Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ngôi Nhà Mũi Tên

Bà Harlowe - một người phụ nữ giàu có qua đời. Di chúc của bà không hề đề cập đến người em rể. Như một lẽ tất nhiên, người đàn ông này bực tức cáo buộc người thừa kế - Betty Harlowe, đã giết bà Harlowe nhằm chiếm đoạt tài sản. Jim Frobisher, cộng sự tại công ty, lập tức đến Pháp để bảo vệ quyền lợi cho Betty. Tham gia cùng anh còn có thám tử Hanaud lừng danh của Sở Cảnh sát Pháp. Liệu tất cả mọi chứng cứ được phơi bày có giống như vẻ bề ngoài của nó? Liệu đây có đơn thuần chỉ là một vụ tống tiền lộ liễu hay là một âm mưu được dàn dựng công phu? Liệu Hanaud danh nổi như cồn đó có hoàn thành sứ mệnh của mình một cách xuất sắc giống như mọi người vẫn hằng khen ngợi?... *** Review: Ngôi nhà mũi tên - A.E.W.Mason Dịch giả: Nguyễn Thành Long Người viết Hà Quang Huy #trinh_thám_cổ_điển #ngôi_nhà_mũi_tên Nếu các bạn thích trinh thám cổ điển thì không nên bỏ qua cuốn này, cái twist khá ấn tượng . Cái thủ pháp thấy tuy là đơn giản, nhưng ngộ ra nó quả là cao siêu khó lường  Mở đầu là cái chết của bà Harlowe - người phụ nữ giàu có ra đi không để lại tý di chúc nào cho ông em rể, ông ta liền viết thư tống tiền trắng trợn cho Haslitt đồng thời đâm đơn kiện Betty bé nhỏ đã đầu độc bà Harlowe. Nhận được thư, Haslitt điều phụ tá của mình là Jim đến bảo vệ quyền lợi cho thân chủ là Betty xinh đẹp quyến rũ. Hanaud - vị thám tử trứ danh của sở cảnh sát Pháp được đặc quyền điều tra vụ án khó khăn nhất trong cuộc đời của ông. Một vị thám tử toát lên vẻ trang nghiêm, chói loà rất thân thiện ân cần và khâm phục trước vị thần May Rủi. Căn biệt thự được thiết kế tinh xảo trang nhã lại ẩn giấu âm mưu u tối xám xịt chết chóc lạnh lẽo. Một tội ác đã xảy ra trong ngôi nhà bất hảo vào cái đêm 27/4 định mệnh dưới bàn tay của "Kẻ gieo tai hoạ". Thứ thuốc độc quỷ quyệt hoang dã giết người không để lại dấu vết được trưng bày qua bao năm tháng đã phát tác mạnh bạo. Hanaud cùng Jim lần mò trong bóng tối mờ mịt vô phương để tìm ra mạnh mối, giải đáp các bí ẩn dưới đôi bàn tay tội lỗi...Những gì ông cần làm đều đã được đào tạo qua đấu trường bò tót, ông đã quá chai sạn với những bất ngờ, điều khiến ông bất ngờ chỉ là thần May Rủi. Ông đã sống trong thế giới tội ác và tội phạm nên ông hiểu chúng một cách thanh tao, nhìn thấu chúng bằng ánh mắt lạnh lùng sắt đá. Bằng suy luận sắc bén của một kẻ lập dị ông phải diễn trò trên cái sân khấu bất đắc dĩ để lấp đầy nỗi buồn chán và cô độc của bản thân! Đánh giá khách quan: 8.5/10 *** Trong số các thân chủ của công ty Frobisher & Haslitt, một công ty tư vấn luật nằm tại mạn đông quảng trường Russell, rất nhiều người sở hữu doanh nghiệp tại Pháp; và họ rất lấy làm tự hào về điều ấy. “Nhờ đó mà chúng tôi trở nên có chỗ đứng trong lịch sử,” ông Jeremy Haslitt vẫn hay nói. “Mọi chuyện bắt đầu từ năm 1806, khi ông James Frobisher, cộng sự cấp cao rất nhiệt huyết thời bấy giờ của chúng tôi, đã tổ chức cho hàng trăm công dân Anh bị giam giữ theo sắc lệnh của Napoleon Đệ Nhất thoát khỏi Pháp. Công ty được Chính phủ bệ hạ bày tỏ lòng cảm ơn và vẫn may mắn duy trì được mối quan hệ ấy. Tôi đích thân coi sóc mảng đó của công ty.” Bởi thế, trong số thư từ ông Haslitt nhận được hàng ngày, lúc nào cũng có một lượng lớn thư dán con tem xanh thẫm của Pháp trên phong bì. Tuy nhiên, vào buổi sáng đầu tháng Tư hôm nay, chỉ có duy nhất một bức như vậy. Chữ viết trên đó trông ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc, và ông Haslitt không nhận ra là chữ ai. Nhưng nó mang dấu bưu điện Dijon, thế nên ông Haslitt nhanh chóng xé bao thư ra. Ông có một thân chủ ở Dijon, một góa phụ, bà Harlowe, và như ông nghe kể thì tình trạng sức khỏe của bà đang tệ lắm. Chắc chắn bức thư được viết tại nhà bà ấy, biệt thự Grenelle, nhưng không phải do đích thân bà viết. Ông lật sang phần chữ ký. “Waberski?” Ông vừa nói vừa cau mày lại. “Boris Waberski?” Và rồi ông thốt lên ngay khi nhận ra người viết thư, “À, phải rồi, phải rồi.” Ông ngồi xuống ghế và đọc. Phần đầu của bức thư chỉ đơn thuần là mấy