Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Từ Điêu Tàn Trỗi Dậy

Từ Điêu Tàn Trỗi Dậy là phần kết đầy kịch tính và bất ngờ của bộ Grisha, tiếp sau "Bóng tối và xương trắng", "Phá muôn trùng vây". Alina - Thánh nữ mặt trời bước vào cuộc đấu cuối cùng với Hắc Y với sức khỏe bị tàn phá, bộ khuếch đại thứ ba chưa tìm được, đoàn quân hộ vệ cô tan tác... Cái giá quá đắt để giành lấy cơ hội thành công mong manh, liệu cô có dám trả? *** Leigh Bardugo là một tác giả giả tưởng và người trưởng thành trẻ tuổi người Mỹ, nổi tiếng với bộ phim Six of Crows và bộ ba Shadow and Bone, đã bán được hơn hai triệu bản. *** Tên con quái vật là Izumrud, Cự Trùng, nhiều người khăng khăng tin rằng nó đã tạo ra những đường hầm bên dưới Ravka. Mang trong mình cơn đói cồn cào, nó ăn sạch bùn đất và sỏi đá, càng ngày càng đào sâu vào lòng đất hòng tìm ra thứ gì để thỏa mãn, cho đến khi nó đi quá xa và lạc lối trong bóng tối. Đấy chỉ là một câu chuyện kể, nhưng người ở Giáo Hội Trắng luôn cẩn thận không đi quá xa khỏi những lối đi quanh hang động chính. Bao âm thanh lạ lẫm vang vọng khắp hệ thống địa đạo mịt mờ, những tiếng rên rỉ và lầm rầm khó hiểu, không gian lạnh lẽo của sự thinh lặng bị phá vỡ bởi những tiếng rít khẽ như đến từ hư vô, hoặc từ chuyển động uốn lượn của một thân thể dài ngoằng đang trườn dọc theo một lối đi gần bên để săn mồi. Vào những giây phút ấy, thật dễ để tin rằng Izumrud vẫn đang tồn tại ở đâu đấy, chờ được thức tỉnh bởi tiếng gọi của những vị anh hùng, mơ về bữa ăn ngon lành nó sẽ có nếu một đứa trẻ xấu số nào chẳng may đi lạc vào miệng nó. Một con quái thú như thế sẽ chỉ nghỉ ngơi chứ không chết hẳn. Người con trai đem đến cho người con gái câu chuyện này, cùng nhiều câu chuyện khác, tất cả những câu chuyện mới mẻ cậu có thể thu thập được vào những ngày đầu tiên cậu được phép ở gần cô. Cậu sẽ ngồi cạnh giường, cố thúc cô ăn, lắng nghe tiếng thở gắt gao từ buồng phổi của cô, và cậu sẽ kể cô nghe câu chuyện về dòng sông được chế ngự bởi một Tiết Hải Sư quyền năng, nó được huấn luyện để xuyên thủng hàng ngàn lớp đá nhằm kiếm tìm một đồng xu ma thuật. Cậu sẽ thì thầm về gã Pelyekin đáng thương bị nguyền rủa, quần quật hàng ngàn năm với lưỡi cuốc diệu kỳ, để lại vô vàn hang động và lối đi sau dấu chân mình, một tồn tại đơn côi không mong gì hơn ngoài sự xao lãng, gã tích lũy vàng bạc và đá quý mà bản thân chưa bao giờ thiết dùng. Rồi buổi sáng nọ, người con trai tìm đến phòng người con gái và nhận ra nó đã bị bao vây bởi một lực lượng vũ trang. Và khi cậu từ chối rời đi, họ xích cậu lại và lôi cậu ra khỏi cửa. Lão linh mục cảnh cáo người con trai rằng niềm tin sẽ đem cho cậu bình yên và phục tùng sẽ giữ cậu sống sót. Bị giam trong ngục tối một mình ngoài tiếng nước rơi lộp độp và nhịp đập chậm rãi của trái tim, người con gái biết những câu chuyện về Izumrud là thật. Cô đã bị ăn sống, bị nuốt chửng hoàn toàn, và trong lòng thạch anh vang dậy của Giáo Hội Trắng, chỉ còn lại Thánh nữ hiện diện. Người Thánh nữ thức dậy mỗi ngày trong tiếng ca tụng tên cô, và quân đội của cô ngày càng lớn mạnh, hàng ngũ lúc nhúc bao kẻ đói khát và tuyệt vọng, với những binh sĩ bị thương và những đứa trẻ chỉ gần đủ lớn để vác khẩu súng trường. Lão linh mục nói với tín đồ rằng ngày nào đó cô sẽ là Nữ Hoàng, và họ tin lời lão. Nhưng họ thắc mắc trước đoàn triều thần tơi tả và bí ẩn của cô: Tiết Khí Sư tóc đen với miệng lưỡi sắc sảo, Phế Nhân với khăn choàng cầu nguyện màu đen và những vết sẹo ghê tởm, người học giả xanh xao luôn lom khom bên đống sách vở và công cụ kì lạ của mình. Họ là những tàn dư rệu rã của Hạ Quân - thật không đủ tư cách làm trợ thủ của Thánh nữ. Chỉ một số ít người biết rằng cô đã suy yếu. Bất cứ sức mạnh gì từng ban phúc cho cô, thiêng liêng hay không, đều đã biến mất - hoặc ít nhất là nằm ngoài tầm với. Những môn đệ bị cách ly ở một khoảng khá xa, để họ không thấy được đôi mắt cô giờ chỉ là hai lỗ trũng u tối, hơi thở cô giờ chỉ còn từng đợt ngắt quãng đầy sợ hãi. Cô bước thật chậm và ngập ngừng, từng khớp xương mảnh dẻ chực gãy nát bên trong, toàn bộ hy vọng của họ đặt lên người cô gái bệnh tật này. Phía trên mặt đất, một vị vua mới cai trị với quân đoàn bóng tối mình sở hữu, và anh ta lệnh rằng Tiết Dương Sư của mình phải được trả về. Anh ta đe dọa lẫn treo thưởng, nhưng câu trả lời nhận được lại là thách thức - Một gã sống ngoài vòng pháp luật được dân chúng mệnh danh là Hoàng Tử Gió. Gã tấn công dọc theo biên giới phía Bắc, đánh bom đường dây tiếp tế, buộc Hắc Vương phải tái thiết mậu dịch và băng qua Vực Tối với không gì khác ngoài vận may cùng đoàn Tiết Hỏa Sư để đẩy lùi bầy quái vật. Vài người nói kẻ thách thức này là hoàng tử Lantsov. Kẻ khác lại đồn gã là một phiến quân Fjerda đã từ chối chiến đấu cùng lũ phù thủy. Nhưng tất cả đều nhất trí rằng gã chắc chắn phải sở hữu năng lực đặc thù. Người Thánh nữ lắc mạnh song sắt của buồng giam bên dưới lòng đất. Đây là cuộc chiến của cô, và cô đòi quyền tự do để đấu tranh vì nó. Lão linh mục từ chối. Nhưng lão đã quên rằng trước khi trở thành Grisha và Thánh nữ, cô là một hồn ma của Keramzin. Cô và người con trai đã tích trữ bí mật như Pelyekin tích trữ kho tàng. Họ biết cách trở thành những tên trộm và những bóng ma, biết cách che giấu sức mạnh cũng như mánh khóe. Tương tự các giáo viên ở dinh thự của Công tước, lão linh mục cứ ngỡ mình đã biết rõ về người con gái và khả năng của cô. Lão đã lầm. Lão đã không nghe thấy ngôn ngữ ẩn giấu của họ, đã không hiểu quyết tâm của người con trai. Lão đã không thấy được khoảnh khắc người con gái thôi đánh giá nhược điểm của mình là gánh nặng, mà bắt đầu mang nó như một lớp vỏ trá hình. *** Tôi đứng trên ban công khắc đá, dang rộng hai tay, cả người run lẩy bẩy trong trang phục rẻ tiền, cố diễn tròn màn kịch hoàn hảo. Bộ kefta của tôi là một miếng vải chắp vá được may lại từ những mẩu vụn của chiếc áo choàng tôi mặc vào cái đêm trốn khỏi cung điện, cùng mấy tấm màn cửa sặc sỡ nghe nói được lấy từ một nhà hát đã sụp đổ đâu đó gần Sala. Áo được tô điểm bằng những chuỗi hạt trên chùm đèn treo trong hành lang. Họa tiết thêu ở tay áo gần sút chỉ. David và Genya đã cố gắng hết sức, nhưng tài nguyên bên dưới lòng đất thì có hạn. Nhìn từ xa trông nó vẫn ổn, sắc vàng lung linh giữa ánh đèn như thể phát ra từ lòng bàn tay tôi, lan tỏa từng đợt lấp lánh rạng ngời trên khuôn mặt mê mẩn của đoàn môn đệ ở phía xa bên dưới. Khi đến gần, tất cả chỉ là những bó chỉ lỏng lẻo và nguồn sáng giả tạo. Giống như tôi. Thánh nữ xác xơ. Giọng của Lão Tư Tế rền vang khắp Giáo Hội Trắng, và đám đông quay cuồng, mắt nhắm nghiền, tay giơ cao, một cánh đồng thuốc phiện, những cánh tay như cuống hoa nhợt nhạt đung đưa trong cơn gió vô hình mà tôi không thấy được. Tôi làm theo một chuỗi hành động được sắp đặt, cố ý di chuyển sao cho David và người Tiết Hỏa Sư phụ giúp anh vào sáng hôm đó có thể dõi theo cử động của tôi từ mật thất ngay phía trên ban công. Tôi chán ghét những buổi cầu nguyện sáng, nhưng theo lời lão linh mục thì, hình ảnh dối trá này rất cần thiết. “Đấy là món quà cô tặng cho tín đồ của mình, Sankta Alina,” lão giải thích. “Là hy vọng”. Trên thực tế, nó là một ảo vọng, một ám thị nhạt nhòa của ánh sáng một thời tôi từng nắm giữ. Quầng sáng màu vàng thật ra là lửa của Tiết Hỏa Sư, phản chiếu lại từ một chiếc đĩa gương tồi tàn được David tạo nên bằng những mảnh thủy tinh còn sót lại. Nó giống như thứ chúng tôi đã dùng khi cố cản đường tiến của đội quân Hắc Y ở Os Alta nhưng thất bại. Chúng tôi bị đánh úp bất ngờ; và năng lực của tôi, kế hoạch của chúng tôi, tất cả kỹ nghệ của David, kể cả sự tháo vát của Nikolai cũng không đủ để ngăn chặn cuộc thảm sát. Từ đó, tôi không thể triệu hồi nổi dù chỉ một tia nắng nhỏ nhoi. Nhưng hầu hết đám đông của Lão Tư Tế chưa bao giờ nhìn thấy khả năng thật sự của Thánh nữ mà họ tôn thờ, và hiện tại, trò lừa đảo này xem như tạm đủ. Lão Tư Tế kết thúc bài giảng của mình. Đấy là tín hiệu chấm dứt. Người Tiết Hỏa Sư để luống sáng bừng lên quanh tôi. Nó nhấp nháy và rung rinh một cách cuồng loạn, cuối cùng mới mờ đi lúc tôi bỏ tay xuống. Chà, giờ thì tôi biết hôm nay ai là người trực chung với David rồi. Tôi quắc mắt nhìn về phía hang động. Harshaw. Hắn ta lúc nào cũng làm quá trớn. Sau trận chiến ở Tiểu Điện chỉ có ba Tiết Hỏa Sư còn sống, nhưng một người đã chết chỉ sau đó vài ngày vì vết thương của cô. Trong số hai người còn lại, Harshaw là kẻ uy lực và khó đoán nhất. Tôi bước xuống bục, nôn nóng thoát khỏi sự hiện diện của Lão Tư Tế, nhưng chân tôi loạng choạng suýt ngã. Lão liền nắm lấy tay và đỡ tôi đứng vững. “Cẩn thận đấy, Alina Starkov. Cô quá bất cẩn với an nguy của bản thân.” “Cảm ơn,” tôi nói. Tôi muốn tránh xa lão, tránh xa mùi bùn đất và nhang trầm hôi thối lão mang trên người. “Hôm nay cô có vẻ không khỏe.” “Chỉ vụng về chút thôi.” Cả hai đều biết đấy là lời nói dối. Tôi đã khỏe hơn hồi mới đến Giáo Hội Trắng - những khớp xương đã lành lặn, tôi cũng không nôn hết thức ăn nữa - nhưng tôi vẫn còn yếu, cơ thể như bị đày đọa bởi những cơn đau nhức và mỏi mệt liên miên. “Vậy thì, một ngày để nghỉ ngơi nhé.” Tôi nghiến răng. Lại một ngày bị giam cầm trong buồng ngủ. Tôi cố nén giận và yếu ớt mỉm cười. Tôi biết lão muốn thấy điều gì. “Tôi lạnh lắm,” tôi nói. “Vài ngày ở Kettle sẽ giúp tôi thấy ổn hơn.” Thành thực mà nói, đó là sự thật. Nhà bếp là nơi duy nhất không bị