Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chuyện Ma Ám Ở Trang Viên Bly

“Tôi nhớ rằng mọi chuyện bắt đầu với một loạt thăng trầm trong cảm xúc, một chút bấp bênh của hồi hộp lo sợ” Một cô gái trẻ nhận được công việc đầu tiên trong đời là làm gia sư cho hai đứa trẻ xinh đẹp, trong sáng và lặng lẽ đến dị thường tại toà dinh thự Bly cô độc, bị bủa vây trong cái ác rình rập. Những bóng người ẩn hiện từ toà tháp tối tăm và ô cửa sổ bụi bặm, các bóng ma xấu xa lặng lẽ tiến đến ngày một gần. Với nỗi kinh hoàng lớn dần, cô gia sư bất lực nhận ra những sinh vật tàn ác đó nhắm đến bọn trẻ, rắp tâm xâm chiếm cơ thể, tâm trí và cả linh hồn các em… Nhưng không ai ngoài cô nhìn thấy những bóng ma ấy. Phải chăng những ám ảnh kia được gợi lên từ chính trí tưởng tượng của cô gia sư, hay sự thật còn chứa đựng nhiều hơn thế? HENRY JAME (1843 - 1916) Là nhà văn người Mỹ, một trong những người sáng lập và dẫn đầu trường phái hiện thực trong văn hư cấu. Ông sống phần lớn cuộc đời tại Anh và trở thành công dân Anh không lâu trước khi qua đời. Ông được biết tới chủ yếu nhờ một loạt tiểu thuyết đồ sộ miêu tả sự giao thoa giữa Mỹ và châu Âu. Truyện của ông xoay quanh mối quan hệ cá nhân, cách sử dụng quyền lực đúng mực trong các mối quan hệ đó, và nhiều vấn đề đạo đức khác. Phương pháp viết của ông lấy góc nhìn của một nhân vật trong truyện, cho phép ông khám phá các hiện tượng ý thức và nhận thức, phong cách viết trong các tác phẩm về sau của ông từng được so sánh với tranh trường phái ấn tượng. Henry James kiên định tin rằng các nhà văn ở Anh và Mỹ nên được tự do tối đa trong việc thể hiện thế giới quan của mình, giống như các nhà văn Pháp. Chất sáng tạo trong thủ pháp sử dụng góc nhìn, độc thoại nội tâm và người trần thuật không đáng tin cậy trong các câu chuyện và tiểu thuyết của ông mang lại chiều sâu và sự hấp dẫn mới cho thể loại hư cấu hiện thực, và báo hiệu sự đổi mới trong văn học của thế kỉ hai mươi. Là một nhà văn có bút lực phi phàm, bên cạnh số lượng tác phẩm hư cấu đồ sộ, ông còn xuất bản báo, sách du lịch, tiểu sử, tự truyện, phê bình văn học, và kịch. Một số vở kịch của ông được biểu diễn lúc sinh thời và đạt được thành công nhất định. Tác phẩm kịch của ông được cho là có ảnh hưởng sâu rộng tới truyện và tiểu thuyết của ông sau này. Henry James từng được đề cử giải Nobel Văn học vào các năm 1911, 1912, và 1916. Từ khi xuất hiện lần đầu vào năm 1898 đến nay, CHUYỆN MA ÁM Ở TRANG VIÊN BLY đã được mệnh danh là một trong những truyện ma nổi tiếng nhất thế giới, là nguyên tác và nguồn cảm hứng cho hàng loạt các tác phẩm chuyển thể cũng như sản phẩm làm lại thuộc nhiều loại hình khác nhau: phim điện ảnh, phim truyền hình, opera, kịch, balê “Một câu chuyện nhỏ độc hại đến sửng sốt, và cũng tuyệt diệu nhất.” – OSCAR WILDE - “CHUYỆN MA ÁM Ở TRANG VIÊN BLY là một trong những câu chuyện ma rùng rợn nhất từ trước đến nay, phần lớn là vì nó khó nắm bắt theo cách quá hấp dẫn.” – GILLIAN FLYNN - *** Chúng tôi quây quần quanh lò sưởi, nín thở lắng nghe câu chuyện, nhưng ngoài lời nhận xét hiển nhiên rằng nó rất ghê rợn, mà chuyện kinh dị vào đêm giáng sinh trong một ngôi nhà cũ thì tất phải ghê rợn, tôi nhớ rằng không ai lên tiếng bình luận gì cho đến khi có người tình cờ nói rằng anh ta từng gặp duy nhất một trường hợp tương tự, xảy đến với một đứa trẻ. Tôi xin nói thêm rằng trường hợp đó là về hồn ma trong một ngôi nhà cũ giống như ngôi nhà chúng tôi đang tụ tập vào dịp này - một vụ hiện hồn kinh khủng, xảy đến với một cậu bé đang ngủ trong phòng với mẹ. Cậu bé đã đánh thức người mẹ trong cơn khiếp hãi; nhưng trước khi người mẹ kịp xua tan cơn sợ và dỗ dành cậu ngủ tiếp, bản thân bà cũng chứng kiến cảnh tượng khiến cậu run rẩy. Nhận xét này đã khơi gợi lời hồi đáp từ Douglas - không phải ngay lúc đó, mà vào tối muộn - dẫn đến một kết quả thú vị khiến tôi chú ý. Câu chuyện người khác đang kể chẳng hấp dẫn lắm, và tôi nhận thấy anh không chú ý lắng nghe. Tôi cho đó là dấu hiệu thể hiện rằng bản thân anh có chuyện muốn kể và chúng tôi chỉ cần chờ đợi. Quả thực chúng tôi đã đợi đến hai đêm sau; nhưng vào tối hôm đó, trước khi chúng tôi giải tán, anh đã nói ra ý nghĩ trong đầu mình. “Tôi đồng ý - về hồn ma của Griffin, hay dù nó là gì đi nữa - rằng việc nó xuất hiện cho cậu bé nhìn thấy trước, ở cái tuổi dễ tổn thương như vậy, đã thêm điểm nhấn cho câu chuyện. Nhưng đây không phải lần đầu tôi nghe về kiểu chuyện hấp dẫn này liên quan đến trẻ con. Nếu một đứa trẻ đã thêm nhát búa chát chúa cho hiệu quả câu chuyện, thì các vị nói sao với haiđứa trẻ…?” “Tất nhiên chúng tôi sẽ bảo rằng chúng mang đến hai nhát búa! Và rằng chúng tôi muốn nghe chuyện về chúng,” có người thốt lên. Tôi vẫn còn có thể hình dung ra Douglas đứng quay lưng về phía ngọn lửa, hai tay đút túi, nhìn xuống những người đang trò chuyện với mình. “Cho đến giờ, chưa có ai ngoài tôi từng nghe chuyện này. Câu chuyện có phần quá kinh khủng.” Câu này đương nhiên là đã được vài người nói ra để tạo hiệu quả tối đa cho câu chuyện của mình, và người bạn của chúng tôi, với nghệ thuật kể chuyện tinh tế, chuẩn bị cho chiến thắng của mình bằng cách đưa mắt nhìn chúng tôi rồi nói tiếp: “Vượt ra ngoài tất cả. Tôi chưa từng biết đến thứ gì có thể chạm tới câu chuyện này.” “Về mặt đáng sợ ư?” Tôi nhớ mình đã hỏi như vậy. Dường như anh muốn đáp rằng không chỉ đơn giản như vậy; như thể anh thực sự không tìm được từ thích hợp để miêu tả. Anh đưa tay xoa mắt, khẽ nhăn mặt. “Về độ kinh hoàng!” “Ôi, hấp dẫn quá đi mất!” Một người trong cánh phụ nữ kêu lên. Anh không hề chú ý đến cô ta; anh nhìn tôi, nhưng như thể thay vì tôi, anh đang nhìn thấy thứ mình nói đến. “Về sự xấu xa dị hợm nói chung, về nỗi khiếp sợ và đau đớn.” “Chà,” tôi bảo, “thế thì hãy ngồi xuống và bắt đầu kể ngay đi.” Anh quay về phía ngọn lửa, đưa chân gẩy một khúc gỗ, ngắm nhìn chốc lát. Rồi anh quay lại đối mặt với chúng tôi: “Tôi chưa bắt đầu kể được. Tôi phải gửi thư vào thành phố đã.” Một loạt tiếng ca thán vang lên, kèm theo trách móc; sau đó anh liền giải thích, vẫn với vẻ lơ đãng: “Câu chuyện đã được ghi lại và cất giữ trong ngăn kéo suốt nhiều năm. Tôi có thể viết thư và gửi kèm chìa khóa cho người của mình; anh ta sẽ gửi bưu kiện tới đây khi tìm thấy nó.” Cá nhân tôi cảm thấy dường như anh chủ động đề xuất việc này - có vẻ anh gần như kêu gọi mọi người giúp anh thôi do dự. Anh đã phá vỡ một lớp băng dày tích