Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Căn Phòng Của Jacob

Dù tác phẩm nói về một thanh niên người Anh tên là Jacob Flanders, con người và tính cách của anh rất mơ hồ, phụ thuộc vào cảm nhận của những người từng tiếp xúc với anh. Một điểm đáng lưu ý: tên của tác phẩm là “Căn phòng của Jacob” chứ không phải là “Jacob Flanders”. Căn phòng của anh, một biểu tượng cũng rất mơ hồ, được mô tả ba lần: “Căn phòng của Jacob có một cái bàn tròn và hai cái ghế thấp… Không sinh khí, bầu không khí trong một căn phòng trống rỗng chỉ khiến những bức màn phồng lên; những đóa hoa trong lọ lay động. Một thớ sợi trong cái ghế bành đan bằng cành liễu gai kêu cọt kẹt, dù không có ai ngồi ở đó.” (Chương Ba) “Con đường chạy qua bên dưới. Chắc chắn phòng ngủ nằm ở phía sau. Đồ nội thất – ba cái ghế đan bằng cành liễu gai và một cái bàn xếp – đến từ Cambridge. Những ngôi nhà này (con gái của bà Garfit, bà Whitehorn, là chủ của ngôi nhà này) được xây dựng khoảng một trăm năm mươi năm trước. Những căn phòng rộng rãi, những trần nhà cao; trên khung cửa gỗ có khắc hình một bông hồng hoặc đầu cừu đực. Thế kỷ mười tám có sự khác biệt của nó. Ngay cả những tấm ván cửa, sơn màu tím quả mâm xôi, cũng có sự khác biệt.” (Chương Năm) “Thế kỷ mười tám có sự khác biệt của nó. Những ngôi nhà này đã được xây dựng cách đây chừng một trăm năm mươi năm. Căn phòng rộng rãi, trần nhà cao; trên khung cửa gỗ có chạm hình một bông hồng hoặc một cái đầu cừu. Ngay cả những tấm ván cửa, sơn màu tím quả mâm xôi, cũng có sự khác biệt của chú Không khí trong một căn phòng trống rỗng rất uể oải, chỉ làm tấm màn cửa phồng lên; những bông hoa trong lọ hơi lay động. Một thớ sợi trong chiếc ghế bành đan bằng cành liễu gai kêu cọt kẹt, dù không có ai ngồi ở đó.” (Chương Mười bốn) Trong một đoạn nhật ký ngay sau ngày sinh nhật của mình, ngày Thứ hai, 26/1/1920, khi Virginia Woolf tròn 28 tuổi và bắt đầu khởi thảo Căn phòng của Jacob, bà viết: “Tôi… đã có một ý tưởng về một hình thức mới cho một cuốn tiểu thuyết mới. Tôi nhận ra rằng cách tiếp cận lần này sẽ hoàn toàn khác hẳn: không một sườn giàn giáo nào; hầu như không viên gạch nào ló dạng; tất cả đều mờ ảo mơ hồ, nhưng con tim, sự mê đắm, tâm trạng, mọi thứ đều sáng tỏ như ánh lửa giữa màn sương.” (“I arrived at some idea of a new form for a new novel. I figure that the approach will be entirely different this time: no scaffolding; scarcely a brick to be seen; all crepuscular, but the heart, the passion, humour, everything as bright as fire in the mist.” – Writer’s Diary, biên tập Leonard Woolf, NXB Hogarth Press, 1953) Không phải là tác phẩm hàng đầu của Virginia Woolf, nhưng với ý nghĩa và giá trị của nó, Căn phòng của Jacob là bước chuyển biến đột phá cực kỳ quan trọng để sau đó hình thành nên Bà Dalloway và Tới ngọn hải đăng. Nó cũng là đối tượng của hàng ngàn luận văn cao học và tiến sĩ, nhiều gấp bội so với hai tác phẩm nói sau. Sài Gòn, 19/4/2018 Nguyễn Thành Nhân (Lời người dịch) *** Nữ tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh Virginia Woolf sinh ngày 25-1-1882 tại London. Nhũ danh của bà là Adeline Virginia Stephen. Trong suốt đời mình, Virginia Woolf luôn bị quấy rầy bởi những cơn trầm cảm và những chứng bệnh liên quan. Dù các cơn đau này thường gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội của mình, bà vẫn tiếp tục sáng tác với một vài thời kỳ gián đoạn cho tới khi qua đời do tự tử. Đêm 28-3-1941, Virginia Woolf nhét đầy đá vào những túi áo khoác rồi đi bộ tới con sông Ouse gần nhà và tự trầm mình. Hiện nay bà được đánh giá là một trong các tác giả vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đồng thời cũng là một nhân vật trọng yếu trong lịch sử văn chương Anh ngữ với tư cách một người bênh vực nữ quyền và là một trong những người sáng lập nên trào lưu Chủ nghĩa Hiện đại bao gồm T.S. Eliot, Ezra Pound, James Joice và Gertrude Stein. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà bao gồm: Đêm và ngày (Night and Day, 1919) Căn phòng của Jacob (Jacob’s Room, 1922) Bà Dalloway (Mrs.Dalloway, 1925) Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse, 1927) Orlando (1928) Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) Những đợt sóng (The Waves, 1931) Ba đồng tiền vàng (Three Guineas, 1938)  Trong các sáng tác của bà, tác phẩm luận văn  Một căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) có một câu châm ngôn rất nổi tiếng:"a woman must have money and a room of her own if she is to write fiction." ("một người phụ nữ phải có tiền và một căn phòng riêng nếu cô ta viết tiểu thuyết.") Woolf xem Shakespeare (và ở chừng mực nào đó, Jane Austen) là đỉnh cao của nghệ thuật sáng tạo bằng chữ nghĩa. Theo bà, muốn như thế, đòi hỏi nơi người viết một tinh thần vô ngã như vị thánh. Bà chê Charlotte Bronte viết không bằng Jane Austen mặc dù tài năng vượt trội hơn, chỉ vì Bronte đã để cảm xúc cá nhân (cái tôi) chen lấn vào tác phẩm. Nhưng nhìn từ góc độ bình thường, quả tình tôi không rõ đã có nhà văn nào, nam cũng như nữ, viết được tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare hay chưa. Có thể đã có nhưng tôi không đủ trình độ để thẩm định điều đó. Tuy vậy, theo tôi, chuyện đó không quan hệ lắm. Cái đáng nói là ở thời đại chúng ta, không còn ai phân biệt hoặc quan tâm đến giới tính của nhà văn nữa. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ cầm bút và không ai nghi ngờ tài năng cũng như giá trị tác phẩm của họ. Mời các bạn đón đọc Căn Phòng Của Jacob của tác giả Virginia Woolf & Nguyễn Thành Nhân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội - Richard H. Shultz Jr
Cuộc  chiến tranh Việt Nam - theo cách gọi của người  Mỹ - đã lùi xa hơn một phần tư thế kỷ, nhưng thất bại của Mỹ và những hậu quả kèm theo - được khái quát bằng cụm từ " Hội chứng Việt Nam" - vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi. Câu hỏi: Tại sao V iệt Nam? Vẫn còn đó và tiếp tục thách thức các nhà nghiên cứu Mỹ tìm ra câu trả lời thoả đáng. Cuốn sách " Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội" xuất bản năm 1999, của nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư  Richard H. Shultz Jr mà các bạn đang có trong tay là một trong những nỗ lực giải đáp câu hỏi đó: Như tên gọi, cuốn sách đề cập đến một khía cạnh rất đặc biệt và bí mật của cuộc chiến tranh. Nhưng khác với một số ít cuốn sách đã viết về đề tài này,  Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội không khai thác những yếu tố bí mật, đặc biệt để lôi kéo độc giả. Ngược lại, với các nguồn tài liệu tuyệt mật của CIA, Bộ Quốc phòng và Nhà Trắng mới được công bố, và đặc biệt là các cuộc phỏng vấn những người trực tiếp chỉ đạo, điều hành và thực hiện cuộc chiến tranh bí mật, cuốn sách đi sâu phân tích tư tưởng chỉ đạo, dựng lại quá trình hoạt động, phân tích các nguyên nhân thất bại và trên cơ sở đó rút ra những bài học cần thiết cho nước Mỹ. Có thể nói cuốn sách là một tổng kết khá đầy đủ của các nhà nghiên cứu Mỹ về các hoạt động bí mật chống phá miền Bắc trong cuộc chiến tranh  Việt Nam. Theo cuốn sách, từ năm 1951 đến 1972, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và CIA, Mỹ đã thành lập một tổ chức cực kỳ bí mật để tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc, điều hành hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến, tiến hành các hoạt