ẩm thấp trong Giáo Hội Trắng. Ngay lúc này, ít nhất một lò sưởi dùng cho buổi sáng sẽ được thắp lên. Hang động lớn hình tròn sẽ chìm trong mùi thơm của bánh mì đang nướng và cháo yến mạch ngọt ngào được đầu bếp nấu từ đậu khô dự trữ và sữa bột do đồng minh trên mặt đất cung cấp. Tôi vờ run lên để tăng tính thuyết phục, nhưng câu trả lời duy nhất của lão linh mục chỉ là một chữ “hừm” vô thưởng vô phạt. Tiếng di chuyển ở bên dưới hang động làm tôi chú ý: những người hành hương, tất cả đều mới đến. Tôi không thể ngăn mình nhìn họ bằng con mắt chiến lược. Một vài người mặc quân phục cho thấy họ là lính đào ngũ của Thượng Quân. Tất cả đều trẻ trung và khỏe mạnh. “Không có cựu binh?” Tôi hỏi. “Hay góa phụ?” “Cuộc sống dưới lòng đất là một hành trình khó khăn,” Lão Tư Tế đáp lại. “Nhiều người quá già hoặc quá yếu để chuyển đi. Họ thích sống thoải mái trong nhà mình hơn.” Không thể nào. Những người hành hương chống nạng và gậy để đến đây, bất kể già nua hay bệnh tật. Dù sắp chết, họ vẫn đến đây vào những ngày cuối đời để được diện kiến Thần Mặt Trời. Tôi thận trọng ngoái nhìn sau vai. Tôi chỉ thoáng thấy qua cận vệ của Lão linh mục, những gã râu ria được trang bị vũ trang hiện đang đứng gác ở lối đi. Bọn họ là những nhà sư, những linh mục thông thái như Lão Tư Tế, và là những người duy nhất được phép mang vũ khí dưới đường hầm. Trên mặt đất, họ là người gác cổng, săn đuổi quân do thám và những kẻ vô thần, ban ơn trú ẩn cho những người họ nghĩ là xứng đáng. Gần đây, số lượng đoàn hành hương đang dần suy yếu, và những cá nhân gia nhập hàng ngũ của chúng tôi có vẻ nồng nhiệt hơn là ngoan đạo. Lão Tư Tế muốn những chiến binh tiềm năng, không phải những cái miệng đói ăn. “Tôi có thể đến chỗ người già và bệnh nhân,” tôi đề nghị. Tôi biết tranh cãi là vô ích, nhưng tôi vẫn lên tiếng. Đây là điều gần như được đoán trước. “Thánh nữ nên đồng hành cùng dân chúng, không phải lẩn trốn như chuột cống dưới hang.” Lão Tư Tế mỉm cười - nụ cười nhân đức, khoan dung mà giáo dân ngưỡng mộ nhưng khiến tôi muốn thét lên. “Vào thời điểm khó khăn, nhiều loài động vật sẽ chui xuống lòng đất. Đấy là cách chúng sống sót,” lão nói. “Sau khi lũ xuẩn ngốc phát động chiến tranh, chuột cống sẽ là loài cai trị ruộng đồng và thị trấn.” Và mở tiệc ăn mừng trên xác chết, tôi rùng mình nhủ thầm. Như thể đọc được ý nghĩ, lão linh mục nhấn một tay lên vai tôi. Những ngón tay dài và trắng nhợt, vươn khắp tay tôi như một con nhện sáp. Nếu đây là cử chỉ nhằm để an ủi thì lão thất bại rồi. “Hãy kiên nhẫn, Alina Starkov. Chúng ta chỉ trỗi dậy đúng lúc chứ không sớm hơn.” Kiên nhẫn. Nó luôn là đơn thuốc của lão. Tôi cố kiềm chế mong muốn được chạm vào cổ tay trơ trọi của mình, khoảng trống đáng ra sẽ đón nhận vòng xương của Hỏa Điểu. Tôi đã có vảy của Hải Long và sừng con hươu đực, nhưng mảnh ghép cuối cùng trong câu đố của Morozova vẫn mất tích. Chúng tôi đã có thể sở hữu bộ khuếch đại thứ ba nếu Lão Tư Tế chịu góp sức tìm kiếm, hoặc để chúng tôi quay lại mặt đất cũng được. Nhưng sự chấp thuận ấy phải trả bằng một cái giá. “Tôi lạnh lắm,” tôi lặp lại, cố chôn vùi nỗi bực dọc của mình. “Tôi muốn đến Kettle.” Lão cau mày. “Ta không thích cô túm tụm bên dưới đó với con bé kia…”   Mời các bạn đón đọc Từ Điêu Tàn Trỗi Dậy của tác giả Leigh Bardugo & Nguyễn Bảo Anh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tim Mực
Nếu bạn đã đọc và say mê Harry Potter của J.K.Rowling thì không thể bỏ qua Tim Mực của Cornelia Funke, hiện đang đứng đầu danh sách Bestseller tại CHLB Đức và Mỹ. Với bộ tác phẩm Tim Mực, Cornelia Funke được coi là J.K.Rowling của nước Đức. Một đêm nọ, cha của Meggie, ông Mo, đọc to thành tiếng cuốn Tim Mực. Và thế là tên trùm nanh nọc đen ác tên là Capricom cựa quậy, sổng ra ngoài ranh giới của sự tưởng tượng và xuất hiện sừng sững trong phòng khách. Bằng cách nào đó Meggie và ba Mo phải học cách chế ngự phép thuật để giải thoát khỏi cơn ác mộng này. Bằng cách nào đó, họ phải thay đổi diễn biến của câu chuyện để thay đổi cuộc sống của họ mãi mãi… *** Cornelia Caroline Funke là một nhà văn người Đức dành rất nhiều giải thưởng trong lĩnh vực văn học cho trẻ em. Funke được biết đến nhất với bộ ba Inkworld; bản dịch tiếng Anh của tập thứ 3 Inkdeath đã được phát hành vào 6 tháng 10 năm 2008. Các tác phẩm của bà phần lớn thuộc thể loại giả tưởng, phiêu lưu và rất nhiều trong số đó đã được dịch sang tiếng Anh. Hiện bà đang sống tại Los Angeles, California.   Cornelia Funke đã bán được hơn 10 triệu bản sách trên toàn thế giới.   Cornelia Funke sinh năm 1958 tại thị trấn Dorsten nước Đức, là con của Karl-Heinz và Helmi Funke. Lúc còn nhỏ, bà muốn trở thành một phi hành gia hoặc phi công, nhưng sau đó đã quyết định theo học ngành sư phạm tại Đại học Hamburg. Sau khi hoàn thành việc học, Funke làm nhân viên xã hội trong 3 năm, tập trung chủ yếu vào những đứa trẻ có hoàn cảnh thiếu thốn. Cornelia Funke có một công việc minh họa sách, nhưng bà đã sớm bắt đầu viết những tác phẩm của riêng mình, được truyền cảm hứng từ những câu chuyện đã hấp dẫn lũ trẻ nghèo khổ mà bà làm việc cùng. Vào cuối những năm 80 và thập kỷ 90, Funke đã gây dựng tên tuổi tại Đức với 2 loạt truyện cho trẻ em có hơi hướng giả tưởng là Gespensterjäger (Ghosthunters) và Wilde Hühner (Wild Chicks). Tiểu thuyết giải tưởng Kỵ sĩ rồng (1996) là bước đột phá quốc tế của bà. Tác phẩm này đã lọt vào danh sách Sách bán chạy nhất của tờ New York Times trong 78 tuần, và sau đó là The Thief Lord (Vua Trộm) (2000, dịch sang tiếng Anh năm 2002), đã leo lên vị trí thứ 2 trong danh sách này trong 19 tuần và bán được 1.5 triệu bản. Tiểu thuyết tiếp theo của Cornelia Funke là Inkheart (2003) đã giành giải thưởng BookSense Book of the Year Children's Literature năm 2004. Inkheart (Tim Mực) là phần đầu tiên của bộ ba Inkworld, tiếp đó là Inkspell (Máu Mực) (2005) đã tiếp tục giành giải BookSense Book of the Year Children's Literature năm 2006. Bộ ba được kết thúc với Inkdeath (xuất bản tại Đức năm 2007, phát hành bản tiếng Anh vào năm 2008, bản Mỹ vào mùa thu 2008).   Trên trang chủ của mình, Cornelia Funke phát biểu rằng điểm khởi đầu sống còn cho một quyển sách hay là “ý tưởng”, và nếu ý tưởng đó có giá trị thì hãy nghiên cứu những chủ đề thú vị để phục vụ nó và tìm kiếm những địa điểm và nhân vật thích hợp. Bà nói về những ý tưởng: “chúng đến từ mọi nơi và chẳng từ đâu cả, cả trong lẫn ngoài. Tôi có rất nhiều và không thể viết hết chúng trong một cuộc đời này được.” Cornelia Funke cũng nói về các nhân vật của mình: “Hầu hết bọn họ bước vào phòng viết của tôi và sống động đến mức tôi phải tự hỏi bản thân, rằng họ từ đâu đến. Dĩ nhiên, một vài nhân vật là kết quả của suy nghĩ kỹ lưỡng, thêm vào tính cách, cử chỉ..., nhưng những người khác đều sống từ ngay giây phút đầu tiên họ xuất hiện”. Bà cũng cho biết Dustfinger trong “Inkheart” là một trong những nhân vật sống động nhất đã từng nảy ra trong đầu bà. Đối với những người đang mơ ước trở thành nhà văn, Funke khuyên: “Đọc – và hãy tò mò. Nếu có ai đó nói với bạn: ‘Mọi thứ là như vậy. Bạn không thể thay đổi được’ – thì đừng tin một lời nào.”  *** Khi bắt đầu viết tiểu thuyết Tim Mực, tôi hoàn toàn không linh cảm được rằng câu chuyện này rồi sẽ lớn lên trong đầu tôi, lớn đến mức nó đổ đầy hơn một cuốn sách. Đã từ rất lâu rồi tôi muốn viết một câu chuyện nơi các nhân vật trở thành thực thể sống, bởi ai mê sách mà không biết cảm giác đó: rằng các nhân vật trong một cuốn sách đối với ta còn thực hơn và gần gũi hơn là những con người ta quen trong đời thực.   Lời giải thích thật đơn giản. Đã có người thực nào cho phép ta nhìn thật sâu vào trái tim anh ấy, giống như cách mà người kể chuyện cho phép ta làm với những nhân vật? Ta có thể đào đến đáy sâu tâm hồn, có thể nhìn thấy mọi nỗi sợ, mọi tình yêu, mọi giấc mơ.   Nhưng còn một điều nữa thúc cho tôi viết Tim Mực – một hình ảnh mà tôi luôn nhìn thấy trước mắt mình: một cô bé, quỳ trên giường trong đêm, trước một khuôn cửa sổ ướt nước mưa, và phía ngoài kia có một người đang đứng. Tôi nhìn thấy hình ảnh đó thật rõ ràng, giống như một cảnh trong phim, và tôi chỉ cần tìm cho ra câu chuyện nào đang núp đằng sau hình ảnh đó. Dĩ nhiên tôi đọc rất nhiều, kể cả những cuốn sách về những người sưu tầm sách, những người ăn cắp, những người giết sách, những người mê sách, những người đóng sách (như Mo)… và tìm thấy rất nhiều thứ cùng rất nhiều ý tưởng để có thể chăm bón cho câu chuyện của mình.   Chưa bao giờ việc viết sách đối với tôi trở nên dễ dàng đến như thế, như khi viết Tim Mực, chưa bao giờ có một câu chuyện thúc hối được tràn xuống mặt giấy như vậy – rất có thể bởi đó là nỗi đam mê về một câu chuyện của bản thân tôi, nỗi đam mê dành cho sách vở, và kể cả dành cho việc đọc sách cho người khác nghe. Giờ đây Tim Mực đã được xuất bản.   Tôi đang viết tiếp phần ba của câu chuyện này – và nó vẫn là một cuộc phiêu lưu lớn lao! Tôi hoàn toàn không biết trước kết cục sẽ ra sao, nhưng như vậy là tốt! Tôi rất thích để những nhân vật của mình gây ngạc nhiên cho bản thân mình. Nếu tôi biết chính xác con đường rồi sẽ dẫn tới đâu, chắc là tôi sẽ nhàm chán đến chết khi viết mất.   Như vậy đấy – tôi hy vọng khi đọc sách bạn cũng sẽ thấy vui thú y hệt như khi tôi viết sách – xin chào mừng bạn vào mê hồn trận của các chữ cái!   CORNELIA FUNKE   Mời các bạn đón đọc Tim Mực của tác giả Cornelia Funke.
