Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chuyện Không Công Bố Của Sherlock Holmes

Enleri đang suy ngẫm.           Và suy ngẫm khá lâu.           Sau đó nhà thám tử danh tiếng đứng lên, giật phắt tập muời trang giấy vừa đánh máy, xé toạc thành bốn mảng không đều nhau.           Anh ta cau có nhìn chiếc máy chữ câm lặng,  nó thì nhìn lại ông chủ cáu kỉnh với vẻ diễu cợt ra mặt.           Điện thoại chợt vang lên khiến thám tử chạy vội lại.           - Này, anh gầm gừ gì với bố anh thế! - vẳng ra giọng nói với âm điệu rầu rầu - Bố đang giải trí..theo đúng lệnh của anh rồi đấy thây.           - Bố ạ, đấy là do việc của tôi không có gì hay ho, bố có hiểu không. Các vấn đề chẳng  ăn nhập gì cả. Này, bố ơi, tình hình tam giác Bes-mut chỗ bố ra sao nhỉ?           - Nắng thiêu đốt, nước xanh lóa mắt giữa một biển cát, buồn nôn lên đuợc. Bố đang chuẩn bị quay về đây.           - Ồ, không, không - Enleri đáp cả quyết - Chuyến đi này tốn bao nhiêu tiền và tôi muốn có gì bù lại bố ạ.           Thanh tra Kuin thở dài thiểu não.           - Anh là kẻ độc tài thực sự mỗi khi có công việc đụng chạm đến tôi. Cần phải nghĩ rằng bố anh là kẻ tàn phế rồi nhá.           - Bố chỉ quá mệt đấy thôi.           - Có lẽ dẫu sao bố với anh vẫn thỏa thuận đuợc với nhau chứ nhỉ? - Vẻ hy vọng lộ rõ qua giọng nói của thanh tra Kuin           - Bố đã nhận đuợc lệnh phải nghỉ ngơi, tiêu khiển và không đuợc nghĩ chuyện gì..           - Thôi đuợc, thôi đuợc. Đối diện với ngôi nhà nhỏ của bố đang có trò chơi - quăng vòng vào cổ vịt. Bố sẽ ra đó chơi một lúc vậy.           - Chơi thật lực đi bố ạ. Sáng mai con sẽ gọi điện xem kết quả ra sao.           Enleri đặt ống nghe rồi lại căm tức nhìn chiếc máy chữ. Vấn đề vẫn không giải quyết đuợc, anh ta đi quanh chiếc bàn rồi lại sải buớc trong gian phòng từ đầu nọ đến đầu kia.           Thật may, lúc đó quả chuông con treo ngoài cửa chính reo lên reng reng.           - Cứ để bánh mì kẹp thịt ngoài bàn ấy - Enleri quát với ra - và cầm lấy tiền ở đấy.           Nhưng kẻ giật chuông không chịu nghe theo. Anh ta đi qua phòng khách vào căn buồng, nơi nhà thám tử vĩ đại đang khổ sở. Enleri làu bàu:  - Ra là anh à? Tôi cứ nghĩ là tay mang thức ăn từ  nơi chế biến tới.           Grant Ame bằng vẻ buông tuồng đặc quyền của một triệu phú cứ tiến thẳng vào ngăn đồ uống. Anh ta nhét vào đó một phong bì lớn bằng giấy thô đang cầm trong tay rồi    với chai Wisky và chiếc cốc lớn.           - Nhân thể thông báo là tôi cũng có mang thứ gì tới. Còn nguyên lành hơn chai Wisky của anh - Anh ta ngồi chễm chệ lên đi-văng - Wisky của ngài khá đấy, Enleri.           - Rất mừng là ngài ưng nó. Cứ cầm nó đi theo. Tôi đang làm việc.           - Nhưng tôi yêu cầu có sự đối xử đặc biệt với tôi như với một nguời quý trọng anh. Tôi đọc tất cả các cuốn sách anh viết cơ mà.           - Những cuốn sách mà anh chôm ở chỗ các ông bạn bừa bãi của anh chứ gì. Anh có mua sách bao giờ đâu.           - Thế là đối xử bất công. Ngài sẽ phải xin tha lỗi, khi biết vì sao mà tôi đến đây.           - Vì sao nào?           - Thì tôi đã nói là có mang đến thứ gì đó. Chẳng lẽ anh không nghe thấy tôi nói à?           - Thứ gì thế nhỉ?           - Cái phong bì kia. Gần chai Brandy.           Enleri quay đầu về phía đuợc chỉ nhưng Grant ngăn lại.           - Đầu tiên tôi phải nhập đề cho ngài đã thám tử ạ.           Lại có tiếng chuông vang lên ngoài cửa. Lần này đúng là họ mang bánh mì kẹp chả đến. Enleri ra phòng ngoài rồi quay vào với cái mồm nhét đầy thức ăn.           - Tại sao anh không thích làm việc nhỉ, Grant? Thu xếp chỗ ngồi ở một trong các nhà máy đồ hộp của bố anh hoặc làm chân thu nhận đậu. Muốn làm gì thì làm nhưng hãy để cho tôi yên. Tôi nhắc lại là đang bận việc.           - Đừng nhảy sang chuyện khác - Grant nói - chỗ anh có dưa chuột ngâm không nhỉ? Tôi khoái món dưa chuột ngâm với gia vị lắm.           Enleri chìa cho hắn ta một khoanh dưa chuột, rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế tựa.           - Thôi vậy, tuôn gì thì tuôn ra đi. Mau mau cho xong chuyện đó. Anh muốn để tôi nhập đề à. Chuyện gì nhỉ?           - Đầu tiên là mọi chuyện khởi đầu ra sao đã. Hôm qua sau bữa chính có một nhóm tụ tập đến Wetchero. Tôi có mặt trong nhóm đó. Tiêu khiển tí chút.           - Người đời may mắn thế đấy- Enleri nói với vẻ ghen tị.           - Bơi một lúc, chơi vài tua quần vợt và mấy trò nữa. Dân chúng không lấy gì làm đông cho lắm.           - Bây giờ phần đông dân chúng có thói quen xấu là làm việc sau khi ăn...           - Vì Chúa, anh đừng nói nhăng nói cuội. Tôi cóc thấy xấu hổ đâu - Tay lêu lổng trong đám dân giao tế nói vậy. Tôi đang tỏ sự phục vụ với anh. Có một chiếc phong bì bằng cách bí mật nào đó lọt vào xe của tôi,  và tôi giao lại nó cho anh theo đúng yêu cầu.           - Yêu cầu của ai?           En leri vẫn chưa ngó sang chiếc phong bì lần nào           - Tôi không có khái niệm gì về chuyện đó. Khi định chui ra ngoài xe thì thấy ở trên đệm chiếc "Jaguar" có chiếc phong bì. Trên có ghi: "Xin nhờ chuyển cho Emleri Kuin". Thừa nhận là người ta đã sợ anh đến nỗi không dám tự làm mà phải nhờ đến quan hệ gắn bó giữa tôi với anh.           - Một câu chuyện tẻ ngắt. Nghe này Grant. Chính anh nghĩ ra chuyện đó phải không? Giờ tôi chẳng còn lòng dạ nào mà đùa. Thời hạn đang co lại, không còn lúc nào nghỉ lấy hơi. Tốt hơn là anh đi tán gẫu với cô bạn đẹp gái nào của anh đi thôi.           - Còn chiếc phong bì? - Grant nhỏm phắt dậy như một võ sĩ nhà nghề, anh ta cầm chiếc phong bì từ quầy giải khát đưa lại cho Enleri - Đây, tôi đưa cho anh theo như họ đã ấn định. Chuyển giao tận tay. Anh muốn làm gì với nó thì làm.           - Vậy tôi phải làm gì đã nào? - Enleri hỏi với giọng ngán ngẩm.  - Tôi chẳng hiểu ra sao. Đây là một bản ghi chép, vẻ như cũ lắm rồi. Có lẽ anh cần phải đọc hết nó.  - Có nghĩa là anh đã xem bên trong nó rồi phải không?  - Tôi coi đó là nghĩa vụ của mình. Vì người ta có thể viết bằng mực có chất độc, hoặc tuồn ảnh khiêu dâm vào đó. Tôi biết tính cách của anh, bạn thân mến ạ. Không có cách xử sự nào khác.  Tuy bất đắc dĩ nhưng không khỏi có đôi chút tò mò, Enleri cầm lấy chiếc phong bì.  - Nét chữ đàn bà.  - Tôi cảm thấy nội dung hoàn toàn vô hại - Grant nói, tay xoay xoay chiếc cốc - Vô hại nhưng rất thú vị.  - Phong bì đúng chuẩn cỡ- Enleri lầm bầm - dùng cho loại giấy có có kích thước 8.5 x 11 in*.  - Lạy Chúa, Enleri, anh có một tâm hồn kế toán quá đấy. Giá anh nhòm vào bên trong nó tí chút thì hơn.  Enleri bóp cong miệng chiếc phong bì để lấy cuốn vở có bìa cứng bằng các- tông, trên đó có viết mấy chữ to tuớng, kiểu chữ cổ  "Để ghi chép".  Mời các bạn đón đọc Chuyện Không Công Bố Của Sherlock Holmes​ của tác giả Enleri Kuin.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nhà Băng
“NHÀ BĂNG” , nguyên tác tiếng Anh “The money changers”, người dịch Vũ Đình Phòng, Nhà Xuất bản Hà Nội, xuất bản năm 1996. Nếu anh giàu tức là anh nghèo Bởi anh sẽ giống như con lừa còng lưng Dưới những thỏi vàng đè nặng Anh phải vác tiền bạc của cải Nhưng chỉ trên một quãng đường Rồi cái chết sẽ giải tỏa cho anh khỏi nỗi nhọc nhằn đó. *** Nhiều người vẫn còn giữ lại ấn tượng lo âu, dai dẳng trong hai ngày hôm đó của tháng Mười. Hôm ấy là thứ Ba, Ben Rosselli, chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại số một Hoa Kỳ, đồng thời là cháu nội của cố sáng lập viên nhà băng này đã công bố một tin ghê rợn. Tin này lập tức loan truyền khắp các phòng ban và ra cả bên ngoài. Hôm sau, thứ Tư, người ta phát hiện ra một vụ ăn cắp ngay tại chi nhánh chính của Ngân hàng đóng ngay ở trung tâm thành phố, sự kiện này mở đầu cho một loạt sự kiện nối tiếp nhau như phản ứng dây chuyền, đầy bất ngờ, dẫn đến một thảm họa tài chính, đến một bi kịch con người, đến một cái chết.   Khi Tổng giám đốc Ben Rosselli gọi điện cho một số các quan chức thân cận dưới quyền, chưa ai đoán được ông định nói điều gì. Một số nhận được lời triệu tập trong lúc họ ăn sáng ở nhà, số khác vào lúc họ bước vào phòng giấy. Dĩ nhiên đó là những quan chức cấp cao nhất nhà băng, nhưng Ben Rosselli còn triệu tập cả một số nhân viên kỳ cựu mà ông vẫn thường coi là bạn bè thân thiết. Tất cả đều nhận được câu triệu tập y hệt nhau: "Mời đến hội trường họp lớn trong Tòa nhà cao ốc vào mười một giờ sáng nay."   Đó là tên gọi trụ sở công khai của Ngân hàng Thương mại số một Hoa Kỳ. Đúng giờ quy định, khoảng hai chục người đã tề tựu trong phòng họp. Trong lúc chờ đợi, họ vẫn đứng bàn tán xôn xao, không ai quả quyết kéo ghế ra ngồi. Đột nhiên một tiếng nói to làm mọi người ngừng trò chuyện:   - Ai cho phép bác làm chuyện này? Các cặp mắt quay cả lại nhìn người vừa nói câu đó: Roscoe Heyward, Phó tổng giám đốc, đặc trách khu vực các tài khoản. Ông ta quát hỏi bác quản lý nhà ăn dành cho các quan chức cao cấp của nhà băng, lúc này đang rót rượu Xeres ra ly. Đây là thứ rượu quý đặc biệt của Tây Ban Nha. Là cấp lãnh đạo cao, Roscoe Heyward nổi tiếng là người nghiệt ngã trong công việc theo đúng các khuôn phép của nhà băng. ... *** Arthur Hailey (người Anh có quốc tịch Canada) (1920 - 2004) là tác giả của mười một cuốn best-sellers, trong đó có "Bản tin chiều" đã được dựng thành phim. Ông có 11 tiểu thuyết bán rất chạy được in ở 40 quốc gia với 170 triệu bản. Hailey được coi là người trường vốn trong sự nghiệp sáng tác. Những cuốn truyện ông viết đã vượt khỏi quê hương, được xuất bản trên 40 nước với hơn 170 triệu bản. Điểm nổi bật trong tác phẩm của ông là những nhân vật có xuất xứ rất tầm thường nhưng khi bị đẩy vào hoàn cảnh bi hùng đã vượt lên thành một số phận khác.  