Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Xứ Tuyết

Xứ tuyết  là tiểu thuyết của văn hào Nhật Bản Kawabata Yasunari, được khởi bút từ 1935 và hoàn thành năm 1947. Trước khi xuất bản dưới dạng ấn phẩm hoàn chỉnh, tác phẩm đã được đăng tải thành nhiều kỳ trên nhật báo. Xứ tuyết được đánh giá là quốc bảo của nền văn học Nhật Bản. Cùng với Ngàn cánh hạc và Cố đô, Xứ tuyết đã mang lại cho tác giả giải thưởng Nobel văn học vào năm 1968, nhân kỷ niệm 100 năm (1868-1968) hiện đại hóa văn học Nhật Bản với công cuộc cải cách Minh Trị. Xứ tuyết mang âm hưởng truyền thống lữ hành của các thi nhân văn sĩ Nhật Bản từ xa xưa. Câu chuyện theo bước chân của chàng trai trẻ Shimamura du hành ngoạn cảnh và tắm suối nước nóng. Shimamura, sinh ra và lớn lên ở một khu phố thương mại của Tokyo, đã lập gia đình, nhưng lại say mê với cái đẹp như bị một huyền lực điều khiển, vì vậy chàng đam mê theo học nghệ thuật vũ đạo Tây phương và hoạt kịch. Là một chàng trai tài tử nhàn rỗi thiếu thành khẩn với chính mình, lại có đôi lúc khát vọng tự tìm hiểu bản thân thôi thúc, nên chàng thích lên miền núi một mình và đã ba lần lên xuống xứ tuyết phía Bắc Nhật Bản trong ba mùa khác nhau Xuân - Thu - Đông. Trong lần thứ nhất vào thời điểm mở cửa mùa leo núi, mùa xuân bắt đầu với chồi non xanh thẳm và hương thơm ngát, chàng gặp nàng ca kỹ (geisha) Komako. Komako là một cô gái đại diện cho vẻ đẹp tràn trề nữ tính, mạnh mẽ, tương phản giữa thánh thiện và trần tục, giữa tỉnh táo và đam mê, giữa vẻ đẹp sáng ngời nét thơ ngây bên ngoài và sức trầm lắng của nội cảm. Cảm giác mà nàng đem lại cho Shimamura là sự tươi mát và thanh sạch tuyệt vời. Trong những đêm khi mà nàng giúp vui tiệc tùng bằng cách đánh đàn samisen cho những khách du hành, uống rượu say và mệt lả, nàng về bên Shimamura với sự nồng nhiệt khiến chàng rung động đến tận tơ lòng. Con tàu đưa Shimamura vượt qua đường hầm đến xứ tuyết lần thứ hai để gặp lại Komako vào mùa đông, vài tuần trước khi mở mùa trượt tuyết. Trong ánh sáng mờ ảo, Shimamura mê mẩn ngắm khuôn mặt người thiếu nữ ngồi đối diện với chàng ngời lên trên tấm kính cửa sổ toa tàu, với vẻ đẹp vừa huyền ảo vừa siêu phàm, với sự duyên dáng kỳ lạ của khuôn mặt trôi qua phong cảnh ban đêm. Cô gái đó, chàng còn gặp lại ở vùng băng tuyết, chính là Yoko. Một ca kỹ với vẻ đẹp trong trắng và xa vời, mong manh và mờ ảo, tin cậy và thơ ngây ngay cả trong cách nàng thể hiện tình cảm với Shimamura, với giọng nói "truyền cảm, trong thanh và đẹp đến não lòng", khiến chàng mỗi lần tiếp xúc là mỗi lần khám phá thêm một nét quyến rũ nơi nàng. Rồi những ngày đầu mùa thu với lá phong đỏ thắm, Shimamura lại rời Tokyo để đi nghỉ ở xứ tuyết. Ở đó, giữa hai người con gái xứ tuyết, trong khung cảnh của một vương quốc mà cảnh sắc, con người, phong tục, lối sống đều hồn hậu, chất phác và dịu dàng, chàng mẫn cảm sâu sắc trước cái đẹp nhưng lại đắn đo lưỡng lự giữa hai mối tình, một nặng về thể xác, một nặng về tâm hồn. Say đắm Komako nhưng trong Shimamura luôn hiện diện ánh sáng kỳ ảo lóe lên từ Yoko. Xúc cảm tình yêu của chàng dành cho Yoko ngày càng lớn dần khi chàng cảm nhận được cái mờ ảo và mong manh của vẻ đẹp khó diễn tả ấy, một vẻ đẹp chàng khao khát theo đuổi và nắm bắt cả đời. Trong khi Komako càng đến bên chàng thân thiết, gần gũi, mãnh liệt và hy sinh bao nhiêu, thì cứ mỗi lần rời xa xứ tuyết chàng lại thấy nàng biến mất không còn lưu lại chút dư tình trong tâm trí. Tình yêu của Shimamura