tụ qua nhiều mùa đông; anh có những lí do riêng để giữ im lặng lâu như vậy. Những người khác bất mãn với sự trì hoãn, nhưng chính những trăn trở của anh đã hấp dẫn tôi. Tôi yêu cầu anh viết thư để gửi ngay chuyến bưu chính đầu tiên và anh đồng ý cho chúng tôi nghe chuyện sớm; rồi tôi hỏi anh trải nghiệm mà anh nói đến có phải của chính bản thân anh hay không. Với câu hỏi này, anh trả lời ngay tức khắc. “Ôi, ơn Chúa, không!” “Vậy còn bản ghi chép là của anh? Anh đã ghi lại câu chuyện đó?” “Tôi không ghi lại gì ngoài ấn tượng về nó. Tôi ghi khắc vào đây,” anh vỗ lên tim mình. “Tôi chưa từng quên.” “Vậy bản ghi chép…?” “Là một bản thảo cũ kĩ, đã phai màu mực, bằng bút tích đẹp nhất trên đời.” Anh lại quay về phía ngọn lửa. “Bút tích của một phụ nữ. Cô đã qua đời hai mươi năm rồi. Cô gửi cho tôi những trang giấy ấy trước khi chết.” Lúc này tất cả bọn họ đều đang lắng nghe, và tất nhiên có người tỏ ý trêu chọc, hay ít nhất là rút ra suy diễn. Nhưng anh bác bỏ suy diễn một cách nghiêm túc, dù cũng không tỏ vẻ bực bội. “Cô là một người hết sức duyên dáng, nhưng cô lớn hơn tôi mười tuổi. Cô là gia sư của em gái tôi,” anh lặng lẽ nói thêm. “Cô là người phụ nữ đáng mến nhất tôi từng biết ở địa vị đó; dù làm bất cứ nghề nghiệp gì, cô cũng sẽ là một người đáng kính, chuyện đã lâu lắm rồi, và câu chuyện kia còn lâu hơn nữa. Khi ấy tôi đang học ở trường Trinity, tôi gặp cô khi về nhà vào mùa hè năm thứ hai. Năm ấy tôi ở nhà khá nhiều - một mùa hè đẹp. Chúng tôi đã đi dạo và nói chuyện vài lần trong vườn vào giờ nghỉ của cô - những cuộc trò chuyện khiến tôi phát hiện cô cực kỳ thông minh và dễ mến. Ô đúng vậy; đừng cười: tôi yêu quý cô rất nhiều và đến tận hôm nay vẫn lấy làm vui mừng khi nghĩ cô cũng quý mến tôi. Nếu không thì cô đã không kể với tôi rồi. Cô chưa từng kể với bất cứ ai. Không chỉ vì cô nói vậy, mà tôi biết là thực sự cô chưa từng kể. Tôi không chỉ biết chắc; tôi thấy rõ như vậy. Các vị sẽ dễ dàng rút ra kết luận ngay khi nghe chuyện.” “Bởi vì câu chuyện ấy quá đáng sợ?” Anh tiếp tục nhìn chăm chú về phía tôi. “Các vị sẽ tự rút ra kết luận,” anh nhắc lại. “Anh sẽ tự rút ra kết luận.” Tôi cũng nhìn anh không chớp. “Tôi hiểu rồi. Cô ấy đang yêu.” Anh bật cười lần đầu tiên. “Anh nói đúng đấy. Phải, cô đang yêu. Đúng hơn là đã từng yêu. Điều đó thể hiện rõ ràng - cô không thể kể câu chuyện của mình mà không biểu lộ điều đó. Tôi đã thấy, và cô thấy rằng tôi đã thấy; nhưng không ai trong chúng tôi nhắc đến. Tôi nhớ như in thời gian và địa điểm - nơi góc thảm cỏ, dưới bóng râm của hàng sồi lớn và buổi chiều mùa hè dài nóng bức. Đó không phải khung cảnh thích hợp để nghe chuyện kinh dị; nhưng ối chao…!” Anh rời bỏ lò sưởi và thả mình lại ghế ngồi. “Anh sẽ nhận được bưu kiện vào sáng thứ Năm?” Tôi hỏi. “Chắc phải đến chuyến bưu chính thứ hai.” “Vậy thì, sau bữa tối…” “Các vị đều sẽ gặp tôi ở đây?” Anh lại nhìn khắp lượt chúng tôi. “Sẽ không có ai rời đi chứ?” Giọng điệu anh gần như mong đợi. “Tất cả mọi người đều sẽ ở lại!” “Tôi sẽ ở lại” và “Tôi sẽ ở lại!” là tiếng kêu của những quý cô đã định sẵn ngày rời đi. Tuy nhiên bà Griffin tỏ ý muốn biết thêm. “Cô ấy đang yêu ai?” “Câu chuyện sẽ nói rõ,” tôi tranh lời đáp. “Ôi, tôi nóng lòng nghe chuyện quá!” “Câu chuyện sẽ không nói rõ đâu,” Douglas nói; “không nói theo một cách lộ liễu, sỗ sàng.” “Thế thì thật đáng tiếc. Tôi chỉ hiểu được theo mỗi cách ấy.” “Anh cũng không nói ư, Douglas?” Một người khác hỏi. Anh lại đứng bật dậy. “Có - ngày mai. Giờ thì tôi phải đi ngủ thôi. Chúc ngủ ngon.” Rồi anh nhanh chóng vớ lấy một ngọn nến, và bỏ lại chúng tôi trong ngỡ ngàng. Từ đầu bên này của hành lang màu nâu rộng lớn chúng tôi nghe thấy tiếng chân anh bước lên cầu thang; khi đó bà Griffin nói: “Chà, nếu tôi không biết cô ấy đang yêu ai, thì tôi cũng biết anh ấy yêu ai.” “Cô ấy già hơn mười tuổi,” chồng bà đáp lại. “Càng thêm lí do… ở cái tuổi ấy! Nhưng anh ấy giữ kín lâu như vậy cũng khá là đáng quý.” “Bốn mươi năm!” Griffin nói thêm. “Rốt cuộc bảy giờ cũng vỡ oà ra.” “Sự vỡ oà này,” tôi đáp lại, “sẽ biến tối thứ Năm thành một dịp đặc biệt.” Và mọi người đều đồng ý với tôi rằng, trước tình huống này, chúng tôi đều đã mất hứng thú với mọi câu chuyện khác. Câu chuyện cuối cùng, dù không hoàn chỉnh và chỉ như mở đầu của một loạt truyện dài kì, đã được kể ra; chúng tôi bắt tay và “bắt nến”, như một người nói, rồi đi ngủ. Ngày hôm sau, tôi biết rằng một lá thư kèm theo chìa khoá đã được gửi đến căn hộ của Douglas ở London vào chuyến bưu chính đầu tiên. Nhưng dù tin đó đã bị lan truyền cho mọi người, hay phải chăng chính vì lẽ đó, chúng tôi để anh yên cho đến sau bữa tối, thực tế là tới tận khi đã khuya đến mức thích hợp với bầu không khí mà kỳ vọng của chúng tôi tạo lập nên. Khi đó anh trở nên cởi mở đúng như chúng tôi mong muốn và cho chúng tôi lí do chính đáng nhất về thái độ cởi mở đó. Một lần nữa chúng tôi tụ tập trước lò sưởi trong đại sảnh để nghe anh kể, giống như tối hôm trước, khi chúng tôi bị anh khơi gợi tâm trí. Có vẻ như bản tường thuật mà anh hứa sẽ đọc cho chúng tôi nghe thực sự cần một lời mở đầu thích đáng. Tôi xin được nói rõ rằng bản tường thuật mà tôi trình bày dưới đây được lấy từ bản chép nguyên văn do chính tôi ghi lại nhiều năm sau đó. Douglas tội nghiệp đã gửi bản thảo cho tôi trước khi chết - khi anh thấy rõ cái chết sắp đến gần. Bản thảo đến tay anh vào ngày thứ ba của cuộc tụ tập và vào đêm thứ tư, tại đúng chỗ hôm trước, với sự truyền cảm mạnh mẽ, anh bắt đầu đọc trước đám đông quây quần. May thay, các quý cô hôm trước hứa sẽ ở lại cuối cùng lại thất hứa: họ đã rời đi theo lịch trình định sẵn, mang theo lòng hiếu kì sôi sục mà anh đã gợi lên trong tất cả chúng tôi, theo như lời họ thừa nhận. Nhưng điều đó chỉ khiến đám đông thính giả cuối cùng của anh thêm thu gọn và có chọn lọc, chia sẻ một đam mê chung, vây quanh ngọn lửa. Những dòng đầu tiên cho biết rằng bản ghi chép này được thực hiện tại thời điểm sau khi câu chuyện đã bắt đầu. Theo đó, người bạn cũ của Douglas - cô con gái út của một mục sư nông thôn nghèo - ở tuổi hai mươi, đã đến London để nhận công việc dạy học đầu tiên. Lòng đầy hồi hộp, cô tới gặp mặt trực tiếp người đăng quảng cáo tuyển dụng mà trước đó cô đã trao đổi qua thư. Khi cô trình diện tại ngôi nhà đồ sộ và bề thế trên phố Harley, ông chủ tương lai thể hiện mình là một quý ông độc thân lịch thiệp đang tuổi tráng niên; hình tượng như