?” Đỡ lấy người phụ nữ, Fukuhara nhìn sang bệnh nhân trong bộ pyjama. “Bác sĩ biết bố tôi sao?” Con trai bác Hashida rất bất ngờ vì vị bác sĩ mới gặp mặt lần đầu này lại biết tường tận về bệnh tình của bố anh đến vậy. “Tôi là Viện phó, ít nhiều cũng nên ghi nhớ thông tin bệnh nhân đang nhập viện điều trị chứ.” “Viện phó…?” Nhìn kiểu gì thì Fukuhara cũng chỉ tầm ba mươi mấy tuổi. Nếu đặt vào vị trí người đảm nhận chức vụ Viện phó của một bệnh viện lớn thì anh còn quá trẻ. Con trai bác Hashida tròn mắt ngỡ ngàng. “Chúng tôi nghe nói khoa Ngoại bệnh viện Shichijuuji có một bác sĩ kỳ diệu. Nhờ liên tiếp cứu sống nhiều bệnh nhân nguy kịch cùng thành tích quá xuất sắc nên đã được đề bạt thành Viện phó?” “Không phải đâu, tôi vẫn còn phải học tập nhiều lắm ạ. Bố tôi là Viện trưởng, từ nhỏ bố đã định hướng cho tôi học hành. Mà tôi làm phiền mọi người lâu quá rồi. Tôi sẽ cho tư vấn lại trường hợp của bác nhà ngay. Em ơi, gọi giúp anh bác sĩ phụ trách ca này được không? Bác sĩ Akazono khoa Huyết học ấy.” Sau khi gọi y tá đi ngang qua, Fukuhara đỡ bác Hashida ngồi xuống xe lăn. Y tá gật đầu, nhanh nhẹn đi vào phòng trục của y tá. Fukuhara đứng dậy. Anh cao ráo đến mức người khác phải ngước nhìn, dáng vẻ khiến người ta tin cậy. “Tôi cũng sẽ tham gia tư vấn. Tôi ở khoa Ngoại, tuy chuyên môn khác nhưng biết đâu có thể giúp ích được gì đó. Để tôi cùng mọi người chiến đấu với bệnh tật.” Fukuhara nhìn bác Hashida, ánh mắt cương quyết. “Bác Hashida, chúng cháu không bỏ cuộc đâu ạ. Làm bác sĩ, cháu từng chứng kiến nhiều kỳ tích rồi. Kỳ tích có xảy đến đấy ạ. Không, chúng ta hãy cùng nhau tạo nên kỳ tích nhé.” Cánh cửa sau lưng Fukuhara mở ra. Kiriko Shuuji rời phòng tư vấn. Kẹp giấy tờ vào dưới cánh tay, anh nhè nhẹ nhìn lướt qua bác Hashida ngồi trên xe lăn, người nhà của bác và Fukuhara. “Xin hãy giữ gìn sức khỏe ạ.” Chỉ nói vậy rồi Kiriko xoay gót bỏ đi. Tiếng bước chân đều đều, nhịp nhàng như đồng hồ quả lắc xa dần. Chỉ vào lưng Kiriko, vợ bác Hashida nghẹn ngào. “Chính… chính cậu ta. Nói toàn những điều kinh khủng.” “Cháu rất, rất xin lỗi bác ạ.” “Cậu ta là ai thế? Bác sĩ kiểu gì vậy?” Nhăn nhó như ăn phải thuốc đắng, Fukuhara đáp. “Kiriko Shuuji khoa Da liễu ạ. Cậu ta là nhân vật chuyên gây rối của bệnh viện chúng cháu đấy bác à.”   Mời các bạn đón đọc Bác Sĩ Cuối Cùng Dưới Tán Hoa Anh Đào của tác giả Atsuto Ninomiya & Mai (dịch).