Ma Cà Rồng Ở Dallas
Khi chàng ma cà rồng Bill Thompton tiếp nhận vị trí Điều tra viên khu vực Số Năm, Sookie Stackhouse mặc nhiên được những ma cà rồng quyền lực nhất vùng bảo vệ. Nhưng, được coi như món đồ thuộc quyền sở hữu của Bill, cô buộc phải sử dụng khả năng đọc tâm trí của mình để phục vụ những kẻ khát máu. Với điệp vụ đầu tiên trong vai trò một tay lính đánh thuê, cô phải lặn lội cùng Bill tìm lời giải đáp cho sự mất tích bí ẩn của một ma cà rồng đồng tính tận Dallas. Cô những tưởng mình chỉ cần đọc tâm trí một vài người thường nào đó. Cô cũng đã tưởng mình có thể bảo vệ những con người liên quan đến vụ việc. Chỉ có điều, mối nguy hiểm không phải lúc nào cũng chỉ đến từ phía ma cà rồng. Và, lý thuyết bao giờ cũng đơn giản hơn thực tế… Một lần nữa, chính mạng sống của cô lại bị treo trên đầu sợi tóc… Charlaine Harris (sinh 25/11/1951) sinh ra và lớn lên tại Tunica, Mississippi và hiện giờ đang sống ở Arkansas cùng chồng và ba người con. Bà sáng tác thơ, truyện ngắn, kịch và tiểu thuyết. Chết trước hoàng hôn (Dead Until Dark) là tập đầu tiên trong bộ tiểu thuyết ăn khách The Southern Vampire Mysteries (Bí ẩn ma cà rồng miền Nam), từng giành được giải Anthony Award cho Tác phẩm thần bí xuất sắc nhất 2001. Bộ tiểu thuyết này cũng được đạo diễn Alan Ball chuyển thể thành series phim truyền hình ăn khách nhiều năm liên tiếp True Blood. “Thật khó tưởng tượng ra cảnh ma cà rồng và người sói cùng lượn lờ ở mỗi góc đường, nhưng Harris đã biết cách khiến người đọc yêu thích, bị lôi cuốn và cuối cùng là mê mệt những câu chuyện của bà.” – The Monroe News-star “Một cuốn sách bạn muốn đọc trước giờ đi ngủ, chắc mẩm sẽ chỉ theo dõi hết chương đầu tiên, nhưng hóa ra lại chỉ dừng lại được khi đã đi đến trang cuối cùng.” – Alan Ball, biên kịch American Beauty và đạo diễn True Blood “Bằng sự hòa quyện của những pha hành động, tình cảm và các chi tiết hài hước, Harris đã tạo ra một thế giới sống động đầy tính hiện thực, tất nhiên, nếu không kể đến ma cà rồng và những sinh vật siêu nhiên khác.” – The Toronto Stars *** Andy Bellefleur đã say khướt. Chuyện này chẳng bình thường với Andy chút nào - tin tôi đi, tôi biết hết mấy tay nát rượu ở Bon Temps. Nhờ nhiều năm làm việc trong quán bar của Sam Merlotte, tôi đã quen mặt tất cả bọn họ. Nhưng Andy Bellefleur, người gốc địa phương và là thanh tra trong lực lượng cảnh sát ít ỏi ở thị trấn Bon Temps, thì trước giờ chưa từng say xỉn ở quán Merlotte. Tôi cực kỳ tò mò muốn biết vì sao tối nay lại là ngoại lệ. Vì Andy và tôi chẳng hề quen thân nên tôi không thể hỏi thẳng anh ta được. Nhưng vẫn còn vài cách khác mà, thế là tôi quyết định dùng các cách ấy. Mặc dù tôi luôn cố hạn chế sử dụng khiếm khuyết, hay tài năng của mình, muốn gọi sao cũng được, để tìm ra những thứ có thể ảnh hưởng đến tôi hoặc những thứ thuộc về tôi, nhưng đôi lúc sự tò mò lại thắng thế. Tôi hạ rào chắn tâm trí xuống để đọc suy nghĩ của Andy. Rồi tôi lại thấy hối hận. Sáng nay Andy đã tóm một tên bắt cóc. Gã đàn ông đó đã bắt cóc cô bé hàng xóm mới mười tuổi mang vào rừng hãm hiếp. Cô bé đó hiện đang ở bệnh viện, còn gã kia đang ở trong tù, nhưng tổn hại mà hắn đã gây ra thì chẳng thể nào khắc phục được. Tôi buồn đến phát khóc. Tội ác ấy chạm vào sâu thẳm quá khứ của chính tôi. Sự trầm uất của Andy làm tôi thấy thích anh ta hơn một chút. “Này Andy Bellefleur, đưa chìa khóa xe anh đây,” tôi nói. Gương mặt to bành của Andy ngước lên nhìn tôi, ngơ ngác. Sau một hồi lâu ngẩn ngơ để cho lời tôi nói thẩm thấu vào trí óc rối bời của mình, Andy thò tay lục túi quần kaki rồi đưa tôi một chùm chìa khóa nặng trịch. Tôi đặt thêm một ly bourbon pha coca trên quầy bar trước mặt anh ta. “Tôi mời,” tôi nói, rồi lấy điện thoại ở cuối quầy bar gọi cho Portia, em gái Andy. Hai anh em nhà Bellefleur sống ở một căn biệt thự lớn kiểu tiền Nội Chiến hai tầng màu trắng trước đây hẳn rất tráng lệ nhưng giờ đang xuống cấp, nằm trên con phố xinh xắn nhất trong khu vực đẹp nhất thị trấn Bon Temps. Trên đường Magnolia Creek, mọi ngôi nhà đều quay mặt ra phía dải công viên có dòng suối nhỏ len qua, bắc rải rác ngang con suối là những cây cầu hoa hòe hoa sói chỉ dành riêng cho người đi bộ; đường lộ chạy dọc hai bên công viên. Trên đường Magnolia Creek còn có vài căn nhà xưa khác nữa, nhưng tất cả đều được chăm chút hơn nơi ở của gia đình Bellefleur, căn Belle Rive. Việc duy tu căn nhà Belle Rive vượt quá khả năng chi trả của Portia, một luật sư, và của Andy, một cảnh sát, vì số tiền để duy trì căn nhà cùng đất đai vườn tược chung quanh đã hết từ lâu rồi. Nhưng bà của họ, Caroline, lại gàn bướng không chịu bán. Portia nhấc điện thoại sau hồi chuông thứ hai. “Portia à, tôi là Sookie Stackhouse đây,” tôi phải lên giọng để át đi âm thanh ồn ã trong quán bar. “Hẳn là cô vẫn đang ở chỗ làm.” “Phải rồi. Andy đang ở đây, say mèm rồi. Tôi đã thu chìa khóa xe của anh ấy. Cô đến đón Andy được không?” “Andy quá chén à? Hiếm nhỉ. Được rồi, tôi sẽ đến đó trong vòng mười phút,” cô ta hứa, rồi cúp máy. “Cô tốt bụng quá, Sookie,” tự nhiên Andy thốt lên. Anh ta đã nốc cạn ly rượu tôi vừa rót. Tôi gạt cốc ra chỗ khuất mắt, mong rằng anh ta không đòi thêm nữa. “Cảm ơn anh, Andy,” tôi nói. “Anh cũng là người tốt bụng mà.” “Bạn trai… đâu ấy nhỉ?” “Ngay đây này,” một giọng nói lạnh lùng đáp lại, và Bill Compton xuất hiện ngay đằng sau Andy. Tôi mỉm cười với anh qua đầu Andy lúc này đang gục xuống. Bill cao khoảng một mét tám, tóc và mắt cùng một màu nâu sẫm. Anh có bờ vai rộng và đôi cánh tay cuồn cuộn cơ bắp như của người đã lao động chân tay suốt nhiều năm liền. Trước khi đi lính, Bill đã làm việc ở trang trại, đầu tiên là cùng bố, sau đó làm một mình. Trong cuộc Nội Chiến thì phải. “Chào M.B.!” Micah, chồng của Charlsie Tooten, cất tiếng. Bill phẩy tay đáp lại, Jason, anh trai tôi, thì chào hỏi vô cùng lịch sự, “Chào buổi tối nhé, ma cà rồng Bill.” Jason, trước đây không mấy sẵn lòng đón chào Bill bước vào gia đình nhỏ của chúng tôi, nhưng giờ lại thay đổi thái độ hoàn toàn. Trong thâm tâm tôi gần như vẫn nín thở chờ xem thái độ được cải thiện này có tồn tại mãi không. “Này Bill, anh là một tay hút máu tốt bụng đấy,” Andy nói vẻ đánh giá, rồi xoay người đối mặt Bill. Tôi lại nâng cấp quan điểm của mình về Andy khi say xỉn, vì khi tỉnh táo có bao giờ anh ta tỏ ra sẵn lòng chấp nhận ma cà rồng vào xã hội con người trên đất nước này đâu cơ chứ. “Cảm ơn anh,” Bill đáp bằng giọng khô khốc. “Với một tay nhà Bellefleur thì anh cũng đâu quá tệ.” Anh rướn người qua quầy hôn tôi. Đôi môi anh cũng lạnh như chính giọng nói. Phải làm quen với điều này thôi. Như khi ngả đầu lên ngực anh, chẳng ai nghe thấy được nhịp tim đập trong ấy. “Chào buổi tối, cưng à,” anh nói nhỏ. Tôi đẩy qua quầy bar một ly B trừ, loại máu nhân tạo được Nhật Bản phát chế, anh ngửa cổ nốc cạn rồi liếm môi. Gần như ngay lập tức trông anh hồng hào hẳn. “Cuộc họp sao rồi cưng?” tôi hỏi. Bill đã ở Shreveport hầu như cả đêm hôm nay. “Anh sẽ kể cho em sau.” Tôi hy vọng những chuyện liên quan đến công việc của anh không quá bi thương như chuyện của Andy. “Được thôi. Em mong là anh sẽ giúp Portia dìu Andy ra xe cô ấy. Cô ấy đến kia kìa,” tôi nói, hất đầu về phía cửa. Đấy là lần đầu tiên tôi không thấy Portia vận bộ đồng phục váy công sở, sơ mi, áo khoác, tất dài cùng giày đế bệt. Portia đã thay quần jean xanh và một chiếc áo lạnh Sophie Newcomb nhàu nhĩ. Thân hình Portia to cao như người anh mình, nhưng cô có mái tóc màu hạt dẻ dài và dày. Chăm sóc cho mái tóc mình đẹp đẽ là một nét đặc trưng của bản thân mà Portia chưa muốn từ bỏ. Cô chỉ đưa mắt khắp đám đông om sòm chăm chăm tìm một thứ. “Ôi, anh ấy xỉn quá rồi, hay nhỉ,” cô thốt lên, thẩm định tình trạng ông anh trai của mình. Portia cố phớt lờ Bill, người đang làm cô thấy hết sức khó chịu. “Chuyện này không xảy ra thường xuyên đâu, nhưng nếu đã muốn uống thật là anh ấy sẽ uống quắc cần câu luôn.” “Portia này, Bill có thể dìu anh ấy ra ngoài xe giúp cô,” tôi nói. Andy cao và đậm người hơn Portia, rõ ràng là nặng quá sức cô em gái. “Tôi nghĩ mình có thể tự lo được,” Portia quả quyết với tôi, vẫn không thèm nhìn qua Bill, lúc này đang nhướn mày nhìn tôi. Thế là tôi để cô vòng tay qua người ông anh trai, cố nhấc anh ta ra khỏi ghế. Andy vẫn ì ra đó. Portia liếc nhìn quanh tìm Sam Merlotte, chủ quán bar, tuy anh này có vẻ ngoài nhỏ thó gầy gò nhưng thật ra lại rất khỏe. “Sam đang đi pha chế rượu cho một buổi tiệc kỷ niệm ở câu lạc bộ ngoại ô mất rồi,” tôi nói. “Tốt