với Komako bắt đầu chớm những giận hờn đầu tiên. Komako hoang mang không biết Shimamura còn yêu mình thật hay không, còn chàng cũng không sao hiểu nổi sự lạnh lùng của lòng mình, tại sao mình không thể sống được mãnh liệt, trọn vẹn và hy sinh trong dâng hiến không đòi hỏi chút gì trả lại như nàng. Đúng vào lúc Shimamura quyết định rời xa trạm nước nóng ở xứ tuyết để tránh cơn bão lòng và cắt đứt duyên nợ một cách lặng lẽ thì mọi sự đã kết thúc trong bi thảm. Trong một buổi chiếu bóng tại một nhà kho gần nơi chàng ở, một đám cháy dữ dội đã xảy ra. Mặt đất rừng rực trong tia lửa và tàn tro bốc cao lên tận bầu trời đêm, một bầu trời với dải Ngân Hà lóng lánh trong ánh sáng đẹp một cách ma quái. Yoko, người yêu thuần khiết và mối tình lý tưởng của chàng đã chết trong đám cháy đó. Khi chàng chạy tới thì thấy thân hình bất động của Yoko với gương mặt thanh tú và thánh thiện trên đôi tay Komado, còn Komako thì lời nói như mê sảng và vẻ mặt như sắp hóa điên. Chàng lảo đảo ngẩng mặt lên trời và có cảm giác dải Ngân Hà trôi tuột vào trong người chàng với tiếng gầm thét dữ dội. *** Trong “Xứ tuyết”, thiên nhiên Nhật Bản hiện lên giản dị và tĩnh mịch, mong manh và u huyền. Những tác phẩm của Yasunari Kawabata đã giữ một vị trí đặc biệt trong văn học cận-hiện đại Nhật Bản nói riêng và cho cả nền văn học Nhật Bản nói chung. Trong bộ ba tác phẩm giúp Kawabata dành giải Nobel văn học (Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết), tiểu thuyết Xứ tuyết thể hiện quan niệm thẩm mỹ trong truyền thống của người Nhật Bản. Đó là bài thơ về cảnh sắc thiên nhiên, là bài ca về tình yêu, cũng là nơi tìm lại vẻ đẹp Nhật Bản. Nhóm sinh viên khoa Ngữ văn trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã thực hiện nghiên cứu khoa học “Thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản trong quan niệm Kawabata”, thông qua tiểu thuyết Xứ tuyết của ông. Biên tập viên Sóng Trẻ xin lược trích chương 2 của báo cáo khoa học, “Vẻ đẹp thiên nhiên Xứ tuyết trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản” ở bài đăng này. Vẻ đẹp thiên nhiên Xứ tuyết trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản Trong Xứ tuyết, thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp xuất phát từ chính những quan niệm thẩm mỹ của Yasunari Kawabata. Cái đẹp phong phú của tự nhiên hiện ra từ chính vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên xứ tuyết. Thiên nhiên xứ tuyết là một bài thơ Haiku bằng văn xuôi dung hợp trong đó những quan niệm thẩm mỹ nổi bật nhất của Kawabata. Từ đặc trưng của các nguyên lý thẩm mỹ và nội dung cụ thể của tiểu thuyết Xứ tuyết, chúng tôi tiến hành phân loại và tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên Xứ tuyết trong quan niệm thẩm mỹ của Kawabata với 4 nội dung: 1. Thiên nhiên mang vẻ đẹp giản dị, gần gũi với cuộc sống (Wabi) 2. Thiên nhiên mang vẻ cô đơn, tĩnh mịch và dấu ấn thời gian (Sabi) 3. Thiên nhiên trong cảm nhận về sự mong manh, u buồn (Aware) 4. Thiên nhiên mang vẻ đẹp u huyền (Yugen) 1. Vẻ đẹp giản dị, gần gũi với cuộc sống 1.1. Thiên nhiên với những sự vật nhỏ bé Trong cảm nhận của Shimamura, bên cạnh những giây phút thiên nhiên hiện ra với vẻ lung linh kì ảo thì đó là hình ảnh thiên nhiên với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc: “Lưng chừng dốc trên lùm cỏ cao và đám bụi rậm, là một bụi tre lùn rậm rạp mà cành tỏa ra mọi phía. Gần ngay cửa sổ, có một vuông vườn với những luống khoai lang, củ cải, khoai tây vươn thẳng. Mảnh vườn thật bình thường lại rực rỡ ánh ban mai khiến Shimamura được hưởng lần đầu tiên thứ màu xanh tươi tắn lạ, như được đánh bóng lên trong buổi sáng mát lành”. Hình ảnh bụi tre, vườn tược với những luống khoai lang, củ cải… giống như những biểu tượng của một làng quê hồn hậu, giản dị. Vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết của vùng đất phương Bắc băng giá hiện lên từ chính những hình ảnh giản dị này. Thiên nhiên xứ tuyết dường như mất đi cái lạnh lẽo, cô đơn trong mỗi trận bão tuyết mà trở về với vẻ đẹp thường ngày. Hình ảnh thiên nhiên phương Bắc đối lập với sự hoa lệ, ồn ào của Tokyo chính là những gì mà người lữ khách Shimamura đang tìm kiếm. Dường như có một sự cách biệt rất lớn giữa cuộc sống thành thị và thiên nhiên ở xứ tuyết. “Đó cũng là khoảng cách giữa hai cõi: thế giới loài người đang chìm đắm trong chiến tranh, trong lối sống chạy theo dục vọng tầm thường, tâm hồn chai sạn do ảnh hưởng của nền công nghiệp cơ khí hiện đại và thế giới thiên nhiên hoang sơ, trinh bạch còn lưu những giá trị truyền thống”. Qua nhận định trên của TS. Nguyễn Thị Mai Liên, vẻ đẹp Wabi hiện lên trong hình ảnh thiên nhiên xứ tuyết cũng chính là giá trị của cái đẹp theo quan niệm thẩm mỹ Nhật Bản – cái đẹp đơn sơ, giản dị. [...] 1.2. Thiên nhiên trong nhịp sống thường nhật Thiên nhiên xứ tuyết hiện lên trong nhịp điệu cuộc sống thường ngày, phập phồng hơi thở của cuộc sống con người. Thiên nhiên thấp thoáng bóng dáng của con người, của những ngày sống đơn điệu mà đẹp đẽ, yên bình. Trong xứ tuyết, vẻ đẹp của ngày mùa, của những bông lúa hiện lên với tất cả những gì thanh bình, ấm áp. Đó là cuộc sống con người, cuộc sống của vùng núi phía Bắc – một cuộc sống giản đơn êm ả bên cạnh sự lạnh lẽo, dữ dội của những ngày tuyết phủ: “Lúa khô cũng phơi trên sào trước nhà yoko trong cánh đồng thoai thoải ngăn cách với đường. Một dãy dài treo thành một bức rèm giữa đám cây hồng, trước bức tường trắng bao quanh khu vườn đến tận lỗi vào nhà bên cạnh, một dãy khác, ở góc phải, men theo rìa cánh cổng trước vườn, chìa ra một góc để lấy lối đi lại. Trong đồng lúa, những cây khoai sọ vẫn đang xanh tốt, tàu khỏe, lá cứng cáp; ngược lại, những đóa thược dược và những hoa hồng thì đã héo tàn. Chiếc ao sen nuôi cá vàng lấp lõ phía sau những tầng lúa…”. Vẻ đẹp giản dị của thiên nhiên xứ tuyết đã tái hiện nguyên vẹn nhịp sống thường ngày của con người nơi đây. Đó là những vẻ đẹp vẫn luôn tồn tại trong đời sống, vẻ đẹp của mỗi ngày trôi qua ở vùng đất phương Bắc. Nhưng dưới con mắt của Shimamura, nó hiện ra tràn đầy hơi thở, tràn đầy sức sống, nhịp sống chảy trôi, tràn đầy bóng dáng của con người. 2. Vẻ đẹp cô đơn, tĩnh mịch và dấu ấn thời gian 2.1. Thiên nhiên mang vẻ đẹp cô đơn, tĩnh mịch Sabi được Kawabata khơi dậy trong thiên nhiên Xứ tuyết giống với vẻ đẹp cô đơn, tĩnh mịch trong mỹ học Nhật Bản trung đại với những vần thơ của Basho. “Tác phẩm không chỉ mang phong cách haiku mà còn gợi nhớ đến tập nhật kí du hành của Basho là Oku no hosomichi (Con đường sâu thẳm). Cả hai đều tìm kiếm cái đẹp trong sâu thẳm thiên nhiên ở tận phương Bắc: Oku của Basho và Xứ tuyết của Kawabata. Cả hai đều tìm kiếm cái tố phác chưa bị những hội chợ phù hoa làm vẩn đục”. Nhận định trên đây của Nhật Chiêu đã đặt vẻ đẹp ấy trong sự đối sánh với những “Hội chợ phù hoa” của phương Tây. Có thể nói, vẻ đẹp cô đơn, tĩnh mịch của thiên nhiên là vẻ đẹp dường như ngưng đọng trong