động phá hoại trên biển và ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm rõ vai trò của giới lãnh đạo cao cấp nhất ở Washington và những toan tính của họ trong quyết định tiến hành các hoạt động bí mật chống miền Bắc. Họ là Tổng thống Kenedy, Johnson và Nixon; là Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara, Giám đốc Cục tình báo Trung ương Mỹ Colby, Cố vấn an ninh Tổng thống Bundy, Bộ trưởng Tư pháp Robert Kenedy và nhiều quan chức dân sự, quân sự cao cấp khác. Đồng thời, qua những trang sách, các phương thức hoạt động, kể cả những thủ đoạn "bẩn thỉu" mà Mỹ sử dụng trong hoạt động bí mật cũng được mô tả chi tiết. Mặc dù được tập trung chỉ đạo, sử dụng một số lượng lớn nguồn nhân lực và vật lực trong một thời gian dài, cuốn sách kết luận Mỹ đã thất bại. Hầu hết số gián điệp biệt kích tung ra Bắc đều bị bắt giữ hoặc tiêu diệt, chiến tranh tâm lý bị phá sản, con đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển vẫn tiếp tục hoạt động. Như cuốn sách thừa nhận, Việt Nam là đối thủ quá khó chơi đối với Mỹ. Tuy nhiên, thay vì tìm nguyên nhân thất bại trong sai lầm chiến lược của giới cầm quyền Mỹ như Mc.Namara đã từng chỉ ra, tác giả mới chỉ dừng lại ở những nguyên nhân về tổ chức, năng lực và phối hợp của phía Mỹ. Với những nội dung và cách đặt vấn đề trong cuốn sách, có thể thấy tác giả đã cố gắng có cách nhìn tương đối khách quan về cuộc chiến tranh bí mật của Mỹ ở Việt Nam. Mặc dù một số đánh giá nhận định của tác giả mang tính phiến diện một chiều, do đó còn có những hạn chế nhất định, cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ một khía cạnh còn ít được nghiên cứu của cuộc chiến tranh Việt Nam. Với mong muốn giúp bạn đọc quan tâm đến vấn đề này hiểu thêm cách nhìn nhận đánh giá từ phía học giả Mỹ và qua đó cảm nhận đầy đủ hơn về chiến thắng vĩ đại của chúng ta, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin xin trân trọng giới thiệu cuốn sách: Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội như một tài liệu để chúng ta cùng tham khảo. Mời các bạn đón đọc  Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội của tác giả  Richard H. Shultz Jr.
Người Dịch Bệnh - Jhumpa Lahiri
Jhumpa Lahiri sinh tại London, cha mẹ cô là người Băng-gan. Cô lớn lên tại Rhode Island, Mỹ. Hiện cô sinh sống tại New York. Các Truyện ngắn của cô xuất hiện nhiều trên những tạp chí của Mỹ. Tập truyện “Người dịch bệnh”, tác phẩm in của cô giành giải thưởng Pulitzer năm 2000 cho thể loại truyện hư cấu, giải thưởng cuốn sách đầu tay hay nhất của New York và giải thưởng PEN/Hemingway.   Những câu chuyện tuyệt vời của Jhumpa Lahiri kể về cuộc sống của những người Ấn Độ tha hương, về những người đang loay hoay giữa những phong tục nghiêm ngặt mà họ thừa hưởng và một thế giới mới đầy trở ngại mà họ phải đối đầu hàng ngày. Dù bối cảnh ở Boston hay ở Băng-gan, những câu chuyện tràn đầy tính hài hước và những yếu tố huyền ảo này không chỉ gần gũi với người xa xứ mà còn gần gũi với rất nhiều đối tượng khác.   Bạn sẽ thấy tác phẩm của Jhumpa Lahiri gắn liền với mọi mặt thường gặp của cuộc sống và cách nhìn các chi tiết rất tinh tế, sắc bén là một điểm nổi bật của cô. Cô viết về một người hướng dẫn du lịch có trái tim nồng ấm trong “Người dịch bệnh”, về một đôi vợ chồng gắng hiểu nhau sau ngày cưới trong “Ngôi nhà được ban phước”, về một mối quan hệ tay ba, người đàn ông ích kỷ, vô tình trong “Gợi tình”. Dường như cô đã thổi vào mỗi trang sách một cuộc sông bất ngờ và người đọc khi kết thúc mỗi câu chuyện càng cảm thấy bị quyến rũ hơn, mong được đi cùng những nhân vật của nó đến tận cùng.   Mời các bạn đón đọc Người Dịch Bệnh của tác giả Jhumpa Lahiri.
