Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trậm Điểu

Tay tỷ phú lừa đảo Charles Merick đang ngồi tù. Hắn lấp lửng công khai bí mật về một tài sản vẫn còn đang được giấu đâu đó. Điều này đã kích thích lòng tham của một bầy “cá mập” bủa vây chờ ngày hắn được ra tù và cả những nạn nhân của trò lừa đảo tài chính của hắn. Thẩm phán Hammond Birk, người đã cứu vớt cuộc đời Gibson Vaughn khi anh còn là một thanh niên gặp rắc rối trong cuộc sống cũng là một trong số những nạn nhân đó. Để trả món nợ ân tình, Gibson quyết định sẽ cướp lấy số tiền của Merrick. Đối đầu với những đối thủ sừng sỏ, khát máu, Gibson sẽ làm gì? Những đồng tiền chưa bao giờ lên tiếng, nhưng âm thanh leng keng đến chói tai của chúng khiến người ta phải điên loạn mà nổ súng, giết người không ghê tay, mọi giá trị đạo đức hay pháp luật đều trở nên vô nghĩa khi đồng tiền lên ngôi. Trậm Điểu là những cuộc đào tẩu và âm mưu đen tối kinh hoàng. *** "Chiến đấu cho ra trò, nhưng đừng bao giờ để họ chọn sân đấu." ________________ Nếu như Sợi dây thừng nghiệt ngã là câu chuyện móc nối quá khứ để mở ra hiện thực thì Trậm Điểu là chính là kết quả của hiện thực mà Gibson đã lún chân vào. Trậm Điểu là một cuộc chơi khác, nơi mà những câu chuyện ở quá khứ vẫn bám lấy anh, vẫn tác động lên cảm xúc và trực giác của Gibson nhưng lại ít ám ảnh hơn trong Sợi dây thừng nghiệt ngã. Lần này anh đòi hỏi bị thách đấu ở một phương diện khác, khi mà kẻ anh thách đấu lại có một vị trí đặc biệt: gã ở tù bị săn đón nhiều nhất. Cuộc đấu trí lần này là cái giá của hiện thực mà Gibson buộc phải chấp nhận. Nó cuốn người đọc không ở việc tìm ra bí ẩn hay những quá khứ đen tối mà là ở quá trình tranh đấu giữa hai bên, đã vậy kẻ còn lại không khác gì vô hình. Có một điều thú vị tớ nhận thấy là trong câu chuyện này, để nói rõ ai trắng ai đen trong truyện này rất khó, mà việc đó cũng không phải quan trọng. Chỉ riêng những tình tiết nảy sinh và diễn ra liên hồi cũng đủ để cuốn sách này là một cuốn trinh thám xuất sắc. Phần sau là hồi gay cấn nhất. Có hành động, có twist. Cái twist truyện không nhảy cái đùng một phát xuống dòng, nó chỉ thả nhẹ ở một tình tiết thôi, không hề gây sốc ngay lập tức nhưng lại đủ sức lật câu chuyện sang hướng mới. Đọc mà thực tâm cảm khái tác giả viết tốt quá, mọi thứ đều rất chặt chẽ và logic. Đoạn cuối cũng là một cú lật ngoạn mục, một cú nhử mà tới giờ tớ nghĩ lại vẫn cay, cuốn sách tiếp theo đâu. Chào thân ái từ tinh cầu nóng chảy! *** Review // Không spoil ~ TRẬM ĐIỂU ~ Tác giả: Matthew FitzSimmons. Dịch giả: Trần Trọng Hải Minh Thể loại: Trinh thám phương Tây. Mức độ ưa thích: 9.5/10 ————————- Sau vụ việc với phó tổng thống Benjamin Lombard trong quyển “Sợi dây thừng nghiệt ngã”, tưởng rằng có thể yên ổn sống tiếp nhưng rốt cuộc chàng thám tử Gibson Vaughn lại bị “nhờ vả” tham gia cuộc điều tra xoay quanh Charles Merrick – tù nhân kinh tế sắp mãn hạn tám năm tại nhà tù Niobe. Tuy ban đầu không muốn nhưng rồi Gibson Vaughn vẫn dấn thân vào vì một lý do khá cảm tính. Cuộc điều tra đòi hỏi khả năng tin tặc của anh, sự bền bỉ linh hoạt, lòng dũng cảm và cả bản tính hài hước gợi đòn. Mọi chuyện diễn biến càng lúc càng tệ khi Gibson phải đối mặt với nhiều phen nguy hiểm tính mạng và thậm chí bị bắt bởi CIA. Sau khi đọc “Sợi dây thừng nghiệt ngã”, Biển có ấn tượng tốt với truyện trinh thám của Matthew FitzSimmons nên rất hào hứng đọc tiếp Trậm Điểu. Đúng như mong đợi, Trậm Điểu có cốt truyện thật sự hấp dẫn ly kỳ. Tác giả không cố tình viết giựt gân kiểu như “bỗng một bóng đen xuất hiện bên cạnh tôi” nhưng câu chuyện vẫn cuốn hút ngay từ những trang đầu tiên, nhiều đoạn khiến Biển căng thẳng do quá hòa mình vào câu chuyện. Giọng văn rành rọt phân minh, tuy thường xuyên có những câu dài như cả đoạn nhưng đọc vẫn dễ hiểu. Những câu văn dài cũng cho thấy kỹ năng dịch thuật thượng thừa và nỗ lực của dịch giả. Biển không hiểu rõ những đoạn về kinh tế hay âm mưu chính trị trong truyện, nhưng điều đó không ngăn cản Biển thưởng thức chất trinh thám của Trậm Điểu. Nửa sau quyển sách sẽ khiến độc giả muốn đọc một mạch để nhanh biết kết cuộc. Tuy không có nhiều đoạn triết lý nhưng Matthew FitxSimmons đã khéo léo lồng ghép tâm lý nhân vật vào các đoạn văn, khiến người đọc cảm nhận và thấu hiểu được cách suy nghĩ, hành xử của các nhân vật trong truyện. “Thêm nữa, đàn ông ở tuổi anh ta có xu hướng không coi trọng phụ nữ ở tuổi cô và cô nhận ra rằng bị đánh giá thấp là điều hữu ích”. Trậm Điểu cũng có đề cập một chút đến khả năng mà tội phạm được chấp nhận hòa nhập với XH sau khi mãn hạn tù. Tuy biết phải khoan dung với đồng loại nhưng hầu hết người dân thường – những người không có tiền án tiền sự – sẽ rất khó cảm thấy an toàn và tin cậy để sống chung / làm việc chung với những người đã từng phạm tội. “Một người phạm tội hình sự như ông phải ghi rõ lịch sử phạm tội khi xin việc. Và bởi vì việc phân biệt đối xử đối với tội phạm hình sự đã bị kết án không phải là bất hợp pháp, có ít người chịu tuyển dụng họ. Kẻ tội phạm còn lại lựa chọn gì ngoài việc tiếp tục cuộc đời tội ác?” [Đoạn tiếp theo đây Biển không nghĩ là spoil, nhưng bạn nào sợ spoil thì xin đừng đọc ^_^]. Nhân vật chính Gibson Vaughn không được xây dựng hình tượng siêu anh hùng như Jack Reacher, đọc Trậm Điểu mà nhiều lần Biển tức tối nôn nóng khi thấy anh bị đánh, bị ép phải quy phục trước cường quyền. (Người có thể coi là nữ chính trong truyện này) là Lea Regan, một phụ nữ dũng cảm nhưng không kém phần cố chấp. Trong Trậm Điểu, số phận của cô bị bỏ ngỏ khiến Biển khá lo lắng. Cũng muốn nói một chút về kết cuộc của truyện, Biển không biết tiếng Anh nên không biết cách tìm hiểu xem loạt truyện “Điệp vụ Gibson Vaughn” có bao nhiêu cuốn, nhưng sau phần kết của Trậm Điểu thì Biển đoán tác giả phải viết tiếp ít nhất là một quyển khác, vì nếu số phận của Gibson Vaughn kết thúc như trong Trậm Điểu thì đúng là tác giả muốn khiến độc giả tức chết. Ngay khi nhìn thấy thông tin phát hành và bìa của cuốn Trậm Điểu thì Biển liên tưởng đến loài chim trẩm từng đọc được trong tác phẩm Trâm của tác giả Châu Văn Văn. Trong quyển “Trâm – Tình lang hờ” có đoạn Lý Thư Bạch nói như sau: “Trên đời làm gì có chim trẩm, chỉ là người chết vì trúng loại độc này, toàn thân đến cả thịt da lông tóc đều sẽ chứa chất độc, chim trúng độc chết thì đến lông vũ cũng có độc. Chỉ cần lấy tóc người hoặc hoặc lông chim trúng độc cũng đủ tái chế thành kịch độc, nên mới có truyền thuyết chấm lông chim trẩm vào rượu là thành rượu độc”. Còn trong Trậm Điểu, có phần chú thích của dịch giả rằng “trậm điểu” là loài chim độc trong truyền thuyết TQ. Sách “Sơn Hải Kinh” mô tả Trậm Điểu là loài chim bụng màu tía, cổ dài, mỏ màu hồng điều. Nó cực độc vì chuyên ăn rắn lục. Con trống gọi là Hồi Dương, con mái gọi là Âm Uân. Bìa sách thoạt nhìn hơi khó hiểu nhưng rất hợp với tựa đề Trậm Điểu. Chất giấy trong sách rất đẹp, vốn là một mọt sách giấy nhưng khi đọc sách Biển ít khi quá “tôn sùng nâng niu” sách, thậm chí còn hay gấp góc để đánh dấu những đoạn hay, nhưng đối với Trậm Điểu, sách đẹp đến nỗi Biển đọc kiểu 45 độ và chịu khó ghi chép lại tất cả chứ không nỡ gấp góc. Chữ in to rõ dễ đọc, còn vài lỗi chính tả và lỗi đánh máy không đáng kể. Số điểm 9.5/10 là Biển chấm cho toàn bộ các yếu tố từ ngoại hình đến nội dung, thiếu 0.5 là vì phần kết khiến Biển bứt rứt lo lắng! Cũng như các loạt truyện về Jack Reacher của Lee Child hay loạt truyện của David Baldacci, series về Gibson Vaughn của Matthew FitzSimmons chắc chắn là những quyển sách không thể bỏ qua đối với các mọt trinh thám. (Sea, 25-8-2019) Bookmark tự vẽ, lấy ý tưởng từ Internet. Camellia Phoenix *** Những ngọn đèn tỏa ra luồng ánh sáng huỳnh quang sâu thẳm. Khắp nơi quanh gã, Merrick nghe thấy âm thanh của những người đang bị ép phải thức giấc. Những tiếng cót két của lò xo nệm cũ kỹ. Những cuộc trò chuyện, đã ngưng lại vào tối hôm trước khi đèn tắt, lại tiếp nối như thể mới chỉ vài giây trôi qua. Những câu chuyện dễ nối lại vì chúng vẫn là những cuộc đối thoại tầm thường giống như buổi sáng hôm trước và trước đó nữa, kéo dài lê thê suốt tám năm trời mà Merrick lúc nào cũng thức giấc cùng với chúng. Nhà tù chỉ quanh quẩn bàn luận với mấy chủ đề - cuộc đời trước khi vào tù, cuộc sống trong tù và lời hứa hẹn về một cuộc đời tốt đẹp hơn sau đó. Kẻ thù và bạn hữu, đàn bà, người thăm nuôi, nhà ăn và đồ ăn dở tệ. Chẳng bao lâu đã hết chuyện và từ đó trở đi chỉ còn những biến thể của một chủ đề. Tù nhân đến rồi đi, nhưng những cuộc đối thoại đó vẫn cứ tiếp diễn mãi. Được truyền miệng cho nhiều thế hệ phạm nhân còn chưa tới, như thể những cuộc đối thoại ấy mới là những khách trú đích thực duy