vậy chưa từng xuất hiện, trừ trong mơ hay tiểu thuyết, trước một cô gái đầy xúc động, hồi hộp, đến từ một ngôi nhà của mục sư vùng Hampshire. Mẫu người như anh không bao giờ lỗi thời. Điển trai, bạo dạn và nhã nhặn, tự nhiên, vui vẻ và nhân từ. Tất nhiên anh gây cho cô ấn tượng lịch thiệp và phong nhã, nhưng điều chinh phục cô hơn cả và cho cô lòng dũng cảm mà cô thể hiện về sau là việc anh đã coi toàn bộ công việc của cô như một ân huệ, một trách nhiệm mà đáng lẽ anh phải vui lòng đảm đương. Cô nhận thấy anh giàu có, nhưng cũng xa hoa đến khiếp đảm - cô đã thấy anh trong trang phục đắt tiền hào nhoáng, trong diện mạo đẹp đẽ, trong những thói quen đắt đỏ, trong vẻ phong lưu trước mặt phụ nữ. Nơi ở tại thành phố của anh là một ngôi nhà rộng lớn chứa đầy chiến lợi phẩm và đồ lưu niệm từ du lịch và săn bắn; nhưng nơi anh muốn cô đến ngay lập tức là ngôi nhà ở quê, một biệt thự cổ của gia đình tại Essex. Anh bị trao quyền giám hộ hai đứa cháu một trai một gái, con của người anh trai trong quân ngũ, sau cái chết của cha mẹ chúng tại Ấn Độ vào hai năm trước. Với một người đàn ông ở địa vị của anh - độc thân, không có cả kinh nghiệm lẫn chút ít kiên nhẫn nào - bọn trẻ là gánh nặng rất lớn. Điều này gây ra nỗi lo lớn cùng một loạt sai lầm, hẳn nhiên là từ phía anh, nhưng anh vô cùng xót thương bọn trẻ tội nghiệp và đã làm tất cả những gì có thể. Cụ thể thì anh đã gửi chúng về ngôi nhà khác của mình ở nông thôn, là môi trường thích hợp dành cho chúng, và để chúng ở đó với những người tốt nhất mà anh tìm được để chăm nom chúng, anh thậm chí đã cử chính những người hầu của mình đi phục vụ chúng, và về thăm chúng mỗi khi có thể. Điều khó xử là chúng không còn người thân nào khác, mà việc riêng của anh đã chiếm dụng toàn bộ thời gian. Anh đã cho chúng sở hữu Bly, một nơi an toàn và lành mạnh, đồng thời cử bà Grose, một người phụ nữ xuất sắc, làm người đứng đầu tại dinh cơ nho nhỏ của chúng. Bà Grose từng là hầu gái cho mẹ của anh và anh tin chắc vị khách của mình sẽ quý mến bà. Hiện giờ bà là quản gia và cũng tạm thời đóng vai trò chăm nom bé gái; may mắn thay, bà cực kỳ yêu quý cô bé, vì bản thân bà không có con cái. Còn có nhiều người giúp việc khác, nhưng tất nhiên cô gái trẻ chuẩn bị đến đó làm gia sư sẽ nắm quyền hành tối cao. Vào các kỳ nghỉ, cô cũng sẽ phải trông nom bé trai, cậu bé đã đi học được một kì - dù tuổi hơi nhỏ, nhưng còn cách nào khác đâu? - và chuẩn bị về vì kỳ nghỉ sắp bắt đầu. Trước đó từng có một cô gái khác trông nom hai đứa trẻ nhưng cô ta không may đã mất. Cô ta làm việc khá xuất sắc - là một người hết sức đáng kính - cho đến khi qua đời, dẫn đến tình huống khó xử khiến cho Miles bé nhỏ không còn lựa chọn nào khác ngoài trường học. Kể từ đó, bà Grose đã phụ trách dạy dỗ Flora trong khả năng của mình, về mặt phép tắc và lễ nghi. Ngoài ra còn có một đầu bếp, hầu gái, người phụ nữ phụ trách việc bơ sữa, một con ngựa lùn già, cùng người giữ ngựa, và một người làm vườn già, tất cả đều vô cùng đáng kính. Sau khi Douglas trình bày bối cảnh đến đây, có người đặt câu hỏi. “Thế cô gia sư trước chết vì cái gì? Chết ngộp trong đáng kính chắc?” Bạn tôi trả lời ngay tức khắc. “Sau này sẽ nói. Tôi không báo trước.” “Xin lỗi, tôi nghĩ báo trước chính là việc anh đang làm.” “Đứng từ vị trí của người kế nhiệm cô ta,” tôi gợi ý, “tôi sẽ muốn được biết nếu công việc đi kèm với…” “Nguy hiểm đến tính mạng?” Douglas nói tiếp suy nghĩ của tôi. “Cô ấy quả thực muốn biết, và cô ấy đã biết. Ngày mai anh sẽ được nghe chuyện gì cô ấy đã biết. Còn trước mắt, tất nhiên, viễn cảnh đối với cô có vẻ ảm đạm. Cô còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, đầy lo lắng: một viễn cảnh với nhiều trách nhiệm và ít bầu bạn, cùng nỗi cô đơn to lớn. Cô do dự - mất vài ngày đắn đo cân nhắc. Nhưng mức lương được trả cao hơn hẳn mức sống đạm bạc của cô. Cô đã nhận lời vào buổi phỏng vấn thứ hai.” Và đến đây, Douglas tạm dừng, khiến tôi góp lời thay mặt cho mọi người… “Mà cốt lõi của việc này tất nhiên là sức quyến rũ của chàng thanh niên phong nhã. Cô ấy đã bị chinh phục.” Anh đứng dậy và, như đã làm vào đêm hôm trước, bước về phía lò sưởi, dùng chân gẩy một thanh củi, rồi đứng quay lưng về phía chúng tôi trong chốc lát. “Cô chỉ gặp anh ta hai lần.” “Đúng vậy, nhưng điều đó càng nói lên tình cảm của cô ấy.” Tôi hơi ngạc nhiên khi Douglas nghe vậy và quay về phía tôi. “Chính là như thế. Có những người khác,” anh nói tiếp, “không bị chinh phục. Anh ta đã nói thành thật với cô mọi khó khăn của mình - rằng một số ứng viên khác cho rằng điều kiện công việc quá khắt khe. Vì lẽ nào đó họ thực sự e ngại. Công việc này nghe có vẻ tẻ nhạt - có vẻ kỳ quặc; và hơn hết là do điều kiện chính anh ta đặt ra.” “Đó là…?” “Là cô không bao giờ được làm phiền anh ta - tuyệt đối không bao giờ: dù là để yêu cầu, than phiền, hay vì bất kể lý do gì; cô chỉ có thể tự mình giải quyết mọi vấn để, nhận mọi khoản tiền từ luật sư của anh ta, đảm nhận toàn bộ trách nhiệm và để anh ta yên. Cô hứa sẽ làm như vậy, và cô kể với tôi rằng cô đã cảm thấy được đền đáp khi anh ta nắm lấy tay cô trong giây lát, vui mừng vì thoát khỏi gánh nặng, cảm ơn cô vì sự hi sinh.” “Nhưng cô ấy chỉ được đền đáp có như vậy thôi ư?” Một người trong cánh phụ nữ hỏi. “Cô ấy không bao giờ gặp anh ta nữa.” “Ôi!” Người phụ nữ nọ đáp. Và đó là từ duy nhất góp thêm vào chủ đề này, khi bạn chúng tôi lại một lần nữa lập tức bỏ chúng tôi mà đi, cho đến đêm hôm sau, bên góc lò sưởi, trong chiếc ghế thoải mái nhất, anh mở tấm bìa đỏ phai màu của một cuốn sổ mỏng viền vàng cũ kĩ. Cả câu chuyện mất hơn một đêm để kể, nhưng ngay khi có cơ hội, vẫn người phụ nữ hôm trước đặt một câu hỏi nữa. “Đầu đề anh đặt cho câu chuyện là gì?” “Tôi chưa đặt.” “Ôi, tôi thì có!” Tôi thốt lên. Nhưng Douglas không để ý đến tôi và bắt đầu đọc bằng giọng rành rọt như thể biểu đạt với tai người nghe vẻ đẹp của bút tích tác giả. Mời các bạn đón đọc Chuyện Ma Ám Ở Trang Viên Bly của tác giả Henry James & Nguyên Hương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Mục Dã Quỷ Sự