Gió Đông, Gió Tây - Pearl S. Buck
Gió Đông, Gió Tây, East Wind: West Wind, là tiểu thuyết đầu tay của Pearl S. Buck, được xuất bản năm 1930. Tác phẩm mô tả Quế Lan, một phụ nữ Trung Quốc, và những thay đổi mà cô và gia đình đã trải qua. Gió Đông gió Tây là tác phẩm được Pearl Buck viết khi bà đã ngoài ba mươi tuổi và có những năm tháng dài hòa mình vào cuộc sống ở Trung Hoa. Như hầu hết các tác phẩm khác của nhà văn này, cuốn sách thể hiện sự giao thoa văn hóa rõ rệt , thậm chí ngay từ tiêu đề.  Vào bối cảnh lúc bấy giờ ,sự thông hiểu lẫn nhau giữa các nền văn minh vẫn là điều mờ mịt như màn đêm mù sương, chỉ thấp thoáng những hình thù không rõ nét và tràn ngập những bất đồng, thì Pearl Buck đã may mắn có được một vị thế thuận lợi để quan sát và tái hiện sự va chạm ấy. *** Quế Lan phải lấy chồng qua một cuộc hôn nhân sắp đặt, nhưng chồng của cô không phải là người như cô mong đợi. Họ ra ở riêng chứ không sống cùng cha mẹ chồng. Chồng Quế Lan là một bác sĩ, đi học ở phương Tây về và dường như không có cảm hứng với cô cho đến khi cô yêu cầu anh gỡ bỏ bó chân cho mình. Sau đó, họ có với nhau một con trai. Quế Lan có một người anh trai sống ở Mỹ được vài năm. Một ngày nọ, bạn của anh viết thư về cho gia đình anh, thông báo rằng anh đã cưới một phụ nữ Mỹ. Anh trai của Quế Lan và vợ là Mary trở về Trung Quốc để xem liệu họ có thể thuyết phục gia đình chấp nhận Mary hay không. Tuy nhiên gia đình không chấp nhận một con dâu ngoại quốc và bảo anh cho cô tiền rồi cho cô về Mỹ. Anh trai Quế Lan không theo lời. Một thời gian ngắn sau đó Mary mang thai đứa con trai đầu lòng. Đỉnh điểm của câu chuyện là lúc mẹ Quế Lan qua đời. Gia đình yêu cầu người anh trai phải buộc Mary trở về Mỹ và cưới cô gái gia đình đã chọn, nếu không anh sẽ bị tước thừa kế. Người anh trai từ chối, rời khỏi khu nhà của gia đình, sống tại một ngôi nhà gần nhà Quế Lan. Đứa trẻ được sinh ra, gắn kết bố mẹ cậu bé với nhau và cả hai nền văn hoá. Mời các bạn đón đọc Gió Đông, Gió Tây của tác giả Pearl S. Buck.
Đất Lành - Pearl S. Buck
Ra đời năm 1931, Đất lành mang đến cho độc giả một cái nhìn đầy tính hiện thực về những con người sống trong những vòng luẩn quẩn của xã hội Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XX, mà Vương Lung là một đại diện điển hình. Cũng giống như  tác phẩm Gió Đông, Gió Tây trước đó của bà, Pearl S. Buck một lần nữa đã thổi vào Đất lành sự hòa hợp Đông - Tây - vốn là một trong những thế mạnh của mình được đúc kết từ những năm tháng sống tại Mỹ và Trung Quốc - để từ đó khắc họa lên cuộc đời của Vương Lung từ kiếp nô lệ cho đến khi trở thành một điền chủ giàu có trong cái không gian đa diện mang đậm tính sử thi của một xã hội Trung Quốc trong những biến động dữ dội đầu thế kỉ XX. Không những tạo nên tên tuổi cho Pearl S. Buck trên khắp thế giới, Đất lành còn mang về cho bà giải Pulitzer danh giá vào năm 1931. Mời các bạn đón đọc Đất Lành của tác giả Pearl S. Buck.