hơn hết là cứ để Bill giúp đi.” “Ừ thôi cũng được,” cô luật sư cứng nhắc đáp, mắt nhìn chăm chăm lên mặt gỗ quầy bar bóng loáng. “Cảm ơn rất nhiều.” Trong chớp mắt Bill đã xốc Andy lên đi ra phía cửa, mặc cho hai chân Andy cứ muốn nhũn như chi chi. Micah Tooten bật dậy mở cửa, để Bill có thể dìu Andy thẳng ra ngoài bãi đỗ xe. “Cảm ơn cô, Sookie,” Portia nói. “Tiền rượu anh ấy đã trả hết chưa?” Tôi gật đầu. “Được rồi,” cô nói, vỗ nhẹ tay xuống bàn để ra hiệu là cô về đây. Cô phải nghe hàng đống lời khuyên đầy thiện chí khi theo bước Bill ra khỏi cửa chính của quán Merlotte. Đó là lý do vì sao mà chiếc Buick cũ kỹ của thanh tra Andy Bellefleur lại đỗ trong bãi xe quán Merlotte suốt đêm đến tận ngày hôm sau. Sau này hẳn anh ta sẽ thề rằng dĩ nhiên không có ai trong chiếc Buick ấy khi mình bước ra khỏi xe đi vào quán. Hẳn anh ta cũng sẽ khai rằng trước đó do quá bận tâm về cơn hỗn loạn nội tâm nên đã quên khóa cửa. Đâu đó trong khoảng thời gian từ tám giờ tối, khi Andy bước vào quán Merlotte, đến mười giờ sáng hôm sau, khi tôi đến để giúp mở cửa tiệm, xe của Andy đã có thêm một hành khách mới. Người này chắc chắn sẽ gây ra một nỗi xấu hổ trầm trọng cho viên cảnh sát. Hắn đã chết. Đáng lẽ ra tôi không nên đến đây làm gì. Đêm trước tôi đã làm ca khuya, và nhẽ ra tối hôm sau tôi lại phải làm ca khuya nữa. Nhưng Bill đã yêu cầu tôi đổi ca với một đồng nghiệp khác, bởi anh cần tôi đi cùng đến Shreveport, và Sam đã không phản đối. Tôi đã nhờ chị bạn Arlene đổi ca với tôi. Hôm ấy là ngày nghỉ của chị, nhưng Arlene luôn muốn kiếm những món tiền boa hậu hĩnh hơn khi làm việc ca tối, nên chị đồng ý đến quán vào lúc năm giờ chiều. Kỳ thực, lẽ ra Andy đã phải đến lấy xe buổi sáng hôm đó, nhưng anh ta vẫn còn quá váng vất không đủ sức làm trò buộc Portia cho quá giang đến quán Merlotte, quán này thì không nằm trên đường tới đồn cảnh sát. Cô bảo buổi trưa sẽ đến đón anh ở chỗ làm, và cả hai sẽ dùng bữa ở quán. Sau đó thì anh ta có thể lấy xe. Thế nên chiếc Buick, cùng vị hành khách câm lặng của mình, đã phải chờ lâu hơn thời gian cần thiết mới được phát hiện. Tôi đã ngủ khoảng sáu tiếng đêm trước đó, nên cảm thấy trong người khá khỏe khoắn. Hẹn hò với ma cà rồng có thể sẽ làm khó cho sự cân bằng của bạn nếu bạn thực là người sống về ban ngày, như tôi đây này. Tôi giúp mọi người đóng cửa quán, rồi về nhà với Bill trước một giờ sáng. Hai chúng tôi cùng tắm trong bồn tắm nước nóng nhà anh, rồi làm vài chuyện khác nữa, nhưng tôi đã đi ngủ sau hai giờ một chút, và mãi đến gần chín giờ sáng mới thức dậy. Lúc đó thì Bill đã xuống lòng đất từ lâu rồi. Tôi uống thật nhiều nước, nước cam cùng một viên vitamin tổng hợp và một viên bổ sắt vào bữa sáng, đó là chế độ dinh dưỡng của tôi kể từ khi Bill bước vào đời tôi và mang theo (cùng với tình yêu, trò phiêu lưu, lẫn sự phấn khích) mối đe dọa triền miên của chứng thiếu máu. Thời tiết đang dần trở nên mát mẻ hơn, tạ ơn Chúa, khi tôi ngồi trước hiên nhà Bill, mặc áo len móc dài tay và chiếc quần dài màu đen mà chúng tôi vẫn mặc làm việc ở quán Merlotte mỗi khi trời quá lạnh không thể mặc quần soóc được. Chiếc áo sơ mi đánh gôn trắng của tôi có thêu chữ BAR MERLOTTE’S bên ngực trái. Khi đang đọc lướt qua tờ báo buổi sáng, một phần tâm trí khác của tôi giúp tôi nhận ra một thực tế rõ ràng là cỏ mọc không nhanh như trước kia. Có vẻ như một vài ngọn cỏ bắt đầu ngả màu dần. Tình trạng sân bóng trong trường trung học chắc hẳn sẽ khá xấu vào tối thứ Sáu tới đây. Mùa hè ở Louisiana cứ dùng dằng mãi không dứt, kể cả ở miền Bắc Louisiana cũng thế. Mùa thu đến rất miễn cưỡng, cứ như thể bất cứ lúc nào mùa thu cũng có thể bỏ cuộc để lại nhường chỗ cái nóng hầm hập của tháng Bảy vậy. Nhưng tôi vốn mẫn cảm, và có thể điểm mặt được những dấu hiệu của mùa thu vào buổi sáng hôm nay. Mùa thu và mùa đông đến có nghĩa là đêm được dài hơn, thời gian ở bên Bill được lâu hơn, và giấc ngủ được thêm vài giờ nữa. Nên tôi đi làm với tâm trạng vui vẻ. Khi thấy chiếc Buick vẫn còn đỗ một mình trước quán bar, tôi nhớ lại chầu rượu say bí tỉ bất thường của Andy tối qua. Phải thú thật rằng, tôi đã mỉm cười khi nghĩ đến cảm giác của anh ta sáng nay. Ngay khi chuẩn bị vòng xe ra đằng sau để đỗ xe cùng với những nhân viên khác, tôi nhác thấy cửa sau của xe Andy mở he hé. Nếu cứ để như vậy thì đèn trần chắc chắn sẽ sáng hoài, phải không nào? Và ắc quy xe anh ta sẽ cạn mất. Và chắc hẳn anh ta sẽ cáu điên lên, rồi phải vào trong quán bar mà gọi xe đến cẩu đi, hoặc nhờ ai đó làm nóng xe cho mình… nên tôi đỗ xe vào bãi rồi ra khỏi xe, cứ để máy nổ. Hóa ra đây lại là một sai lầm tai hại vì lạc quan quá mức. Tôi ẩy cánh cửa vào, nhưng nó chỉ nhích tới có một phân. Thế nên tôi tì cả người vào cánh cửa, nghĩ rằng nó sẽ dập khóa lại và tôi có thể đi làm việc khác. Nhưng một lần nữa, cánh cửa không chịu sập lại. Tôi sốt ruột giật toang cửa ra để xem thứ gì kẹt trong cửa xe. Một luồng hôi thối ùa tràn ra bãi đỗ xe, một mùi hôi thối chết chóc. Tôi nghẹn họng mất hết tinh thần, vì tôi chẳng xa lạ gì với mùi hôi thối ấy. Tôi thò đầu vào trong băng ghế sau của xe, tay bịt chặt miệng, dù rằng làm thế cũng chẳng ngăn được thứ mùi này. “Ôi, trời ơi,” tôi thì thào. “Ôi, chết tiệt.” Lafayette, tay bếp làm một ca ở quán Merlotte, đã bị nhồi vào ghế sau. Trần truồng. Chính bàn chân nhỏ màu nâu của Lafayette với những móng chân sơn màu mận chín đã ngăn không cho cánh cửa đóng sập lại, và chính cái xác của Lafayette đã tạo ra thứ mùi xóc cả óc đó. Tôi vội nhảy phắt ra sau, lẩy bẩy leo vào xe mình rồi lái vòng ra phía sau quán, bấm còi inh ỏi. Sam chạy ra từ phía cửa dành cho nhân viên, tạp dề cột quanh eo. Tôi tắt máy xe và lao bắn ra ngoài nhanh đến nỗi chính bản thân còn không nhận thức được mình đã ra khỏi xe, và tôi ôm choàng lấy anh như một chiếc tất tích điện. “Chuyện gì thế?” Tiếng Sam vang lên trong tai tôi. Tôi ngửa người ra sau ngước nhìn anh, chẳng phải ngước lên quá cao làm gì vì Sam hơi nhỏ con. Mái tóc vàng hoe hoe đỏ của anh lấp lánh dưới ánh mặt trời buổi sớm. Cặp mắt xanh biêng biếc đang mở to khiếp đảm. “Lafayette đó,” tôi nói, bắt đầu thút thít. Khóc lóc thì kỳ cục, ngớ ngẩn và vô tích sự thật, nhưng tôi không kìm lại được. “Anh ấy chết rồi, trong xe của Andy Bellefleur ấy.” Vòng tay của Sam siết chặt sau lưng tôi khi anh lại kéo tôi sát vào lòng. “Sookie, thật tiếc là em đã phải nhìn thấy cảnh ấy,” anh bảo. “Chúng ta sẽ gọi cảnh sát. Lafayette tội nghiệp.” Việc làm đầu bếp ở quán Merlotte không nhất thiết đòi hỏi tay nghề bếp núc cao siêu gì, vì Sam chỉ bán vài món sandwich và khoai tây chiên, nên vị trí này thay người luôn. Nhưng bất ngờ thay, Lafayette lại là người làm việc ở đây được lâu nhất. Lafayette là người đồng tính, đồng tính kiểu hoa hòe hoa hoét, kiểu trang-điểm-và-để-móng-tay-dài. Người dân miền Bắc Louisiana vẫn còn khó chấp nhận được chuyện này hơn dân ở New Orleans, nên tôi ngờ rằng Lafayette, một người da màu, đã phải hứng chịu khó khăn gấp đôi. Mặc cho - hay nhờ vào - những khó khăn đó, anh ấy vẫn luôn vui vẻ, lém lỉnh khôi hài, thông minh, và là đầu bếp giỏi thực thụ. Anh ấy đã chế một loại xốt đặc biệt để ướp hamburger, và người ta gọi món burger Lafayette khá thường xuyên. “Anh ấy có người thân nào ở đây không nhỉ?” tôi hỏi Sam. Chúng tôi tự giác rời nhau ra và rảo bước về phía tòa nhà, vào văn phòng của Sam. “Anh ấy có một tay anh em họ nào đó,” Sam vừa nói vừa nhấn 9-1-1. “Làm ơn đến quán Merlotte trên đường Hummingbird ngay,” anh nói với người trực tổng đài. “Có một xác chết đàn ông trong xe ở đây. Phải, trong bãi đỗ xe, ngay trước cửa quán. À, chị cũng làm ơn báo cho Andy Bellefleur đi. Xe của anh ta đấy.” Từ chỗ đang đứng, tôi có thể nghe thấy tiếng trả lời bai bải ở phía đầu dây bên kia. Danielle Gray và Holly Cleary, hai phục vụ bàn ca sáng, bước vào qua cửa sau, cười hô hố. Hai cô này đều đã ly dị lúc hai lăm hai sáu tuổi, là bạn với nhau từ thuở thiếu thời, có vẻ như đều khá hài lòng với công việc này miễn là được làm việc cùng nhau. Holly có một cậu con trai năm tuổi đang học mẫu giáo, còn Danielle có một cô con gái bảy tuổi và một cậu con trai chưa đến tuổi đi học để ở nhà cho bà trông khi cô ấy đến quán Merlotte làm việc. Tôi chẳng bao giờ gần gũi được với hai người phụ nữ này - dù rằng họ cũng sàn sàn tuổi tôi - bởi họ luôn chăm chắm quan tâm tới nhau mà thôi. “Có chuyện gì vậy?” Danielle hỏi khi cô ta nhìn thấy mặt tôi. Khuôn mặt choắt và đầy tàn nhang của cô ta lập tức trở nên lo lắng. “Sao xe