không gian xứ tuyết, không pha lẫn sự ồn ào, náo nhiệt mà trái lại là vẻ đẹp của sự yên tĩnh, thâm trầm. Sabi với vẻ cô đơn, tĩnh mịch hiện lên trong thiên nhiên xứ tuyết là hình ảnh những cây bá hương và sự yên tĩnh của những khu rừng bá hương. “Thân của những cây bá hương ở đằng sau phiến đá cô ngồi vút lên thẳng tắp, cao đến nỗi anh phải ngửa người ra, tựa lưng vào phiến đá, mới dõi mặt được đến tận ngọn cây. Bầu trời bị che khuất bởi một lớp gần như màu đen những hàng cây mọc sít, những cành cây và những lớp lá kim xanh thẫm dày đặc. Yên tĩnh và thanh bình như một bài thánh ca”. Sự cô đơn, tĩnh mịch của rừng cây được gợi tả bằng những cảm nhận nhãn quang về màu sắc: đen, xanh thẫm. Những gam màu tối ấy khiến thiên nhiên xứ tuyết không hiện lên rực rỡ, thanh khiết mà cô đơn, trầm lặng, tĩnh mịch. “Những cây bá hương phủ một làn voan trắng mỏng nổi lên trên nền tuyết, dù không hề trộn vào nhau vẫn tạo thành một khối sẫm, mà cây nào cây ấy, hiện ra với dáng nét riêng biệt rõ ràng”. Những cây bá hương vào mùa thu hiện lên với màu trắng. Tuy không phải là những gam màu tối mà Shimamura đã cảm nhận khi lần đầu ngắm nhìn những cây bá hương nhưng sắc trắng này vẫn mang lại cho thiên nhiên một vẻ đẹp cô đơn. Sự mờ ảo lẫn vào khu rừng bá hương cũng chính là vẻ cô đơn, tĩnh mịch không lời của thiên nhiên xứ tuyết. Có thể nói, Sabi với vẻ đẹp không lời của sự cô đơn và tĩnh mịch đã hiện lên nguyên vẹn trong thiên nhiên xứ tuyết. Sự tĩnh mịch gần như ngưng đọng của thiên nhiên xứ tuyết khiến cho cảm nhận về thời gian ở đây dường như không trôi chảy. Đó cũng chính là vẻ đẹp mà thời gian đã ban tặng cho thiên nhiên nơi đây. 2.2. Thiên nhiên cổ sơ mang dấu ấn thời gian Những thiên tiểu thuyết của Yasunari Kawabata thường xuất hiện vẻ đẹp của thiên nhiên trong cảm quan về thời gian. Trong Xứ tuyết, dấu ấn thời gian hiện lên rõ nét qua hệ thống những biểu tượng của vẻ đẹp thiên nhiên. Từ đó, Sabi lại được cảm nhận dưới vẻ đẹp được tạo nên từ thời gian trôi chảy – vẻ đẹp cổ sơ mang màu dấu ấn thời gian. Trước hết, vẻ đẹp cổ sơ hiện lên từ những hình ảnh biểu tượng của thiện nhiên xứ tuyết. Trước hết, vẻ đẹp đó hiện ra từ hình ảnh con tàu. Ngay từ đầu tác phẩm, con tàu đã hiện lên với tư cách là một phương tiện đến với xứ tuyết – một vùng đất gần như riêng rẽ, tách biệt: “Còn các toa tàu cũ kĩ, chúng như đã trút bỏ trong đường hầm bộ áo lóng lánh của sương giá tuyết băng. Tàu chạy xuống một thung lung, ở đây, những khoảng tối hơi nhuốm màu hoàng hôn và ngập đầy những vực thẳm xen giữa các ngọn núi chồng lên nhau”. “Con tàu với ba hoặc bốn toa cũ rích và cổ lỗ, chẳng giống gì những đoàn tàu nhanh ở các chuyến lớn trung tâm, khiến ta tưởng như đang ở trong một con tàu của xứ sở khác hoàn toàn xa lạ”. Con tàu của xứ tuyết cũng mang dáng vẻ của vùng đất này – đó là dáng vẻ của cổ sơ, cũ kỹ trên nền băng tuyết. Con tàu cổ lỗ này giống đã đi xuyên thời gian, xuyên qua quá khứ để đưa con người đến đây. Kawabata đã đặc biệt khắc họa hình ảnh “con tàu của xứ sở hoàn toàn khác lạ” như một vật thể thuộc về vùng đất xứ tuyết, thuộc về thiên nhiên cổ sơ. Tiếp đến, vẻ đẹp cổ sơ, cũ kỹ từ sự trôi chảy thời gian hiện lên trong những ngôi nhà ở xứ tuyết với bóng dáng của những mái nhà, mái chùa với vẻ cũ kĩ của lớp bụi thời gian. Khu suối nước nóng mà Shimamura chọn làm điểm nghỉ ngơi với những dãy hành lang hiện rõ thời gian mà nó tồn tại: “… Mỗi bước chân anh trên lớp sàn gỗ cũ kĩ làm kính ở các