“Ma Thổi Đèn - Mục Dã Quỷ Sự” là tác phẩm Thiên Hạ Bá Xướng khổ tâm sáng tác trong vòng 4 năm, giải đáp toàn bộ những thắc mắc/mơ hồ trong “Ma Thổi Đèn”! Đây là một cuốn tiểu thuyết hỗn hợp hiện thực & hư cấu, trộm mộ & thám hiểm. Tác phẩm là nơi tác giả tập hợp những câu chuyện ly kỳ thú vị mà bản thân đã trải qua, tràn ngập màu sắc huyễn ảo, thể hiện giá trị văn hoá truyền thống bác đại tinh thâm cùng sức tưởng tượng vô cùng phong phú của tác giả. *** Về bộ Ma Thổi Đèn: Ma thổi đèn Phần một: Thành Cổ Tinh Tuyệt Mê Động Long Lĩnh Trùng Cốc Vân Nam Thần Cung Côn Luân Phần hai: Mộ Hoàng Bì Tử Quy Khư Nam Hải Thi vương Tương Tây Vu hiệp Quan Sơn Mô Kim Hiệu Úy Thiên Hạ Bá Xướng sau khi nhượng quyền thương hiệu Ma thổi đèn đã viết tiếp câu truyện về ba mô kim hiệu úy trong hệ liệt mới của mình tên Mô Kim Hiệu Úy. Cuốn đầu tiên trong bộ Mô Kim Hiệu Úy được viết vào năm 2015 tên Mô Kim Hiệu Úy - Cửu U Tướng Quân. Hiện tại Thiên Hạ Bá Xướng đã viết tới cuốn thứ hai là Mô Kim Hiệu Úy - Câu Thi Pháp Vương nhưng sau đó đã dừng lại. Mô Kim Quyết Quỷ môn thiên sư Một phần khác cũng của tác giả viết. Nội dung kể về những năm 60 của thế kỉ XX, Hồ Bát Nhất và Tuyền béo được phân công về tham gia sản xuất kiến thiết tại Hắc Long Giang, binh đoàn nông khẩn, nông trường số 17 của sư đoàn 3. Trung đội trưởng an bài ba người là Hồ Bát Nhất cùng Tuyền béo và nhân viên liên lạc trực ở lại để trông coi vật tư, còn mình thì dẫn theo những người khác rời khỏi nông trường. Mấy người ở lại trông coi nông trường, phát hiện củi gỗ trong nhà kho ngày càng ít. Thì ra là do một con hồ ly kiếm chuyện báo thù, lén lút lấy đi củi. Ít hôm sau, một trận bão tuyết trước giờ chưa từng thấy ập đến, mấy người dự tính bắt con hồ ly, chẳng ngờ gặp phải một đàn sói từ Siberia tới đang tán loạn chạy bão, vì chạy thoát thân nên đi theo con hồ ly chui vào một cái hang đất, vô tình phát hiện một cổ mộ từ thời nhà Liêu bị che giấu từ vạn năm trước. Mục Dã Quỷ Sự “Ma Thổi Đèn - Mục Dã Quỷ Sự” là tác phẩm Thiên Hạ Bá Xướng khổ tâm sáng tác trong vòng 4 năm, giải đáp toàn bộ những thắc mắc/mơ hồ trong “Ma Thổi Đèn”! Đây là một cuốn tiểu thuyết hỗn hợp hiện thực & hư cấu, trộm mộ & thám hiểm. Tác phẩm là nơi tác giả tập hợp những câu chuyện ly kỳ thú vị mà bản thân đã trải qua, tràn ngập màu sắc huyễn ảo, thể hiện giá trị văn hoá truyền thống bác đại tinh thâm cùng sức tưởng tượng vô cùng phong phú của tác giả. Do Ngự Định Lục Nhâm chấp bút: Năm 2011, nhà sách Kim Thành (Trung Quốc) đã xuất bản bộ Ma Thổi Đèn mới, dưới sự nhượng quyền của tác giả Thiên Hạ Bá Xướng, người viết là Ngự Định Lục Nhâm. Ngự Định Lục Nhâm là một nhóm tác giả viết văn, gồm sáu người. Do được phép của Thiên Hạ Bá Xướng mà nhóm Ngự Định Lục Nhâm đã viết ra bộ Ma Thổi Đèn mới dựa theo 8 cuốn đầu. Cuốn đầu tiên tên Ma Thổi Đèn - Thánh Tuyền Tầm Tung. Không chỉ dừng lại ở 1 cuốn, Ngự Định Lục Nhâm còn viết thêm: Ma Thổi Đèn - Thánh Tuyền Tầm Tung  Ma Thổi Đèn - Phủ Tiên Độc Cổ  Ma Thổi Đèn - Sơn Hải Yêu Trủng  Ma Thổi Đèn - Tương Tây Nghi Lăng  Ma Thổi Đèn - Trấn Khố Cuồng Sa *** Tiếng súng ầm ầm làm rung động đất trời của cuộc khởi nghĩa Vũ Xương cuối cùng đã khiến cho Trung Quốc thoát khỏi gông cùm xiềng xích nặng nề của chế độ quân chủ phong kiến kéo dài suốt mấy nghìn năm qua, đồng thời đưa đất nước bước vào một thời đại mới, thời đại của những xung đột dữ dội giữa xu hướng cải cách tiến bộ và những phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ. Những năm đầu Trung Hoa Dân Quốc, tình hình xã hội đặc biệt hỗn loạn, không chỉ có chiến sự liên miên giữa các nhóm phiến quân, mà còn xuất hiện đợt thiên tai trăm năm mới gặp “Bắc hạn Nam lụt", khiến cho khắp mọi nơi đều rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, hàng trăm hàng vạn người trở thành nạn dân, để có được miếng ăn qua ngày, nhiều người bất chấp tất cả lên núi làm thổ phỉ, hoặc giở thủ đoạn thất đức buôn bán một số mặt hàng cấm như thuốc lá lậu, vũ khí, thậm chí là cả con người. Vậy nên vẫn có câu “Mười năm khói lửa ngập trời, chúng sinh tứ hải một đời bi ai!” Thường nói: “Thịnh thế cổ đổng, loạn thế hoàng kim", trong những năm tháng binh hoang mã loạn ấy, chỉ có những thỏi vàng sáng bóng lấp lánh mới được coi là thứ tiền tệ có giá trị nhất. Tuy nhiên trong mắt những tên trộm mộ, dưới thời cuộc như hiện giờ, mọi thứ như luật pháp hay đạo đức đã không còn tác dụng, đây chính là thời cơ tốt nhất để đào sâu xuống những mộ cổ, lấy đi những đồ vật quý giá được chôn giấu bấy lâu nay. Những tên trộm mộ già đời kinh nghiệm đầy mình, tất nhiên, cũng sẽ không bỏ lỡ cơ hội ngon ăn như vậy. Đợi một ngày tình hình chính trị ổn định, giá cổ vật sẽ lại một lần nữa tăng lên chóng mặt, đến lúc đó đem những thứ lấy được bán ra, liền có thể dễ dàng kiếm được một món tiền lớn. Một tên trộm mộ tự xưng là “Mã Vương Gia" cùng hai đồng bọn của hắn - Lão Bắc Phong và Phí Vô Kỵ, chính là nhìn thấy cơ hội ở ngay trước mắt, bèn tính toán thừa dịp hai phe quân phiệt đóng quân ở phụ cận sông Ứng Nê giao chiến với nhau, khiến cho lão bách tính xung quanh phải bỏ thôn chạy nạn không còn một ai, lập tức động thủ nhằm vào một toà cổ mộ vô danh bên cạnh bờ sông. Mã Vương Gia tên thật là Mã Vương Thành, bởi vì kinh nghiệm trộm mộ cực kỳ phong phú, lại có không ít thủ đoạn tinh ranh khó lường, hơn nữa nhãn lực hết sức cao thâm, thậm chí có người còn nói trên trán hắn mọc ra con mắt thứ ba, không cần biết dưới lớp đất kia có chôn cổ mộ kiểu gì, bất luận nông sâu như nào, hắn ta chỉ cần trong nháy mắt là đã có thể nhìn ra được đầu mối, cho nên mới bị người ta nói thành ra như vậy. Tuy nhiên đối với những người tương đối quen thuộc bản lĩnh của Mã Vương Gia, tự nhiên đều biết hắn ta không hề mọc ra con mắt thứ ba nào trên trán cả, chỉ tôn trọng gọi là “Quan Sơn Mã Gia". Mã Vương Gia đã để mắt tới toà cổ mộ bên cạnh dòng Ứng Nê này không phải mới ngày một ngày hai, địa điểm là tại một khu rừng cách bờ sông một đoạn không xa lắm. Vật đổi sao dời, nhiều năm trôi qua, núi non thung lũng dần dần bị san bằng, gò mả cùng bia đá dẫn đường cũng biến mất từng ngày, không phải người trong nghề tuyệt đối không có cách nào phát hiện ra chúng. Nếu lấy tay gạt bỏ đám cỏ khô héo vàng bên trên, dưới lớp bùn dày chừng nửa thước, liền có thể thấy được từng viên một gạch mộ vô cùng lớn, khe hở giữa các viên gạch được gia cố bằng nước thép nung chảy, nếu muốn trong thời gian ngắn đào ra được mộ cổ bên dưới, chỉ có cách là sử dụng thổ pháo cho thổi tung một lỗ lớn. Chỉ là khu vực này lại nằm ngay sát đường lớn, tuy rằng có chút hoang vu vắng vẻ, nhưng là con đường chính bắt buộc phải đi qua mỗi lần họp chợ, trước kia thỉnh thoảng vẫn thường có người qua người lại cho nên rất khó tìm cơ hội để hạ thủ, cho dù trong