câu văn hoa và khen ngợi, nhưng đọc được đến nửa trang hai thì mục đích của nó trở nên vô cùng rõ ràng. Đây là thư yêu cầu vay năm trăm bảng. Ông Haslitt mỉm cười và tiếp tục đọc, vừa đọc vừa độc thoại với người viết. “Tôi đang rất cần chỗ tiền đó,” Boris viết, “và…” “Hẳn là như thế rồi,” ông Haslitt nói. “Bà chị yêu quý của tôi, Jeanne-Marie…”, bức thư ghi tiếp. “Chị dâu,” ông Haslitt chỉnh lại. “… không thể sống lâu hơn được nữa, mặc dù tôi đã cố gắng chăm sóc chị ấy hết mực,” Boris Waberski tiếp tục trình bày. “Chắc hẳn ông cũng đã biết, chị ấy đã để lại cho tôi một phần lớn gia sản của mình. Vậy tức là nó đã thuộc về tôi rồi, đúng không? Có nói như vậy thì cũng sẽ không bị ai hiểu lầm ý cả. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vậy, xin hãy ứng trước cho tôi bằng thư đảm bảo một khoản nhỏ từ phần vốn đã thuộc về tôi, và cho tôi xin được gửi lời chào trân trọng nhất.” Nụ cười của Haslitt nở rộng hẳn ra. Bên trong chiếc hộp thiếc của ông là một bản sao tờ di chúc của Jeanne-Marie Harlowe, được công chứng viên người Pháp của bà tại Dijon viết lại theo đúng thể thức. Theo di chúc, mọi gia sản bà sở hữu sẽ được truyền lại vô điều kiện cho cháu gái chồng bà và con gái nuôi của bà, Betty Harlowe. Jeremy Haslitt thiếu chút nữa thì đã đem bức thư đi hủy. Ông gập nó lại; ngón tay giật giật trên nó; thậm chí phải đến khi xuất hiện cả một vết rách bên mép mấy tờ giấy thì ông mới đổi ý. “Không,” ông tự nhủ. “Không! Với cái tay Boris Waberski này thì không ai mà lường trước được,” và ông nhét bức thư vào một ngăn trong két riêng, sau đó khóa lại. Ba tuần sau, ông rất lấy làm mừng vì đã làm như vậy. Đó là lúc ông đọc được mẩu tin thông báo bà Harlowe đã qua đời trong cột cáo phó của tờ The Times, và nhận được một tấm thiệp lớn với viền đen rất đậm theo phong cách Pháp từ Betty Harlowe, ngỏ ý mời ông đến dự đám tang tại Dijon. Tấm thiệp mời này chỉ mang tính hình thức. Ông sẽ chẳng thể nào đến kịp Dijon để tham dự, kể cả nếu có khởi hành ngay tức khắc. Ông chấp nhận chỉ viết một vài dòng thành kính phân ưu với cô gái, và gửi một bức thư đến cho ông công chứng viên người Pháp, ghi rằng công ty ông sẽ hỗ trợ Betty. Thế rồi ông đợi. “Mình sẽ lại nghe tin từ cái tay Boris kia cho xem,” ông nói, và nội trong tuần đó, ông lại nhận được thư. Chữ viết trong thư thậm chí còn loằng ngoằng và nguệch ngoạc hơn hồi trước; sự hoảng hốt và phẫn nộ đã khiến cho câu từ của Waberski loạn hết cả lên; đồng thời hắn đã đòi lượng tiền lớn gấp đôi. “Thật không thể nào tin nổi,” hắn viết. “Chị ấy chẳng để lại chút gì cho người em trai tận tụy của mình. Có trò gì đó đang diễn ra, và tôi không ưa chút nào. Giờ số tiền sẽ phải là một ngàn bảng, gửi theo đường thư đảm bảo. ‘Boris tội nghiệp của chị, em luôn bị cả thế giới này quay lưng,’ chị ấy nói trong lúc mắt ngấn đầy lệ. ‘Nhưng chị sẽ bù đắp cho em trong di chúc.’ Và giờ thì chẳng có gì cả! Tất nhiên, tôi đã nói chuyện với cô cháu gái của tôi; ôi, con bé thật cứng đầu! Nó búng ngón tay vào mặt tôi! Hành xử theo cái thể thống gì vậy cơ chứ? Một ngàn bảng, thưa ông! Bằng không là sẽ có chuyện khó xử xảy ra! Vâng! Không ai búng ngón tay vào mặt Boris Waberski mà không trả tiền cả. Thế nên hãy trả tôi một ngàn bảng gửi theo đường thư đảm bảo, không là sẽ có chuyện khó xử”; và lần này Boris Waberski không buồn gửi lời chào nào đến cho ông Haslitt cả, cho dù có là trân trọng nhất hay không, chỉ đơn giản ký bằng một nét bút ngoáy tít, nhập nhằng khắp mặt thư. Ông Haslitt không mỉm cười với bức thư này. Ông nhẹ nhàng xoa hai lòng bàn tay vào với nhau. “Thế thì chúng ta đành phải để cho chuyện khó xử xảy ra vậy,” ông nói nhanh, và rồi cất bức thư thứ hai vào cùng chỗ với bức thư thứ nhất. Nhưng ông Haslitt cảm thấy hơi khó tập trung vào công việc. Bên trong cái ngôi nhà to lớn tại Dijon là một cô gái đơn côi, và không có người đồng hương nào ở bên cô ấy cả! Ông bất chợt đứng dậy khỏi ghế và băng qua hành lang, vào trong văn phòng của người cộng sự cấp thấp. “Jim, mùa đông này cậu đã đi Monte Carlo nhỉ,” ông nói. “Đi một