cánh cửa ra vào rung lên”. Lớp sàn gỗ là dấu ấn của thời gian, là lớp thời gian đã bao trùm lên xứ tuyết. Âm thanh của những cánh cửa là tiếng kêu của thời gian. Dường như đó là vẻ đẹp tích tụ theo dòng chảy của thời gian, vẻ đẹp ngưng đọng từ quá khứ. Vẻ đẹp cổ sơ của thiên nhiên xứ tuyết còn hiện lên qua hình ảnh những mái nhà, mái chùa với những lớp lợp cũ kĩ: “… Một ngôi nhà cũ, mái đã trĩu xuống với một cửa sổ sơn đã bong vì mưa nắng... Phần lớn lợp bằng gỗ, có chẹn đá, các mái nhà trông như những dãy giống nhau, các hòn đá song song với con đường, những hòn đã to, tròn và nhẵn, trắng xóa những tuyết ở phía bóng râm và sáng loáng ở phía có nắng, đen như mực, chúng bóng loáng không hẳn vì ướt mà chủ yếu vì chúng được bào nhắn bởi băng giá, gió mưa”. Vẻ đẹp của những ngôi nhà, những mái gỗ chẹn đá được Shimamura nhìn nhận dưới những tác động của thời gian. Thời gian đã làm những ngôi nhà, những chiếc mái trở nên cũ kĩ, hao mòn nhưng chính thời gian cũng tạo nên vẻ đẹp cổ kính đặc trưng của những ngôi nhà xứ tuyết. Đó là vẻ đẹp của thiên nhiên, của thời gian đã đi qua vùng đất này, của “mưa nắng”, “băng giá” và “gió mưa”. Đó cũng chính là Sabi, là vẻ đẹp hiện lên từ những gì cũ kĩ, hoen gỉ. [...] Thiên nhiên mang vẻ đẹp Sabi trong Xứ tuyết còn hiện lên dưới cảm thức thời gian (ảnh: internet) Trong tác phẩm của Yasunari Kawabata, rất ít khi thời gian chính xác được đề cập trong các chi tiết truyện. Tuy nhiên, thời điểm mùa trong năm luôn được thể hiện rõ nét qua những đặc trưng, dấu ấn của mùa. Điều này giống với cách gợi cảm thức thời gian trong thơ Haiku. Khi Basho viết: “Một đám mây hoa/ Chuông đền Ueno vang vọng/ Hay đền Asakusa” thì thời điểm mùa xuân hiện lên chính từ hình ảnh “Đám mây hoa” đó. Điều này cho thấy sự gắn bó giữa thơ Haiku Nhật Bản và Kawabata trong quan niệm về thời gian. Những dấu hiệu về thời gian trong ngày hay dấu hiệu về mùa trong Xứ tuyết cũng là một yếu tố khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo vật trong tác phẩm và đặc biệt, nó thể hiện rõ dấu ấn thời gian trong nguyên lý thẩm mỹ Sabi. “Cái đẹp của tuyết, cùa các mùa và phụ nữ luôn luôn lấp lánh qua từng trang văn, đẹp như thơ”. [...] 3. Vẻ đẹp u buồn, mong manh Trong cảm nhận của người Nhật Bản, vẻ đẹp của thiên nhiên có lẽ cũng đi liền với sự buồn bã, mong manh. Điều này thể hiện ở chính việc lựa chọn quốc hoa của đất nước này, đó là hoa anh đào. Hoa anh đào đẹp nhất là khi chúng nở rộ, nhưng dù hoa có nở đẹp đến đâu đi chăng nữa thì nó vẫn mang một nỗi buồn phảng phất bởi một lẽ, anh đào sẽ rụng vào đúng lúc nó nở rực rỡ nhất. Như vậy, ngay từ trong cảm quan của mình, người Nhật đã đã để cho hai khái niệm “đẹp” và “buồn” song hành với nhau. Ngay cả với thiên nhiên, cái đẹp cũng gắn với cái buồn. Đây cũng chính là một trong những quan niệm thẩm mỹ truyền thống của Nhật Bản. […] 3.1. Thiên nhiên trong sự lạnh giá Thiên nhiên xứ tuyết mang một sự lạnh giá đến gay gắt. Tuyết ở đây rơi rất nhiều và mạnh, “tuyết rơi nhiều đến nỗi các đoàn tàu luôn bị những khối tuyết lở chặn lại”. Không chỉ có tuyết bao phủ “dày hai, ba mét, đôi khi đến hơn bốn mét” mà ở nơi đây, nhiệt độ cũng xuống rất thấp: “năm ngoái, nhiệt độ ở đây xuống đến hơn hai mươi độ âm”. Khí hậu khắc nghiệt đã tạo cho xứ tuyết một cái lạnh không giống với bất kì một nơi nào khác, “sờ vào vật gì, ta cũng thấy nó lạnh khác lắm”. Xứ tuyết lạnh giá tạo nên một vẻ buồn man mác. Sự lạnh lẽo ấy thấm hết vào cảnh