đêm lén lút dùng thổ pháo nổ tung tường mộ, cũng có khả năng làm kinh động đến đội dân đoàn (Trans: Tổ chức vũ trang ở địa phương của bọn cường hào địa chủ thời xưa ở Trung Quốc) hoặc cảnh sát. Do đó Mã Vương Gia tuy rằng sớm đã nhòm ngó đến nơi này nhiều lần, nhưng vẫn chậm chạp chưa dám làm ra bất cứ động tĩnh gì. Ấy thế mà chiến loạn kéo tới, đột nhiên khiến cho khu vực này trở thành một nơi không dấu chân người, chuyện này đối với Mã Vương Gia mà nói thì quả thật là một cơ hội trời ban hiếm có, hắn liền lập tức bắt tay cùng với hai tên trộm mộ khác cũng có chút tiếng tăm - “Lão Bắc Phong” với biệt tài thông thạo sử dụng thuốc nổ, cùng tay hảo thủ sức lực hơn người “Phí Vô Kỵ", để tránh bị người khác nhòm ngó sinh nghi, ba người đều đóng giả thành đạo nhân, mang theo một số đồ nghề chuyên dụng, chất đầy trên lưng mấy con lừa, ngày nghỉ đêm đi, từ từ tiếp cận bờ sông Ứng Nê. Sở dĩ con sông này có tên là “Ứng Nê", bởi vì trong lòng sông một nửa là nước còn một nửa là bùn đất phù sa, dù cho hạn hán hay lũ lụt, trước sau vẫn luôn ngập trong bùn nhão như này. Những năm gần đây, lưu lượng nước đổ về sông Ứng Nê càng ngày càng ít dần, vốn lòng sông từ đầu cũng phải rộng đến mấy trượng, lại bị phù sa chia tách thành mấy đoạn sông, chỉ khi nào nước mưa lên cao đến đỉnh điểm, mới thỉnh thoảng liền thành một dòng. Trong lòng sông mọc lên đầy những bụi cỏ cao vài thước, có nhiều người từ nơi khác đi ngang qua không biết tình hình khu vực này, lúc đi ngang qua định bụng ghé xuống sát bờ sông tranh thủ vốc miếng nước uống hoặc để rửa mặt gì đó, trong tình huống không hề có chút chuẩn bị nào, nếu một chân vô tình đạp phải vũng bùn bên dưới đám cỏ khô, rất dễ bị mắc kẹt rồi bỏ mạng một cách oan uổng, không một ai có thể nói rõ rốt cuộc đã có biết bao nhiêu người phải chôn thây tại đây. Chỉ là con sông này bởi vì chết quá nhiều người, ngoại trừ lạch nước hẹp ở giữa lòng sông còn có thể tạm coi là sạch ra, đại bộ phận những đoạn sông khác quanh năm suốt tháng đều chảy ra thứ nước đen ngòm, một mùi hôi thối tởm lợm toả ra khắp xung quanh. Thời điểm đám người Mã Vương Gia tới được bên bờ Ứng Nê, mặt trời đã ngả về tây, hoàng hôn sớm đã buông xuống. Bởi vì trước đó đám người Mã Vương Gia đã tới nơi này không ít lần để quan sát tình hình địa thế, cho nên bọn họ gần như không tốn một chút sức lực nào đã tìm thấy vị trí cổ mộ, liền đem bức tường gạch kiên cố chuẩn bị đào ra. Lão Bắc Phong đi trước dẫn đầu, dùng ngón tay gõ gõ lên những viên gạch mộ to lớn, thăm dò vị trí bên dưới. Hai người Mã Vương Gia cùng Phí Vô Kỵ đứng ở một bên chờ đợi, Mã Vương Gia thần sắc nhàn nhã cầm tẩu thuốc hút từng hơi dài, Phí Vô Kỵ thì không được thảnh thơi như vậy, hắn tập trung nhìn chằm chằm vào biến hoá trên khuôn mặt của Lão Bắc Phong, có chút lo lắng sợ rằng số lượng thuốc nổ mang theo không đủ. Lão Bắc Phong không nhanh không chậm, bình tĩnh thăm dò kỹ càng độ dày mỏng của từng viên gạch, rồi nói với hai người kia: “Hai vị lão ca, cái vách sắt này thật sự kiên cố đấy, thuốc nổ chúng ta mang theo tuy rằng không đủ, nhưng theo tôi dự đoán, chỉ cần tập trung hoả lực của thổ pháo đặt vào điểm yếu nhất của bức tường, không mở được một lối to thì ít nhất phải mở được một lối nhỏ, cũng không có gì sai biệt lắm!” Mã Vương Gia nghe thấy vậy, khẽ gật đầu, lên tiếng phân phó: “Thôn dân xung quanh đây đã sớm bỏ chạy hết sạch, chúng ta gây ra động tĩnh lớn một chút cũng không sao, chỉ là cần phải tính toán lượng thuốc nổ vừa phải, chớ nên làm hỏng đồ vật bên trong mộ là được, tiền cả đấy!” Trong ba người Mã Vương Gia chính là thủ lĩnh, sau khi được hắn ta cho phép, Lão Bắc Phong mới dám bắt tay vào động thủ, thuốc nổ pháo dẫn được lắp đặt một cách hết sức thuần thục nhanh chóng, ầm ầm, tiếng nổ rền vang một góc trời, đừng nhìn loại thuốc nổ này được làm từ đất mà coi thường, tỉ lệ phối trộn nguyên liệu bên trong của nó hết sức cao minh, uy lực gây ra khi nổ quả thực không nhỏ, trực tiếp khiến cho đất đá nổ tung rơi xuống như mưa rào, khói bụi mịt mù. Lão Bắc Phong thời trẻ có một quãng thời gian làm việc tại cục Hoả Khí Bắc Dương, đã từng chế tạo đủ các loại thuốc nổ đạn dược, những năm gần đây lại đi theo Mã Vương Gia lăn lộn giang hồ trộm qua không ít mộ cổ, dùng thổ pháo phá tường chính là sở trường của hắn, đợi sau khi khói bụi tan đi, chỉ thấy phần đỉnh của toà cổ mộ vô danh này đã bị thủng ra một lỗ hổng lớn. Lỗ hổng bị thổ pháo cho nổ ra, vị trí vừa vặn nằm ngay trên đỉnh cửa đồng chắn ngang mộ đạo, vòng qua lớp vách sắt kiên cố nhất, nhưng khoảng trống lộ ra phía sau cũng không phải là mộ đạo, bên trong có một tấm bia mộ tạc từ thạch bích được dựng thẳng đứng, ba người không khỏi cảm thấy có chút kỳ quái, làm cái nghề trộm mộ này nhiều năm như vậy, vẫn chưa từng thấy qua nhà nào lại đặt mộ bia ở trong phần mộ cả, đây là phong cách kiểu quái gì vậy? Ngay sau đó mấy người liền đánh bạo cùng nhau tiến về phía trước, hai mắt cẩn thận dò xét từng chút một, ai cũng đều không nhịn được ý nghĩ muốn xem thử xem trên tấm bia đá thạch bích kia rốt cuộc ghi chép thứ gì. Tấm bia này vừa dài vừa phẳng, được chế tạo trông hết sức kỳ lạ, chất liệu được dùng chỉ là loại đá xanh phổ thông rất dễ kiếm, phần đỉnh phía trên chạm khắc một cái đầu quỷ, ngay chính giữa tấm bia lại khắc một dòng chữ lớn xiên xiên vẹo vẹo, các nét chữ gây cho người ta cảm giác quái dị cẩu thả, lộ ra mấy phần tà khí. Trong số ba người bọn họ, chỉ có Phí Vô Kỵ là người thô kệch một chữ bẻ đôi không biết, Lão Bắc Phong tuy rằng nhận biết được một số mặt chữ thường dùng hằng ngày, nhưng hơn phân nửa là nhận sai, cho nên nhiều nhất cũng chỉ biết được chừng hơn trăm mặt chữ đơn giản nhất, hơi phức tạp hơn tí là hắn chịu chết không đọc nổi, đối với lối chữ khắc triện trên bia đá này càng là một chữ cũng không biết. Hai người hắn tiến lên quan sát tấm bia đá này, chẳng khác gì như xem thiên thư, liền nửa chữ cũng không đọc ra được, đành phải quay sang thỉnh giáo Mã Vương Gia rốt cuộc chữ viết bên trên bia đá này có nghĩa là gì. Mã Vương Gia là người có học vấn uyên bác, lại thông hiểu cổ kim, tự nhiên là không làm khó được hắn, dòng chữ khắc trên bia đá mặc dù có điểm kỳ lạ, tuy nhiên vẫn chưa phải là loại chữ triện cổ đại phức tạp khó đọc đã sớm thất truyền từ lâu, hơi động não suy nghĩ một chút, trong lòng lập tức thấu hiểu tất cả.   Mời các bạn đón đọc Mục Dã Quỷ Sự của tác giả Thiên Hạ Bá Xướng.