Sinh ngày 5/4/1920, Hailey sớm phải bỏ học ở tuổi mười bốn, bởi cha mẹ không đủ tiền chu cấp ăn học cho con trai. Sau đó, chàng trai Arthur trở thành phi công trong quân chủng Hoàng gia Anh trong đại chiến 2. Năm 1947, nhà văn tương lai rời bỏ xứ sở sương mù đến Canada và nhập quốc tịch tại đây. Thời gian đầu nơi đất khách, Hailey phải kiếm sống như một nhân viên tiếp thị cho nhà máy sản xuất máy kéo. Được một thời gian thì việc viết lách đã cám dỗ Hailey. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông là The Final Diagnosis, xuất bản năm 1959, kể về một bác sĩ chẳng may gây ra cái chết với một bé sơ sinh.  Mải mê với những con chữ trong một thập kỷ, rồi ông trở về công việc kinh doanh, chỉ ngồi vào bàn viết như một thú vui. Bà vợ của Hailey cho biết, nhà văn rất khiêm tốn và giản dị, nhưng ông có một niềm hân hoan đặc biệt khi đọc những bức thư của độc giả tán dương tác phẩm mình. Hậu duệ của ông dự định sẽ tổ chức một bữa tiệc tưởng nhớ ông vào tháng giêng theo đúng nguyện ước của người quá cố. Mười bốn tuổi đã nghỉ học vì cha mẹ không đủ tiền cho ông đi học tiếp, Arthur Hailey tham gia thế chiến thứ 2 với tư cách là phi công trong không lực hoàng gia Anh và trở thành nhà văn khi xuất bản tác phẩm đầu tay The final diagnoisis vào năm 1959.  Arthur Hailey có cách viết tiểu thuyết rất hấp dẫn, mô tả những người bình thường trong hoàn cảnh bất thường. Năm 2001 ông nói với hãng tin AP: "Tôi không thật sự tạo ra ai cả. Tôi chỉ lấy từ đời thật". Một số tác phẩm của ông đã được ra tiếng Việt như Phi trường, Bản tin chiều, Trong khách sạn... Mời các bạn đón đọc Nhà Băng của tác giả Arthur Hailey.
Hồ Sơ Cuối
Bạn đã từng nghe đến một tổ chức tâm linh nhưng do nhà nước quản lý? Đã bao giờ nghe đến những vụ án bí ẩn chưa từng được công khai? Những vụ án đầy ly kỳ, những tên tọi phạm cực kỳ hung tàn và những góc khuất thối nát trong xã hồi sẽ được phơi bày qua cuốn tiểu thuyết này... Hãy thử trải nghiệm nỗi kinh hoàng tột cùng bị chôn giấu... *** 1000 năm trước, cái thời mà nhân giới vẫn còn cuồng tín thần linh, vẫn còn run sợ quỷ thần... Có một vị thần vì đi ngược tôn nghiêm của thiên giới nên bị trục xuất khỏi thiên cung, căm hận trước những gì mình phải trải qua, trước những bất công mình bị đày đọa nên vị thần này đã mở mang một thế giới mới... Thế giới của những á thần bị quên lãng và ruồng bỏ... Thế lực của y càng lớn thì sự hận thù trong y càng lúc càng tăng lên... Quyết tâm phải đánh sập thiên cung để trả thù nỗi nhục bị trục xuất năm xưa nên y đã liên minh với đại quỷ thần vương nước la sát đem quân thảm sát nhân giới làm bàn đạp đánh đế thích thiên... Nhưng cuối cùng chính y lại phản bội vua pandaka của la sát giới vào phút chót để đổi lấy một danh thần... Y chính là asura ( atula vương) Vị thần chiến tranh của thiên giới năm xưa... Bắt đầu kỷ nguyên của một huyền thoại bất diệt.... Các bạn có tin câu chuyện bên trên không?   Mời các bạn đón đọc Hồ Sơ Cuối của tác giả Nguyễn Điệp.