tuần,” Jim Frobisher đáp. “Tôi nhớ mình có nhờ cậu đến thăm một thân chủ của chúng ta, người sở hữu một biệt thự ngoại ô tại đó - bà Harlowe.” Jim Frobisher gật đầu. “Tôi đã ghé. Nhưng bà Harlowe ốm rất nặng. Có một cô cháu gái, nhưng cô ta lúc ấy đang đi vắng.” “Thế tức là cậu không gặp ai cả?” Jeremy Haslitt hỏi. “Không, không phải,” Jim chỉnh lại. “Tôi thấy một nhân vật kỳ lạ ra mở cửa và xin lỗi thay bà Harlowe. Một ông người Nga.” “Boris Waberski,” ông Haslitt nói. “Đúng cái tên đó rồi.” Ông Haslitt ngồi xuống một cái ghế. “Kể cho tôi nghe về ông ta đi, Jim.” Jim Frobisher nhìn vào hư vô một vài giây. Anh là một thanh niên hai mươi sáu tuổi, mới chỉ tham gia làm cộng sự kể từ năm ngoái. Mặc dù rất nhanh nhẹn khi cần hành động gấp, anh lại hết sức cẩn trọng khi đánh giá bản chất người khác; và anh còn rất kính nể ông Jeremy Haslitt già, thế nên cứ mỗi khi làm gì liên quan đến công việc của công ty là lại cẩn trọng gấp đôi. Một lúc sau anh trả lời. “Ông ta là một người cao lớn, đi đứng trông có vẻ nặng nhọc, bên trên một vầng trán ngắn và một cặp mắt hoang dại là một mớ tóc bạc dựng thẳng đứng như dây kẽm gai. Ông ta gợi cho tôi nhớ đến một con rối không được gắn dây tử tế lên chân tay. Tôi tin con người này có bản chất khá ngông cuồng và dễ bị kích động, ông ta cứ liên tục miết bộ ria mép với mấy ngón tay dài ngoằng, ố màu thuốc lá. Đây là cái kiểu người có thể nổi điên bất cứ lúc nào.” Ông Haslitt mỉm cười. “Đúng như những gì tôi nghĩ.” “Ông ta gây rắc rối gì cho ông à?” Jim hỏi. “Chưa đâu,” ông Haslitt nói. “Nhưng bà Harlowe đã chết, và tôi tin rằng rất có khả năng ông ta sẽ giở trò gì đó. Ông ta có hay bài bạc gì không?” “Có, chơi rất khát,” Jim nói. “Tôi đoán là ông ta sống bám vào bà Harlowe.” “Tôi cũng nghĩ thế,” ông Haslitt nói, và ông im lặng ngồi đó một lúc. Thế rồi ông nói: “Thật đáng tiếc là cậu không được gặp Betty Harlowe. Tôi từng một lần ghé thăm Dijon trên đường đi qua miền Nam nước Pháp năm năm trước, hồi Simon Harlowe, chồng bà ấy, hãy còn sống. Betty hồi đó là một cô bé chân dài gầy gò, đi tất lụa đen, sở hữu một gương mặt trắng, sáng sủa, và mái tóc đen sẫm cùng cặp mắt lớn, xinh xắn lắm.” Ông Haslitt dịch người trên ghế một cách không thoải mái. Cả một ngôi nhà cổ với khu vườn lớn đầy dẻ và sung, trong khi cô gái kia thì một thân một mình, sống cùng với một tay đầu óc có vấn đề, đang bực bội và muốn gây chuyện khó xử cho cô. Ông Haslitt không thích cái hình ảnh đó chút nào! “Jim,” ông bất chợt nói, “cậu có thể thu xếp công việc sao cho nếu cần thiết thì sẽ có thể rời đi ngay lập tức được không?” Jim ngước nhìn lên, tỏ vẻ ngạc nhiên. Loạn cào cào, như kiểu dân sân khấu hay nói, không phải là chuyện hay xuất hiện tại công ty Frobisher & Haslitt. Dù cho đồ nội thất của họ hơi xỉn màu, tác phong của họ rất trang nghiêm; thân chủ có thể gặp chuyện khẩn, nhưng vội vã và gấp gáp là những từ công ty không bao giờ sử dụng. Chắc chắn đâu đó quanh đây sẽ có một luật sư chịu hiểu cho họ. Ấy nhưng giờ đây, đích thân ông Haslitt, cùng với mớ tóc bạc trắng và gương mặt tròn trịa khác thường, nửa trẻ con, nửa thông minh xuất sắc, lại đang đề nghị cộng sự cấp thấp của mình chuẩn bị sẵn sàng để đi thẳng sang đại lục châu Âu ngay khi có lệnh. “Tôi chắc chắn có thể làm vậy,” Jim nói, và ông Haslitt nhìn anh với vẻ hài lòng. Jim Frobisher sở hữu một nét tính cách rất khác người. Ngay cả người quen của anh, cho dù có là bạn bè thân thuộc, cũng mới chỉ từng biết đến các dấu hiệu anh để lộ ra bên ngoài. Anh là một người cô độc. Cho tới nay, anh chỉ quan tâm đến một số rất ít người, và ngay cả những người ấy anh cũng chẳng thiết tha gì mấy. Đam mê của anh là được cảm thấy rằng cuộc đời mình và ý nghĩa cuộc đời mình không phụ thuộc vào người khác. Trong những tháng được rảnh rang, anh luôn theo đuổi dam mê ấy. Một chiếc thuyền buồm nửa boong* chỉ cần một người lái, một cây rìu phá băng, một khẩu súng trường, một vài cuốn sách dài bất tận, chẳng hạn như Chiếc nhẫn và cuốn sách*. Đó chính là những người bạn đồng hành của anh trên biết bao chuyến thám