của Andy ở trước cửa quán vậy?” Holly hỏi. Có thời cô ấy đã cặp kè với Andy Bellefleur, tôi chợt nhớ ra. Holly có mái tóc vàng tém ngắn lòa xòa quanh mặt như những cánh hoa cúc dại héo rũ, và làn da đẹp nhất mà tôi từng thấy. “Anh ta ngủ qua đêm trong xe à?” “Không phải,” tôi đáp, “mà là người khác kia.” “Ai?” “Lafayette ở trong xe.” “Andy để một tay lập dị da đen ngủ trong xe của mình sao?” Câu này của Holly, người khi nào cũng thẳng thừng vô duyên. “Chuyện gì đã xảy ra với anh ta thế?” Câu này của Danielle, người thông minh hơn trong hai cô. “Tụi này không biết nữa,” Sam đáp. “Cảnh sát đang trên đường đến đây.” “Ý anh là,” Danielle nói, thật chậm rãi từng chữ một, “anh ta đã chết.” “Phải,” tôi bảo cô ta. “Đó chính xác là ý của tụi này.” “Này, một giờ nữa là chúng ta phải mở cửa rồi,” Holly chống tay lên bờ hông tròn trịa của mình. “Chúng ta sẽ xử lý chuyện này ra sao đây? Nếu cảnh sát cho chúng ta mở cửa, ai sẽ làm bếp chứ? Mọi người vào quán, họ sẽ muốn dùng bữa trưa.” “Tốt hơn là cứ chuẩn bị sẵn sàng đi, để đề phòng thôi,” Sam nói. “Dù tôi đang nghĩ là mãi đến chiều mình mới được phép mở cửa kia.” Anh vào văn phòng để bắt đầu gọi cho mấy tay đầu bếp thay thế. Thật lạ lẫm khi phải làm những việc chuẩn bị thường ngày trước khi mở cửa quán, cứ như thể Lafayette sẽ đi vào bất cứ lúc nào cùng một câu chuyện về buổi tiệc nào đó mà anh ấy đã tham dự, như mới vài ngày trước đây anh cũng đã đi vào như thế. Tiếng còi hụ của xe cảnh sát vang vọng từ con đường chạy ngang qua trước quán Merlotte. Tiếng bánh xe nghiến lạo xạo trên bãi xe rải sỏi của Sam. Đến khi chúng tôi hạ hết ghế xuống, bày biện bàn ăn, cuộn thêm vài bộ dao nĩa dự phòng vào khăn ăn để sẵn sàng thay thế cho những bộ dao nĩa đã được dùng đến, thì cảnh sát bước vào. Quán Merlotte nằm ngoài phạm vi thị trấn, nên viên cảnh sát trưởng địa phương, Bud Dearborn, sẽ đảm trách vụ này. Bud Dearborn là một người bạn rất thân của ba tôi trước kia, giờ đây mái tóc đã điểm bạc. Ông có khuôn mặt bèn bẹt, như người mang mặt chó Bắc Kinh, và đôi mắt nâu mờ đục. Khi ông bước vào cửa trước quán, tôi nhận ra Bud vẫn còn đang đi đôi bốt nặng nề và đội chiếc mũ lưỡi trai đội bóng Saints. Chắc hẳn ông bị gọi đến khi vẫn đang làm việc ngoài nông trại. Bud đi cùng Alcee Beck, viên thanh tra da màu duy nhất trong lực lượng cảnh sát địa phương. Da Alcee đen đến nỗi chiếc sơ mi trắng của anh ta sáng lóa lên vì tương phản. Chiếc cà vạt được thắt ngay ngắn, bộ vét hết sức chỉnh tề. Còn đôi giày da thì được đánh bóng loáng lấp lánh. Bud và Alcee thay phiên nhau coi quản trong vùng… ít nhất thì cũng có vài người quan trọng hơn để giữ cho khu vực này còn hoạt động. Mike Spencer, giám đốc công ty mai táng kiêm nhân viên pháp y của địa phương, cũng là người có vai vế trong địa phương, là bạn thân của Bud. Tôi sẵn sàng đánh cuộc rằng lúc này Mike đã ra ngoài bãi xe, tuyên bố Lafayette tội nghiệp đã chết. Bud Dearborn hỏi, “Ai là người phát hiện ra cái xác?” “Tôi đây.” Bud và Alcee liếc nhìn nhau đầy ẩn ý và bước về phía tôi. “Sam à, bọn tôi mượn văn phòng của cậu được chứ?” Bud hỏi. Không cần đợi Sam trả lời, ông ta hất đầu ra dấu cho tôi đi vào. “Chắc chắn rồi, thẳng vào trong ấy đấy,” ông chủ của tôi đáp khô khốc. “Em ổn chứ, Sookie?” “Không sao đâu mà, Sam.” Tôi không chắc điều này có thật hay không, nhưng Sam có phản ứng kiểu gì với cái yêu cầu này thì cũng gặp rắc rối hết, vô ích thôi. Mặc dù Bud ra dấu cho tôi ngồi xuống, tôi lắc đầu khi ông ta và Alcee an vị trên hai cái ghế trong văn phòng. Bud, tất nhiên là ngồi trên cái ghế to bành của Sam, còn Alcee thì giành lấy chiếc ghế phụ vẫn còn ngon, chiếc ghế vẫn còn lại chút ít nệm lót ấy. “Kể cho chúng tôi nghe về lần cuối cùng cô gặp Lafayette còn sống đi,” Bud gợi ý. Tôi suy nghĩ. “Anh ấy không làm việc tối qua,” tôi nói. “Mà là Anthony. Anthony Bolivar.” “Ai thế nhỉ?” Vầng trán rộng của Alcee nhăn lại. “Không nhận ra cái tên đó.” “Anh ta là bạn của Bill. Anh ta đang lang bạt qua vùng này, và cần một công việc. Anh ta có kinh nghiệm.” Anh ta đã làm việc tại quán ăn trong thời kỳ Đại Khủng hoảng. “Ý cô là tay đầu bếp tạm thời ở đây là một ma cà rồng? “Thì sao chứ?” tôi hỏi lại, khóe miệng cong lên ương bướng, lông mày nhíu lại, và tôi biết rằng khuôn mặt mình đang dần toát lên vẻ giận dữ. Tôi đang cố hết sức để không phải đọc tâm trí của họ, cố bằng mọi giá để hoàn toàn không thông tâm gì cả, nhưng việc này không dễ dàng. Bud Dearborn thì thường thường thôi, nhưng Alcee thì phóng suy nghĩ ra cứ như kiểu ngọn hải đăng truyền phát tín hiệu vậy. Ngay lúc này đây anh ta đang tỏ vẻ ghê tởm và kinh sợ. Trong thời gian trước khi gặp Bill, và nhận ra anh quý trọng khiếm khuyết của tôi - là tài năng, như cách anh nhìn nhận - tôi đã cố hết sức để dối gạt bản thân và lừa phỉnh mọi người rằng tôi thực sự không biết “đọc” tâm trí. Nhưng kể từ khi Bill giải thoát tôi khỏi lao tù nhỏ bé mà tôi tự xây lên cho bản thân, thì tôi đã thực tập và trải nghiệm, trong sự khuyến khích của Bill. Vì anh, tôi đã mô tả thành lời những thứ mà mình đã và đang cảm nhận suốt hàng mấy năm trời. Có vài người gửi đi những thông điệp hết sức mạnh mẽ, rõ ràng, như Alcee đây. Còn đâu thì hầu hết mọi người lúc này lúc khác, như Bud Dearborn vậy. Theo như những gì tôi biết thì chuyện này phụ thuộc rất nhiều vào việc cảm xúc của họ mãnh liệt đến đâu, mức độ tỉnh táo của họ ra sao, thời tiết như thế nào. Còn có vài người thì kín như bưng đến nỗi gần như không thể biết được họ đang nghĩ gì. Có lẽ tôi có thể đọc được tâm trạng của họ, nhưng tất cả chỉ có vậy. Tôi đã thừa nhận rằng nếu được chạm vào người khác khi cố đọc tâm trí họ, thì bức tranh trở nên sáng sủa hơn - như sử dụng đường truyền cáp sau khi dùng ăng ten ấy. Và tôi cũng phát hiện ra rằng nếu mình “gửi” những hình ảnh thư giãn cho người ta, thì tôi có thể len lỏi vào tâm trí của họ dễ như bỡn. Tôi thì không muốn thâm nhập vào suy nghĩ của Alcee Beck chút nào. Nhưng tôi đang hoàn toàn miễn cưỡng đón nhận bức tranh toàn cảnh về phản ứng mê tín đến độ cực đoan của Alcee khi anh ta nhận ra có một ma cà rồng làm việc ở quán Merlotte, về nỗi khiếp sợ của anh ta khi phát hiện ra tôi là người phụ nữ mà anh ta đã nghe nói đang hẹn hò với ma cà rồng, về lời kết tội từ trong sâu thẳm của anh ta cho rằng tên đồng tính công khai Lafayette là một nỗi ô nhục cho cộng đồng người da màu. Alcee đoán rằng ai đó hẳn là muốn chơi khăm Andy Bellefleur, khi tống xác của một gã đồng tính da màu vào xe của Andy. Alcee đang băn khoăn không rõ Lafayette có bị nhiễm AIDS không, rồi liệu làm sao đấy mà con virút ấy có thấm vào ghế xe Andy và cứ tồn tại ở đó không. Alcee sẽ bán xe ngay, nếu đó là xe của anh ta. Nếu chạm vào Alcee, hẳn là tôi sẽ biết được luôn cả số điện thoại và cỡ áo ngực của vợ anh ta nữa. Bud Dearborn nhìn tôi kỳ kỳ. “Chú vừa nói gì ạ?” tôi hỏi. “Phải. Ta thắc mắc không biết cháu có gặp Lafayette ở đây suốt tối qua không. Anh ta có ghé vào quán uống ẩm gì chăng?” “Cháu chẳng bao giờ gặp anh ấy ở đây cả.” Ngẫm lại chuyện này, thì tôi chẳng bao giờ thấy Lafayette uống rượu. Lần đầu tiên, tôi mới nhận ra rằng mặc dù đám người đến ăn trưa có cả người da màu và người da trắng, nhưng những vị khách đến quán buổi tối hầu như rặt là người da trắng. “Anh ta hay tụ tập ở đâu?” “Cháu chịu.” Tất cả những câu chuyện Lafayette kể đều được thay đổi tên họ để bảo vệ danh tính những người vô tội. À ừ, thực ra, là những kẻ có tội thì đúng hơn. “Lần cuối cùng cháu gặp anh ta là khi nào?” “Đã chết, nằm trong xe.” Bud cáu kỉnh lắc đầu. “Lúc còn sống cơ, Sookie à.” “Hừmm, cháu nghĩ là… cách đây ba ngày. Anh ấy vẫn ở đây khi cháu đến làm ca của mình, và bọn cháu chào nhau. À, anh ấy có kể cho cháu nghe về một buổi tiệc mà mình đã đến dự.” Tôi cố nhớ lại chính xác những lời của anh. “Anh ấy bảo đã đến một ngôi nhà nơi diễn ra đủ kiểu làm tình hoang đàng trụy lạc.” Hai người đàn ông há hốc nhìn tôi. “Vâng, anh ấy đã bảo thế đấy! Cháu cũng không biết chuyện đó có bao nhiêu phần sự thật.” Tôi hình dung ra khuôn mặt của Lafayette khi anh ta kể tôi nghe chuyện này, cái cách anh ta điệu đà đặt ngón tay ngang môi ngụ ý rằng anh ta sẽ không nói cho tôi biết bất kể cái tên hay địa điểm nào cả. “Cháu không nghĩ là người khác phải biết chuyện này à?” Bud Dearborn trông bàng hoàng. “Đó là một bữa tiệc riêng tư. Sao cháu phải kể cho người khác chứ?” Nhưng kiểu tiệc tùng như thế không được phép diễn ra trong địa phận của hai người này. Hai người đàn ông vẫn chằm