Cuộc Trốn Chạy Của Josef Mengele
Cái ác liệu có khi nào không phải đền tội? Mặc dù đã chạy trốn sang Mĩ Latinh, không có bản án của cộng đồng quốc tế, nhưng bác sĩ của trại Auschiwitz, Josef Mengele, vẫn phải chịu đựng những gì còn hơn một bản án: một cuộc đời trốn chui trốn lủi, cô đơn, tuyệt vọng trong cái cái nóng như thiêu đốt của miền nhiệt đới Nam Mĩ, trong nỗi lo sợ đến cùng cực. Những thứ còn tệ hơn cả cái chết. Ngòi bút tỉ mỉ của Guez đã miêu tả cả một khung cảnh thiên nhiên hoang dã ở phía Tây bán cầu và hành trình khổ nhục của Josef Mengele từ sau khi rời khỏi châu Âu đến ngày từ giã cõi đời. Giọng văn của ông khéo léo đến độ, nếu không biết đó là Mengele, hẳn khi đọc tác phẩm này, chúng ta đã không khỏi xót thương cho số phận buồn bã cô đơn của một kiếp người ở xứ sở cách chúng ta nửa vòng trái đất. “Một thành công lớn trong việc mô tả một con quỷ lăn lộn trong cái tầm thường xoàng xĩnh sau cái thời là Thiên thần chết ở Auschwitz.”       - Jean-Christophe Buisson *** Trốn chạy có phải là cách để cái ác không phải đền tội. Thế nhưng, trốn chạy cả đời vẫn khó có thể thoát khỏi bán án của lương tâm mình… Cuốn sách kể lại câu chuyện về hành trình bỏ trốn tới Nam Mỹ của Josef Mengele – một bác sĩ thời Đức quốc xã. Bằng ngòi bút sắc bén của một nhà báo kết hợp cùng sự điêu luyện của một nhà văn, Olivier Guez đã lột tả hết sức chân thực cuộc đời của một kẻ trốn chạy cả đời cũng không thoát khỏi bản án của lương tâm mình. Để đến cuối cùng, cuốn tiểu thuyết để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc mãnh liệt hơn bao giờ hết về tội ác của Đức quốc xã cùng những nỗi đau âm ỉ dai dẳng khôn nguôi. Cái ác liệu có khi nào không phải đền tội? Mặc dù đã chạy trốn sang Mỹ Latinh, không phải chịu sự trừng phạt của cộng đồng quốc tế, nhưng bác sĩ của trại Auschwitz, Josef Mengele, vẫn phải chịu đựng những thứ còn hơn cả một bản án: một cuộc đời trốn chui trốn lủi, cô đơn, tuyệt vọng trong cái nóng như thiêu đốt của miền nhiệt đới Nam Mỹ, trong nỗi lo sợ đến cùng cực. Những thứ còn tệ hơn cả cái chết. Để hoàn thành tác phẩm Cuộc trốn chạy của Josef Mengele, Guez đã phải tìm tài liệu về bác sĩ quốc xã trong suốt ba năm. Trong suốt quá trình thai nghén cho cuốn sách, ông cũng tự mình đi tới Günzburg, Argentina và Brazil (đặc biệt là trang trại Santa Luzia ở ngoại ô Serra Negra), nghiên cứu rất nhiều tư liệu, gián tiếp tiếp cận các cuốn nhật ký của viên bác sĩ bỏ trốn để hiểu rõ cách nhìn thế giới của quốc xã. Về quá trình này, ông từng chia sẻ với tờ Le Monde: “Tôi đã sống cùng ông ta, với cái nhân vật đê tiện, tầm thường tột bực đó. Tôi đã bước lên sàn đấu. Tôi đối diện với ông ta. Sáu tháng đầu tiên, có lúc tôi đã kêu tên ông ta trong đêm.” Với ngòi bút tỉ mỉ của mình, Guez đã miêu tả cả một khung cảnh thiên nhiên hoang dã ở phía Tây bán cầu và hành trình khổ nhục của Josef Mengele từ sau khi rời khỏi châu Âu đến ngày từ giã cõi đời. Giọng văn của ông khéo léo đến độ, nếu không biết đó là Mengele, hẳn khi đọc tác phẩm