nhất của nhà tù, còn tù nhân đơn giản chỉ là tiếng nói chuyển tiếp những gì đã được nói ra từ rất lâu trước đó. Hay đó là điều mà Charles Merrick sẽ hạnh phúc khi tưởng tượng về việc gã vĩnh viễn bỏ lại nhà tù liên bang Niobe sau lưng trong 142 ngày nữa. Merrick tung chân khỏi giường và xỏ thẳng vào đôi tông để chân gã không bao giờ phải chạm vào mặt sàn của nơi đáng ghê tởm này. Chỉ trong bốn động tác nhanh gọn, thuần thục, gã đã dọn xong giường của mình. Chiếc chăn lông thô đến nỗi chó cũng không thèm đắp. Con Morgan thì chắc chắn là không rồi - con chó Tây Ban Nha dòng King Charles của gã, nó đã qua đời khi gã ở trong này. Gã nhớ con vật đó: con vật trung thành duy nhất mà gã từng biết. Mấy tay lính gác đi qua khu nhà giam, bắt đầu lượt điểm danh lúc bảy giờ sáng. Bọn chúng còn hai lượt điểm danh vào lúc ba và năm giờ sáng nữa. Đó là phần khó khăn nhất với gã khi ở trong tù - giấc ngủ của gã cứ bị cắt ngang bởi những tiếng rầm rì vô nghĩa cùng tiếng bấm từ chiếc máy đếm nhỏ chỉ vì ý nghĩ nực cười rằng bọn chúng đang đếm thầm trong đầu. Những kẻ với trình độ tốt nghiệp phổ thông thậm chí còn không đủ tiêu chuẩn làm việc trong phòng văn thư của Merrick Capital. “Sẵn sàng cho ngày trọng đại chưa, Lọ Lem?” Những tay lính gác đã dọa dẫm gã nhiều tuần liền. Kể từ khi giám đốc nhà tù chấp thuận cuộc phỏng vấn, Merrick không còn nghĩ được chuyện gì khác. Gã đã không có khách thăm nào ngoại trừ các luật sư của gã từ nhiều năm rồi, nên xin hãy tha thứ cho sự phấn khích về cuộc phỏng vấn của gã. Đám lính gác cùng lũ tù nhân đều không ngừng mỉa mai gã như những đứa trẻ ghen tức, nhưng gã hiện đang có tâm trạng quá tốt để mà bận lòng về chuyện đó. Ngay khi các lính gác ra hiệu là mọi việc đã sẵn sàng, Merrick lao nhanh về phía phòng tắm. Gã hẳn đã chạy nếu được phép. Bình thường, gã không bao giờ vội vã đi đâu; sau mỗi góc quanh vẫn là nhà tù, vậy thì việc gì phải vội? Nhưng hôm nay gã muốn là người đứng đầu hàng, gã không muốn đang tắm lại hết nước nóng. Tắm xong, Merrick cạo râu cẩn thận và chải mái tóc vàng dày của gã cho đúng nếp. Nó đã ngả bạc hơn so với hồi gã mới đến nhà tù liên bang Niobe, nhưng gã vẫn còn mái tóc đó và thế là đủ. Nếu có gì khác, thì hôm nay gã thấy mình khá hơn. Cường độ làm việc kinh khủng ở Merrick Capital đã tổn hại đến sức khỏe và vùng bụng của gã. Phải vào tù gã mới phát hiện ra tình yêu với việc tập thể dục. Đẩy tạ như một tù nhân đích thực. Chiếc dao cạo rẻ tiền làm gã bị xước ở dưới tai, gã đắp vào đó một miếng giấy vệ sinh. Gã nhớ da diết chiếc bệ đá cẩm thạch cũ với những đồ dùng vệ sinh đắt tiền được đặt lên. Gã nâng niu cả một lọ nước hoa bản mẫu ưa thích của mình - thứ đã khiến gã tốn bao nhiêu là công sức và mưu mẹo. Gã đã phải hy sinh cả một tháng lương thực của mình để đưa lậu nó vào đây dành cho hôm nay. Gã mở nắp và ngay lập tức biết rằng nó hoàn toàn xứng đáng. Một giọt vào gáy và ba, không, bốn giọt nơi cổ tay trái, cần xịt thêm để che đậy mùi hôi hám của nơi này. Gã chà xát hai cổ tay với nhau và tự ngưỡng mộ mình trong gương. Một lính gác đi ngang qua ngửi thấy mùi và dừng lại. “Mùi quái gì thế, thằng tù?” “Chanel’s Pour Monsieur,” Merrick nói. “Pour Monsieur?” Tay lính gác nói, nhại gã bằng thứ giọng Pháp tệ hại. “Chà, mày có mùi như trong phòng phá thai ấy. Nhanh lên, Lọ Lem, không thì lỡ bữa tiệc đấy.” Merrick mặc bộ áo liền quần tẻ nhạt của nhà tù và cố gắng làm cho nó thẳng thớm lại trong gương, không mấy tác dụng. Gã đã yêu cầu được mặc bộ vét ở tòa cho buổi phỏng vấn để rồi bị cười nhạo trong văn phòng giám đốc trại giam. Có lẽ đằng nào thì bộ đồ đó cũng không vừa với gã nữa, vì gã đã gọn gàng hơn nhiều so với khi tới đây. Gã sẽ cần những bộ vét mới, bắt đầu là mười lăm hay hai mươi bộ và hy vọng rằng tay thợ may quen của gã ở Savile Row chưa về hưu. Người ta không thể tùy tiện thay đổi thợ may được. Lúc ăn sáng, Merrick ngồi một mình và chọn đại món được tạm gọi là trứng bác. Gã không thích ý tưởng bước vào một cuộc phỏng vấn mà chưa được chuẩn bị, nhưng bên tạp chí đã bác bỏ yêu cầu gửi trước câu hỏi. Lúc còn là đối tác quản lý điều hành của Merrick Capital, gã có hai hay ba cuộc phỏng vấn mỗi tuần. Cánh nhà báo xếp hàng để gặp gã và nhóm quan hệ công chúng của gã xem trước câu hỏi, lên kịch bản cuộc gặp để phô bày thương hiệu Charles Merrick trong thứ ánh sáng lộng lẫy nhất có thể. Việc bước vào một cuộc phỏng vấn chưa được chuẩn bị trước sẽ là trải nghiệm mới, nhưng Finance là một tạp chí đàng hoàng, chuyên nghiệp ở đẳng cấp cao nhất. Họ chắc chắn sẽ cử tới một người giỏi. Gã không biết người phụ nữ Lydia Malkin này, nhưng cô ta sẽ chứng tỏ năng lực của mình. Gã đang cảm thấy muốn cởi mở và ý tưởng về cuộc trò chuyện hấp dẫn với gã. Trò chuyện thực sự. Đã lâu rồi không ai hỏi gã một câu khiến gã phải suy nghĩ. Khi đến giờ phỏng vấn, lính gác dẫn Merrick vào một trong những căn phòng tư vấn pháp lý chật hẹp. Căn phòng trơ trọi, không có gì ngoài một chiếc bàn dài và những chiếc ghế kim loại chẳng thoải mái chút nào. Gã từng ở trong phòng này, hay một căn phòng tương tự, không biết bao nhiêu lần. Một phụ nữ cỡ tuổi con gái gã đang ngồi ở bàn, khoảng chừng hai mươi lăm? Cô ta đang hí hoáy ghi chép trên một tập giấy ghi chú. Ngay cả khi gã chấm điểm rộng tay thì trông cô ta cũng không hấp dẫn lắm. Có lẽ là một phóng viên tập sự được cử tới cùng để có chút kinh nghiệm hiện trường. Được thôi, được thôi. Hai phụ nữ luôn tốt hơn là một. Cô ta đặt bút xuống và đứng lên chào gã. “Rất vui được gặp ông, ông Merrick.” “Bao lâu nữa cô ấy mới tới đây?” “Xin lỗi?” “Lydia Malkin. Bao lâu nữa cô ấy tới? Tôi không biết tay lính gác cho chúng ta bao nhiêu thời gian. Họ có thể… khó chịu,” gã nói như thể mô tả dịch vụ phòng ở một khách sạn. “Tôi chính là Lydia Malkin.” Cô đưa tay ra. Gã nhìn bàn tay và cảm thấy huyết áp tăng lên với suy nghĩ có người đã cử đứa nhóc tì này tới phỏng vấn gã. “Cô là phóng viên tờ Finance?” “Phải, là tôi.” “Cô bao nhiêu tuổi? Hai mươi hả? Cô học xong đại học chưa?” “Tôi hai mươi sáu. Tôi có bằng thạc sĩ báo chí của trường Northwestern.” “Thậm chí cô có biết tôi là ai không?” “Ông là Charles Merrick.” “Tốt cho cô. Nhưng tôi biết rất rõ là tờ Finance không cử một phóng viên hai mươi sáu tuổi đi thực hiện bài phỏng vấn trang bìa bao giờ.” Cô nhìn gã tỏ vẻ ngạc nhiên. “Tôi lấy làm tiếc nếu có trục trặc trong khâu liên lạc. Đây không phải bài trang bìa.” “Cô nói sao cơ?” “Đây chỉ là một phần hồ sơ nhân vật nhỏ: ‘Giờ ông ấy ở đâu?’ Đại loại thế. Bởi ông sẽ sớm ra khỏi đây.” “Một phần hồ sơ nhân vật? Peter vẫn còn là tổng biên tập chứ?” “Peter Moynihan là tổng biên tập,” cô nói với giọng mệt mỏi làm Merrick phát bực. “Và anh ta nghĩ rằng sẽ là ý hay nếu viết… Cô nói sao nhỉ? Một ‘phần hồ sơ nhân vật nhỏ’ về tôi?” “Thực ra Peter không mặn mà lắm với ý tưởng đó. Lúc đầu là vậy.” “Lúc đầu.” “Tôi đã thuyết phục ông ấy.” “À, cảm ơn cô nhiều,” Merrick nói. “Vì đã nói hộ tôi.” “Có lẽ tôi nên ra về.” Gã nhìn cô thu dọn những tài liệu đã bày ra trên bàn. Ngày xưa, gã sẽ cười lớn khi tiễn một phóng viên ra khỏi văn phòng của gã nếu người đó thử một chiến thuật rõ ràng như thế. Gã cực kỳ muốn để cô ta rời nhà tù Niobe trong thất vọng và trắng tay, nhưng gã ngăn cô lại vì điều đó sẽ còn làm gã tổn thất hơn nhiều. “Tại sao họ không quan tâm?” Cô dừng lại và nhìn thẳng vào mắt, đánh giá gã một cách tự tin. Gã không quan tâm nhưng buộc phải mỉm cười. Dù không muốn thừa nhận, nhưng gã cần Lydia Malkin hơn là cô cần gã. “Ông muốn biết thật sao? Không ai quan tâm cả,” cô nói. “Rất nhiều người ghét cay ghét đắng thỏa thuận nhận tội của ông với Bộ Tư pháp. Tám năm tù cho những hậu quả mà Merrick Capital gây ra cho các nhà đầu tư của nó là điều thật lố bịch. Và tổng tài sản tịch thu không bõ bèn gì để đền bù cho các nạn nhân của ông - những cuộc đời đã bị hủy hoại.” Merrick bác bỏ ý kiến rằng thỏa thuận của Bộ Tư pháp với gã là hết sức độ lượng. Giá mà cô Lydia Malkin bé bỏng này biết được dù chỉ là một nửa câu chuyện. Món quà gã đã trao cho đất nước vĩ đại này để đổi lấy cái được gọi là sự khoan hồng. CIA lẽ ra phải tổ chức một cuộc diễu hành để vinh danh gã thay vì nhốt gã ở đây. “Đó là chưa nói tới thực tế là ông được đưa vào đây thay vì một nhà tù thực sự.” “Một nhà tù thực sự sao? Chà, thay vì ‘câu lạc bộ đồng quê’ này hả?” “Phải.” “Cô có biết là chúng tôi thực ra không có sân quần vợt không? Chúng tôi từng có, nhưng họ đã san phẳng nó rồi. Biết tại sao không? Vì ý tưởng cho rằng đây là một ‘câu lạc bộ đồng quê.’ Như thế là phân biệt đối xử.” “Phân biệt đối xử sao?” “Chính xác là thế. Tôi đã bị từ chối một hình thức tập thể dục chính đáng. Vì sao? Vì đó là một môn thể thao mà những người như tôi rất thích, như thế là phân biệt đối xử. Xong rồi để bọn họ chơi bóng rổ, một trò chơi bọn họ cũng thích thú như thế. Vậy thì công bằng ở đâu?” “Bọn họ?” Cô hỏi, tìm cách khiến gã mắc câu. Gã không mắc vào trò đó. “Vậy… Nếu chẳng ai bận tâm, thì tại sao cô lại ở đây?” “Để xem nhà tù có làm thay đổi một người được biết đến với tên gọi là Madoff Đệ nhị hay không.” “Madoff Đệ nhị?” “Người ta gọi ông thế. Ông chưa bao giờ nghe hả?” “Tất nhiên tôi nghe rồi. Tôi chỉ không tin nổi là cái tên đó lại hợp lý.” “Tại sao không?” “Vì Merrick Capital không phải là tài chính đa cấp, vậy đó. Đây là một sự sỉ nhục. Hoạt động kiểu Madoff là kiểu nghiệp dư. Ai cũng biết hắn ta làm gì. Rõ rành rành. Hãy lưu ý là không hề có công ty lớn nào ở Phố Wall đầu tư dù chỉ một xu với Madoff. Điều này chẳng phải hơi lạ lùng khi mà Madoff chỉ báo lỗ có bốn tháng trong hai mươi năm hoạt động sao? Điều đó như thể một cầu thủ bóng chày có tỉ lệ đánh trúng bóng .900 một mùa mà vẫn không được một đội lớn ký hợp đồng. Lý do duy nhất Madoff không bị bắt sớm hơn là vì SEC mắc kẹt với đám nhân viên bất tài, thiếu ngân sách. Họ đã điều tra hắn sáu lần. Sáu! Họ lẽ ra phải tóm hắn từ năm ’99 khi Harry Markopolos cảnh báo về hắn, nhưng SEC không bao giờ bận tâm xác nhận những cáo buộc về hắn với DTC. Vì vậy, phải, tôi khó chịu vì bị đánh đồng với gã cặn bã đó.” Cô bắt đầu bật máy ghi âm đặt ở giữa bàn. “Merrick Capital thì khác gì chứ?” “Merrick Capital là công trình nghệ thuật của chúng tôi. Các chiến lược đầu tư của chúng tôi hoàn toàn hợp pháp và lợi nhuận cho nhà đầu tư của chúng tôi là không có tiền lệ.” “Merrick Capital bắt đầu làm giả số liệu lợi nhuận từ năm 1998.” Gã có thể cảm thấy máu dồn lên tai. “Những khách hàng của tôi vẫn trở nên giàu có.” “Không phải vào năm 2008, năm đó thì không. Ông mất cả gia tài vì đặt cược vào mỏ niken ở Tây Úc.” “À phải, vụ sụp đổ lớn,” Merrick nói. “Giá mà người dân Mỹ biết cách trả tiền vay thế chấp đúng hạn.” “Ông bị bắt là lỗi của người dân Mỹ sao?” “Cô nói chuẩn đét đấy. Nếu vụ sụp đổ lớn không khiến giá niken lao dốc, thì vụ cá cược của tôi, như cô gọi nó, đã có lãi.” “À, đó chắc chắn là góc nhìn có một không hai,” cô nói, nghiêng người về phía trước. “Nhưng đó vẫn là một vụ được ăn cả ngã về không. Ông ít ra phải thừa nhận điều đó. Các kinh tế gia gọi đó là một trong những màn đánh cược vô trách nhiệm nhất trong ngành tài chính hiện đại, dù có hay không có cuộc khủng hoảng tài chính. Vậy mà giờ ông ngồi đây, tự tin về một kết quả khác. Làm sao ông biện minh được cho sự đoán chắc đó?” Trong thâm tâm Merrick biết, thậm chí là khi đó, rằng gã lẽ ra nên suy nghĩ cẩn trọng hơn. Thay vì thế, gã đã trả lời câu hỏi của cô. Mời bạn mượn đọc Trậm Điểu của tác giả Matthew Fitzsimmons & Trần Trọng Hải Minh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Kẻ Hành Pháp
Thanh tra Stafford King đã toàn tâm toàn ý suốt ba năm nhằm vạch trần băng nhóm của đại tá Dan Boundary ra pháp luật nhưng vẫn chưa có đủ bằng chứng để kết tội. Một ngày nọ, người ta tìm thấy thi thể của “Snow” Gregory tại một rãnh nước trên đường Lambeth. Khi lục soát quần áo nạn nhân, cảnh sát tìm thấy một hộp nhỏ chứa cocaine, và lá bài tây - J Nhép. Gregory không chỉ là một con nghiện mà còn là một con bạc và có quan hệ mật thiết với Dan Boundary. Ba tháng sau, Dan Boundary nhận được lá bài vấy bẩn loang lổ - cây J nhép, kèm theo lời nhắn cảnh cáo từ Jack - Kẻ Hành Pháp. Ông ta quyết định báo cho Stafford King và ngài Ủy viên của Cục Hình Sự Stanley Belcom biết rằng mình đang bị Kẻ Hành Pháp đe dọa. Pinto Silva, White Solomon, Lollie Marsh, “Swell” Crewe, Hanson ... vốn là những cộng sự thân tín của Boundary. Olaf Hanson - viên thư ký của Boundary đã phản bội băng nhóm và chấp nhận ra tòa làm chứng chống lại ngài đại tá. Tuy nhiên, anh ta bị hại chết ngay trong phiên xét xử và cảnh sát buộc phải trả tự do cho Boundary. King nộp đơn từ chức nhưng ngài Stanley đã khuyên giải và gợi mở cho anh hướng điều tra mới. Ngài Solomon vì muốn tách ra khỏi đại tá nên đã trốn đi nơi khác. Đại tá đã sai người bắt cóc cô con gái Maisie để buộc Solomon lộ diện. Sau đó, ông ta sai một gã người Pháp bắn chết Solomon. Nhưng rồi kẻ sát nhân ấy cũng phải bỏ mạng dưới tay Kẻ Hành Pháp cùng quân J nhép quen thuộc... Cuối cùng, băng nhóm của đại tá cũng phải tan rã, Crewe và Lollie ăn năn về những sai lầm của mình, họ kết hôn và chuyển đến Bồ Đào Nha; Pinto bị cảnh sát bắt; còn căn hộ của Boundary thì đột nhiên cháy rụi hoàn toàn. Boundary sau khi trốn thoát khỏi vụ cháy, đã chuyển đến Chatham làm thợ mộc. Khi ông ta chuẩn bị lên tàu để bỏ trốn thì Kẻ Hành Pháp chính thức lộ diện - đó chính là ngài Stanley đáng kính, cũng chính là cha của Gregory. Hai tiếng súng vang lên cùng lúc và khi Stafford King bước vào thì Boundary đã gục chết trên giường, còn ngài Stanley đang hấp hối. Trước lúc qua đời, ông nhờ King giữ kín bí mật này. Để khiến những kẻ tội phạm phải đền tội, ông đã dấn thân vào hầu hết mọi loại tội phạm. Nhưng chính ông đã thay mặt pháp luật phá tan băng đảng của đại tá Boundary, thứ mà luật pháp không thể chạm tới... *** Đại tá Dan Boundary – kẻ cầm đầu một băng đảng chuyên tổ chức những phi vụ tống tiền, ép chuyển giao tài sản giá rẻ bằng cách tìm ra những nhược điểm của các chủ doanh nghiệp, chủ nhà đất hay những người giàu có. Không những vậy, đại tá Boundary còn thực hiện một loạt các tội ác như giết người, thủ tiêu các nhân chứng có thể chống lại mình,… Tuy vậy, mọi hành động của hắn thì vô cùng kín kẽ và đa số do tay chân của mình làm nên hầu như phía cảnh sát không thể tìm được bằng chứng chống lại hắn.   Thế nhưng, cuộc sống của Boundary bị đảo lộn bởi một kẻ tự xưng là Jack – Kẻ hành pháp cùng với lá bài J nhép bí ẩn. Từ đây, những phi vụ làm ăn của hắn liên tục bị thất bại. Bắt đầu từ đó, cuộc săn đuổi giữa Dan Boundary và Kẻ hành pháp chính thức bắt đầu. Vậy Kẻ hành pháp là ai? Động cơ của Jack là gì? Và liệu thanh tra Stafford Kinh có thể vạch trần được tội ác của Boundary và băng đảng của hắn? Với những ai đã từng đọc “Vòng tròn máu” rồi thì có thể dễ nhận ra một điều là ở quyển này, vai trò của cảnh sát và thanh tra vô cùng mờ nhạt. Xuyên suốt câu chuyện chủ yếu là cuộc đối đầu vô cùng căng thẳng giữa đại tá Boundary với Kẻ hành pháp. Truyện không nhiều vụ giết người như cuốn “Vòng tròn máu” nhưng không bởi vậy mà truyện mất đi sự hấp dẫn của nó. Những tình tiết lắt léo, những màn xuất quỷ nhập thần của Kẻ hành pháp đem lại cho mình một cảm giác như là ảo thuật gia vậy. Xuất hiện đúng lúc và không ai biết Jack bằng cách nào lại xuất hiện như vậy. Hình tượng nhân vật Boundary và Jack cũng được tác giả xây dựng thành công. Boundary được xây dựng với hình tượng một tên tư bản chủ nghĩa, dùng mọi cách thức tàn nhẫn và độc ác nhất để đoạt được mục đích của mình. Jack – kẻ hành pháp tuy ngoại hình kì quặc nhưng lại vô cùng thông minh, lúc nào cũng đi trước Boundary một bước. Câu chuyện cũng khắc hoạ sinh động một xã hội nước Anh thời kì chủ nghĩa tư bản. Những tên tư bản luôn tìm mọi cách để kiếm tiền bằng những thủ đoạn bẩn thỉu nhất. Cùng với đó là sự bất lực của hệ thống pháp luật nước Anh lúc bấy giờ trước những tên tội phạm mưu mô và quỷ quyệt. Điểm: 7,5/10 Minh Sơn Review Đại tá Dan Boundary có bề ngoài là doanh nghiệp thành đạt, nhưng đằng sau là một băng nhóm tội phạm chuyên thực hiện các vụ tống tiền kín kẽ nên bên cảnh sát không thể sờ gáy. Nhưng vào một ngày, Gregory -một thành viên băng bị phát hiện giết chết với lá bài J nhép trong túi. Đó chỉ là khởi đầu của chuỗi ác mộng với băng đảng khi một kẻ bịt mặt bí ẩn bí danh Jack- ”Kẻ hành pháp” tuyên bố sẽ lật tẩy Boundary và đồng bọn. So với ”Vòng tròn máu” thì cuốn này có nội dung phức tạp và hấp dẫn hơn. Vai trò của cảnh sát mờ nhạt nhưng trọng tâm là trò vờn nhau giữa Đại Tá và Kẻ Hành Pháp. Nhân vật Boundary được xây dựng thành công với sự tàn nhẫn và những mánh khóe tống tiền xảo quyệt. Kẻ Hành Pháp tuy ngoại hình khoa trương kì quặc nhưng còn cao tay hơn với những ngón đòn bất ngờ, từng bước bào mòn lực lượng và tinh thần của băng đảng, khiến chúng sụp đổ dần. Với những kẻ tội phạm nguy hiểm mà pháp luật bất lực thì những thủ đoạn ”phi chính thống” đó cũng là xứng đáng và phù hợp. Danh tính của Jack có đoán được cũng không quá quan trọng vì diễn biến li kỳ, gay cấn đã đủ khiến mình không thể bỏ dở cho đến trang cuối cùng. Nếu cho chấm đểm lại thì ”Vòng tròn máu” mình chỉ chấm 7.5. Cuốn này xứng đáng cao điểm hơn, với cá nhân mình phải ít nhất 7.75/10. Khuyến khích các bạn tìm đọc. Nam Do Review Mời các bạn đón đọc Kẻ Hành Pháp của tác giả Edgar Wallace.