vật, khiến chúng cũng trở nên khác biệt với Shimamura. Cái lạnh của xứ tuyết không chỉ thể hiện trực tiếp ở khí hậu nơi đây mà còn thể hiện gián tiếp qua sự hòa hợp của ánh sáng, bóng tối. Cứ mỗi lần sáng, tối lồng vào nhau, là một lần tạo cho người ta cảm giác hoài vọng, nuối tiếc và u buồn. Bóng tối đang hiện hữu thì ánh sáng cũng xuất hiện. Ngay khi đang nồi trên tàu, dưới con mắt tinh tế của Shimamura hay của chính Kawabata, bầu trời đêm hiện lên và để lại ấn tượng thật đặc biệt: “Phía trên những quả núi, hoàng hôn còn để lại vài vệt đỏ sậm muộn màng và ở tít xa, trên đường chân trời, còn có thể nhận ra được mấy ngọn núi tách biệt”. Bóng đêm đã bao trùm lên xứ tuyết nhưng ở đằng xa, ánh sáng vẫn còn hiện hữu. Dù có ở trong toa tàu hay bên cánh cửa sổ, Shimamura vẫn luôn cảm nhận được sự xen kẽ sáng tối này. […] Cũng chính từ căn phòng mình, Shimamura nhìn thấy “ở đáy thung lũng, nơi thường tối sớm, đã bắt đầu tối. Nhô cao ở bên ngoài vùng tối, các ngọn núi ở đằng kia rực rỡ nắng chiều, chúng như gần hơn bởi chúng tương phản với những hõm tối và màu trắng của chúng như ánh lân quang dưới bầu trời đỏ ối”. Và Shimamura “cảm thấy mỗi lúc một buồn”. Bóng tối và ánh sáng cùng nhau xuất hiện trên khung cảnh thiên nhiên xứ tuyết, sự tồn tại song song của cả bóng tối lẫn ánh sáng làm cho thiên nhiên như lạnh hơn, tạo nên một khung cảnh băng giá đầy u buồn, hoài vọng. 3.2. Thiên nhiên mang vẻ đẹp mong manh Trong quan niệm của người Nhật Bản, cái đẹp và cái hư vô, mong manh luôn đi cùng với nhau. Điều này được thể hiện khá rõ qua thơ Haiku. Nhà thơ Shiki đã từng viết: “Đẹp lạ lùng Ai mà không ghen tị Lá đỏ rời cành phong” Vẻ đẹp mong manh ấy hiện lên trong Xứ tuyết là thiên nhiên ngập trong sắc trắng. Màu trắng cũng là màu sắc được nhắc tới khá nhiều trong Kinh Phật. Màu trắng là biểu tượng của sự tinh khiết, thanh cao và cũng là màu của sự hư ảo. Trong Xứ tuyết, rất nhiều lần tác giả nhắc tới sắc trắng. Có khi, cảnh vật trở nên mềm mại hơn khi được che phủ bởi sự nhẹ nhàng của tuyết: “Xa xa, trên các ngọn núi, tuyết trông như một lớp kem mềm mại được bao phủ một làn khói nhẹ”. Tuyết cũng làm cho mọi thứ trở nên nặng nề, chật hẹp và cô đơn: “Sự chật hẹp của cái thung lũng bé xíu bị ép chặt giữa những ngọn tuyết phủ dày. Nơi đây chẳng khác gì một cái túi tối om, một cái hốc xiết bao đơn độc giữ lòng núi hẻo lánh này”. [...] Thiên nhiên xứ tuyết là nơi “cư ngụ” của những kiếp phù du như những loài côn trùng. Màu xanh của loài bướm đêm đã gây một ấn tượng cho anh. Với anh, đó là “màu xanh ngỡ ngàng, đơn độc, ngược ngạo thay, nhuốm màu chết chóc”; “nó rơi xuống như một chiếc lá khô, chậm và nhẹ buông rơi, lúc lên lúc xuống, trước khi chạm đất” hay lời tự hỏi “không biết con côn trùng đã chết chưa”. Chúng chỉ là những sinh mệnh mang kiếp phù du, bay lượn trong không trung rồi lìa đời nhanh chóng. Cuộc đời của những kiếp phù du luôn là như vậy. Cõi đời này sẽ không lưu lại được gì từ những vẻ đẹp ấy. [...] 