Quỷ Mộ
Nghĩa, nhân vật chính của truyện, lên đường về Trà Vinh tìm con gái, trên đường gặp những điều kì lạ và ma quái.     Khi tìm được con rồi, Nghĩa lại bị cuốn vào vòng xoáy đi tìm một vật kì bí nhất ở Việt Nam, đó chính là đồng đen. Liệu bí ẩn Ngọc Đông Dương khi nào sẽ hé mở ? Liệu Nghĩa có sống sót trở về sau chuyến đi tìm đồng đen để đoàn tụ với con gái?     Tất cả vẫn còn là bí ẩn. *** Sắp đến 1/4, là hôm tôi sẽ update 2 chương truyện cuối của Quỷ Mộ, nhưng Quỷ Mộ vẫn còn 3 chương cuối. Theo dự định tôi sẽ viết 2 Quyển, 1 quyển tầm 30 chương. 3 chương cuối tôi để dành, để gửi cho nhà xuất bản. Trước hết, gửi lời xin lỗi đến toàn thể độc giả vì đã bắt các vị chờ đợi quá lâu chỉ để đọc hai chương truyện này. Vì điều đó, hôm nay tôi xin cung cấp những điểm thú vị trong bộ truyện mà tôi đã cố ý/vô tình thêm vào trong bộ truyện. - Hạ nguồn con sông Mekong quả thật rất nhiều cá lớn, có những con dài gần bốn mét. Tôi từng đọc được đâu đó, ở Mekong, người ta từng bắt được một con Ngân Long dài hai mét. - Hầm Quỷ, chi tiết này cũng hơi ko hợp lý một chút, vì địa thể ở vùng đó không thích hợp để xây dựng hầm căn cứ, nhưng xin các vị hãy bỏ qua, truyện mà, cứ để cho trí tưởng tượng của mình bay xa nhé. - Chi tiết con Út bị biến thành “Zombie” không phải là ngẫu nhiên, mà theo cách suy nghĩ của cá nhân tôi. Khi mở cửa hầm xác ở địa đạo, những oan hồn được giải phóng, nhập vào Út Mỹ, còn Bảy bại và Nghĩa… có lẽ là do “vong” nặng, không bị. - Con chó lửa, nhiều người cho rằng tôi dựa theo hình tượng con Xích Hống trong Ma thổi đèn, nhưng thật sự không hề có. Tôi xây dựng nó dựa trên giống chó hoang của miền Nam, lũ này đi theo bầy, ăn xác thối, tru tựa như sói. Dân Nam bộ còn gọi nó là chó rừng. Mà quả thật, khi tôi đọc lại, đúng là nó khá giống con Xích Hống, đây chỉ là 1 sự vô tình thôi. - Ở hầm mộ này, có xuất hiện 1 thứ rất quan trọng mà sau này, nếu bạn để ý, nó sẽ là chi tiết cực kì quan trọng để cho Quỷ Mộ- Quyển 2 có thể viết tiếp tục. Thử để ý đi nhé, tôi sẽ gợi ý bạn 1 chút, đó là 1 mục tiêu của cả đám. - 1 chi tiết hơi vô lý một chút, đó chính là nhà Tư Huyền, ở thời điểm này trong lịch sử, chẳng ai dám trưng cả đống châu báu ra như thế. Điểm này có lẽ là 1 cái sạn lớn trong truyện, tôi vô cùng tiếc vì đã không tìm hiểu kỹ càng trước viết. Xin lỗi các vị. - Về xác khí, cái này theo tôi được biết là có thật, nó vừa hợp tính khoa học vừa hợp tính huyền học. Hơi người chết có mang nhiều vi khuẩn, nấm mốc, hít vào thì đúng là hại sức khỏe vô cùng. Huyền học thì, con người sống mang 2 thứ khí âm dương, 2 thứ khí này cân bằng thì con người khỏe mạnh, nếu lệch đi sẽ bị bệnh tật hoặc tử vong, mà xác khí là âm khí, con người hít vào… thì phần khí âm sẽ trấn áp phần dương khí, đâm ra bị bệnh. - Đờm đen, thật ra ban đầu tôi định cho là máu đen, nhưng nghĩ lại như vậy thì ác quá… máu nào cho đủ. Và hôm đó tôi bị bệnh, tôi khạc ra 1 cục đờm xanh, thế rồi tôi tự dưng nghĩ đến… sao lại là máu mà không phải đờm. Hehe, thế đấy, đây là 1 sự vô tình. - Sẽ có người thắc mắc, vì sao tôi cho nhân vật của mình toàn cầm rựa, có nhiều người nghĩ nó gây nhàm chán và thiếu sự phong phú. Nhưng cá nhân tôi lại nghĩ, 1 đám những anh cao to đen hôi cầm rựa, quả thật rất ngầu. - Một chi tiết thú vị nữa, đó là Bảy bại, nhân vật này khá quan trọng trong câu truyện, Bảy bại trong truyện là một thằng mạng lớn, trời đánh không chết. Có biến cố thì hình như đều do nó gánh cả, và hình như là nhân vật bất tỉnh/ngủ nhiều nhất trong truyện. - Về thân thế của em Mai, nếu các bạn muốn biết, hãy search google tìm từ khóa “biệt đội Thiên Nga” - Ông Xường, đây là 1 nhân vật có thật trong lịch sử Sài Gòn, ông là người nắm trọn kinh tế của khu Chợ Lớn ngày xưa, tôi đã tìm hiểu về những đại gia Sài Gòn thời đó, nhưng quả thật, tôi chỉ thấy ông Xường là hợp… có lẽ vì ông là người Minh Hương. - Việc ăn thịt người của Trung Tài, có lẽ đây là chi tiết ớn óc nhất, nhưng lý giải trong truyện lại khiến mọi người thất vọng, để tôi bật mí nhé, chi tiết đó là ảo, sự thật tôi sẽ nói rõ trong ba phần cuối trong sách (nếu đc xuất bản) =.=” - Về phần súng ống, thật ra thời đó, việc buôn lậu súng khá là nhiều, thế nhưng tôi lại không thích cho nhân vật mình cầm súng ống cho lắm, tôi thích giáp lá cà hơn. Thời đó, Việt Nam còn buôn luôn cả súng phóng lựu. - Nanh hổ, cá nhân tôi thì khá là tin về việc nanh hổ, móng hổ có thể tránh tà ma. Nếu ai đọc Quỷ Mộ mà chưa đọc “Lên núi cấm săn rắn hổ mây” thì hãy tìm đọc, đó là nguồn gốc của cái nanh hổ của Nhân Vật chính. - Trở lại con Sơn Quỷ, nói thế nào nhỉ, đây là 1 đoạn gây hài là chính, tôi không muốn truyện của mình quá u ám và đậm màu chết chóc, nhưng đây cũng là chi tiết chấp nối để cứu sống nhân vật chính trong cái hang Khiển Thây Ngãi. Các bạn không thắc mắc vì sao tự dưng trong đêm tối lại có ánh đuốc lập lè dẫn đường thoát cho 2 nhân vật sao ? - Còn những kiến thức hạn hẹp mà tôi cố gắng lòng ghép vào truyện như lăng mộ và lăng tẩm, có 1 phần là thật 1 phần là do tôi tự tưởng tượng ra. Nếu ai có kiến thức, xin chỉ bảo, tôi vô cùng cảm ơn. Cuối cùng, chân thành cảm ơn anh em voz, gmb, mòe và những đọc giả đã theo dõi truyện suốt thời gian qua. Mọi người là động lực để tôi có thể cầm viết. Tôi còn nhỏ, kinh nghiệm không nhiều, dám liều mạng ở nhà mà viết truyện ngoài đường, nên truyện sẽ có nhiều điều không hợp tình hợp lý, mong các chỉ bảo để có thể hoàn thiện bộ truyện. Nói khách sáo là vậy, vì tôi biết có nhiều người lớn hơn tôi rất nhiều, nên viết những dòng này, tôi suy nghĩ kỹ càng, không dám trịch thượng. Chân thành cám ơn. William kính bút *** Nhớ lại hồi sau chiến tranh Việt Nam, độ năm 75 76. Tôi từ mặt trận về quê đoàn tụ với gia đình, nào ngờ về tới đất Cao Lãnh, Đồng Tháp, thì thấy ở đây nhà cửa tang hoang, không còn sinh khí. Tôi chạy đi tìm nhà mình, thấy bà con ở đó còn lác đác vài người, tôi hỏi thăm thì mới biết được rằng. Lúc tôi đi lính, vợ tôi bệnh nặng mà qua đời, đứa con gái thì được ông Tư Huyền, chủ bến ghe thương lòng nhận nuôi, chuyện cũng hơn mấy tháng rồi. Tôi Nghe xong muốn đứng không vững, trời đất tối sầm lại, Tôi liền hỏi: "Vậy bây giờ, chú có biết ông Tư Huyền ở đâu không?" Người đó nói: "Nghe đâu ổng đi theo sông Hậu, nghe đâu xuôi xuống Trà Vinh, Sóc Trăng để mần ăn gì đó, tôi cũng không rõ" Tôi nghe xong cũng mừng, tạm biết là con mình đang trong tay người quen, Thế là tôi mướn xe, đi đến Sông Tiền. Kím ghe xuồng gì đó để qua sông. Đến bờ sông Tiền, thấy nước chảy cuồn cuộn, tôi nhìn mà nghĩ cho cuộc đời tự như con sông, chảy hoài chảy hoài, chảy qua là không lưu luyến gì lại được. Đời đi lính, tử biệt với đồng đội anh em, nay lại phải gặp cái cảnh sinh ly với gia đình con cái. Bất giác tôi thở dài. Trời lúc này chập chen tối, cũng không tìm thấy ghe xuồng nào để qua sông được, tôi đành gối đầu trên balo, nằm ngủ một chút. Nữa đêm chợt nghe có tiếng xuồng máy chạy, tôi tỉnh ngay. Ngửa đầu thì thấy trăng treo lơ lửng. Tôi đứng bên bờ sông, thấy xa xa có cái xuồng máy chạy xuôi dòng, tôi mừng húm, đưa tay lên miệng rồi hét to: "Xuồng ơi" Giữa bốn bề nghe tiếng tôi vang vọng, người trên xuồng hình như cũng đã thấy tôi, cái xuồng liền ghé vào bờ. Tôi thấy ngồi trên xuồng là một thằng thanh niên, cũng bự con lắm, tầm khoảng 25, với một con bé gái tầm mười tám mười chín, nom cũng xinh. Tôi hỏi: "Anh trai, cho tôi đi nhờ qua kia bờ được không ?" Thằng thanh niên nhìn tôi chăm chú nói: "Anh là bộ đội về quê hả ?" Tôi gật đầu, đoạn tôi cũng không dấu diếm gì thằng thanh niên, tôi kể lại chuyện nhà, nói là muốn về Trà Vinh tìm con gái. Thằng thanh niên gật gù, nó nói: "Em tên Bảy bại, còn nhỏ này là Út Mỹ. Mà em nói thật, ban đêm đừng băng sông, nguy hiểm lắm" Tôi hiếu kỳ hỏi: "Dạo gần đây, nghe nói có cá lớn, thuyền ghe nào nhỏ nhỏ cỡ này mà ban đêm ban hôm đi sang sông là nó húc lủng thuyền hết" Tôi thấy kì kì, chuyện thủy quái này thì tôi nghe nhiều chứ cũng chưa có ai chứng thực, tôi cười nói: "Xã hội bây giờ phát triển, anh cứ nghĩ mấy thứ ma quái đó làm gì" Thằng Bảy gãi đầu, nó cũng khù khờ nói lại: "Em cũng không tin, nhưng thấy người ta kể lại, em cũng thấy sợ lắm Mời các bạn đón đọc Quỷ Mộ của tác giả William Windless.