này, chúng ta đã không khỏi xót thương cho số phận buồn bã cô đơn của một kiếp người ở xứ sở cách chúng ta nửa vòng trái đất. Auschwitz là một trong những trại tập trung do Đức Quốc xã xây dựng ở Ba Lan để hành hạ và sát hại dã man người Do Thái trong Thế chiến 2. Rất ít người Do thái đến các trại tập trung này có cơ hội được trở về *** Olivier Guez là nhà báo, nhà văn người Pháp. Ông lớn lên ở Strasbourg, một thành phố gần Đức. Ngay từ khi còn nhỏ, bà ngoại ông đã cho ông đọc rất nhiều. Sau khi học tại Sciences-Po Strasbourg, London School of Economics và Collège e’Europe de Bruges, ông làm nhà báo tự do cho nhiều tờ báo quốc tế như New York Times, Le Monde, Frankfurter Allgemeine Zeitung, Le Figaro Magazine, L’Express, etc. Ông viết chung tác phẩm đầu tay La Grande Alliance với Frédéric Encel. ***   Lão gia “Hạnh phúc chỉ nằm ở những gì khuấy động, và chỉ có tội ác mới khuấy động được; đức hạnh... không bao giờ có thể dẫn tới hạnh phúc.” SADE Con tàu North King rẽ nước trên dòng sông đầy bùn. Trên boong tàu, hành khách chăm chú ngắm nhìn đường chân trời từ khi bình minh lên, và giờ đây, khi những cây cần cẩu ở công trường đóng tàu và vạch kẻ đỏ của khu nhà kho cảng hiện ra trong màn sương, đám khách người Đức cùng hát một khúc quân hành, người Italia làm dấu thánh giá, còn người Do Thái thì cầu nguyện dù trời đang có mưa bụi, các cặp đôi hôn nhau, con tàu cập bến Buenos Aires sau ba tuần lênh đênh trên biển. Một mình dựa vào thành tàu, Helmut Gregor suy tư. Hắn từng hy vọng rằng một chiếc tàu tuần tra của cảnh sát mật sẽ tới đưa hắn đi và giúp hắn tránh khỏi những phiền nhiễu của hải quan. Khi lên tàu ở Gênes, Gregor đã xin Kurt đặc ân này, hắn tự giới thiệu là một nhà khoa học, một chuyên gia tầm cỡ về di truyền học và đề xuất với Kurt hắn sẽ trả tiền (Gregor có rất nhiều tiền), nhưng kẻ tổ chức vượt biên cười và né tránh: quyền ngoại lệ này chỉ dành cho những nhân vật tai to mặt lớn, những quan chức của chế độ cũ, chứ không mấy khi dành cho một đại úy của SS*. Dù sao thì Kurt cũng sẽ đánh điện tới Buenos Aires, Gregor có thể trông cậy vào ông ta. Kurt đã bỏ túi một số bền, nhưng chiếc tàu tuần tra thì không hề xuất hiện. Gregor phải kiên nhẫn chờ đợi trong sảnh đường rộng mênh mông của hải quan Argentina cùng với những người di cư khác. Hắn giữ chặt hai chiếc va li, một to một nhỏ, và khinh khỉnh nhìn đám dân châu Âu lưu vong đứng quanh đó, những hàng dài người vô danh lịch lãm hay nhếch nhác mà hắn luôn tránh xa trong suốt hành trình. Gregor thà ngắm nhìn đại dương và các vì sao hoặc đọc thơ Đức trong cabin của mình còn hơn; hắn đã nhìn lại bốn năm vừa qua trong đời mình, từ khi hắn chạy khỏi Ba Lan một cách thảm hại vào tháng Một 1945 và trà trộn vào lực lượng Vệ quốc Đức Quốc xã để thoát khỏi nanh vuốt của Hồng quân: hắn bị giam vài tuần trong một trại tù của Mỹ, sau đó được thả vì hắn có giấy tờ giả mang tên Fritz Ullmann, rồi hắn ẩn náu trong một nông trang đầy hoa ở Bavière, cách thành phố Gunzburg quê hương