4. Vẻ đẹp u huyền, kì ảo Trong các tác phẩm của Kawabata, thiên nhiên thường xuyên xuất hiện trong gương. Thiên nhiên qua những tấm gương hiện lên rất sống động nhưng cũng manh đầy vẻ siêu thưc, huyền ảo. Thiên nhiên vẫn luôn là bí ẩn mà con người luôn muốn tìm kiếm và chinh phục. Thông qua chiếc gương soi, thiên nhiên bỗng trở nên kỳ ảo hơn, khó nắm bắt hơn bao giờ hết. Với Xứ tuyết, Shimamura không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp u huyền con người mà còn cảm nhận được cả vẻ u huyền của thiên nhiên nơi xứ tuyết. Gương phản chiếu hình ảnh của tuyết, làm cho tuyết kỳ ảo hơn rất nhiều: “Tuyết bỗng sáng rực thêm nữa trong gương, chẳng khác gì ở đó có một đám cháy băng giá”. Tấm gương khiến cho lớp tuyết trắng “bỗng sáng rực”, đây vừa là hình ảnh tự nhiên của tuyết nhưng cũng lại là hình ảnh tuyết được “cải biến” trong thế giới gương soi. Từ trong gương soi, thiên nhiên đã đổi khác. Thiên nhiên không chỉ hiện lên với vẻ đẹp tự thân của nó mà vẻ đẹp ấy còn được nhân lên, đưa con người vào một thế giới mới với những khung cảnh vừa thực mà vừa hư: “Trong bầu trời đêm, phía trên những quả núi, hoàng hôn còn để lại vài vệt đỏ sậm, muộn màng và ở tít xa, trên đường chân trời, còn có thể nhận ra được mấy ngọn núi tách biệt”. Thiên nhiên trong gương soi được Shimamura cảm nhận không chỉ với hình ảnh đơn lẻ mà nó còn hòa vào vẻ đẹp của con người xứ tuyết. Thiên nhiên và con người như soi chiếu vào nhau: Cảnh đêm và điểm sáng đều được Shimamura nhìn qua tấm kính của toa tàu. Chúng ở phía xa và ở đằng sau, chúng mang những cái đẹp lung linh và huyền ảo. Shimamura cảm nhận được những vẻ đẹp ấy và anh cũng không thể rời mắt khỏi Yoko: “Anh bàng hoàng khi một ánh lửa tít xa trong núi bỗng lóe sang ở giữa gương mặt đẹp của người đàn bà trẻ, khiến cho vẻ đẹp không thể nào tả xiết ấy đạt đến đỉnh điểm”. Trong tấm gương soi, thiên nhiên và con người cùng tồn tại, vẻ đẹp thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp con người. Chính và thế mà vào một buổi sáng, khi nhìn thấy vẻ đẹp của Komako hiện lên trong gương và trên nền tuyết, Shimamura đã nhớ lại vẻ đẹp của Yoko được phản chiếu lại trên cửa kính của toa tàu. Vẻ đẹp của Komako cùng với vẻ đẹp của tuyết trắng tạo nên một điểm nhấn cho bức tranh. Ở đây, tuyết trắng như làm nền cho Komako. Cụ thể hơn, vẻ đẹp của tuyết làm nổi bật đôi má đỏ hồng của cô. Shimamura hay chính Kawabata đã “mượn những chiếc gương soi để tạo lập nên một thế giới huyền ảo chưa từng có nhưng lại làm cho chúng ta tin tưởng vào đấy”. Thiên nhiên trong gương soi mang một vẻ đẹp của sự hư ảo, của sương khói bao phủ và của tuyết trắng. Chính bản thân Shimamura cũng giống như một chiếc gương. Ở đó ta có thể nhìn thấy sự mơ hồ của anh cũng giống như lúc anh nhìn thấy sự mơ hồ, kì ảo của thiên nhiên qua tấm gương.   Mời các bạn đón đọc Xứ Tuyết của tác giả Yasunari Kawabata.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Máu Hiếm - Phan Hồn Nhiên
Truyện Máu hiếm của nhà văn Phan Hồn Nhiên được ra mắt độc giả hè 2012 dưới dạng ấn phẩm in kèm của một tờ báo của tuổi học trò. Đến nay, cuốn truyện khoa học viễn tưởng vẫn tiếp tục chứng tỏ sức hút với bạn đọc. Vì thế, Nhà xuất bản Kim Đồng quyết định in truyện thành sách thực thụ, dành cho đối tượng bạn đọc mở rộng chứ không chỉ tập trung cho teen như trước đây. "Phan Hồn Nhiên là nhà văn có lượng độc giả hâm mộ. Các tác phẩm của cô thường được chọn in lại liên tục", một biên tập viên của nhà xuất bản cho biết. Trong khi thể loại sci-fi còn khá mới mẻ và lạ lẫm với độc giả, khán giả trong nước, Phan Hồn Nhiên đã chuẩn bị nguồn tư liệu và vốn kiến thức phong phú để chinh phục thể loại này. Chị mất một năm để hoàn thành truyện dài Máu hiếm. "Tôi vừa viết, vừa chiêm nghiệm vừa sửa tới sửa lui từng ý một", nữ tác giả cho biết. Cuốn sách kể về hành trình phiêu lưu của Vinh - một chàng trai trẻ phải dấn thân khám phá những bí mật khiến cho bố mẹ anh mất tích