Thi Quan Kinh Niên
Thi Quan được định nghĩa chính là người dẫn thi bắt thi. Mà Kinh Niên lại là một thi quan quanh năm dẫn dắt theo bên mình một hành đầu cương thi: “Thi Ngũ gia” rất chi là  đẹp trai. Tiểu cô nương này tuy nhỏ tuổi, nhưng lại không đơn giản. Nửa đêm nửa hôm xua bùa có thể xua được “Cái xác sống” công tử nhà họ Lâm vào mồ khâm liệm, còn bắt gọn được một con Linh Xà hai đầu đã tu thành chánh quả trên Mai Lĩnh, nhiêu đó đã đủ làm mọi người phục sát đất chưa nào? Đã vậy cô bé Kinh Niên này còn lơ nga lơ ngơ, lên núi bất cẩn để quỷ nhập vào người, lúc tham ăn thì mắt đen sẽ xoay lúng liếng, còn giả bộ ra vẻ đáng thương, lảm nhảm tâm sự với Thi Ngũ gia hệt như người nhà mình, thậm chí còn cho cương thi mặc đồ lộng lẫy diêm dúa hơn cả bản thân, sau đó tất nhiên là hàng loạt chuyện kỳ quái xảy ra. Cương thi Thi Ngũ gia không có tâm, nhưng lại cho cô ấm áp kỳ lạ, đây là cái thế giới kỳ ôn gì thế? Chưa kể sau đó một đạo sĩ “Chỉ biết xua hồn đuổi quỷ, suốt ngày hò hét khẩu hiệu” bắt đầu lên sàn, đợi cho Thi quan Đạo sĩ đều dọn hết lên bàn tiệc, thì diễn biến lại ra thế nào đây? Chỉ là một câu chuyện thần bí, không kinh dị, chỉ mang màu sắc hài hước nhẹ nhàng, đừng sợ hãi, cứ nhảy vào mồ đi. *** Trên đời có đạo sĩ trừ yêu diệt ma, cũng có thi quan kiếm tiền nhờ dẫn xác, quản thi thể. Nói đơn giản, thi quan chính là một loại nghề nghiệp không được đàng hoàng cho lắm - kiếm tiền nhờ những tử thi biết đi, còn có tên gọi là cương thi. Mỗi thi quan khi "làm việc" đều phải có một hành đầu đi theo. Hành đầu chính là cương thi đã được thi quan hàng phục và có thể làm theo lệnh của chủ nhân. Trong câu chuyện này có cô nhóc tên Kinh Niên, một thi quan trẻ tuổi, dắt theo hành đầu gọi là Thi Ngũ gia. Kinh Niên bề ngoài nhanh nhẹn lại tinh quái, thường lấy vẻ đáng yêu để lừa người. Thi Ngũ gia cũng là hành đầu có một không hai - không những tuấn nhan đẹp đẽ mà còn có sức mạnh kinh người. Hai người tạo thành một cặp kì lạ, cùng nhau xông pha giang hồ, đi bắt thi độ hồn, giúp người tránh khỏi ma quỷ tà ác. Họ đến từ đâu, muốn làm gì, không một ai biết cả. Tuy nhiên chỉ có một điều ai cũng nhận ra được, đó là Thi Ngũ gia đối với Kinh Niên đã vượt qua cả tình cảm giữa hành đầu và thi quan bình thường. Câu chuyện của chúng ta bắt đầu từ khi Kinh Niên nhận lời dẫn xác Lâm công tử ở thành nọ, trên đường tình cờ rơi vào vùng núi có âm khí dày đặc, bị ma nhập hồn. May thay giữa chừng xuất hiện tên đạo sĩ Gia Cát Thủ cứu giúp, từ đó hai người một thi cùng đồng hành. Cũng từ ấy trở đi, những sự việc kì lạ liên tiếp ập đến: Linh Xà hai đầu nuốt hồn người, tòa phế trạch có chiếc gương tạo ảo giác, khu rừng đầy xác sống... Trải qua bao phen suýt chết, Kinh Niên và Thi Ngũ gia gặp thêm những người mới - có bạn, có thù, có người quen cũ. Bí mật về thân thế của hai người dần dần được tác giả hé lộ qua những trang truyện. Kinh Niên vốn là ám vệ của hoàng thượng, luôn sống trong bóng tối. Lúc còn trẻ tuổi nông nổi, nàng lén lấy trộm một tấm gương trong chùa, vô tình phá bỏ phong ấn của cương thi Ngũ gia. Sau khi thoát khỏi cấm chế, cương thi điên cuồng giết người, không ai ngăn nổi. Kinh Niên liều mình dùng cấm thuật áp chế thành công Ngũ gia, nhưng lại bị dị biến, cơ thể vĩnh viễn không lớn lên, cũng không già đi. Bí mật ám vệ bại lộ, Kinh Niên bị đuổi khỏi hoàng cung, bèn trộm dẫn theo Thi Ngũ gia. Từ đó nàng và Ngũ gia cùng nhau phiêu bạt, tìm cách để giải phóng linh hồn Ngũ gia khỏi thân xác cương thi, để hồn ngài được thăng thiên. Mấy trăm năm trôi qua, vật đổi sao dời, trong một lần hoàng thượng tế linh, có một hành đầu đột nhiên nổi điên cắn phá. Kinh Niên tiện đường đi qua ném lên một lá bùa, lại thành công chế ngự được cục diện hỗn loạn. Hoàng thượng say mê thuật pháp, gặp được Kinh Niên liền biết là người tài không thể bỏ lỡ, một mực đòi nàng vào triều làm ngự quan, quản lí các ngự thi. Không thể làm trái thánh ý, Kinh Niên dắt theo Thi Ngũ gia vào cung. Nhưng mọi chuyện lại càng rối tung lên khi hoàng thượng tình cờ biết được Thi Ngũ gia chính là ngự thi năm xưa bị đánh cắp. Kinh Niên tiếp tục bỏ trốn một lần nữa, nào ngờ càng đi lại càng... trốn không nổi. Với tính cách thấy việc bất bình ra tay của Kinh Niên, hai người dần bị cuốn vào một âm mưu lớn hơn của phái tà thuật. Lão hoàng thượng theo đuổi thuật trường sinh, rơi vào bẫy của ác ma Hình Thiên, lập đàn tế khắp nơi. Người chết nhiều như ngả rạ, âm khí dày đặc, yêu ma xuất hiện quấy phá. Giữa lúc hỗn loạn, linh hồn Hình Thiên xuất thế, nhưng hắn cần một cơ thể con người để nhập vào, mà Thi Ngũ gia lại là người thích hợp nhất. Hắn trăm phương nghìn kế muốn cướp Ngũ gia về tay, nhưng Kinh Niên cũng là một kẻ cứng đầu, nào chịu để yên cho ác ma hoành hành. Trải qua một trận tử chiến, kẻ chết, người bị thương. Kinh Niên cứu được thiên hạ khỏi ác ma Hình Thiên, nhưng những người bạn tốt bên nàng cũng phải hi sinh không ít. Câu chuyện kết thúc mở khi Kinh Niên và Thi Ngũ gia tiếp tục lên đường khám phá giang hồ, chờ tới ngày tìm được cách để hồn Ngũ gia được thăng thiên. "Thi cũng có tâm, nhưng thi không phải người, có tâm khó nói, không thể cưỡng cầu." Mặc dù là cương thi nhưng Ngũ gia vẫn có linh hồn, có cảm xúc, chỉ là thân thể cứng ngắc, không thể hoạt động như người bình thường. Trải qua nhiều năm bầu bạn cùng nhau, mối quan hệ giữa Kinh Niên và Ngũ gia đã trở nên đặc biệt. Câu chuyện này thú vị ở chỗ hai nhân vật chính rất... không bình thường. Nếu bạn tìm đến cuốn sách này vì tình yêu nam nữ thì xin lỗi, nó không thể đáp ứng được yêu cầu ấy. Tình cảm của Kinh Niên và Ngũ gia rất khó nói, vừa là yêu thương vừa có chút che chở, nương tựa lẫn nhau. Bên cạnh đó, còn có tình cảm giữa huynh đệ, giữa những người bạn cũng rất đáng trân trọng. Dù là người hay ma trong câu chuyện này thì cũng đều vướng phải một chữ "tình" mà vạn kiếp bất phục. Truyện thi quan kinh niên thực sự không dành cho những bạn yếu tâm lí, vì tuy không có những cảnh thót tim giật mình như xem phim ma nhưng phần lớn phân cảnh diễn ra trong... nghĩa địa, máu thịt bầy nhầy. Nhưng nếu bạn muốn tìm một chút gì đó thú vị để đổi gió khỏi những câu chuyện thông thường thì xin chúc mừng, bạn đến đúng địa chỉ rồi đó. Còn nếu bạn không thích thể loại kinh dị đầy máu me này có thể đọc truyện cô vợ đáng yêu của tổng tài,một câu truyện ngôn tình đang rất hot hiện nay   Mời các bạn đón đọc Thi Quan Kinh Niên của tác giả Thác Ẩn.