Vụ Án Viên Nhộng Xanh
Vụ án viên nhộng xanh là một trong các tiểu thuyết trinh thám nổi tiếng nhất của John Dickson Carr. Trong tác phẩm, Marcus Chesney – chủ sở hữu những nhà kính trồng đào tại Sodbury Cross – đã bị đầu độc chết trong một màn trình diễn do chính mình sắp đặt. Khi ấy, Marcus đang dùng một loạt bẫy tâm lí để chứng minh lập luận: nhân chứng không thể kể lại chính xác những điều đã xảy ra ngay trước mắt mình. Và tệ thay, ông đã đúng. Tất cả các nhân chứng đều mục kích vụ sát nhân nhưng dường như họ đều đang đeo một cặp kính đen, mọi thứ đều bị che phủ và lừa mị. Thấy vậy nhưng không hẳn là vậy, nghe thế nhưng chưa chắc là thế. Nhân chứng bị bưng tai bịt mắt bằng các bẫy gài liên hoàn dù cho họ vẫn mở mắt lắng tai. Qua Vụ án viên nhộng xanh, John Dickson Carr không chỉ dẫn dắt người đọc vào ma trận của những lời khai không trùng khớp mà còn nêu bật được một lập luận mới mẻ về giá trị của các nhân chứng trong làng văn trinh thám. *** Câu chuyện bắt đầu, theo trí nhớ của người đàn ông, trong một căn nhà ở thành phố cổ Pompeii. Anh ta không bao giờ quên được buổi chiều yên tĩnh, nóng bức đó, khi những giọng nói tiếng Anh phá vỡ sự tĩnh mịch của “Con Đường Hầm Mộ”. Vạt trúc đào nở hoa đỏ rực trong khu vườn đổ nát, và cô gái mặc váy trắng đứng im lìm giữa nhóm người đeo kính râm, trông như thể bị bao quanh bởi những chiếc mặt nạ. Người đàn ông nhìn thấy quang cảnh trên đã đến Napoli công tác được một tuần. Công việc anh ta cần làm ở Napoli không hề liên quan đến chuyện này. Nhưng công việc đó chiếm hầu hết thời gian của anh, và mãi đến buổi chiều thứ hai, ngày 19 tháng Chín, anh mới thư thả được đôi chút. Tối ấy người đàn ông này dự định sẽ đến Rome, và rồi bay qua Paris và về đến London. Chiều hôm đó anh đang ngắm cảnh trong tâm trạng thảnh thơi, và đối với anh quá khứ luôn có sức hút mãnh liệt không hề thua kém hiện tại. Đó là nguyên nhân tại sao, vào lúc yên tĩnh nhất trong ngày, dưới sự êm ả của ánh mặt trời rực rỡ, anh lại nhận ra mình đang đi trên Con Đường Hầm Mộ. Con Đường Hầm Mộ nằm bên ngoài những bức tường của thành Pompeii. Nó bắt đầu từ cổng Herculaneum và thoải xuống một ngọn đồi thấp, trông giống một cái máng xối lát gạch rộng với vỉa hè ở hai bên. Những cây bách mọc khắp chỗ và khiến con đường chết chóc này dường như có thêm phần sinh khí. Đây là nơi xây cất những hầm mộ của quý tộc La Mã, những bệ thờ thấp hai bên đường chưa đến mức hóa thành phế tích. Nghe tiếng chân mình vang vọng, người đàn ông mơ hồ có cảm giác mình như lạc vào một vùng đất bị quên lãng. Ánh nắng chói chang, nóng nực chiếu xuống những viên đá lát đường đã mòn võng vì bị không biết bao nhiêu bánh xe ngựa nghiến xuống, từ đám cỏ trồi lên từ các kẽ nứt, những con thằn lằn nâu nhỏ xíu phóng qua trước mắt anh ta nhanh như vệt ảnh tối màu. Phía trước anh ta, đằng sau những lăng mộ là ngọn núi Vesuvius mang màu xanh xỉn trong màn sương từ đất bốc lên vì thời tiết oi nồng, nhưng không quá gây ấn tượng với anh ta vì nó còn cách đây chừng năm, sáu dặm. Người đàn ông thấy ấm áp và hơi ngầy ngật buồn ngủ. Những con đường dài với những cửa tiệm chỉ còn trơ lại bốn bức tường này, những khoảnh sân hoa lệ điểm xuyết những hàng cột chống đây đó kia, tất cả đều tác động đáng ngại đến trí tưởng tượng của anh ta. Anh ta đã lang thang hơn một tiếng đồng hồ; và từ khi đặt chân vào thành phố cổ này, anh ta chưa hề thấy bóng dáng của bất cứ sinh vật sống nào, ngoại trừ một nhóm người bí ẩn đi cùng hướng dẫn viên thình lình xuất hiện ở cuối đường Vận Mệnh rồi biến mất một cách đầy ma quái giữa những tiếng rào rạo của đám đá nhỏ. Con Đường Hầm Mộ dần đưa anh đi tới cuối thành phố. Đang cân nhắc xem nên ngừng cuộc thăm thú và trở về, hay quay gót tiếp tục khám phá thêm, đột nhiên anh ta trông thấy một căn nhà nằm giữa những ngôi mộ. Ngôi nhà đó khá lớn, đúng kiểu trang viên ngoại ô biệt lập những quý tộc La Mã hay xây dựng hồi thành phố còn phồn thịnh. Anh ta bước lên bậc thềm và vào nhà. Khoảnh sân nhỏ trong nhà tối tăm và bốc mùi ẩm ướt, lại không được giữ gìn tốt như những ngôi nhà tôn tạo anh đã nhìn thấy. Nhưng phía bên kia khoảnh sân là khu vườn cảnh có những hàng cột đá trang trí bao quanh, tắm trong ánh mặt trời rực rỡ. Khu vườn khá um tùm, mọc đầy trúc đào nở hoa đỏ rực và xung quanh phế tích đài phun nước là những cây tùng châu Á. Đột nhiên anh nghe có tiếng sột soạt trên đám cỏ mọc cao, và những giọng nói tiếng Anh. Cạnh đài phun nước, một cô gái mặc đồ trắng đang đứng quay mặt về phía anh ta. Và anh ta thấy cô ấy không chỉ đẹp mà còn có nét thông minh lanh lợi. Mái tóc nâu sẫm được rẽ đôi và vén ra sau tai, tạo thành những lọn xoăn nhỏ buông lơi qua gáy. Cô có khuôn mặt trái xoan, đôi môi nhỏ, căng mọng, và đôi mắt to thể hiện nét giễu cợt bất chấp gương mặt đang nghiêm nghị. Đôi mắt cô mang sắc xám, với mí mắt hơi dày và mang nét suy tư. Tư thế tạo dáng của cô rất đơn giản, chỉ vu vơ xòe vạt váy. Nhưng rõ ràng cô gái đang rất căng thẳng, chỉ cần nhìn vòng cung lông mày của cô là biết. Đối diện với cô gái là một chàng trai trẻ tóc đen mặc bộ vét vải nỉ xám, đang cầm chiếc máy quay và dán mắt vào ống ngắm. Chiếc máy quay bắt đầu kêu xè xè và phát ra tiếng lách cách nho nhỏ. Với má tì vào một bên máy, chàng trai trẻ nói với cô gái qua khóe miệng. “Này, em làm gì đi chứ!” Anh chàng thúc giục. “Mỉm cười, cúi đầu hay châm thuốc hoặc gì cũng được, nhưng hãy làm gì đó! Nếu em chỉ đứng yên đấy thì có khác gì chụp ảnh đâu.” “Nhưng, George, em biết làm gì bây giờ?” “Anh vừa nói với em còn gì. Mỉm cười hay cúi đầu hoặc… ” Rõ ràng cô gái đang bị ảnh hưởng bởi Hội chứng Tự ý thức, điều mà mọi người thường mắc phải khi họ biết rõ máy quay sẽ ghi lại bất cứ chuyển động nào trên cơ thể mình. Lúc đầu khuôn mặt cô có vẻ cực kì lo lắng, sau đó cô xoay xở để mỉm cười với vẻ hối lỗi. Cô nhấc chiếc túi xách màu trắng của mình lên và ve vẩy nó trong không khí. Sau đó cô ngó quanh tìm cơ hội lảng đi, và cuối cùng quyết định nhìn thẳng về hướng chiếc máy quay rồi cười lớn. “Chúng ta đang sử dụng hết phim rồi,” chàng trai rên lên, cứ như một nhà sản xuất phim. Người quan sát đứng ở cửa ra vào, cách nhóm người trong khu vườn khoảng hơn chục bước chân, bỗng nhiên tin chắc rằng cô gái này đang ở trong tình trạng căng thẳng đầu óc nguy hiểm, rằng cô ấy chỉ giả vờ khỏe mạnh; và rằng chiếc máy quay phim nhỏ đứng yên một chỗ không ngừng kêu lách cách đang bắt đầu ảnh hưởng đến cô, tựa như cơn ác mộng kinh hoàng có một con mắt cứ nhìn mình chằm chằm. “Sao, em có thể làm gì được?” “Đi dạo xung quanh, hoặc làm gì đó chẳng hạn. Di chuyển qua đó, đến bên phải. Anh muốn quay được những cây cột trụ đằng sau em.” Một thành viên khác