SOS
Có một nghề được gọi là “làm mẹ”. Đó là trở thành mẹ của những đứa trẻ không do mình mang nặng, rứt ruột sinh ra. Đó là trở thành mẹ trong một khoảng thời gian định sẵn, với những qui định không mấy dễ chịu, và một trong số những qui định ấy là quên đi hạnh phúc của cá nhân mình. Và cái chốn được gọi là gia đình ấy hẳn phải là nơi đầy ắp tình yêu thương, chan chứa sự vỗ về và an ủi tâm hồn người ta lắm. Bởi chỉ có như thế, “mẹ” mới sẵn sàng quên mình vì hạnh phúc của các “con”. Thế thì điều đó lí tưởng quá còn gì. Thực tế, làng trẻ để các cô gái trẻ tự nguyện vào đây làm mẹ, để chăm sóc những đứa trẻ mồ côi, bất hạnh, lại không được lý tưởng đến thế. Một làng trẻ mà thiếu tiếng trẻ nô đùa, nghịch ngợm. Một làng trẻ mà trật tự khuôn phép được đặt lên hàng đầu. Một làng trẻ không khác nào môi trường quân sự, mà những đứa trẻ chính là những chú lính tí hon dễ bảo. Một làng trẻ mà những đứa trẻ bị đánh mất tuổi thơ… Làm sao để yêu thương và được yêu thương tại một nơi nhân danh yêu thương, nhưng yêu thương lại không hề tồn tại? Làm sao có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa yêu thương lí tưởng và lí tưởng yêu thương? Và “làm sao biết được những đôi mắt sớm suy tư đang nghĩ gì?” S. O. S! *** Có một công việc được gọi là “làm mẹ”. Có một quy định được gọi là “làm con”. Tình mẫu – tử chỉ trọn vẹn khi “mẹ” phải mang nặng và đứt ruột khi sinh ra “con”, có phải? Làm sao để yêu thương và được yêu thương tại một nơi mà tính yêu thương nhiều khi là bổn phận? _______________________________ Những câu văn trên được tớ trích ra từ tác phẩm truyện dài “SOS” của Nguyên Hương. Nguyên Hương có lẽ là một cái tên hơi xa lạ với các độc giả nhưng các tác phẩm của cô đều chứa đựng những lí tưởng cao đẹp, quý giá. Tuy “SOS” không phải là quyển sách đầu tiên của Nguyên Hương mà mình đọc, nhưng mình thực sự rất ấn tượng với nó. Ấn tượng từ cái tên, cái bìa và cả nội dung. Toàn bộ câu chuyện dài 180 trang kể về cô gái tên Thùy. Cô đang ở tuổi đời thanh xuân phơi phới, tương lai phía trước đang rộng mở đón chờ cô. Nhưng cô không chọn một công việc bình thường, rồi cưới chồng, rồi chăm lo cho đứa con chính mình đứt ruột sinh ra, mà lại chọn công việc làm “mẹ” ở trại trẻ SOS – trại trẻ dành cho các trẻ em cơ nhỡ, gia đình bỏ rơi. Một mình cô, nuôi 8 đứa “con”, đứa lớn nhất 11 tuổi và đứa nhỏ nhất mới chỉ 4 tuổi. Tại đây, những tình yêu chân thành, chất phát tỏa ra. Với văn phong tự nhiên, ngôn ngữ bình dị nhưng lại giàu cảm xúc xuyên suốt cả nội dung quyển sách, Nguyên Hương đã cho ta thấu cảm được tình mẫu – tử thiêng liêng từ giữa một người mẹ và các đứa con không cùng huyết thống. Những tình cảm chất phác, trong sang của các đứa trẻ đối với “người mẹ” xa lạ nhưng tình cảm ấy lại thân thuộc và ấm áp vô cùng. Đây thực sự là một quyển sách hay, một câu chuyện đẹp và đầy ý nghĩa nhân văn về tình cảm gia đình. Đây thực sự là một quyển sách rất đáng để đọc. _______________________________ Làm sao biết được những đôi mắt sớm suy tư đang nghĩ gì? Làm sao để giải quyết được mâu thuẫn giữa yêu thương lí tưởng và lí tưởng yêu thương? Làm mẹ có phải là một công việc không? REVIEW CỦA BẠN Le Hoang Thuy Vy   Mời các bạn đón đọc SOS của tác giả Nguyên Hương.