hiểm cô đơn, bên cạnh các vì sao và những suy tư của riêng mình. Hệ quả là anh đã tự tạo cho bản thân mình một vẻ lạnh nhạt khác thường, khiến cho anh lập tức trở nên nổi trội giữa đám đông. Đây là một diện mạo đầy vẻ dối lừa, bởi lẽ nó dễ gợi lên sự tin tưởng cho người khác, mặc dù có khi chẳng có lý do nào để họ đặt lòng tin như vậy cả. Chính cái vẻ ngoài ấy bấy giờ đã thuyết phục ông Haslitt. “Đây đích thị là một người thích hợp để đối đầu với cái ngữ như Boris Waberski,” ông nghĩ thầm, có điều không nói hẳn ra như vậy. • Thuyền buồm nửa boong; loại thuyền half-deck, phần boong chỉ kéo dài bằng nửa thân tàu, có thể nằm ở cuối hoặc đuôi tàu. • Chiếc nhẫn và cuốn sách: tức The Ring and the Book, một tiểu thuyết dài được viết dưới dạng thơ của Robert Browning. Điều ông nói là: “Có khi cũng chẳng cần thiết phải làm vậy đâu. Betty Harlowe có một luật sư người Pháp. Chắc chắn anh ta sẽ đủ sức giải quyết. Ngoài ra…” - và ông mỉm cười lúc nhớ lại một câu trong bức thư thứ hai của Waberski - “Betty có vẻ là người rất có khả năng tự bảo vệ mình. Cứ để rồi xem.” Ông quay trở lại văn phòng của mình, và suốt một tuần liền ông không nhận được thêm bất cứ tin tức gì từ Dijon nữa. Lúc ông đã gần quên đi sự lo lắng của mình thì bất thình lình, một tin động trời xuất hiện, và nó được truyền đến thông qua một kênh rất bất ngờ. Jim Frobisher là người báo tin cho ông biết. Anh xộc vào văn phòng của ông Haslitt đúng lúc người cộng sự cấp cao đang đọc cho anh thư ký ghi lại lời phúc đáp cho mấy bức thư buổi sáng của mình. “Ông Haslitt!” Jim la lên, và ngưng bặt khi nhìn thấy viên thư ký. Ông Haslitt nhìn lướt qua gương mặt người cộng sự trẻ của mình và nói: “Godfrey, lát nữa chúng ta sẽ tiếp tục trả lời thư sau.” Viên thư ký mang cuốn sổ tay tốc ký ra khỏi căn phòng, và ông Haslitt quay sang Jim Frobisher. Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Mũi Tên của tác giả A. E. W. Mason.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Giọt Lệ Trong Hồn - Kim Hyun Hee
Trong công trình sử học “Sách đen về chủ nghĩa cộng sản” (Le livre noir du communistme, Robert Laffont, Paris 1997), tác giả Rémi Kauffer - một chuyên gia về tình báo và khủng bố - đã dành bảy chương sách để nói về mối quan hệ giữa các thể chế “cộng sản hiện thực” (hiểu theo nghĩa: các thể chế tự nhận mình là “cộng sản”, không nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc của chủ nghĩa Marx) và chủ nghĩa khủng bố. Tác giả cuốn sách trên khẳng định: trong hai thập niên 20 và 30, phong trào cộng sản thế giới dốc toàn lực để chuẩn bị những cuộc khởi nghĩa vũ trang nhưng đều thất bại. Do đó, trong thập niên 40, họ đã lợi dụng cuộc chiến chống phát-xít Đức và giới quân phiệt Nhật, và trong hai thập niên 50 và 60, họ đã nhân danh những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để tạo dựng những đội du kích chính qui, dần dần biến thành những đạo quân thực thụ để giúp các Đảng Cộng sản cướp chính quyền tại nhiều xứ như Nam Tư, Trung Hoa, Bắc Hàn… Tuy nhiên, phải đương đầu với sự chống đối của các thế lực thân Hoa Kỳ, thất bại của phong trào “du kích” Nam Mỹ đã khiến một số phe, nhóm cộng sản nhận thấy họ nên trở lại những phương pháp khủng bố “truyền thống”. Lấy danh nghĩa “đấu tranh giải phóng dân tộc”, ở nhiều nơi trên thế giới, khủng bố và chiến tranh du kích đã được hòa quyện một cách “hữu hiệu” trong các hành động vũ trang, như trong trường hợp Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria hoặc các tổ chức khủng bố Palestine. Có thể tranh luận với các luận điểm trên của tác giả Rémi Kauffer, tuy nhiên, lần giở kho lưu trữ mật được “bạch hóa” sau khi Liên Xô sụp đổ, có thể thấy trong không ít trường hợp, Liên bang Xô-viết đã trợ giúp và ủng hộ một cách hữu hiệu các nhóm khủng bố ở Trung Đông và Mỹ - La Tinh. Đặc biệt, trong nhiều năm liền, Ilich Ramirez Sanchez, một trùm khủng bố khét tiếng từng hoành hành ngang dọc ở các nước Ả Rập và phương Tây, đã được sự che chở của hầu hết các quốc gia “xã hội chủ nghĩa” ở Đông Âu: bằng những tấm thông hành và hộ chiếu giả, y