chằm nhìn tôi. Bud hỏi qua kẽ răng, “Lafayette có kể cho cháu nghe gì về chuyện sử dụng ma túy trong buổi gặp gỡ ấy không?” “Không, theo cháu nhớ thì không.” “Bữa tiệc đó được tổ chức ở nhà người da trắng hay người da đen?” “Da trắng,” tôi đáp, rồi lại ước gì mình đã lấy cớ không biết. Nhưng Lafayette đã thật sự ấn tượng với ngôi nhà - mặc dù không phải vì căn nhà mỹ miều hay to lớn gì. Thế sao anh ấy bị ấn tượng đến thế? Tôi không chắc Lafayette sẽ thấy ấn tượng với những thứ gì, anh đã sinh ra, lớn lên và mãi đến bây giờ vẫn trong cảnh nghèo khó, nhưng tôi chắc chắn rằng anh ấy đã kể về nhà của một người da trắng nào đó, vì anh ấy có nói, “Tất cả ảnh trên tường đều chụp những người trắng như hoa huệ và mỉm cười như cá sấu.” Tôi không kể lời nhận xét đó ra cho đám cảnh sát, và họ cũng không hỏi gì thêm. Rời khỏi văn phòng của Sam, sau khi giải thích lý do trên hết vì sao xe của Andy lại ở trong bãi xe, tôi trở ra đứng sau quầy. Tôi không muốn quan sát những gì đang diễn ra ở bãi đỗ xe, và chẳng có khách hàng nào để phục vụ cả, vì mọi lối vào bãi đỗ xe đã bị cảnh sát chặn hết rồi. Sam đang sắp xếp những chai rượu đằng sau quầy, vừa đi vừa phủi bụi chúng, còn Holly và Danielle đã ngồi phịch xuống một bàn ở khu vực hút thuốc để Danielle có thể hút một điếu. “Mọi chuyện thế nào?” Sam hỏi. “Cũng chẳng có gì nhiều. Họ không thích nghe chuyện Anthony làm việc ở đây, và họ cũng không ưa những gì em kể về bữa tiệc mà Lafayette cứ lải nhải hôm trước ấy. Anh có nghe thấy anh ấy kể với em không? Cái vụ làm tình tập thể ấy?” “Có, anh ta cũng kể mấy chuyện đó với anh nữa. Buổi tối hôm đó với anh ta hẳn là đã lắm. Nếu quả thật là có bữa tiệc kiểu đó.” “Anh nghĩ rằng Lafayette bịa chuyện sao?” “Anh không nghĩ ở Bon Temps lại có nhiều buổi tiệc kiểu tạp chủng, lưỡng tính thế đâu,” anh đáp. “Nhưng đó chẳng qua là vì không có ai mời anh cả thôi,” tôi nói thẳng ra. Tôi băn khoăn không hiểu liệu mình có biết tí gì về những chuyện diễn ra nơi thị trấn nhỏ bé này không. So ra với tất cả mọi người ở Bon Temps thì tôi phải là người biết rõ mọi thứ từ trong ra ngoài, vì mọi thông tin ít nhiều gì cũng sẵn ra đấy, nếu tôi muốn bới móc tìm hiểu, “Ít nhất thì, theo em đây là lý do chứ nhỉ?” “Ừ đấy là lý do đấy,” Sam đáp, khẽ mỉm cười với tôi trong lúc chùi một chai whiskey. “Em nghĩ thiệp mời của em cũng bị thất lạc ở bên bưu điện mất rồi.” “Em có nghĩ rằng Lafayette trở lại đây tối hôm qua là để kể cho anh hoặc em nghe về bữa tiệc đó không?” Tôi nhún vai. “Có lẽ anh ta chỉ hẹn gặp ai đó ở bãi đỗ xe thôi. Dù sao thì, ai cũng biết quán Merlotte ở đâu mà. Mà anh ấy đã lấy lương chưa?” Đã cuối tuần rồi, thường thì đây là lúc Sam trả tiền cho bọn tôi. “Chưa. Có lẽ anh ấy đến cũng vì chuyện đó, nhưng anh định hôm sau mới đưa cho anh ta. Hôm nay này.” “Em thắc mắc không biết ai đã mời Lafayette đi dự tiệc.” “Câu hỏi hay đấy.” “Anh không nghĩ rằng anh ta ngu đến nỗi cố tống tiền ai đó chứ nhỉ?” Sam cọ cọ lớp gỗ giả trên mặt quầy bằng một chiếc giẻ sạch. Quầy đã sạch bóng lên rồi, nhưng anh vẫn cứ thích luôn chân luôn tay, tôi nhận thấy thế. “Anh không nghĩ vậy,” anh nói sau một hồi suy nghĩ. “Không thể nào, họ hẳn đã chọn nhầm người rồi. Em biết Lafayette tám đến cỡ nào mà. Anh ta không chỉ kể cho chúng ta nghe việc mình đi đến một buổi tiệc như thế - anh dám cá là anh ta không được phép kể - mà còn muốn lợi dụng buổi tiệc để làm tiếp những chuyện mà mấy người khác, à ừ, mấy người tham gia ấy, sẽ phải khó chịu.” “Kiểu như là, giữ liên lạc với những người cũng từng tham gia bữa tiệc ấy? Nháy mắt đưa tình với họ ở chốn đông người?” “Đại loại như thế.” “Em nghĩ rằng nếu ta có làm tình với ai đó, hoặc xem họ làm tình với nhau, ta sẽ cảm thấy rằng mình ngang hàng với họ.” Tôi không quả quyết lắm khi nói ra điều này, vì không có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực ấy lắm, nhưng Sam lại đang gật gù. “Điều Lafayette mong muốn nhất là được mọi người chấp nhận bản chất con người mình,” anh nói, và tôi buộc phải đồng ý. Mời các bạn đón đọc Ma Cà Rồng Ở Dallas của tác giả Charlaine Harris & Thiện Hoàn (dịch).
Sa Môn Không Hải Thết Yến Bầy Quỷ Đại Đường Tập 1
Nhà sư trẻ tuổi Không Hải, cùng người bạn thân Quất Dật Thế, từ Nhật Bản xa xôi vượt biển tới Đại Đường với tư cách sứ thần sang du học. Vào thời đại đó, Trường An, kinh đô của nhà Đại Đường là nơi nổi tiếng thịnh vượng phồn hoa, tập trung nhiều sắc dân từ khắp nơi đổ về. Như bóng tối luôn song hành cùng ánh sáng, nhiều loài yêu ma quỷ quái cũng bị thu hút về đây. Một con yêu quái mèo đã ám dinh cơ của viên chức dịch họ Lưu và đưa ra lời tiên tri về cái chết của hoàng đế. Tự tin vào vốn kiến thức uyên bác cùng tài ứng biến phi thường của bản thân, Không Hải đã dẫn Quất Dật Thế đến nhà họ Lưu để đương đầu với yêu mèo. Song họ không ngờ, mình đã vô tình dính líu vào một sự kiện lớn làm rung chuyển nhà Đường. Kiệt tác tiểu thuyết truyền kỳ Nhật Bản lấy bối cảnh Trung Hoa mở ra từ đây. *** Không Hải (Kukai, 774 - 835) là Tổ sư của phái Chân Ngôn Tông (Shingon-shu) Phật giáo Nhật Bản. Với phương tiện tra cứu ngày nay, người ta có thể dễ dàng tìm thấy tranh vẽ chân dung, bút tích và các trước tác của Không Hải trên mạng, trong các sách nghiên cứu xưa nay nhưng những thông tin ấy không hề làm giảm sút nét “siêu phàm thoát tục”, thần bí nơi vị Tổ sư này. Sách xưa không thuật rõ thuở nhỏ như thế nào chỉ biết năm mười lăm tuổi Không Hải đã học thông các sách chữ Hán căn bản như Luận Ngữ, Hiếu Kinh; năm mười tám tuổi làu thông Tả Thị Xuân Thu, Thượng Thư. Từ năm mười chín tuổi, Không Hải bắt đầu tu tập trong rừng sâu núi cao; năm hai mươi tư tuổi đã viết sách so sánh, bình luận Phật - Nho - Lão. Cũng vào thời gian này, Không Hải bắt đầu tiếp xúc và nghiên cứu Đại Nhật Kính - một trong những bộ kinh Mật giáo cơ sở, học tiếng Trung Hoa, chữ Phạn (Sanskrit) và chữ Tất Đàm (Shiddam). Đồng thời, Không Hải được một vị sư không rõ danh tính truyền cho phép tu “Hư Không Tạng Cầu Văn Trì” và lui vào chuyên tu trong một hang đá (nay vẫn còn di tích ở thành phố Muroto, tỉnh Kochi). Sau khi tu tập thành công, tương truyền Không Hải có trí nhớ siêu phàm - sự việc gì đã nghe, đã thấy một lần lập tức nhớ mãi không quên, về sau, chính nhờ trí nhớ siêu việt và trình độ, năng lực ngoại ngữ tuyệt vời mà Không Hải được triều đình Nhật Bản thời bấy giờ chọn đưa sang Trung Hoa du học. Truyền kỳ kể Hòa thượng Huệ Quả - tổ thứ bảy của Mật giáo Trung Hoa - vừa nhìn thấy Không Hải lần đầu tại Thanh Long Tự đã nói “ta chờ con đã lâu” và lập tức truyền thụ mọi sở học của mình cho Không Hải. Với năng lực phi phàm của mình, Không Hải đã hoàn thành chương trình học trong hai năm thay vì du học hai mươi năm như dự định ban đầu. Sư đã dùng một số tiền rất lớn, vốn mang theo để trang trải cho vỉệc du học, vào việc thỉnh kinh sách và các pháp khí cần thiết mang về Nhật Bản. Năm 806, Không Hải từ Trung Hoa trở về Nhật Bản, sớm hơn rất nhiều so với dự kiến nhưng phải đợi đến năm 809 mới được chấp thuận cho vào kinh đô yết kiến Thiên hoàng. Câu chuyện chậm trễ này cũng không có ghi chép cụ thể nào trong sử sách chính thống và, do đó, phủ thêm một lớp thần bí nữa lên cuộc đời Không Hải. Sau khi về kinh, Không Hải lập tức được trọng dụng, đóng góp rất nhiều cho triều đình thời đó. Không Hải xây dựng tổ đình ở núi Koya (tỉnh Wakayama, Nhật Bản) đúc kết và phát triển kiến thức tu học từ Trung Hoa thành Chân Ngôn Tông và truyền dạy cho rất nhiều đệ tử. Năm 835, Không Hải “nhập định vĩnh viễn” ở tuổi sáu mươi mốt. Người ta không dùng từ “viên tịch” hay “nhập diệt” mà dùng “nhập định” vì tin rằng Không Hải vẫn còn sống và chỉ nhập định trong căn phòng nhỏ được xây ngầm dưới nền một ngôi miếu ở phía sau tổ đình Chân Ngôn Tông trên núi Koya. Cho đến tận khi bạn đang đọc những dòng này thì hằng ngày, các vị sư ở nơi ấy vẫn đều đặn dâng cơm nước đúng giờ buổi sáng và buổi trưa vào tận cửa phòng. Mỗi năm, các sư lại dâng một bộ cà sa mới cho Tổ sư và mang bộ cũ đi đốt. Không Hải ở thế kỷ hai mươi mốt vẫn là một nhân vật thần bí sống động như thế. Bạn đọc đang cầm trên tay tập đầu tiên trong bộ trường thiên tiểu thuyết Sa môn Không Hải thết yến bầy quỷ Đại Đường gồm bốn tập của nhà văn Yumemakura Baku - tác giả rất nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết truyền kỳ tại Nhật Bản, được Uyên Thiểm chuyển dịch sang tiếng Việt rất nhuần nhị. Uyên Thiểm là dịch giả quen thuộc được bạn đọc biết đến qua các bản dịch văn chương Nhật Bản do