trong nhóm, người đã đứng chống nạnh quan sát mọi chuyện nãy giờ, bật ra một tiếng khịt mũi. Đó là một người đàn ông nhỏ bé có vẻ lanh lợi và chiếc kính đen đang đeo giúp che đậy sự thật rằng ông già hơn rất nhiều so với bộ quần áo nghỉ mát đang mặc trên người. Bạn có thể thấy được điều đó qua làn da nhăn nheo chảy xệ dọc quai hàm, và qua đuôi tóc lốm đốm bạc dưới vành mũ cói sụp xuống trên đầu ông. “Hời hợt!” ông ta nói với vẻ khinh miệt. “Đó là thứ cậu đang cố làm: một kẻ hời hợt. Cậu muốn quay những cây cột sau lưng con bé, hả? Cậu không muốn có hình ảnh của Marjorie. Cậu thậm chí cũng không muốn có hình ảnh ngôi nhà cổ ở Pompeii. Thứ cậu muốn chỉ là hình ảnh Marjorie trước một căn nhà Pompeii, để chứng tỏ mình từng ở đó. Tôi cho rằng điều đó thật kinh tởm.” “Như vậy thì có gì sai?” Một giọng nói vang như sấm phát ra. Giọng nói đó là của một người đàn ông cao lớn và vạm vỡ có bộ râu hoe đỏ, người đứng đối diện cặp đôi đang bị mắng. “Thì hời hợt chứ sao,” người đàn ông đội mũ cói nói. “Em hoàn toàn không đồng ý với anh,” người đàn ông vạm vỡ đáp lời. “Và em cũng chẳng hiểu nổi thái độ của anh, Marcus. Cứ mỗi lần chúng ta đến được nơi nào đó có vài cảnh đẹp, anh lại muốn tránh xa chúng ra (nếu em hiểu đúng) chỉ bởi vì đó là địa điểm tham quan. Vậy chúng ta chỉ được tìm hiểu về địa ngục thôi chắc,” ông ta gầm lên giữa khu vườn, “hay là anh thích đến nơi không có mấy địa điểm ngắm cảnh hơn? Anh phản đối việc hàng ngàn người tìm đến chỉ để nhìn thấy những quang cảnh đó. Nhưng có bao giờ anh nghĩ rằng, nếu hàng ngàn người đến đây chỉ để nhìn tận mắt một địa điểm hàng nghìn năm lịch sử, thì có thể là do nó có thứ gì đó đáng xem không?” “Ăn nói cho cẩn thận,” người đàn ông đội mũ cói nói. “Và dừng ngay trò la hét đi. Cậu không hiểu, và sẽ không bao giờ hiểu được. Chẳng hạn như, cậu đã thấy được gì? Hoặc là, cậu có biết bây giờ chúng ta đang ở đâu không?” “Dễ ợt,” người kia nói. “Anh bạn trẻ, chỗ này là chỗ nào?” Người đàn ông vạm vỡ quay sang hỏi chàng thanh niên trẻ đang cầm máy quay phim. Người này đã miễn cưỡng dừng việc chụp hình cô gái lại, bây giờ cô ấy đang cười to một cách thoải mái. Anh ta cất máy quay vào chiếc túi đeo vai, sau đó rút từ trong túi áo ra một cuốn sách hướng dẫn du lịch và cần mẫn lật qua lật lại các trang. Sau đó anh ta hắng giọng. “Số ba mươi bốn, hai sao. Trang viên của Arrius Diomedes,” anh ta đọc với vẻ xúc động sâu sắc. “Ngôi nhà có tên gọi đó bởi vì…” “Vớ vẩn,” người đàn ông vạm vỡ lên tiếng. “Chúng ta vừa tham quan cái nhà đó mười phút trước. Chỗ họ tìm thấy mấy bộ xương ấy.” “Những bộ xương nào?” Cô gái phản đối. “Chúng ta có thấy bộ xương nào đâu, bác sĩ Joe.” Sau cặp kính râm tối màu, khuôn mặt của người đàn ông vạm vỡ dường như đang bốc hỏa. “Tôi không nói chúng ta đã nhìn thấy những bộ xương,” ông ta đáp, điều chỉnh lại chiếc mũ bằng vải tuýt trên đầu. “Tôi chỉ nói đó là nơi người ta tìm thấy mấy bộ xương. Chỗ ngay dưới đường ấy, cô không nhớ à? Tro nóng từ núi lửa nhốt những người nô lệ ở trong, sau đó các nhà khảo cổ tìm thấy họ, la liệt khắp sàn nhà như những bộ ki trên sân bowling. Ngôi nhà có những cây cột sơn màu xanh lá cây đó.” Người đàn ông già nhỏ con, lanh lợi đội mũ cói khoanh tay lại. Trong một thoáng, khuôn mặt ông ta thoáng lên vẻ ác ý rõ ràng. “Có thể thú vị với cậu, Joe, nhưng họ thì không.” “Không cái gì?” bác sĩ Joe gặng hỏi. “Không hứng thú với căn nhà xanh lá bạc màu. Hết lần này đến lần khác tôi đã chứng minh cho luận điểm của mình,” người đàn ông nhỏ con tiếp tục nói, “rằng những con người bình thường, như cậu – hay cậu ta, hoặc con bé – hoàn toàn không thể thuật lại chính xác những điều đã nhìn hay nghe được. Cậu không quan sát. Chính xác hơn là cậu không thể quan sát. Nhỉ, giáo sư?” Ông ta quay đầu lại và liếc nhìn về phía sau. Nhóm này còn hai người đàn ông khác nữa, và họ đang đứng ngay trong bóng râm của những mái hiên, đằng sau hàng cột bao quanh khu vườn. Người quan sát hầu như không ý thức được sự tồn tại của họ; anh không nhìn được họ rõ như những người đang đứng dưới ánh sáng mặt trời kia. Anh chỉ nhận thấy một người trạc trung niên, còn người kia trẻ. Họ đang dùng kính lúp nghiên cứu một khối đá hay mảnh dung nham nào đó, có vẻ như họ đã nhặt được nó từ hàng lan can nối những cây cột. Cả hai đều đang đeo kính râm đen. “Đừng quan tâm đến trang viên của Arrius Diomedes nữa,” một giọng nói vang lên từ bên trong lan can. “Căn nhà này là của ai thế?” “Giờ cháu đang tìm đây,” người thanh niên trẻ với máy quay phim và cuốn sách hướng dẫn du lịch tìm kiếm một cách nhiệt tình. “Hồi nãy cháu lật sai trang. Đây là số ba chín, đúng không? Đúng vậy. Đây rồi. Số ba mươi chín, ba sao. Nhà của kẻ đầu độc Aulus Lepidus.” Xung quanh bỗng nhiên trở nên cực kì yên lặng. Cho đến lúc này, đám người trông có vẻ giống một gia đình – hoặc – một nhóm bạn, với những thành viên lớn tuổi nóng tính có chút bực bội bởi ảnh hưởng của thời tiết hoặc sự mệt mỏi của chuyến đi. Nếu đây là một gia đình, theo thái độ mà họ nói chuyện với nhau, có thể suy ra rằng bác sĩ Joe và người đàn ông nhỏ con đội mũ cói (tên là Marcus) là hai anh em. Cô gái được gọi là Marjorie cũng có thể có quan hệ họ hàng với hai người đó. Không ngạc nhiên lắm. Tuy nhiên, khi những từ ngữ trong cuốn sổ hướng dẫn du lịch được đọc lớn lên, rõ ràng không khí giữa họ bỗng trở nên lạnh lẽo và u ám hơn cái sân này rất nhiều. Chỉ có chàng trai trẻ cầm cuốn sách là không ý thức được điều đó. Mọi người còn lại thì đều quay đầu nhìn quanh; và sau đó hướng về cùng một chỗ. Bốn cặp mắt kính đen nhìn thẳng về hướng cô gái, mặc dù cô đứng ngay chính giữa mọi người. Ánh sáng mặt trời lia trên bề mặt những cặp kính, khiến chúng có vẻ tối tăm và hung hãn như những chiếc mặt nạ. Bác sĩ Joe khó khăn lên tiếng: “Nhà của ai cơ?” “Kẻ đầu độc,” chàng trai trẻ nói. “Bằng hình thanh kiếm và cây liễu lột vỏ (‘lepidus’ nghĩa là ‘tước vỏ’ ‘làm bóng’, nghĩa củ là ‘dí dỏm’ hoặc là ‘dễ chịu’) nằm trên vỉa hè lát đá ghép mảnh, Mommsen đã xác định trang viên này thuộc quyền sở hữu của…” “Biết rồi, nhưng mà ông ta đã làm gì?” “… người, theo Varro, đã giết năm thành viên của gia đình mình bằng cách cố ý bỏ thuốc độc vào món súp nấm,” chàng trai trẻ tiếp tục. Anh ta ngẩng đầu nhìn xung quanh với vẻ hứng thú, như thể mong được thấy các thi thể vẫn đang nằm ở đâu đó. “Ngay tại đây, điều này hay ho đây!” Cậu ta nói thêm. “Cháu nghĩ thời đó việc đầu độc hàng loạt diễn ra khá dễ dàng.” Và sau đó, người thanh niên đột nhiên biết rằng có điều gì đó không đúng đang xảy ra; lông tơ sau gáy anh ta dường như dựng đứng hết cả lên. Anh ta gập cuốn sách lại và nhẹ giọng hỏi. “Có vẻ như,” anh ta buột miệng nói. “Có vẻ như, cháu