đã sử dụng thủ đô Budapest (Hungary) như một địa bàn chính yếu để tổ chức và tham gia các vụ khủng bố đẫm máu. Dầu vậy, cần phải nói là bản thân các quốc gia “xã hội chủ nghĩa” (cũ) ít khi đứng ra tổ chức khủng bố, vì mức độ mạo hiểm quá lớn. Một ngoại lệ là trường hợp Bắc Hàn: trong những năm tháng căng thẳng dưới thời “Chiến tranh lạnh”, xứ này đã thường xuyên cử các mật vụ ra nước ngoài để ám sát, giết chóc, bắt cóc và thực hiện những hành vi khủng bố, nhất là đối với các nhân vật Nam Hàn. Nhiều phụ nữ Nhật đã bị bắt cóc và đưa về Bình Nhưỡng để đào tạo thành những điệp viên kiêm khủng bố. Đó là chưa nói đến chuyện trong hai thập niên 60 và 70, Bắc Hàn là nơi ẩn mình của vô số nhóm khủng bố Nhật, Palestine, Phillippines…, với một mục tiêu chính yếu là “lật đổ chế độ tư bản thối nát”. Có thể nói trong một thời gian dài, Bắc Triều Tiên là quốc gia cộng sản duy nhất đã chủ trương khủng bố một cách có hệ thống ở cấp nhà nước. Trong số các hành động khủng bố đẫm máu nhất của Kim Nhật Thành, cần phải kể đến vụ ám sát 16 người xảy ra ở Rangun (trong số đó có bốn bộ trưởng Nam Hàn), hoặc vụ nổ máy bay Hãng hàng không Korean Airline ngày 29-11-1987, gây nên cái chết của 115 hành khách vô tội. Kim Hyun Hee là một trong hai thủ phạm chính của vụ nổ máy bay nói trên. Cùng một điệp viên đứng tuổi và dày dạn kinh nghiệm (Kim Soung Ir), người phụ nữ trẻ trung 25 tuổi và xinh đẹp đó được nhận nhiệm vụ phải “dạy cho Hán Thành một bài học”: mục đích chính của vụ khủng bố là hạ uy tín Nam Hàn, khiến nước này “mất mặt” và chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Hán Thành không đủ sức để giữ gìn an ninh cho Thế vận hội 1988, sẽ được tổ chức sau đó ít tháng. Tuy nhiên, ý định đó của nhà độc tài Kim Nhật Thành đã hoàn toàn phá sản. Thế vận hội Hán Thành 1988 thành công mỹ mãn, trở thành một biểu tượng của hòa bình và hữu nghị, khi các vận động viên “tư bản” và “xã hội chủ nghĩa” lại bắt tay nhau trên tinh thần bằng hữu và thể thao sau hai kỳ Olympic không trọn vẹn (1980: Moscow, và 1984: Los Angeles). Sau vụ đặt bom, nhóm khủng bố bị phát hiện: Kim Soung Ir uống độc dược tự tử, còn Kim Hyun Hee định tẩu thoát nhưng bị bắt giam. Sau một thời gian dằn vặt nội tâm và đấu tranh với chính mình, cô gái trẻ tuổi đã cung khai mọi sự trước nhà chức trách Nam Hàn. Về sau, họ Kim đã thuật lại chi tiết những hoạt động gián điệp và khủng bố của mình trong cuốn hồi ký “Giọt lệ trong hồn” (The Tears Of My Soul, 1993), khiến thế giới phải kinh hoàng trước sự tàn ác của các nhà lãnh đạo Bắc Hàn. Cho dù, vì những lý do dễ hiểu, cuốn hồi ký chưa thể nói lên hết được những gì tại hậu trường các sự kiện của 20 năm trước, nhưng đây là một nguồn tư liệu có độ xác tín tương đối cao về một xã hội, một thể chế khép kín mà thế giới có rất ít thông tin. NCTG xin giới thiệu đến quý độc giả “Giọt lệ trong hồn”, thông qua bản dịch tiếng Hung ( “Kémek iskolája: Egy terroristanő vallomásai”, fordította: Gálvölgyi Judit, JGX Kiadó, Budapest 1994). Xin tặng cuốn sách này cho người nhà các nạn nhân chuyến bay 858 của Hãng Hàng không Triều Tiên. Mọi thu nhập xuất phát từ cuốn sách đều dành cho họ. Kim Huyn Hee Mời các bạn đón đọc Giọt Lệ Trong Hồn của tác giả Kim Hyun Hee.
Danh Vọng và Tội Ác - Morimura Makoto Ichi
Danh Vọng Và Tội Ác là cuốn tiểu thuyết trinh thám của Nhật Bản, tác giả Morimuara Makôto Ichi tường thuật lại câu chuyện của Hachisugi Kyôko, một nhà bình luận về các vấn đề gia đình nổi tiếng một thời được nhiều người hâm mộ. Để che giấu đoạn đời trước đây đã từng chung sống với người da đen, để bảo đảm địa vị và danh dự của bản thân và người chồng hiện tại, ả đã tự tay đâm chết đứa con lai của mình và mưu hại người biết chuyện, hòng diệt khẩu. Một phụ nữ phạm tội giết người như vậy vẫn ngang nhiên đạo mạo, huênh hoang trong vị trí người mẫu mực về vấn đề giáo dục đình trong toàn quốc. Điều càng hài hước là, tên nữ tội phạm giết người này vì hiếu danh hám tiếng đã không tiếc dùng con trai mình Kyôhây làm công cụ diễn tuồng, nào là mẹ con thư từ cho nhau, nào là tình mẹ con mẫu mực, nhưng trên thực tế, Kyôhây đích thực là một tên lưu manh cao bồi. Ở đằng sau lưng mẹ con chúng hoàn toàn là những quan hệ lợi dụng lẫn nhau, kẻ lừa người bịp. Kết quả cuối cùng đã dẫn Kyôhây bước đến con đường phạm tội.  