Nhã Nam ấn hành. Tôi tin bạn đọc lần này cũng sẽ đớn nhận và yêu quý tác phẩm Sa môn Không Hải thết yến bầy quỷ Đại Đương, thích thú với tuyến nhân vật được xây dựng rất công phu, giàu cá tính và các tình tiết được đan xen khéo léo, đầy kịch tính. Mời các bạn vào truyện... Nguyễn Anh Phong Đà Lạt, Vu Lan 2019 *** CÁC NHÂN VẬT CHÍNH Từ đời Đức Tông hoàng đế đến đời Thuận Tông hoàng đế Không Hải (âm Nhật là Kukai): Vị tăng trẻ sang Đường tìm học Mật. Quất Dật Thế (âm Nhật là Tachibana-no-Hayanari): Nho sinh Nhật Bản tới Trường An theo đoàn thuyền Khiển Đường sứ. Bạn thân Không Hải. Đan Ông: Vị đạo sĩ luôn giúp rập và thoắt ẩn thoắt hiện xung quanh Không Hải. Lưu Vân Tiêu: Chức dịch Trường An, bị yêu miêu ám trong nhà và cướp mất người vợ yêu. Từ Văn Cường: Chủ nhân của cánh đồng trồng bông, nơi xảy ra vụ án có tiếng thì thầm bí ẩn. Trương Ngạn Cao: Chức dịch Trường An, người quen của Từ Văn Cường. Đại Hầu: Gã hộ pháp sinh ra ở Thiên Trúc. Ngọc Liên: Kỹ nữ của Hồ Ngọc Lâu. Lệ Hương: Kỹ nữ của Nhã Phong Lâu. Mohammed: Thương nhân người Ba Tư, cớ ba cô con gái là Trisnai, Tursungri, Griteken. Huệ Quả: Vị hòa thượng của Thanh Long Tự. Phụng Minh: Tăng môn của Thanh Long Tự. Người Tây Tạng. An Tát Bảo: Người coi giữ đền thờ Hiên giáo. Bạch Lạc Thiên: Một thi nhân lớn về sau. Đang ấp ủ bản trường ca về mối tình của Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi. Vương Thúc Văn: Tể tướng dưới thời Thuận Tông hoàng đế. Liễu Tông Nguyên: Kẻ thân cận của Vương Thúc Văn. Văn nhân tiêu biểu thời kỳ trung Đường. Hàn Dũ: Đồng liêu của Liễu Tông Nguyên. Cũng là một văn nhân tiêu biểu thời kỳ trung Đường. Tử Anh: Bộ hạ của Liễu Tông Nguyên. Xích: Bộ hạ của Liễu Tông Nguyên. Chu Minh Đức: Phương sĩ. Thủ hạ của Druj. Druj*: Karapan (một kiểu pháp sư ở Ba Tư). Đời Huyền Tông hoàng đế A Bội Trọng Ma Lữ (âm Nhật là Abe-no-Nakamaro): Sang Đường vào đời Huyền Tông. Sống ở Đường đến hết đời. Tên Trung Quốc là Triều Hành. Lý Bạch: Thi nhân tiêu biểu đời Đường. Được Huyền Tông sủng ái, nhưng về sau thì thất sủng. Huyền Tông: Hoàng đế nhà Đường. Mê đắm thiếp yêu là Dương Quý Phi. Dương Quý Phi: Thiếp yêu của Huyền Tông. Nhận được tất cả sự sủng ái của Huyền Tông, song đã phải chịu cải chết thê thảm bởi Loạn An Sử. An Lộc Sơn: Tướng nhà Đường. Được Quý Phi yêu mến và nhận làm con nuôi, nhưng về sau làm phản và đuổi bọn Huyền Tông chạy khỏi Trường An. Cao Lực Sĩ: Hoạn quan hầu cận của Huyền Tông. Hoàng Hạc: Đạo sĩ người Hồ. Kẻ đã hiến một kế về việc xử tử Dương Quý Phi. Đan Long: Đệ tử của Hoàng Hạc. Bạch Long: Đệ tử của Hoàng Hạc. Bất Không: Mật giáo tăng.   Mời các bạn đón đọc Sa Môn Không Hải Thết Yến Bầy Quỷ Đại Đường Tập 1 của tác giả Baku Yumemakura.
Địa Cung Rực Lửa
Thần Apollo chất chơi một thuở, giờ đây bị Zeus đày xuống trần trong hình hài thằng nhóc hậu đậu Lester Papadopoulos. Để trở về Olympus, Lester buộc phải khôi phục năm nguồn Sấm Truyền đã rơi vào tay kẻ địch. Nhưng thần phải thực hiện cái nhiệm vụ bất khả thi này mà chẳng có chút sức mạnh nào trong tay, cũng như phải phục dịch cho đứa con gái nhếch nhác của Demeter, Meg. Cám ơn nhiều nha bố yêu. Nhờ có một số á thần trợ giúp, Lester đã sống sót vượt qua hai thử thách đầu tiên, một ở Trại Con Lai, một ở Indianapolis, cũng là nơi Meg nhận được Lời Tiên Tri Hắc Ám. Những lời cô bé thốt ra trên Chiếc Ngai Kí Ức dự báo một cuộc tấn công vào Trại Jupiter của bọn Tam đầu chế. Leo vội vàng cưỡi Festus đi báo tin cho trại La Mã, còn Lester và Meg phải băng qua Mê Cung tới vùng tây nam nước Mỹ để tìm tên hoàng đế thứ ba, cùng với nguồn Sấm Truyền chuyên môn đánh đố. Lời tiên tri u ám chỉ mang đến một tia hy vọng duy nhất: Mang móng guốc, kẻ dẫn đường nắm rõ. Họ sẽ được đồng hành với một thần rừng, và Meg biết phải triệu hồi ai đây rồi… *** Bộ sách Những thử thách của Apollo gồm có: Sấm Truyền Bí Ẩn Lời Tiên Tri Hắc Ám Địa Cung Rực Lửa Lăng Mộ Bạo Chúa ,,, *** Rick Riordan là tác giả có sách bán chạy nhất do tờ New York Times bình chọn cho bộ truyện dành cho trẻ em: Percy Jackson và các vị thần trên đỉnh Olympus và bộ Tiểu thuyết trinh thám dành cho người lớn Tres Navarre. Ông có 15 năm giảng dạy môn tiếng Anh và Lịch sử ở các trường trung học cơ sở công và tư ở San Francisco Bay Area ở California và Texas. Ông cũng từng nhận giải thưởng Giáo viên ưu tú đầu tiên của trường năm 2002 do Saint Mary’s Hall trao tặng. Rick Riordan hiện đang sống ở San Antonio, Texas cùng vợ và hai con trai. Ông dành toàn bộ thời gian cho sáng tác. *** Từng là Apollo Giờ chỉ là chuột trong Mê cung Cứu, mang theo bánh nữa Không. Ta từ chối chia sẻ khúc này trong chuyện đời của ta. Đó là cái tuần hèn mọn nhất, sỉ nhục nhất và tệ bạc nhất trong suốt 4000 năm cuộc đời có lẻ của ta. Bi kịch. Thảm họa. Đau lòng. Ta sẽ không kể cho các ngươi về nó đâu. Tại sao các ngươi vẫn ở đây hả? Đi ra đi! Lạy thánh thần trên cao, ta đoán là ta chẳng có lựa chọn nào nữa rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Zeus cũng muốn ta kể câu chuyện này cho các người vì nó là một phần trong hình phạt của ta. Việc ông ta biến ta, một người đã từng là vị thần Apollo tối cao, trở thành một thằng nhãi con đầy mụn, đầy mỡ, lại còn có cái tên giả Lester Papadopoulos nữa, vẫn là chưa đủ. Ông ta đẩy ta vào cái nhiệm vụ đầy nguy hiểm để giải cứu cho năm Nhà tiên tri cổ đại vĩ đại từ tay ba tên hoàng đế La Mã độc ác cũng vẫn là chưa đủ. Thậm chí là biến ta-người từng là đứa con trai yêu quý của ông ta-thành nô lệ của một đứa á thần huênh hoang 12 tuổi tên Meg, cũng vẫn chưa bao giờ đủ! Quá đáng nhất là, Zeus muốn ta ghi lại tất cả những sự nhục nhã này để truyền cho con cháu đời sau. Được thôi. Nhưng ta cũng phải cảnh báo các người. Ở những trang tiếp theo, chỉ toàn là những đau khổ đang chờ đợi các ngươi mà thôi. Bắt đầu từ đâu ta? Với Grover và Meg, dĩ nhiên rồi. Trong suốt hai ngày, chúng ta đã du hành ở trong Mê cung- đi qua hàng bao nhiêu cái hố đầy bóng đêm và những hồ thuốc độc, đi qua những khu mua sắm đổ nát chỉ có toàn mấy cửa hàng bán đồ Halloween giảm giá và những bữa tiệc buffet đồ Trung Quốc đáng ngờ. Mê cung có thể là một nơi khiến người ta hoang mang. Nó giống như một mạng lưới mao mạch chảy ngay bên dưới lớp da của thế giới. Nó kết nối những căn hầm, cống rãnh, và cả những đường hầm đã bị bỏ quên trên toàn địa cầu, bất chấp tất cả những định luật thời gian và không gian. Một người có thể bước vào Mê cung qua một lỗ cống ở Rome, đi tầm mười thước, mở cánh cửa ra, và nhận ra bản thân đang ở trại huấn luyện chú hề tại Buffalo, Minnesota. (Đừng có hỏi. Ám ảnh lắm.) Ta sẽ tránh xa Mê cung bằng mọi giá. Đáng buồn thay, lời tiên tri chúng ta nhận được ở Indianna lại chỉ điểm khá rõ ràng: "Xuyên qua mê cung tối tăm tới vùng đất tử thiêu". Hihi vui dễ sợ! "Duy nhất kẻ móng guốc dẫn đường mở lối." Trừ một việc, là kẻ dẫn dường có móng guốc của chúng ta, thần rừng Grover Underwood, có vẻ là đếch có biết cái đường nào hết. "Ngươi đi lạc rồi đấy," Ta nói, lần thứ 40. "Lạc đâu mà lạc!" Cậu ta cãi lại. Cậu ta chạy nước kiệu với cái quần bò thụng và chiếc áo phông màu xanh lá cây, hai đuôi móng guốc lảo đảo trong đôi giày New Balance 520s được làm riêng cho mình cậu ta. Một chiếc mũ đan tay màu đỏ che phủ mái tóc xoăn xoăn. Tại sao cậu ta lại nghĩ là cải trang kiểu này giúp cậu ta nhìn giống người thường hơn thì ta cũng không biết. Hai cái sừng của cậu ta nhú lên rõ ràng bên dưới chiếc mũ. Đôi giày của cậu ta bật ra khỏi bộ móng cứ mỗi ngày phải vài lần, và ta thì chán cái việc phải cong mông chạy đi nhặt lại giày cho cậu ta lắm rồi. Cậu ta dừng lại ở một ngã rẽ chữ T ở hành lang. Ở mỗi hướng đều là những bức tường bằng gạch cứng sù sì dẫn thẳng vào bóng tối. Grover giật giật chòm râu thưa. "Thế nào rồi?" Meg hỏi. Grover nao núng. Cũng như ta, cậu ta nhanh chóng trở nên sợ hãi trước sự không hài lòng của Meg. Không phải là Meg McCaffrey nhìn đáng sợ đâu. Cô bé thậm chí là nhìn còn nhỏ hơn tuổi, với bộ đồ đèn giao thông-váy xanh lá cây, tất bó màu vàng và chiếc áo đỏ-tất cả đều rách rưới và bẩn thỉu nhờ vào mấy trận bò lê bò lết trong mấy cái đường hầm chật hẹp. Tơ nhện giăng đầy trên mái tóc màu tối cắt ngắn ngang tai. Cặp kính mắt mèo bụi bặm tới mức ta không hiểu làm thế nào mà cô bé có thể nhìn thấy được. Nhìn tổng quan thì, cô bé trông như một đứa trẻ mẫu giáo vừa mới sống sót qua trận đánh nhau tranh giành trò đu dây. Grover chỉ về phía đường hầm phía bên phải. "Tôi-tôi khá chắc là Palm Springs ở hướng đó." "Khá chắc?" Meg