đã nói điều gì đó không phải sao?” “Dĩ nhiên là không,” Marjorie trả lời với vẻ điềm tĩnh tuyệt vời. “Ngoài ra, sở thích của bác Marcus là nghiên cứu về các tội ác. Đúng không ạ?” “Đúng vậy,” bác Marcus gật đầu. Ông quay sang nói với chàng trai trẻ. “Nói cho tôi biết, cậu… gì nhỉ, tôi cứ quên tên cậu hoài?” “Bác biết rõ tên anh ấy mà,” Marjorie la lên. Nhìn vào sự kính trọng thái quá mà chàng thanh niên dành cho Marcus, người quan sát có thể nhận ra Marcus không chỉ là bác của Marjorie, ông ấy hành động như cha mẹ của cô vậy. “Harding, thưa bác. George Harding,” chàng trai trả lời. “A, đúng rồi. Giờ thì, cậu Harding, nói cho tôi biết, cậu từng nghe đến một nơi gọi là Sodbury Cross, gần Bath bao giờ chưa?” “Không, thưa bác. Sao bác lại hỏi thế?” “Chúng tôi đến từ nơi đó,” Marcus nói. Ông ta thoăn thoắt bước đi và ngồi xuống mép đài phun nước với tư thế như thể đang chuẩn bị đọc một bài diễn văn dài. Ông bỏ cả mũ và kính mát xuống rồi đặt chúng nằm thăng bằng trên đầu gối mình. Việc tháo bỏ phụ kiện che mặt giúp người quan sát nhận ra Marcus có một mái tóc xám thẳng trông như bướu lạc đà, có lẽ sáu mươi năm chải đầu cũng không thể khuất phục được mái tóc đó. Đôi mắt xanh của ông rất sáng sủa, thông minh và ác ý. Thỉnh thoảng, ông ta lại dùng tay chà xát làn da nhăn nheo ở quai hàm mình. “Giờ, cậu Harding,” ông tiếp tục, “chúng ta hãy đối mặt với sự thật này. Tôi giả sử như mối quan hệ giữa cậu và Marjorie không chỉ là loại tán tỉnh bất chợt trên tàu. Tôi giả sử là cả hai đứa đều nghiêm túc, hoặc hai đứa đều nghĩ là mình nghiêm túc.” Có một sự thay đổi khác nữa lại diễn ra trong nhóm người. Sự thay đổi đó cũng ảnh hưởng đến hai người đàn ông đứng cạnh những cây cột bao quanh khu vườn. Một trong số họ (người quan sát nhận thấy) là một người đàn ông trung niên có vẻ ngoài vui vẻ với chiếc đầu hói và có đội mũ phớt. Mắt ông cũng bị kính râm che mất, nhưng khuôn mặt ông thì tròn đầy và hồng hào ưa nhìn. Ông hắng giọng. “Tôi nghĩ,” ông ấy nói, “nếu mọi người thứ lỗi, tôi sẽ đi xuống phía sau và… ” Người đứng cạnh ông ta, một chàng trai trẻ tuổi có khuôn mặt không mấy ưa nhìn, quay đi và bắt đầu tế nhị lờ đi nghiên cứu nội thất ngôi nhà. Marcus nhìn hai người bọn họ. “Vớ vẩn,” ông quả quyết nói. “Có thể các anh không phải là thành viên của gia đình này, cả hai người. Nhưng hai người đều biết những gì chúng tôi biết, vậy nên cứ ở yên đó. Và dừng ngay kiểu tế nhị quái quỷ đó đi.” Cô gái khẽ hỏi. “Bác Marcus, bác có nghĩ đây là chỗ để nói chuyện đó ra?” “Có, cháu yêu.” “Hoàn toàn chính xác,” bác sĩ Joe mạnh mẽ đồng ý. Ông đưa ra một cái nhìn lạnh lùng, nghiêm túc và tỏ vẻ quan trọng. “Lần đầu tiên trong đời, Marcus – đã hoàn toàn đúng.” George Harding tỏ vẻ dũng cảm một cách lạnh lùng, nghiêm túc. “Thưa bác, cháu chỉ có thể đảm bảo rằng…” chàng trai nói với vẻ mạnh mẽ. “Ừ, biết rồi, tôi biết hết mà.” Marcus nói. “Và làm ơn đừng có làm khuôn mặt đáng xấu hổ như vậy. Chẳng có gì bất thường hết. Mọi người đều cưới nhau đấy thôi, và họ đều biết phải làm gì khi kết hôn, và tôi tin tưởng cả hai đứa. Giờ thì, cuộc hôn nhân này có diễn ra hay không hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của tôi.” “Và của tôi nữa,” bác sĩ Joe cứng rắn nói. “Đương nhiên rồi,” Marcus lên tiếng với vẻ hơi bực mình. “Và em trai tôi, dĩ nhiên. Chúng tôi mới biết cậu được một tháng hoặc cỡ đó, chỉ trong chuyến du lịch này. Ngay khi cậu bắt đầu hẹn hò với cháu gái tôi, tôi đã lập tức gửi điện tín cho luật sư để hỏi về tất cả các thông tin của cậu. Chà, cậu có vẻ cũng được. Thành tích học tập tốt, và tôi cũng không phàn nàn gì về việc cậu là trẻ mồ côi và không có gia sản…” George Harding bắt đầu giải thích gì đó, nhưng Marcus ngắt lời anh chàng. “Rồi, rồi. Tôi biết toàn bộ cái quy trình sản xuất hóa chất của cậu, thứ có thể tạo ra cả một gia tài hay đại loại thế. Nếu cả hai đứa quyết định sống dựa vào nó thì hai đứa nên biết rằng tôi sẽ không đời nào đầu tư vào đó lấy một cắc đâu. Tôi cũng không mấy quan tâm đến cái gọi là ‘quy trình mới’, tôi ghét cay ghét đắng các quy trình mới, đặc biệt là trong ngành hóa học. Chúng tôn vinh bộ não của những kẻ ngốc và khiến tôi phát ngấy vì sự non nớt. Nhưng có lẽ cậu sẽ vẫn thu được gì đó. Nếu làm việc nghiêm túc và chăm chỉ, cậu sẽ kiếm đủ sống, và có lẽ sẽ kiếm được thêm một chút từ Marjorie. Cậu đã hiểu chưa?” George lại bắt đầu giải thích gì đó nữa. Lần này thì chính Marjorie là người ngắt lời anh ta. Khuôn mặt cô hơi hồng lên, nhưng đôi mắt của Marjorie rất thẳng thắn và cho thấy sự điềm tĩnh tuyệt vời. “Anh chỉ nên trả lời ‘vâng’ thôi,” cô khuyên. “Đó là tất cả những gì anh được phép nói.” Người đàn ông hói đầu đội mũ phớt đang đứng dựa khuỷu tay vào lan can và hơi cau mày khi lắng nghe cuộc trò chuyện, giờ đây bỗng vẫy tay như thể cố thu hút sự chú ý của giáo viên trong lớp học. “Chỉ một chút thôi, Marcus,” ông ta ngắt lời. “Anh đã yêu cầu Wilbur và tôi có mặt trong cuộc trò chuyện này, mặc dù chúng tôi không phải thành viên gia đình. Vậy nên hãy để tôi nói điều này. Có cần thiết phải thẩm vấn chàng trai kia như thể cậu ta là…” Marcus nhìn ông ấy. “Tôi ước,” Marcus nói, “một số người sẽ loại bỏ được quan niệm ngớ ngẩn rằng bất cứ dạng câu hỏi nào cũng đều là ‘thẩm vấn’ cả. Hình như mọi tiểu thuyết gia đều có quan điểm như vậy. Kể cả anh nữa, giáo sư, dường như chính anh cũng thế. Điều đó khiến tôi bực mình đấy. Tôi chỉ đang kiểm tra cậu Harding mà thôi. Chuyện đó không rõ ràng à?” “Đúng ạ,” George nói. “Ồ, thế thì tốt,” vị giáo sư hòa nhã. Marcus dịch người ngồi cách xa chiếc đài phun nước nhất có thể để không bị ngã nhào vào đó. Biểu cảm trên khuôn mặt ông trông hòa dịu hơn nhiều. “Bởi vì cậu đã hiểu hết điều đó,” ông tiếp tục nói với giọng hơi khác hồi nãy, “bước tiếp theo là cậu cần biết về gia đình chúng tôi. Marjorie đã kể gì cho cậu nghe chưa? Tôi nghĩ là chưa. Nếu cậu nghĩ chúng tôi là những thành viên giàu có nhàn rỗi thích dạo bộ, những người quen với việc nghỉ mát suốt ba tháng tại thời điểm này trong năm, thì ném chúng ra khỏi đầu ngay cho tôi. Đúng là tôi giàu có thật, nhưng tôi không rảnh rỗi và cũng hiếm khi nào đi tản bộ. Những người khác cũng vậy, tôi biết rõ điều đó. Tôi làm việc, và mặc dù tôi xem bản thân mình là một học giả chứ không phải doanh nhân, tôi cũng không phải một người kinh doanh tồi. Em trai tôi là một bác sĩ đa khoa làm việc ở Sodbury Cross. Nó cũng làm việc, bất chấp tính cách lười biếng của mình. Tôi cũng biết rõ điều đó. Nó không phải một bác sĩ giỏi, nhưng mọi người đều thích nó.” Khuôn mặt dưới cặp kính đen của bác sĩ Joe dường như đang bốc hỏa.   Mời các bạn đón đọc Vụ Án Viên Nhộng Xanh của tác giả John Dickson Carr.