Tác giả Morimuara Makôto Ichi với tiểu thuyết Danh Vọng Và Tội Ác đã làm chấn động văn đàn Nhật Bản, đã được giải thưởng tiểu thuyết Kadokawa lần thứ ba, được vinh dự là một kiệt tác lớn trong loại hình tiểu thuyết trinh thám của Nhật Bản. Tác phẩm đã được dựng thành phim, được đông đảo nhân dân trong và ngoài nước nhiệt liệt hoan nghênh. ​ *** Khi người thanh niên đó bước vào buồng thang máy, không một ai chú ý đến anh ta. Nơi này hội tụ đủ các kiểu người với muôn màu ngàn sắc, từ khắp các nơi trên thế giới đến. Tuy anh ta là người ngoại quốc, thế nhưng cũng không khiến cho người ta chú ý. Anh ta là người da đen, nhưng hơi nhạt một chút, gần như là màu nâu. Với bộ tóc dựng đứng màu đen, khuôn mặt nhỏ nhắn và dáng người hơi thấp, thoạt nhìn rất giống như người Nhật. Tuổi chừng hai mươi, dáng người rất tinh nhanh, khỏe mạnh. Toàn bộ thân thể anh ta hình như được thu gọn vào trong chiếc áo gió pôpôlin dài. Vào mùa tiết này mà mặc chiếc áo dài như vậy có lẽ là diện mốt hơi sớm một chút. Hình như ở trong con người anh ta có chút gì đó khó chịu, những bước chân nặng nề đi theo sau đoàn người chờ thang máy, bước vào bên trong. Đây là thang máy có tốc độ nhanh, lên thẳng tới “Khách sạn lưng chừng trời” của tòa nhà lớn. Nếu không dừng lại nửa chừng, chỉ 28 giây là có thể lên tới độ cao 150 mét của tầng thứ 42. Thang không dừng lại ở dưới tầng thứ 20, từ tầng thứ 20 trở lên mới dừng lại theo yêu cầu của quý khách. - Xin các vị cho tôi biết tầng gác cần tới. Call your floor please ! Tiểu thư phụ trách thang máy xinh đẹp mặc bộ quần áo Nhật Bản bằng vải hoa kiểu mũi tên, dùng hai thứ tiếng - tiếng Nhật và tiếng Anh - nói với khách. Thang máy lặng lẽ chuyển động tới đỉnh tòa nhà. Cửa mở ra, giám đốc khách sạn mặc bộ lễ phục ban đêm, cổ thắt nơ con bướm, đứng thẳng như cây bút ở trước cửa, cung kính cúi gập người biểu thị sự hoan nghênh. - Đã để cho các vị phải chờ lâu, đã tới “Khách sạn lưng chừng trời”! Tiểu thư phụ trách dùng thứ ngữ điệu ngọt ngào, rồi đưa quý khách ra khỏi thang máy. Nhìn thấy cảnh tượng hào hoa của khách sạn, ai nấy đều phấn chấn tinh thần. Thang máy trống rỗng. Không, vẫn còn có một người lưu lại. Người đó dựa vào bức tường bên trong cầu thang, không hề mảy may có ý định muốn bước ra ngoài. Anh ta chính là người da đen mặc chiếc áo gió pôpôlin bước vào buồng thang sau cùng. Anh ta nhắm nghiền cả hai mắt. ... Mời các bạn đón đọc Danh Vọng và Tội Ác của tác giả Morimura Makoto Ichi.
Thằng Khùng - James Hadley Chase
James Hadley Chase là bút danh của tác giả người Anh - Rene Brabazon Raymond (24/12/1906 – 6/2/1985), người cũng đã viết dưới tên James L. Docherty, Ambrose Grant và Raymond Marshall. Ông sinh ra ở Luân Đôn, là con của một đại tá người Anh phục vụ trong quân đội thuộc địa Ấn Độ, người dự định cho con trai mình có một sự nghiệp khoa học, bước đầu đã cho học tại trường học Hoàng gia, Rochester, Kent và sau đó học ở Calcutta. Ông rời gia đình ở tuổi 18 và làm nhiều công việc khác nhau, một nhà môi giới trong nhà sách, nhân viên bán sách bách khoa toàn thư của trẻ em, người bán sách sỉ trước khi tập trung vào sự nghiệp viết lách với hơn 80 cuốn sách trinh thám. Năm 1933, ông đã cưới Chase Sylvia Ray và có một con trai. Trong Thế chiến II, ông phục vụ trong Không quân Hoàng gia, cuối cùng đạt được thứ hạng lãnh đạo Đội tàu chiến. Chase đã biên tập Tạp chí Không quân Hoàng gia cùng với David Langdon với nhiều câu chuyện, nó được phát hành sau chiến tranh trong cuốn sách Slipstream. Chase chuyển đến Pháp năm 1956 và sau đó đến Thụy Sĩ vào năm 1961, sống một cuộc sống ẩn dật ở Corseaux-Sur-Vevey, phía bắc của hồ Geneva, từ năm 1974. Ông qua đời yên bình vào ngày 6/2/1985. *** “Hắn nghĩ hắn không điên khùng, hắn bình thường như bao người khác! Ai nói hắn khùng, hắn sẽ nổi giận. Trong con người hắn luôn tồn