hỏi. "Như lần trước, cái lần mà chúng ta đi vào một cái nhà tắm và làm một tên Cyclops đang ngồi toilet phát hoảng ấy hả?" "Đó đâu có phải lỗi của tôi!" Grover vặc lại. "Với lại, cái hướng này có MÙI khá đúng. Mùi... cây xương rồng." Meg khịt khịt vào không khí. "Tôi không có ngửi thấy mùi xương rồng." "Meg," ta nói, "Thần rừng là người dẫn đường của chúng ta. Chúng ta không có nhiều lựa chọn ngoài tin cậu ta đâu." Grover giận dỗi. "Cảm ơn vì giúp cho sự tự tin của tôi tăng lên nhé. Giờ thì là lời nhắc nhở trong ngày này: Tôi không hề YÊU CẦU được triệu hồi một cách thần kỳ từ nửa kia của đất nước và rồi tỉnh dậy ở một khu vườn cà chua trên một nóc nhà tại Indianapolis đâu nhé!" Nói thì lớn lao thế thôi, nhưng cậu ta lại nhìn chằm chằm vào chiếc nhẫn đôi ở ngón tay giữa của Meg, cứ như thể cậu ta lo sợ cô bé sẽ triệu hồi hai thanh mã tấu vàng rồi xẻ cậu ta thành món dê xiên nướng vậy. Từ khi biết được Meg là con gái của Demeter, nữ thần của vạn vật đâm chồi nảy lộc, Grover Underwood đã hành xử như thể cậu ta bị đe dọa bởi cô bé hơn là bởi ta, một cựu thần Olympus tối cao. Cuộc sống thật chẳng công bằng chút nào. Meg quẹt mũi. "Được thôi. Tôi chỉ không nghĩ là chúng ta sẽ cứ đi lòng vòng trong này trong suốt hai ngày vừa rồi thôi. Trăng non sẽ lên -" "Sau ba ngày nữa," ta nói, cắt lời cô bé. "Chúng ta biết." Có thể là ta đã quá lỗ mãng, nhưng ta không cần được nhắc nhở về phần còn lại của lời tiên trị đâu. Khi chúng ta đi về hướng nam để tìm Nhà tiên tri tiếp theo, anh bạn Leo Valdez của chúng ta đã lái con rồng đồng một cách tuyệt vọng tới Trại Jupiter, trại huấn luyện Á thần La Mã tại phía bắc California, hy vọng có thể cảnh báo họ về trận lửa, những chết chóc mất mát và những thảm họa mà họ có thể sẽ phải đối đầu khi kỳ trăng non tới. Ta cố dịu giọng lại. "Chúng ta phải tin là Leo và những Á thần La Mã có thể chống lại được bất cứ thứ gì đang tiến về phía bắc. Chúng ta có nhiệm vụ riêng của mình rồi. "Và hàng đống những trận lửa của riêng mình nữa." Grover thở dài. "Như thế nghĩa là gì?" Meg hỏi. Cũng như cách hành xử trong suốt hai ngày vừa rồi, Leo lại thoái thác. "Tốt nhất là không nên nói về chuyện đó . . . ở đây." Cậu ta liếc nhìn xung quanh một cách lo lắng như thể mấy bức tường có tai và đang lắng nghe vậy, điều mà dứt khoát là có thể xảy ra. Mê cung là một công trình sống. Dựa vào những mùi phát ra từ một vài hành lang, ta khá chắc là nó ít nhất cũng phải có một cái ruột. Grover cào cào vào hai bên sườn. "Tôi sẽ cố đưa chúng ta tới đó thật nhanh," cậu ta hứa. "Nhưng mà Mê cung cũng có suy nghĩ của riêng nó nữa. Lần trước khi tôi ở đây, với Percy . . ." Biểu cảm của cậu ta trở nên đăm chiêu, như bao lần cậu ta nhớ lại những cuộc hành trình xưa cũ cùng với người bạn thân nhất, Percy Jackson. Ta không thể trách cậu ta được. Percy đúng là một á thần có ích để có bên mình. Không may là, cậu ta không dễ để cứ thế triệu hồi từ một vườn cà chua như cậu Thần rừng dẫn đường này được. Ta đặt một tay lên vai của Grover. "Chúng ta biết là ngươi đang làm hết sức rồi. Hãy cứ đi tiếp thôi. Và trong khi ngươi tiếp tục ngửi thấy mùi xương rồng, nếu ngươi có thể tập trung lỗ mũi của mình vào mấy món ăn sáng nữa-chẳng hạn như là cà phê và bánh rán vòng vị chanh ấy-vậy thì sẽ tuyệt lắm." Chúng ta theo chân người dẫn đường tiến vào đường hầm bên tay phải. Chẳng mấy lâu sau, con đường hẹp lại, bắt buộc chúng ta phải né người và đi lạch bạch từng người một. Ta ở vị trí giữa, vị trí an toàn nhất. Các ngươi có thể không nghĩ đó là hành động dũng cảm, thế nhưng Grover là chúa tể của thế giới Hoang dã, một thành viên của Hội đồng Bô lão Cloven. Thế là cũng coi như là cậu ta sở hữu sức mạnh to lớn, mặc dù ta cũng chưa nhìn thấy cậu ta sử dụng sức mạnh bao giờ. Còn Meg, cô ấy không chỉ biết chiến đấu với hai lưỡi kiếm vàng, mà cô ấy còn có thể làm đủ trò hay ho với những túi hạt giống làm vườn mà cô bé đã chất đầy mình khi còn ở Indianapolis nữa. Ta, mặt khác, thì lại ngày càng trở nên yếu và không phòng ngự nổi hơn. Kể từ trận chiến với Hoàng đế Commodus, người mà ta đã làm mù bởi một trận ánh sáng của thần, ta chưa thể nào triệu hồi lại được dù chỉ một mẩu nhỏ sức mạnh thần thánh nào cả. Những ngón tay ta dần trở nên chậm chạp trên những sợi đàn của chiếc đàn ukulele chiến đấu. Khả năng cung thuật cũng ngày càng giảm đi. Ta thậm chí đã bắn trượt khi ta bắn tên Cyclops trong cái nhà vệ sinh đó đấy. (Ta không chắc ta hay là hắn là người xấu hổ hơn nữa.) Thêm vào đó, những viễn cảnh lâu lâu khiến ta tê liệt dạo này cũng xuất hiện thường xuyên hơn và khắc nghiệt hơn. Ta chưa chia sẻ nỗi lo lắng của ta với những người bạn của mình. Chưa phải lúc. Ta muốn tin là sức mạnh của ta chỉ là đang được nạp lại mà thôi. Xét cho cùng, thử thách ở Indianapolis cũng gần như phá hủy ta rồi. Nhưng cũng có một khả năng khác nữa. Ta đã bị đẩy từ đỉnh Olympus rồi ngã cắm mặt vào một thùng rác ở Manhattan từ hồi tháng Một rồi. Bây giờ đã là tháng Ba. Nghĩa là ta đã làm người thường trong vòng hai tháng rồi. Cũng có thể là ta ở dạng người thường càng lâu thì ta sẽ càng yếu đi, và cũng càng khó để ta trở lại thể thần thánh trước kia của ta. Hai lần trước Zeus đẩy ta xuống hạ giới có như thế này không ấy nhỉ? Ta cũng chẳng nhớ nữa. Một vài ngày, ta thậm chí còn không nhớ nổi vị của bánh thánh, hoặc là tên của những chú ngựa kéo cỗ xe mặt trời của mình, hoặc là khuôn mặt của cô em gái sinh đôi Artemis của ta. (Thường thì ta sẽ nói đó là một lời chúc phúc, không nhớ mặt cô em gái ấy, nhưng ta nhớ con bé đến điên cả lên. Đừng có hòng mách con bé là ta đã nói vậy đấy.) Chúng ta bò theo sườn hành lang, mũi tên thần kỳ của Dodona rung rung trong bao đựng tên như chiếc điện thoại đã tắt tiếng, như thể nó đang muốn được lấy ra và được hỏi ý kiến. Ta cố tảng lờ nó đi. Những lần trước khi ta hỏi mũi tên cho lời khuyên, nó không có ích cho lắm. Tệ hơn là, nó đưa mấy lời khuyên vô ích bằng tiếng Anh thời Shakespeare. Có quá nhiều những từ NGƯỜI, NHÀ NGƯƠI, TÁN THÀNH và VÔ CÙNG bằng tiếng Anh cổ, nhiều hơn những gì ta có thể chịu đựng. Ta chưa bao giờ thích những năm có đuôi 90s. (Ý ta là những năm 1590s ấy). Có thể ta sẽ bàn bạc với mũi tên khi chúng ta tới Palm Springs. NẾU như chúng ta tới được Palm Spring . . . Grover dừng lại ở một ngã rẽ chữ T nữa. Cậu ta đưa mũi ngửi ngửi bên phải, rồi bên trái. Mũi cậu ta chun lại như mũi con thỏ mới ngửi phải một con chó vậy. Bất chợt, cậu ta thét lên "Lùi lại!" và ngã ngửa lại đằng sau. Cái hành lang quá chật hẹp nên cậu ta đổ nhào lên đùi ta, bắt buộc ta phải ngã nhào lên đùi của Meg, cô bé ngồi phịch xuống một cách nặng nề và làu bàu hốt hoảng. Trước khi ta có thể cằn nhằn rằng ta không thích massage nhóm, hai tai của ta bật lên. Toàn bộ khí ẩm đang bị rút cạn khỏi không khí. Một mùi hương cay xè trườn qua người ta-như là mùi nhựa đường còn mới trên một con đường cao tốc ở Arizona vậy-và từ bên kia hành lang, ngay trước mặt chúng ta nổi lên một lớp lửa vàng kè, một xung điện của cái nóng khủng khiếp biến mất nhanh chóng như khi nó xuất hiện vậy. Hai tai ta nứt rạn . . . có thể là do dòng máu đang sôi sùng sục bên trong đầu ta. Miệng ta khô tới mức nuốt thôi còn thấy khó. Ta không thể nào nói được là chỉ có ta đang run rẩy đến mất cả kiểm soát hay là cả ba chúng ta đều vậy. "Cái-cái gì vậy?" Ta tự hỏi tại sao phản ứng đầu tiên của ta là hỏi đó là KẺ NÀO. Có gì đó về luồng hơi đó quen thuộc một cách đáng sợ. Trong luồng khói cay độc đang lơ lửng, ta nghĩ là mình nhận ra được cái mùi khó chịu của sự ghét bỏ, niềm hoang mang và cơn đói cồn cào. Chiếc mũ đan tay màu đỏ của Grover bốc khói. Cậu ta ngửi y như đống lông dê bị đốt cháy. "Cái đó," cậu ta nói một cách yếu ớt, "nghĩa là chúng ta đang ở rất gần rồi đó. Chúng ta cần phải nhanh lên." "Đúng như những gì tôi đã nói đi nói lại đấy," Meg gầm gừ. "Giờ thì đứng dậy ngay." Cô bé lấy đầu gối đá vào mông ta. Ta khó nhọc đứng dậy, ít nhất là đứng ở chiều cao mà cái hầm kẹp chặt cho phép. Đám lửa qua rồi, da ta cảm giác sền sệt. Hành lang trước mặt chúng ta trở nên tối tăm và im thin thít, như thể là chưa hề có một chút lửa địa ngục nào mới phun ra vậy, nhưng ta đã dành đủ thời gian với cỗ xe mặt trời để có thể đo độ nóng của lửa. Nếu như chúng ta bị luồng hơi đó phun trúng, thì chúng ta đã bị nấu chảy thành huyết thanh luôn rồi. "Chúng ta sẽ phải rẽ trái thôi," Grover quyết định. ... Mời các bạn đón đọc Những thử thách của Apollo Tập 3: Địa Cung Rực Lửa  của tác giả Rick Riordan.