Bóng Ma Trong Chùa
Năm 670, Địch Công đã 40 tuổi, ông đang giữ chức Huyện lệnh một chốn khỉ ho cò gáy là huyện Lan Phường. Việc ông bị điều tới đây là do sự sắp đặt của các kẻ thù của ông tại triều đình nhưng một lần nữa ông đã đánh bại bọn đầu gấu địa phương và mang lại bình yên cho Lan Phường. Đó là chuyện đã xảy ra trong Mê Cung Án, còn Bóng Ma Trong Chùa là những sự kiện xảy ra tiếp theo. Nhân ngày sinh nhật Đại phu nhân, Địch Công mua một chiếc hộp cổ làm quà tặng nhưng rồi ông lại phát hiện bên trong nó ghi một lời kêu cứu kỳ lạ như thể của một người đang bị giam giữ. Và thế là, như các tập khác, ba vụ án được mở ra: Một thiếu nữ bị mất tích từ mùa thu năm ngoái; cô ta có phải là người ghi lời kêu cứu trong hộp không? Một gã lưu manh bị giết trong chùa hoang, nhưng dường như thi thể của gã đã bị đánh tráo? Những nghi vấn đó có liên quan gì đến năm mươi thỏi vàng mà Chưởng cố Tư khố Bộ Hộ bị mất trộm? Như các tập khác, Bóng Ma Trong Chùa lại lồng ghép nhiều yếu tố lịch sử và văn hóa Trung Quốc; đặc biệt là ngôi chùa hoang đã từng là thánh địa Phật giáo Mật tông, nhưng dường như không nhận được nhiều thiện cảm của các nhà nho. Ngoài ra, trong tập này, các phu nhân của Địch Công cũng được lên sân khấu, đặc biệt là Tam phu nhân, sau khi bị tác giả cho ăn hành ở Hoàng Kim Án thì đến Bóng Ma Trong Chùa đã có cơ hội được tỏa sáng. Vài nhân vật nữ xinh đẹp và cá tính khác cũng có nhiều đất diễn, lại càng khẳng định khả năng của tác giả trong việc nghĩ ra đủ loại biến thái để gán cho các nhân vật. Nhưng xét cho cùng, đây là sân khấu của Địch Công, ông vẫn bình tĩnh, tháo vát và giỏi quan sát như thường, vẫn phá án một cách thật gọn gàng, sạch sẽ. Tuy nhiên tác giả hơi bị lú, có lẽ là do thời gian sáng tác các tập hơi xa nhau: – Ngày 15 tháng 1 năm 670, tết Nguyên tiêu, Địch Công vẫn ở Phổ Dương phá giải vụ án Hai gã hành khất trong tập Địch gia bát án. – Địch Công rời Phổ Dương đến Lan Phường trong năm 670, khi vừa đến nơi thì bắt đầu phá giải vụ Mê Cung Án. – Mê Cung Án diễn ra vào cuối hè hoặc đầu thu: các nhân vật mặc áo mỏng và hoa cúc bắt đầu nở, có cả hoa lan và ong vo ve. – Trong vụ Bóng Ma Trong Chùa lại nhắc đến vụ trộm vàng xảy ra vào ngày 2 tháng 8 năm Tân Tỵ 669 (năm ngoái) khi Địch Công vẫn đang ở Phổ Dương (sắp phá vụ án Thi nhân và sát nhân vào ngày tết Trung thu). Vụ án mở đầu Bóng Ma Trong Chùa có sự xuất hiện của hoa hạnh nở rộ, nên vụ án này phải xảy ra vào cuối xuân đầu hè 670. – Lão Hồng than thở mùa đông ở Lan Phường thật khắc nghiệt, tức là team Địch Công hẳn đã phải trải qua mùa đông cuối năm 669 – đầu năm 670 ở Lan Phường. – Mê Cung Án diễn ra trước Bóng Ma Trong Chùa khoảng nửa năm. Vụ án thiếu nữ mất tích và vụ án mất trộm vàng lại cũng xảy ra trước Bóng Ma Trong Chùa khoảng nửa năm? – Thời gian diễn ra Mê Cung Án và Bóng Ma Trong Chùa có mâu thuẫn như vậy, Địch Công đến Lan Phường vào thời điểm nào? Mâu thuẫn nhỏ thôi, cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cốt truyện nhưng cảm giác ghi chép các cột mốc thời gian ra giấy và bắt lỗi tác giả thì rất khoái. Sadie Mẫn Nhi *** Robert Van Gulik (1910-1967) là một nhà Đông phương học uyên thâm, từng học Pháp luật và Ngôn ngữ phương Đông tại Hà Lan; năm 1935 nhận học vị tiến sĩ nhờ công trình nghiên cứu về Ấn Độ, Tây Tạng (Trung Quốc) và Viễn Đông. Những năm tiếp theo, liên tục làm công việc của một quan chức ngoại giao tại Trùng Khánh, Nam Kinh (Trung Quốc), Tôkyô (Nhật Bản) và một số nước khác; cuối đời trở thành đại sứ Hà Lan tại Nhật Bản. Ông là tác giả của hàng loạt cuốn sách nổi tiếng về văn hóa phương Đông, như “Trung Quốc cổ đại cầm học”, “Kê Khang cầm phú”, “Trung Quốc hội họa giám thưởng”, “Địch công án”, “Xuân mộng tỏa ngôn”, “Bí hí đồ khảo”, Trung Quốc cổ đại phòng nội khảo”… Celebrated Cases of Judge Dee (Địch Công Án/ Những cuộc điều tra của quan Địch) gồm 16 tập. Một loại tiểu thuyết trinh thám - công án về quan án Địch Công được xây dựng dựa trên nguyên mẫu của tể tướng Địch Nhân Kiệt (630 - 700) một nhân vật có thật sống vào đời nhà Đường thế kỷ thứ VII. Sinh tại Tĩnh Châu, phủ Thái Nguyên (Sơn Tây) Địch Nhân Kiệt đã làm quan tại các địa phương dưới các chức vụ huyện lệnh, Pháp tào Tham quân, Tuần phủ,Thứ sử. Năm 47 tuổi ông về kinh đô Trường An làm Đại lý thừa Tự khanh rồi lần lượt được thăng lên Thị ngự sử, Thị lang bộ Công, thượng Thư tả thừa, hai lần làm Trung thư lệnh (tể tướng) và đô đốc dưới quyền nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên. Phẩm chất đạo đức và tài phá án của ông đã được người đời ca tụng sủng ái đến mức như huyền thoại. Không những là người có hiểu biết về pháp luật, về tâm lý con người, Địch Công còn biết cả kiếm thuật, võ thuật lẫn chữa bệnh, một quan toà cổ đại Trung Quốc mang dáng dấp của Sherlock Holmes... Cùng với bốn hộ vệ mưu trí, dũng cảm, xả thân vì chủ như Hồng Lương, Mã Tôn, Triệu Thái và Tào Can - những giang hồ hảo hán được ông giác ngộ và cho đi theo, Địch Công đã phá được rất nhiều vụ án ly kỳ. Robert Van Gulik cũng khéo léo đưa vào bộ tiểu thuyết trinh thám này những nét văn hóa, lịch sử, phong tục của Trung Quốc.  *** Địch Công kỳ án là bộ tiểu thuyết 16 tập thuộc dòng trinh thám quan án. Nội dung tác phẩm xoay quanh nhân vật Địch Nhân Kiệt và các trợ thủ thân tín, cùng những vụ kỳ án muôn màu muôn vẻ ông đã phá giải trên hành trình thăng tiến từ một Huyện lệnh lên đến chức Tể tướng. Có thể nói, tác giả đã hội tụ và đúc kết những gì tinh hoa nhất của hai dòng trinh thám phương Đông và phương Tây vào kiệt tác Địch Công kỳ án. Bộ tiểu thuyết được viết theo phong cách đậm chất duy lý, đồng thời cũng là tác phẩm trinh thám phương Tây đầu tiên đi theo mô tuýp trinh thám quan án và mang lại sức sống mới cho dòng trinh thám đậm chất phương Đông này. Nhờ vậy mà đến tận bây giờ, Địch Công kỳ án vẫn giữ vị trí độc tôn đặc biệt, là tác phẩm thành công nhất trong dòng trinh thám quan án. *** Chốn hoang phế nảy ra quái sự Đêm ma mị đồng lõa mưu gian Ả đứng bất động, nhìn chăm chăm vào vật nằm bên miệng giếng cổ. Không một ngọn gió nào xuất hiện giữa bầu không khí nóng ẩm đang bủa vây khu vườn của ngôi chùa tối tăm. Vài bông hoa hạnh rung rinh trên tán cây trải rộng trên đầu người, trắng sáng lên trong đốm lửa từ chiếc đèn lồng. Và càng trắng hơn khi nằm lẫn giữa những vết máu trên nền đá nhuốm màu thời gian. Kéo tà áo rộng sát vào ngực, ả nói với nam nhân cao lớn đứng bên mình, “Ném cả nó xuống giếng đi! Rất an toàn; giếng cổ này đã nhiều năm không ai lui tới. Ta không nghĩ còn có ai biết về nó.” Nam nhân khắc khoải nhìn khuôn mặt vô hồn, tái xám của ả, đặt ngọn đèn lồng lên đống đá cuội và gạch vỡ cạnh giếng rồi vừa run rẩy với vẻ sốt ruột, vừa tháo chiếc khăn quàng ra. “Ta muốn an toàn gấp đôi, nàng thấy không. Ta sẽ gói nó lại và…” Nhận thấy mình đã lớn tiếng giữa khu vườn của ngôi chùa hoang, hắn lại thì thầm, “…và chôn nó trong rặng cây phía sau chùa. Tên say rượu ngu ngốc kia có vẻ đang ngủ và sẽ không có ai còn thức sau nửa đêm.” Ả bình thản đứng nhìn hắn bọc cái thủ cấp trong khăn quàng. Những ngón tay hắn run lên dữ dội đến nỗi hắn khó khăn lắm mới buộc chặt được nút thắt. “Ta không thể làm nổi!” Hắn thì thào chống chế. “Thật là… thật quá sức của ta. Sao… sao nàng lại dám ra tay vậy? Hai lần, và thật giảo hoạt…” Ả nhún vai. “Chàng cần phải biết về khoảng trống giữa các khớp xương”, ả đáp lãnh đạm. Rồi ả cúi mình bên miệng giếng cổ. Từng cụm dây thường xuân dày đặc đã phủ kín phần gỗ mục nát của thanh xà cũ kỹ và những dải phướn dài rủ xuống trong bóng đêm thâm sâu, bám vào một sợi dây mòn, lúc trước dây còn treo một chiếc gầu. Có gì đó xao động trong tán lá rậm rạp của đám cây cổ thụ. Hoa hạnh trắng lại đổ xuống như mưa. Vài bông rơi đúng tay ả. Hoa lạnh như tuyết. Ả thu tay lại và phủi hoa đi. Rồi ả chậm rãi nói, “Tiết đông năm trước, khu vườn này bị tuyết phủ trắng xóa. Một màu trắng xóa…” Giọng ả lạc đi. “Đúng thế”, gã nam nhân hăm hở. “Đúng rồi! Trong thành cũng rất đẹp. Tuyết đóng thành nhũ trên mái ngôi chùa bên hồ sen trong những chiếc chuông nhỏ”, hắn lau khuôn mặt nóng bỏng ướt sũng rồi nói thêm, “Không khí lạnh thật sảng khoái. Ta còn nhớ rằng sáng hôm đó…” “Đừng nhớ nữa”, ả lạnh lùng ngắt lời. “Quên hết đi! Chỉ nghĩ đến tương lai thôi. Vì lúc này chúng ta sẽ có thể đạt được tương lai ấy. Tất cả. Mau đi thôi, ra khỏi chốn này.” “Bây giờ?” Hắn kinh ngạc. “Ngay sau khi…” Hắn nhìn ả khinh khỉnh rồi vội nói, “Ta đã nói là ta mệt quá rồi. Thật đó!” “Mệt ư? Chàng vẫn luôn khoe khoang về sức vóc của mình!” “Nhưng đâu còn gì để phải vội vàng nữa, đúng không? Chúng ta có thể đi và đạt được tương lai ấy bất cứ khi nào chúng ta muốn. Và chúng ta…” “Ta bỗng có việc gấp. Nhưng ta có thể hoãn lại. Chỉ một đêm thôi nhé?” Hắn nhìn ả buồn bã. Và khát vọng của hắn đối với nữ nhân này thật cay đắng, khiến hắn chịu giày vò. “Sao nàng không thể là của ta, của riêng ta thôi?” Hắn van nài. “Nàng biết ta sẽ làm bất cứ điều gì nàng muốn. Ta đã chứng minh rồi đấy, ta…” Hắn bật khóc, vì hắn thấy ả không nghe những lời hắn vừa nói. Ả đang chăm chú nhìn lên khoảng không giữa những tán lá, rải rác những bông hoa trắng. Đỉnh của hai tòa bảo tháp ba tầng đâm xuyên vào nền trời đêm. Cả hai ngọn tháp sừng sững hai bên sảnh chính của ngôi chùa, tạo nên sự đối xứng hoàn hảo. ... Mời các bạn đón đọc Địch Công Kỳ Án Tập 11: Bóng Ma Trong Chùa của tác giả Robert van Gulik.