tại hai tính cách: Yêu cái đẹp và giết người." Lần này, James Hadley Chase đi vào mảng tội phạm tâm lý. Nhưng không tàn bạo rùng rợn như các truyện trinh thám hiện đại cùng đề tài, mà chỉ nhẹ nhàng như một mũi kim phớt qua da. Tác giả khắc họa hình ảnh một cậu ấm nhà giàu, con gái một nhân vật nổi tiếng trong làng điện ảnh, có người mẹ bị điên đã tự sát bằng cách lao mình qua cửa sổ trên một tòa cao ốc. Cậu ấm lớn lên trong nhung lụa, nhưng thiếu tình thương và luôn cảm thấy cuộc sống tẻ nhạt. Muốn làm một cái gì đó để chứng tỏ mình thông minh, dũng cảm và được mọi được quan tâm, thừa nhận, anh chàng đã nghĩ đến chuyện giết người. Và chuyện gì phải xảy ra đã xảy ra... Nhưng ngay cả việc giết người cũng không mang đến cho anh sự thỏa mãn. Chỉ đến khi gặp được một cô gái mà anh ta đem lòng yêu, anh ta mới nhận thấy và hiểu rõ như thế nào là cuộc sống... *** Các tác phẩm của James H. Chase đã được xuất bản tại Việt Nam: Tỉa Dần Cái Chết Từ Trên Trời Cả Thế Gian Trong Túi Ôi Đàn Bà Cạm Bẫy Gã Hippi Trên Đường (Frank Terrell #5) Thằng Khùng Cạm Bẫy Hứng Trọn 12 Viên Đam Mê và Thu Hận Tệ Đến Thế Là Cùng Mười Hai Người Hoa và Một Cô Gái Buổi Hẹn Cuối Cùng Trở Về Từ Cõi Chết Không Nơi Ẩn Nấp Đồng Tiền và Cạm Bẫy Lại Thêm Một Cú Đấm Đặt Nàng Lên Tấm Thảm Hoa Cành Lan Trong Gió Bão Những Xác Chết Chiếc Áo Khoác Ghê Tởm Món Quà Bí Ẩn Âm Mưu Hoàn Hảo Cướp Sòng Bạc Cạm Bẫy Dành Cho Johnny Những Xác Chết Câm Lặng Em Không Thể Sống Cô Đơn Thà Anh Sống Cô Đơn Buổi Hẹn Cuối Cùng Mùi Vàng Phu Nhân Tỉ Phú Giêm Tình Nhân Gã Vệ Sĩ Dấu Vết Kẻ Sát Nhân Trong Bàn Tay Mafia Này Cô Em Vòng Tay Ác Quỷ Thiên Đường của Vũ Nữ Châu Dã Tràng Xe Cát .... *** Từ lâu, tiếng động ấy đã trở nên quen thuộc với hắn rồi. Đã hơn một năm nó cứ thúc giục hắn phải làm một cái gì đó thật hung bạo nhưng cho tới nay hắn vẫn cưỡng được áp lực đòi hỏi của nó. Thế mà vào buổi chiều hôm nay, trong lúc hắn thoải mái nằm phơi nắng gió, tiếng gọi ấy lại nổi lên cuốn hút hắn thật dữ dội. Hắn thường nghĩ đến chuyện phải làm sao giết được một người đàn bà. Đó là điểm cùng tột, cao độ để chứng minh trí thông minh, sự nhanh nhạy trí óc và lòng can đảm của hắn. Qua đôi kính màu xanh che ánh sáng mặt trời, hắn đang nhìn một cô gái ngồi trên cát, cách hắn chừng hai mươi mét. Cô ta mặc một áo tắm hai mảnh màu xanh da trời, đang ngồi lấy kiểu cho một nhóm thợ ảnh mướt mồ hôi. Kẻ ngồi người đứng họ xúm quanh nửa vòng tròn trước mặt cô trong khi một đám đông tụ tập đằng xa nhìn ngắm với vẻ hâm mộ, thèm muốn. Với mái tóc vàng, tuổi trẻ tươi mát, cô có một thân hình đúng tiêu chuẩn đòi hỏi của thế giới điện ảnh: Da cô mướt như màu mật ong. Khuôn mặt xinh đẹp với những nét thanh mảnh, sống động rất ăn ảnh. Jay không hề thấy hấp dẫn chút nào trước thân hình đầy đặn ấy. Hắn không bao giờ thèm quan tâm đến khía cạnh ấy mà chỉ chú ý đến vẻ tươi mát, sống động trẻ trung của cô mà thôi. Tiếng nói bên trong càng lúc càng thôi thúc: “Kìa đó chính là kẻ mong đợi của mày. Đó chính là kẻ mày phải giết. Thật dễ như chơi. Cô ta là một nghệ sĩ trẻ, mày chỉ cần đến nói là cha mày muốn gặp thế là cô ta sẽ theo mày đến cùng trời cuối đất!” Jay rút từ túi áo sơ mi ra hộp thuốc mà bà dì ghẻ tặng cách đây bốn tháng nhân dịp sinh nhật thứ hai mươi mốt của hắn. Hắn lấy một điếu và châm lửa. Hắn nghĩ, “Ờ, đối với mày thật là dễ dàng để gặp riêng một mình với cô ta.” Cha hắn là Floyd Delaney - chủ hãng phim danh tiếng Pacific Motion Pictures cũng như Sam Goldwyn là chủ hãng phim Metro Goldwyn Mayer - hắn có thể đến tiếp cận với cô gái mà không sợ gặp khó khăn gì với cô ta. Hắn chợt thấy thật là may mắn khi được cha hắn ép buộc phải đi với ông dự Đại hội điện ảnh Cannes. Lúc đầu hắn không thấy thích nên viện dẫn cả ngàn cớ thoái thác nhưng người cha vốn lúc nào cũng thắng thế rốt cục đã lôi hắn đi theo ông. Cha hắn đã đoan quyết rằng Đại hội điện ảnh Cannes vui lắm, gái đẹp cả hàng đống nơi đó, ăn uống ngon lành, bãi biển rực nắng, phim chiếu hấp dẫn, con còn đòi gì hơn nữa? Vả lại hắn cũng cần phải đi nghỉ ngơi cho thoải mái đầu óc. Thế là lại thêm một lần hắn đi theo người cha mà không thấy vui lòng mấy. Kể ra thì cứ lẽo đẽo theo đuôi ông suốt ngày cũng thật là chướng. Mười hai năm trước đây, mẹ Jay đã phóng mình nhảy qua cửa sổ một khách sạn và từ lúc bà chết đi, ông đã tục huyền đến hai lần. Ông ly dị với bà hai sau hai năm gấu ó liên miên. Sophia, bà vợ hiện nay chỉ lớn hơn Jay có năm tuổi. Cô ta xinh đẹp, thanh mảnh, tóc nâu, mắt xanh thăm thẳm, thân hình cuốn hút và khuôn mặt như Đức Mẹ trong tranh của họa sĩ Raphael tài danh. Cô ta người Ý, từng đóng phim trước khi lấy chồng. Gặp ông chồng ghen và sức hấp dẫn của hàng triệu đô la khiến cô ta bỏ nghề. Jay luôn luôn cảm thấy ngượng ngập trước mặt bà dì ghẻ. Sắc đẹp của Sophia làm hắn bối rối và cố tìm cách tránh mặt. Mỗi khi bất đắc dĩ phải đối điện với dì ghẻ, hắn vẫn có cảm tưởng như Sophia thấy hắn kỳ kỳ thế nào ấy. Hắn thường bắt gặp nàng chăm chú nhìn hắn với dáng ngập ngừng, dò xét như là muốn tìm xem hắn đang nghĩ gì trong đầu. Sophia rất ân cần săn sóc hắn, nàng luôn luôn tìm cách để cho hắn tham gia vào câu chuyện khi có một đám đông vây quanh cha hắn, và điều này thì lại làm cho hắn thấy khó chịu, bứt rứt. Hắn thích đứng bên lề mọi hoạt động của người cha hơn là trao đổi những chuyện tào lao với đám người rõ ràng là không quan tâm gì đến hắn. Cả nhà Delaney đã đến khách sạn Plazza ba ngày rồi. Sau đây họ phải đi Venise và Florence để trông coi việc quay ngoại cảnh cho một cuốn phim cần phải thực hiện vào cuối mùa thu này. ... Mời các bạn đón đọc Thằng Khùng của tác giả James Hadley Chase.
Những con Rồng Châu Á - Selphie & Kitaro
Bộ truyện trinh thám gồm 4 tập được bạn trẻ ham mê trinh thám đón đọc trên toàn thế giới. *** Căn cứ Rồng hiện ra trước mắt ba cô gái, mọi sinh hoạt ở đây vẫn diễn ra bình thường nhưng đối với họ thì thật là mới mẽ, mọi thứ điều lạ, họ nhớ nới này, nhớ những công việc được giao và nhớ cả người đỡ đầu, người đưa cho các cô các nhiệm vụ mới. - Chúng con chào chú a. - Oh, chào các cô con gái của ta, các con khỏe không, những ngày nghĩ êm đềm đó các con nghĩ sao ? - Chán lắm chú a., bọn cháu chỉ muốn vừa du lịch vừa phá án thôi, như thế mới hấp dẫn. Sara lên tiếng. - Thế à, biết thế chú đã tìm các cháu lâu rồi, ở đây chú rối cả lên. - Tội nghiệp chú Saro đáng thương quá. Zane lên giọng thương xót. - Mà chú Saro nè, nhiệm vụ lần này như thế nào vậy chú. Sara hỏi. - Uh nhỉ ! Gạt chuyện tư qua đi, chuyện công đây. Trên màn hình bắt đầy hiện ra những tài liệu có liên quan đến nhiệm vụ lần này, vật bị lấy là một chiếc nhẫn nạm một viên kim cương bảy màu rất đẹp, có giá trị lớn. Vụ đánh cắp đã gấy thiệt mạng hai nhân viêc giám sát. Đây là chiếc nhẫn rất quý và nó có cả giá trị về chính trị giữa ThaiLand và Singapore. Vì thế các cháu phải sang Singapore để tìm hiểu và phá vụ này. - Gay đấy, không biết quan hệ hai nước có xấu đi không nhỉ. Zane bày tỏ suy nghĩ của mình. - Em nghe nói chiếc nhẫn đó là do vua ThaiLand tặng đấy. - Sara nói đúng đó, vì thế công việc chúng ta là tìm ra thủ phạm và chiếc đem đặt lại vị trí cũ. - Chúng cháu đi Singapore hả chú Saro. Sara hỏi. - Phải, giấy tùy thân, hộ chiếu, hành lý chú điều chuẩn bị xong cho các cháu rồi. - Chú Saro này, không lẽ thủ phạm lại muốn chia rẻ sự hợp tác hai nước à, cháu không nghĩ thế đâu, quốc vương ThaiLand đâu phải là chỉ tặng riêng vật đó. Alex lên tiếng. - À, thì ra nãy giờ cháu không nói gì là để suy nghĩ vấn đề này à ? - Vâng a. - Chị Alex nè, có lẽ chiếc nhẫn ấy quý nhất thì sao ? - Nhưng họ có thể không phải là ăn trộm như những tên khác - Vì đây là vật có giá trị mà chính quốc vương tặng không chừng đó Alex ạ. Saro nói. - Như vậy tại sao họ không lấy luôn những thứ như cây gậy ngọc quý, hai mãnh da con bạch hổ ? - Chị không biết Alex ạ, đừng hỏi chị. - Chúng ta qua đó điều tra sẽ rỏ ngay thôi, ở đây doán già, đoán non cũng vô ích thôi. Sara đề nghị. - Đúng đấy, các cháu đi đi. - Vâng ạ . - Cận thẩn đó nha, lần này không nên khinh địch đó. - Yes Sir !!! ... Mời các bạn đón đọc Những con Rồng Châu Á của hai tác giả Selphie & Kitaro.