Tráo Huyết
Trên nền xi măng của sân chung cư, thi thể của một người phụ nữ đang nằm sõng xoài ở một tư thế gãy gập, máu sau đầu chảy ra lênh láng. Mọi người nhận ra đó là chị Matsumi Akoyama, năm nay 35 tuổi, sống ở khu nhà này. Không hiểu vì lí do gì chị ta nhảy lầu tự tử. Ở trên sân thượng tòa nhà, nơi người phụ nữ nhảy lầu tự vẫn, một sợi dây phơi quần áo bị đứt đang phất phơ trong gió. Cảnh sát đi lên tầng thượng để bảo vệ hiện trường. Lên tới nơi, cánh cửa sắt dẫn vào sân thượng đã bị cố định chặt bằng một sợi dây kẽm, chỉ có thể mở hé cửa chứ không thể ra được bên ngoài. Hai, ba viên cảnh sát cố sức đạp mạnh vào cánh cửa dẫn lên sân thượng, cánh cửa bật tung ra, trên sân thượng không có một bóng người. Họ căng bạt lên sàn sân thượng để bảo vệ chứng cứ, sợi dây phơi quần áo gần ngoài rìa nhất đã đứt. Trên sàn sân thượng chỉ chỏng chơ 1 chiếc điện thoại smartphone. "Nếu khóa cửa trong như thế này, đích thị là một vụ tự vẫn rồi." "Báo cáo sếp, tôi đã khảo sát xung quanh, không có lối thoát nào cả, chỉ có một đường lên duy nhất là cánh cửa sắt kia." "Thế là rõ rồi, đây chỉ là một vụ tự vẫn thôi.” Vụ án cứ như vậy dần rơi vào quên lãng, sau đó là những vụ giết người hàng loạt khác, nhưng cảnh sát không thể tra ra được bất cứ manh mối nào. Tên sát nhân bí ẩn luôn để lại bên xác nạn nhân một dòng kí hiệu rồi biến mất. Trong khi đó, một du học sinh tại nhật tên Minh vô tình được người bạn đã chết của mình cảnh báo về những vụ án này... *** Những tiếng mưa rơi rả rích vào ngày cuối tuần phá tan không gian vốn dĩ yên ắng và tịch mịch của khu rìa ngoại ô Komagome. Trên vỉa hè, từng tán ô xòe rộng, từ từ di chuyển rồi tản xuống các hầm đi bộ. Ở trên đường, những chiếc ô tô di chuyển chầm chậm dưới làn mưa. Trong sân của một khu chung cư nhỏ nằm sâu trong con đường nhỏ, bầu không khí ấy bị phá vỡ bởi một tiếng động rất lớn: "Rầm...." Đi kèm ngay sau đó là tiếng thét rất dài: "Á...á... có người chết..." của một người dân khu chung cư vừa đi bộ từ bãi đỗ xe ngang qua sân. Đám đông tụ lại rất nhanh. Trên nền xi măng của sân chung cư, thi thể của một người phụ nữ đang nằm sõng xoài ở một tư thế gãy gập, máu sau đầu chảy ra lênh láng. Người phụ nữ nằm ngửa trên nền đất, đôi mắt vẫn mở to chăm chăm khiến những người chứng kiến không khỏi kinh hãi. Mọi người nhận ra đó là chị Matsumi Akoyama, năm nay 35 tuổi, sống ở khu nhà này. Không hiểu vì lí do gì chị ta nhảy lầu tự tử. Chưa bao giờ ở khu nhà này có tiền lệ có người tự vẫn. Một lát sau, cảnh sát và xe cứu thương mới tới, giữ nguyên hiện trường để điều tra. Những vệt máu cứ loang dần ra trên nền sân bê tông như những đợt sóng gợn, chảy ri rỉ ra xung quanh. Một vệt máu đó lan xuống và chạm phải chân một người. Đó là Minh, năm nay 22 tuổi, sinh viên năm 3 của trường đại học Seikei, Tokyo, khoa Kinh tế. Cậu đang trên đường tới thăm anh họ của mình, trọ ở một khu nhà gần đây. Thấy có vụ tự vẫn, cậu tò mò bước vào xem. 3 năm đi du học, Minh đã chứng kiến rất nhiều những vụ tự vẫn trên đất nước Nhật Bản, chẳng ở đâu xa, mà ở ngày trong thành phố Tokyo này. Minh có hứng thú kì lạ với việc tìm hiểu nguyên nhân những con người này từ bỏ cuộc sống của chính mình, bởi vì cậu chẳng sao hiểu nổi một người lại có thể sẵn sàng gieo mình xuống đường ray tàu điện ngầm? Ở trên sân thượng tòa nhà, nơi người phụ nữ nhảy lầu tự vẫn, một sợi dây phơi quần áo bị đứt đang phất phơ trong gió. Cảnh sát đi lên tầng thượng để bảo vệ hiện trường. Lên tới nơi, cánh cửa sắt dẫn vào sân thượng đã bị cố định chặt bằng một sợi dây kẽm, chỉ có thể mở hé cửa chứ không thể ra được bên ngoài. Hai, ba viên cảnh sát cố sức đạp mạnh vào cánh cửa dẫn lên sân thượng, cánh cửa bật tung ra. Trên sân thượng không có một bóng người. Có vẻ như người phụ nữ đã nhảy xuống từ chỗ này. Một viên cảnh sát khác ngó đầu xuống phía dưới 9 tầng lầu, nơi đám đông vẫn xúm lại dưới mưa. Họ căng bạt lên sàn sân thượng để bảo vệ chứng cứ, Sợi dây phơi quần áo gần ngoài rìa nhất đã đứt. Trên sàn sân thượng chỉ chỏng chơ 1 chiếc điện thoại smartphone, đã được viên cảnh sát nhanh chóng cho vào túi nilon cất giữ. "Nếu khóa cửa trong như thế này, đích thị là một vụ tự vẫn rồi." Trưởng ban điều tra thốt lên. Một viên cảnh sát chạy về báo cáo: "Báo cáo sếp, tôi đã khảo sát xung quanh, không có lối thoát nào cả, chỉ có một đường lên duy nhất là cánh cửa sắt kia." "Thế là rõ rồi, đây chỉ là một vụ tự vẫn thôi, giờ tôi sẽ giao cho cậu nhiệm vụ điều tra nguyên nhân của vụ tự sát này và bàn giao thi thể cho gia đình nạn nhân nhé." "Rõ, thưa sếp!" Mưa ngày một nặng hạt hơn như nhằm để che giấu một bí mật khủng khiếp nào đó. Một người đang lặng lẽ quan sát thi thể người phụ nữ được đặt vào trong bao, khiêng lên xe cứu thương chuẩn bị đưa đi mất. Lẫn trong đám đông, hắn ta thầm rồi quay lưng bỏ đi mất. Mời các bạn đón đọc Tráo Huyết của tác giả Thục Linh.