Bậc Thầy
“Cuốn tiểu thuyết được nhắc đến nhiều nhất năm 2016.” — Washington Post Luôn bị đối xử tệ tại một nhà đấu giá tranh nghệ thuật nổi tiếng London, thoạt tiên, Judith chỉ là một trợ lý làm công ăn lương nhiều tham vọng, gắng vượt khỏi gốc gác hạng xoàng của mình để leo lên địa vị cao hơn trong thế giới nghệ thuật, một thế giới khó chạm tới nhưng cô biết mình thuộc về nó. Nhưng một vụ lừa đảo tại nhà đấu giá khiến cuộc đời cô tan tành đảo lộn. Thay vì suy sụp hay mất phương hướng, cô trở thành một con người khác. Vũ khí hộ thân không gì hơn trí thông minh sắc sảo và tài ngụy tạo, cô đưa đường dẫn lối bản thân từ French Riviera tới Genève, tới Rome, biến hình như tắc kè hoa, tính toán những con đường để giành lấy cuộc sống nhung lụa. Được bình chọn là cuốn sách xuất sắc nhất hệ thống Amazon tháng Tư năm 2016, cuốn tiểu thuyết ly kỳ này đã mở đầu cho bộ ba tác phẩm hấp dẫn, dõi theo tiến trình cuộc đời của Judith, một người đàn bà vừa mong manh vừa lạnh lùng. Trong lúc Judith hành động càng lúc càng xảo trá, nhập vai càng ngày càng dễ như thay giày, Hilton cũng khéo léo dệt nên một thế giới hào nhoáng, mang đầy cảm giác sắc bén về cuộc sống phù hoa đương đại.  Rốt cuộc, ta sẽ đi đâu khi ta đã đi quá xa? *** Review ''Bậc Thầy'' - L.S Hilton người review Nguyễn Ngọc Nam 388 trang với một câu truyện kỳ lạ. Một câu truyện phiêu lưu thời hiện đại, giống như một bộ phim hành động tua chậm trước mắt người đọc khiến cho khi gập sách lại ta vẫn không thể tin được kết thúc đã được phơi bày của nó. Judith là một cô gái thông minh và quỷ quyệt. Ban đầu cô ta chỉ là trợ lý quèn cho một nhà đấu giá có tham vọng trở thành một người quyền lực trong giới nghệ thuật nhưng hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống đã cản bước cô. Mãi cho đến tận sau này cô mới nhận ra rằng tất cả những cố gắng của mình thực sự là vô ích. Đỉnh điểm là một vụ lừa đảo tại nhà đấu giá khiến cuộc đời cô tan tành đảo lộn. Và từ đây, câu truyện về Bậc thầy chính thức khai màn! Bạn nên đọc cuốn sách trong môi trường yên tĩnh tuyệt đối bởi bản gốc có lẽ tác giả hành văn nghe chừng thấy phức tạp khó hiểu quá, câu văn kiểu hack não người đọc nên về Việt Nam khi dịch lại dịch giả có lẽ cũng gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy mà bạn sẽ phải mất kha khá thời gian để làm quen với sách bởi vì nó khá khó đọc. Truyện miêu tả rất đúng xã hội thời hiện đại, con người thời hiện tại và có lẽ là cả trong tương lai nữa. Một xã hội ưa vật chất, lừa đảo, giẫm đạp lên nhau để sống. Những con người lạnh lùng vô cảm và vô cùng xảo quyệt. Trong truyện không có một giai đoạn nào tươi sáng. Dường như thế lực bóng tối đã bao trùm lên toàn bộ cuốn sách này, bạn sẽ phải căng não và tư duy liên tục, như một cuộc chạy marathon với nó. Trinh thám, kinh dị, phiêu lưu, hài hước, sex thậm chí là cả viễn tưởng đều được tác giả thể hiện trong truyện. Đặc biệt là sex. Có lẽ phải đến 1/3 truyện yếu tố sex được đề cập đến với những mô tả cực chi tiết. Nó làm tôi nhớ tác phẩm "Thế giới mới tươi đẹp" nơi mà con người sex với nhau mọi lúc mọi nơi để xả stress liên tục. Xuyên suốt truyện người đọc sẽ thấy được một Judith mạnh mẽ. Và như tôi đã nói, cô mạnh mẽ theo cái cách tàn nhẫn. Đúng, tàn nhẫn bởi cô nhận ra rằng chỉ mạnh mẽ theo cách đó mới có thể tồn tại được trong xã hội này. Tất nhiên không một người tốt đẹp, trong sáng nào ủng hộ điều này nhưng xét theo một khía cạnh nào đó, những việc làm của Judith ít nhiều cũng là cần thiết và đúng đắn. Bởi hiện thực là khốc liệt, sự thật là tàn nhẫn. Dẫm đạt lên nó là điều tất yếu của cuộc sống. Bởi vậy mới nói, sự tha hóa của con người trong xã hội ngày nay đang "phát triển" vượt bậc. Tôi đánh giá cao về quyển sách này. Nó hoàn toàn thực tế, đúng đắn tới từng phân cảnh. Cũng giống "Bắt trẻ đồng xanh" đây hoàn toàn không phải là cuốn sách những đứa trẻ ngoan hay những người tin vào đạo lý nên đọc. Thật sự là khi các bạn đọc review này rồi thì hãy cân nhắc việc đọc nó nếu không muốn bị ức chế hoặc chửi thề sau khi đọc được vài chương. Tôi không muốn ai phải có một trải nghiệm tồi tệ không đáng có với điều đã được cảnh báo trước. *** Gấu váy nặng nề và gót giày nhọn hoắt lướt vun vút và gõ lạch cạch trên mặt sàn lát gỗ. Chúng tôi đi ngang hành lang đến một cửa đôi, tiếng rì rầm khe khẽ sau cửa cho biết cánh đàn ông đã ở trong phòng. Căn phòng được thắp nến, giữa các sofa và ghế ăn thấp có kê bàn nhỏ. Cánh đàn ông đang chờ, họ mặc quần lụa xa tanh đen dày cùng áo khoác có khuyết thùa ngang kiểu nhà binh, sợi ngang của vải óng ánh lộng lẫy bù khuyết cho lần áo trong hồ cứng ngắc. Thi thoảng, một chiếc khuy măng séc nặng nề hay một chiếc đồng hồ thanh mảnh lại nhoáng vàng trong ánh nến, một hình thêu chữ lồng thấp thoáng bên dưới một chiếc khăn tay lụa hoa mỹ. Cảnh tượng này hẳn sẽ có vẻ sến súa và giả tạo nếu mọi chi tiết không hoàn hảo đến vậy, nhưng tôi lại thấy như bị thôi miên, mạch đập của tôi chậm và sâu. Yvette đang được một người đàn ông có cổ tay áo gắn lông công dẫn đi - tôi nhìn lên và thấy một người khác tiến về phía mình, một cây dành dành giống của tôi gắn trên ve áo ông ta. “Vậy cách thức là thế này sao?” “Khi chúng ta ăn, đúng vậy. Sau đó cô được chọn. Bonsoir*.” “Bonsoir.” Dáng ông ta cao và mảnh khảnh, dù cơ thể có vẻ trẻ hơn khuôn mặt đã có phần nhăn nheo và đanh cứng, với mái tóc muối tiêu chải ngược trên vầng trán cao và cặp mắt lớn hơi sụp mí, như một vị thánh Byzantine. Ông ta dẫn tôi đến sofa, đợi tôi ngồi xuống rồi đưa cho tôi một ly vang trắng, chiếc ly bằng pha lê đơn giản, trong veo và cứng rắn. Nghi thức thì sáo rỗng, nhưng tôi thích từng bước thực hiện của nó. Julien rõ ràng có vẻ thích sự mong đợi. Các cô hầu bàn gần như khỏa thân trở lại với những đĩa nhỏ đựng bánh tôm hùm nhỏ xíu, rồi đến ức vịt xé nhỏ trong một hỗn hợp mật ong và gừng, mâm xôi và dâu tây đựng trong bánh ngói hình khay. Những món ăn mang tính lịch sự, không hề nhằm đến việc đáp ứng nhu cầu của chúng tôi. “Trái cây màu đỏ làm cái ấy của đàn bà thành mỹ vị,” bạn cùng bàn của tôi nhận xét. “Tôi biết.” Đôi chỗ có tiếng nói chuyện khe khẽ, nhưng hầu hết chỉ nhìn ngắm và uống rượu, ánh mắt chuyển từ đối phương sang những động tác nhanh nhẹn của các nữ hầu bàn có vóc dáng như vũ nữ, mảnh dẻ nhưng săn chắc cơ bắp, đùi căng đầy trên ống ủng bó chặt. Làm thêm sau giờ múa ba lê chăng? Tôi loáng thoáng thấy Yvette ở bên kia phòng, đang được bón sung nhồi hạnh nhân bằng một cây dĩa bạc nhọn đầu, cơ thể cô ườn ra như một con rắn, một bên đùi sẫm màu lấp ló giữa lớp lụa đỏ. Một cách trang nghiêm, các hầu bàn cầm cây dập nến đi quanh phòng, chỉnh mờ ánh sáng trong một làn mây hình sáp ong, và cùng lúc đó tôi cảm thấy tay người đàn ông trên đùi mình, vừa xoa vừa ve vuốt, không chút vội vã, và đáp lại là sự căng cứng giữa hai chân tôi. Các cô gái đưa ra những khay sơn mài đựng bao cao su, chai pha lê nhỏ chứa dầu thơm Tahiti, dầu bôi trơn được chắt vào khay đĩa. Vài cặp đang hôn nhau, có vẻ hài lòng với đối tượng được ghép đôi của mình; số khác lịch sự đứng dậy và băng qua phòng để tìm con mồi họ đã chọn từ trước. Váy của Yvette rơi xuống cạnh đôi chân mở rộng của cô, một người đàn ông vục đầu vào cô. Tôi bắt gặp ánh mắt cô, và cô mỉm cười, vẻ kiêu sa, trước khi ngả đầu giữa đống gối theo kiểu ngây ngất của một con nghiện chìm vào cơn phê. Mời các bạn đón đọc Bậc Thầy của tác giả L. S. Hilton.