hắn không xa, ở đây hắn làm công việc cắt cỏ cho gia súc và phân loại khoai tây trong ba năm với cái tên Fritz Hollmann, rồi sau đó hắn chạy trốn tới Pâques cách đây hai tháng, vượt qua dãy núi Dolomites bằng đường mòn trong rừng của những kẻ buôn lậu, rồi đến vùng Nam Tyrol ở Italia, ở đây hắn đổi tên thành Helmut Gregor, cuối cùng hắn tới Genova, nơi tên buôn lậu Kurt đã giúp hắn làm các thủ tục với chính quyền Italia và cơ quan nhập cảnh Argentina. Tại hải quan, kẻ đào tẩu xuất trình giấy thông hành của Hội Chữ thập đỏ quốc tế, giấy phép lên bờ và visa nhập cảnh: Helmut Gregor, cao 1,74 mét, mắt nâu xanh lá cây, sinh ngày 6 tháng Tám 1911 tại Termeno, tiếng Đức là Tramin, tỉnh Nam Tyrol, công dân Đức quốc tịch Italia, theo Thiên Chúa giáo, nghề nghiệp kỹ sư cơ khí. Địa chỉ tại Buenos Aires: 2460 phố Arenales, khu phố Florida, nhà của Gerard Malbranc. Nhân viên hải quan kiểm tra hành lý của hắn, quần áo gấp cẩn thận, tấm ảnh chân dung một phụ nữ tóc vàng mảnh dẻ, vài cuốn sách và một số đĩa hát opera, rồi anh ta cau mày khi thấy các món đồ trong chiếc va li nhỏ: ống tiêm hạ bì, vài cuốn sổ ghi chép và bản đồ giải phẫu, các tiêu bản máu, tiêu bản tế bào: không liên quan gì tới một kỹ sư cơ khí. Anh ta bèn gọi nhân viên y tế của cảng tới. Gregor run rẩy. Hắn đã mạo hiểm một cách điên rồ để giữ chiếc va li nhỏ gây liên lụy, kết quả quý giá của biết bao năm trời nghiên cứu, của cả đời hắn, mà hắn đã mang lên tàu khi vội vã rời khỏi nơi làm việc ở Ba Lan. Nếu bị quân Xô viết bắt được khi đang giữ cái va li đó, hắn sẽ bị xử tử ngay lập tức mà chẳng cần xét xử gì. Trên đường trở lại Tây Âu mùa xuân 1945, khi quân đội Đức Quốc xã rút chạy tán loạn, hắn đã gửi va li cho một nữ y tá có lòng trắc ẩn, rồi sau đó tìm lại cô ở Đông Đức, trong vùng Liên Xô kiểm soát, một chuyến đi điên rồ sau khi hắn được thả khỏi trại giam Mỹ và ba tuần đi đường. Sau đó, hắn đưa va li cho Hans Sedlmeier, một người bạn từ thuở nhỏ và là người được cha hắn, một nhà công nghiệp, hết mực tin cậy, Sedlmeier mà hắn thường xuyên gặp gỡ trong khu rừng xung quanh nông trang nơi hắn ẩn náu suốt ba năm. Gregor không thể rời khỏi châu Âu mà không đem theo chiếc va li này: Sedlmeier đã trả lại va li cho hắn trước khi hắn đi Italia cùng với một chiếc phong bì dày đầy tiền mặt, và giờ đây một gã ngớ ngẩn móng tay bẩn thỉu đang bới tung mọi thứ, Gregor thầm nghĩ, còn nhân viên y tế của cảng thì xem xét các tiêu bản và những ghi chép viết bằng kiểu chữ gothic sin sít. Vì không hiểu gì cả, nên nhân viên hải quan hỏi hắn bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức, tay kỹ sư cơ khí giải thích với ông ta về thiên hướng trở thành nhà sinh vật nghiệp dư của mình. Hai người đàn ông khinh bỉ nhìn nhau, còn nhân viên y tế đang muốn đi ăn trưa nên ra hiệu cho nhân viên hải quan cho hắn qua. Ngày 22 tháng Sáu 1949 ấy, Helmut Gregor đặt chân tới nơi ẩn náu mới: Argentina. Mời bạn đón đọc Cuộc Trốn Chạy Của Josef Mengele của tác giả Olivier Guez & Hoàng Mai Anh (dịch).