Nụ Cười Dưới Chân Thang
Henry Miller là người Mỹ, sinh tại New York, tại một thành phố tượng trưng cho Sinh mệnh Tây phương trong trạng thái huy hoàng nhất, với tất cả khám phá mới mẻ nhất của khoa học và cơ khí, mẫu mực của đời sống con người ở thời đại nguyên tử. Henry Miller chính là người đã phá hủy đời sống theo điệu Mỹ, đã phá Văn minh Mỹ một cách khốc liệt; đối với Henry Miller, tất cả những gì tàn bạo nhất, ngu xuẩn nhất, khờ khệch nhất, bi đát nhất, rỗng tuếch nhất, nhạt nhẽo nhất đều xuất phát từ Mỹ quốc, quê hương của ông. Tất cả những quyển sách của Henry Miller đều tố cáo Văn minh Mỹ quốc, tố cáo sự điêu tàn của Tây phương, tố cáo đời sống nông cạn của con người thời đại, tố cáo những ảo tưởng điên rồ của xã hội, đoàn thể, tôn giáo, đảng phái; luân lý, đạo đức; Henry Miller đánh dấu sự cáo chung của văn chương, thi ca và nghệ thuật: “Cách đây một năm, cách đây sáu tháng, tôi nghĩ rằng tôi là nghệ sĩ. Bây giờ tôi không nghĩ về việc ấy nữa, tôi LÀ!“ (Henry Miller, Tropic of Cancer, trang 1), “Tất cả những gì là văn chương, văn nghệ, văn học đều tách rời khỏi tôi” (op. cit, trang 1); Henry Miller “khạc nhổ vào mặt của nghệ thật, đá vào đít của Thượng đế, của Người, của Sinh mệnh, của Thời gian, của cái Đẹp, của Tình yêu!” (op. cit, trang 2); Henry Miller cho rằng Rimbaud đã thất bại một cách chua xót là vì “thời gian chưa chín muồi” (The time was not ripe) (cf. Henry Miller, the Books in my life, Icon Books; 1963, trang 96); Henry Miller khơi mở tất cả ý nghĩa trong sắc lệnh của Rimbaud: “A bas l’histoire!) (Đả đảo lịch sử!) (cf. Henry Miller, op. cit trang 86); Henry Miller ca tụng Rimbaud và gọi Rimbaud là “Kha Luân Bố của Tuổi trẻ” (cf. New Directions IX, New Directions XI) và cho rằng hành động của Rimbaud (khi lìa bỏ Tây phương để sống cuộc đời vất vả kỳ lạ ấy ở Phi châu) là một sự tự tử, vì Rimbaud thất vọng khi thấy Tây phương không còn thoát khỏi Tất mệnh đau thương kia. Bài văn đầu tiên trong đời Henry Miller là bài cảo luận ông viết về quyển Anti-Christ của Nietzsche; Henry Miller khinh miệt Heidegger, nhưng ông quí Eckhart và trích dẫn câu văn của Eckhart: “Hãy nhìn, tất cả là Bây giờ duy nhất” (cf. Henry Miller, Remember to Remember) và chính Henry Miller thốt lên: “Tất cả phải là một”. “Tất cả là một”, đi ngược lại với εν Πάντα của Héraclite trong tinh thần tương tức tương nhập của Kinh hoa nghiêm Phật giáo, “nhất tức nhất, nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất, nhất thiết tức nhất thiết”; khi đứng tại Mycenae tại Hy Lạp, trước mồ của Clytemnestra, Henry Miller đã sống lại tất cả những bi kịch Hy Lạp Thượng cổ (Eschyle, Sophocle, Euripide, vân vân); tác phẩm vĩ đại nhất của Henry Miller là quyển Colossus of Marcussi, nói lên sự trở về nguồn của Henry Miller khi ông khám phá lại đất trời Hy Lạp, sống lại buổi Triêu Dương của Sinh mệnh Tây phương; niềm vui vô hạn của sự tỉnh thức kỳ diệu lan tràn chan chứa trong quyển Colossus of Maroussi. Henry Miller là người duy nhất (trong mấy ngàn năm của Sinh mệnh Tây phương) người độc nhất đã tỉnh thức hoàn toàn, yêu Hố thẳm và đã mọc cánh bay vút từ Hố thẳm lên đến Thiên Không xanh lơ; ông ôm choàng cuộc đời vũ trụ trong vòng tay âu yếm (Henry Miller: Instinctively; just as a bird takes wing, he threw ou: his arms in an all-encompassing embrace), run say sung sướng tràn trề trong niềm vui lai láng vô biên, thốt lên mừng rỡ ở giây phút tối hậu: “Thế là đến rồi! Đến rồi!” (“At last, At last!”). Henry Miller tự xưng là “một thằng hề” truyện The Smile at the Foot of the Ladder (Cười dưới chân thang) của Henry Miller là nói về một anh hề kỳ lạ nhất chưa từng có trong lịch sự loài người; Henry Miller cho rằng truyện ấy là “truyện kỳ lạ nhất mà tôi đã viết trong đời” (undoubtedly it is the strangest story I have yet written); trong truyện ấy, Henry Miller đã đưa Sinh mệnh đến Tất mệnh và bay lên bầu trời xanh lơ của Tính mệnh trong Bình minh của Hố thẳm: “Niềm vui giống như một con sông: nó chảy miên man không ngừng. Đối với tôi, đó dường như tất cả lời nhắn gửi mà người hề đang cố gắng mang đến cho chúng ta, nhắn gửi chúng ta hãy nhập thế với dòng tuôn chảy di động không ngừng, nhắn gửi chúng ta đừng dừng lại để suy nghĩ, để so sánh, để phân tích, để ghì giữ, mà hãy tiếp tục tuôn chảy không ngừng vô cùng vô tận như dòng nhạc miên man. Đó là dâng bỏ, buông rơi, siêu thoát; người hề đã diễn tả sự siêu thoát ấy một cách tượng trưng. Còn chúng ta hãy làm sự siêu thoát ấy thành hiện thể”. (Joy is like a river: it flows ceaselessly. It seems to me that this is the message which the clown is trying to convey to us, that we should participate through ceaseless flow and movement that we should not stop to reflect, compare, analyze, possess, but flow on and through, endlessly, like music. This is the gift of surrender, and the clown makes it symbolically. It is for us to make it real). Henry Miller đã sống qua hết những mâu thuẫn, những bi kịch đau đớn khôn cùng của cuộc đời: “Chúng ta chết đang khi vùng vẫy để sinh ra đời. Chúng ta không bao giờ đã là, không bao giờ đang là. Chúng ta đang luôn luôn trong tiến trình biến dịch, luôn luôn ly cách và đứt lìa. Luôn luôn ở bên ngoài”. (We die struggling to get born. We never were, never are. We are always in process of becoming, always separate and detached. Forever outside). Những dòng chữ trên nói lên Sinh mệnh cựa quậy trên bờ đất, khi Sinh mệnh không còn tuôn chảy trong dòng sông Tính mệnh. Muốn sống lại, chúng ta chỉ cần khơi mở và khám phá: tất cả đều đã có sẵn trong ta rồi (we uncover and discover. All has been given, as the mystics say). Chúng ta chỉ cần mở mắt và lòng để trở nên một với toàn thể (we have only to open our eyes and hearts, to become one with that which is). Henry Miller là một trong số rất ít người mà Sinh mệnh đã được giải thoát; Henry Miller nhìn thế giới này qua một màu sắc mới lạ khác hẳn cách nhìn của đôi mắt thường nhân. Henry Miller nhìn thấy cuộc đời với một đôi mắt khác. Henry Miller sống tràn trề trọn vẹn trong khoảnh khắc hiện tại và sự hiện diện của Henry Miller chiếu tỏa rực ngời ánh dương buổi sớm, tuôn dậy một bài ca bất diệt của niềm vui chan chứa hương mai. Henry Miller mỉm cười dưới chân thang, một nụ cười thênh thang thiên sứ tuyệt trần (it was a broad, seraphic smile). Mời các bạn đón đọc Nụ Cười Dưới Chân Thang của tác giả Henry Miller.
Một Giọt Nắng Nhạt
Trong nhiều sáng tác Nguyễn Khải ta đã bắt gặp nhân vật xưng tôi. Một nhân vật tôi nửa là nhân vật hư cấu, nửa là chính nhà văn, tức là có một sự mơ hồ, lẫn lộn một cách chủ ý. Lối viết này thực ra không hoàn toàn mới trong lịch sử phát triển của văn học trong nước cũng như trên thế giới. Cái đặc sắc của Nguyễn Khải ở chỗ cái tình rất thực, tự bạch cũng là tự kiểm, tự đánh giá qua tự truyện. Kể cả tự giễu- một khuynh hướng đánh giá có màn sắc triết lý mà cũng rất trần đời. Một giọt nắng nhạt kể về quãng tuổi thơ đầu đời_"cái tuổi 15". Có nhiều nét giống Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, lại có cả những khía cạnh như Cỏ dại của Tô Hoài, nhưng có cái vẻ "dữ dội" hơn ở khía cạnh tâm lý. Cái khổ của vật chất cộng cái khổ tinh thần trĩu xuống tâm hồn thơ dại nhưng cũng đủ hiểu biết, thức tỉnh. *** Nguyễn Khải (3/12/1930 - 15/1/2008) Nhà văn được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. - Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi. Đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám. - Trong Kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ đội, làm y tá rồi làm báo. Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962). - Sau năm 1975, ông chuyển vào sinh sống tại tp. Hồ Chí Minh. - Năm 1988, ông rời quân đội với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Nguyễn Khải từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 2, 3 và là Phó tổng thư ký khóa 3. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII. - Các sáng tác của ông khá phong phú: về nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới, về bộ đội trong những năm chiến tranh chống Mỹ, về những vấn đề xã hội–chính trị có tính thời sự và đời sống tư tưởng, tinh thần của con người hiện nay trước những biến động phức tạp của đời sống. Sáng tác của Nguyễn Khải thể hiện sự nhạy bén và cách khám phá riêng của nhà văn với các vấn đề xã hội, năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lý trí tỉnh táo. - Năm 1982, ông nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm. - Năm 2000, nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về Văn học nghệ thuật. - Ông mất năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh do bệnh tim. Tác phẩm đã xuất bản Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch. Trong đó, Nguyễn Khải để dấu ấn qua nhiều tác phẩm như: Xây dựng (truyện vừa, 1952) Xung đột (ghi chép nhiều tập, truyện, 1959-1962) Câu chuyện giữa một người đọc và một người chép (Nghiên cứu lý luận, 1959) Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960)  Một chủ đề chung quán xuyến tất cả sáng tác của tôi: Làm thế nào cho con người sống được hạnh phúc hơn. (trả lời phỏng vấn, báo Văn học, 1962) Sức mạnh của ngòi bút là được chiến đấu cho lẽ phải, cho chân lý (trao đổi, báo Văn học, 1962) Hãy đi xa hơn nữa (tập truyện vừa, NXB Văn học, 1963) Đường vào nghệ thuật (NXB Thanh niên, 1963) Gia đình lớn (Truyện vừa, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 1964) Người trở về (Tập truyện vừa, NXB Văn học, 1964)  Sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật thật cao đẹp xứng đáng với nhân dân anh hùng (Báo nhân dân, 1968) Người 40 tuổi (Tự sự lúc bước sang một năm mới, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1970) Ra đảo (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1970) Đường trong mây (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1970) Hãy đi xa hơn nữa (tập truyện vừa, NXB Văn học, 1971) Chủ tịch huyện (truyện, NXB Văn học 1972) Chiến sĩ (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1973) Đối mặt (kịch, Tạp chí Tác phẩm mới, 1974) Tháng ba ở Tây Nguyên (ký sự, NXB Quân đội nhân dân, 1976) Cách mạng (kịch 4 màn, NXB Quân đội nhân dân, 1978) Cha và Con và... (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1979) Hành trình đến tự do (Kịch, NXB Văn nghệ, 1980) Khoảnh khắc đang sống. (Kịch bản điện ảnh, Báo Văn nghệ, 1980)  Bạn bè trên cao nguyên (truyện, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1981) Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982) Khoảnh khắc đang sống (kịch bản phim, truyện ngắn, NXB Văn nghệ, 1982)  Văn xuôi một chặng đường 1963-1983. Báo cáo bổ sung trình bày trong Đại hội lần thứ III Hội Nhà văn Việt Nam (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 1984) Thời gian của người (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982) Điều tra về một cái chết (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1986) Cái thời lãng mạn (truyện vừa, Báo Văn nghệ, 1987) Vòng sóng đến vô cùng (truyện, NXB Trẻ, 1987)  Nghề văn, nhà văn và Hội nhà văn (ý kiến, Báo Văn nghệ, 1988) Một giọt nắng nhạt (sách măng non, NXB Trẻ, 1988)  Những suy nghĩ về đổi mới văn nghệ (Báo Văn nghệ, 1989) Đến một nơi rất xa để được hiểu lại mình (Tạp chí Tác phẩm văn học, 1989) Một cõi nhân gian bé tý(tiểu thuyết, NXB Văn nghệ, 1989) Một người Hà Nội (tập truyện, NXB Hà Nội, 1990) Danh nhân của làng (truyện ngắn, 1991)  Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức (truyện ngắn, báo Văn nghệ, 1991)  Chuyện tình của mỗi người (truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1992) Nghề văn cũng lắm công phu (Báo Văn nghệ, 1992-1993) Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu (tập truyện, NXB Hội nhà văn, 1993) Một thời gió bụi (tập truyện ngắn, NXB Lao động, 1993)  Tôi nhiệt liệt ủng hộ các cây bút trẻ có tài. Thư ngỏ gửi nhà văn (báo Văn nghệ trẻ, 1995)  Nhìn lại những trang viết của mình. Tham luận tại Hội thảo Việt Nam nửa thế kỷ văn học (1995) Hà Nội trong mắt tôi (tập truyện ngắn, NXB Hà Nội, 1995) Nguyễn Khải với nghề văn (Báo Văn nghệ trẻ, 1996) Bắt đầu từ một câu nói (9-1996) Cuộc tìm kiếm mãi mãi (3-1996)  Tâm sự văn chương của nhà văn Nguyễn Khải (Báo Văn nghệ trẻ, 1997) Truyện ngắn và tạp văn (NXB Trẻ, 1997) Chị Xuân, chị Đào (Bút ký, Phụ san Văn nghệ Quân đội, 1998)  Người Ngu (Báo Văn nghệ trẻ, Xuân Mậu Dần, 1998) Những tháng năm yên tĩnh (Bút ký, Báo Văn nghệ, Tết Mậu Dần, 1998)  Ước gì tôi được trẻ lại, Chuyện cà kề, Một lá phiếu và một lá phiếu (Lão Bộc) (Phụ san Văn nghệ Quân đội, 1998)  Hạnh phúc đến muộn (Kịch nói, Tạp chí Tác phẩm mới, 1998) Một bài tiểu luận làm tôi thay đổi cả quan niệm về tiểu thuyết (trả lời phỏng vấn, Báo Tuổi trẻ chủ nhật, 1998)  Chút phấn của đời. (kịch nói 2 màn, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1999) Hãy biết cách cống hiến bạn đọc cái phần mạnh nhất của mình. Bài phát biểu tại lễ trao giải thưởng văn học 1998 của Hội nhà văn  Một cuộc bàn giao chậm lại đúng nửa thế kỷ (Báo Văn nghệ Tết Kỷ Mão, 1999)  Đến một nơi rất xa để được hiểu lại mình. (bút ký, Báo Văn nghệ, 1999) Đọc "Tiểu thuyết thứ bảy" (Báo Văn nghệ, 1999)  Chế Lan Viên - một nghệ sĩ, một chiến sĩ (Báo Văn hóa thể thao, 1999) Tìm đất sống (bút ký, Báo Văn nghệ, 1999) Truyện nghề (NXB Hội Nhà văn, 1999)  Tết của một chiến sĩ tình báo (Báo Văn nghệ Tết Canh thìn, 2000) "Tiểu thuyết là tinh hoa của hiện thực" (Báo Văn nghệ Tết Canh thìn, 2000)  Mạch nước trong vẫn lặng lẽ chảy (Báo Sài Gòn tiếp thị, 2000)  Đôi điều biết thêm về Nguyễn Văn Vĩnh (Phụ san Văn nghệ quân đội, 2000) Danh dự (truyện, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 2000)  Người Việt nam những chục năm đầu thế kỷ XX (Báo Văn nghệ, 2000) Tây Nguyên nửa đầu thế kỷ XX (Báo Văn nghệ, 2000)  Tôi là người may mắn (trả lời phỏng vấn, Báo Lao động, 2000)  Giận ông giời (truyện ngắn, Báo Văn nghệ, 2001) Má hồng (truyện ngắn, Báo Văn nghệ, 2001) Sống ở đời (tập truyện, NXB Trẻ, 2002) Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn, 2003), mang giọng văn hồi ký về cuộc đời viết lách của ông. Cuối đời, ông dành thời gian đúc kết những nghĩ suy, đau đáu trong tùy bút: Nghĩ muộn (Tùy bút, 2000) Đi tìm cái tôi đã mất (Tùy bút, 2006) Mời các bạn đón đọc Một Giọt Nắng Nhạt của tác giả Nguyễn Khải.