đột ngột. Bố Vinh là thành viên của một hội kín được lập nên từ ba nhà khoa học vốn là bạn bè từ thời sinh viên. Họ đang cùng tiến hành một công trình nghiên cứu với mong muốn có thể thay đổi căn bản phương pháp điều trị một số bệnh hiểm nghèo. Tuy vậy, trong nhóm lại nảy sinh những mâu thuẫn. Có thành viên mong những phát kiến khoa học được đem ra giúp ích cho xã hội. Nhưng cũng có người muốn thành tựu khoa học này phục vụ cho mục đích làm giàu của bản thân. Vinh vượt qua nỗi khiếp sợ, sự cô độc và những tấn công vô hình từ nhiều phía để khám phá các âm mưu đằng sau câu chuyện khoa học. Để dẫn dắt độc giả, Phan Hồn Nhiên dùng lối viết miêu tả kết hợp với tiết tấu nhanh. Từ trang viết, tác giả đặt ra các vấn đề: Ý nghĩa sự tồn tại của con người nằm ở đâu? Đâu là mục tiêu mà khoa học và nghệ thuật hướng đến? Trong cuộc giằng co giữa giá trị tình cảm và danh vọng, của sức mạnh của tình yêu thương, bên nào sẽ chiến thắng? Phan Hồn Nhiên cho biết, chị vẫn còn tiếp tục sáng tác với sci-fi chứ không chỉ dừng lại ở một cuốn. 9h30 sáng 5/7, nữ tác giả và cây bút Phạm Bá Diệp cũng có buổi giao lưu văn học với độc giả về chủ đề "Fantasy trong văn chương Việt". *** Quãng đường quay trở về đột nhiên bị thu ngắn. Họ duy trì nhịp bước đều đặn, xuyên qua cánh rừng, xuyên qua khu mê cung. Họ bước song song. Nhưng cô gái vẫn giữ vai trò người dẫn đường. Đỉnh tòa nhà lớn lờ mờ hiện ra giữa các khối mây nặng trĩu hơi ẩm. Mặt trăng biến mất. Bóng tối đã biến thành đôi cánh khổng lồ sải rộng, bay đến từ đằng sau. Lúc này, Vinh nhận ra họ không hẳn quay về theo lối đi cũ. Ở đoạn cuối, thay vì men theo vệt đường mòn lác đác bụi cây của khu vườn, họ lọt vào một khu dân cư vắng lặng. Các ngôi nhà như những chiếc hộp nhiều kích cỡ xếp san sát, chồng khít lên nhau, tạo thành từng khối lập thể thẳng hàng. Đường phố không quá chật hẹp, nhưng bề mặt phẳng mịn của những bức tường cao vút tạo cảm giác mọi thứ bên trong chúng đều bị thu nhỏ, có thể bị nghiền nát bất kỳ lúc nào. Thảng hoặc, như một ống dẫn hun hút, lối đi giữa các khối nhà hình học đột ngột mở ra. Những đợt gió nhuộm đẫm mùi chlorine thốc tới theo các đường ống dẫn, khiến hai cái bóng đang bước lầm lũi đổ gập về phía trước. Mở căng mắt, chàng trai trẻ thử tìm một cánh cửa nào còn hé mở, một ngọn đèn còn chưa tắt trong một ô kính, hoặc một tiếng người khẽ vang lên từ một căn phòng… Nhưng không gì cả. Một sự im lìm trống rỗng, chỉ có thể tìm thấy ở quãng nghỉ giữa hai chương nhạc, nhưng trong quãng nghỉ ấy, theo một sắp đặt bí hiểm, các nhạc công cũng đã biến mất. Bất động tuyệt đối. Lạnh. Thứ hơi lạnh không phải của thời tiết, mà tỏa ra từ các mặt tiền nhà câm lặng. Loãng hơn bình thường, không khí vào phổi mang theo mùi thuốc tẩy trùng. Có gì đó ở nơi đây còn đáng sợ hơn cái mê cung bằng cây lá họ đã đi qua hay ngọn đồi hoang nơi họ tìm thấy cái hòm chôn vùi. Ngay cả khi mọi chi tiết kiến trúc được duy trì ở tình trạng ngăn nắp chỉnh chu, không gian sạch tinh không chút rác rưởi, thì khung cảnh và bầu không khí vẫn hệt như trong một bệnh viện hoang phế, hay trong một thành phố chết. Chỉ khi đế giày Vinh lướt trên tấm lưới sắt đặt cách quãng đều nhau trên mặt vỉa hè, đôi chân bất ngờ cảm nhận một luồng hơi nóng mỏng nhẹ phả lên từ các miệng hố sâu hút, bằng chứng không thể phủ nhận của hoạt động máy móc đang hiện diện đâu đây, cậu mới tạm tin rằng nơi này vẫn có dấu vết con người và hoạt động của sự sống. Đã hơn bốn giờ. Vệt sáng mỏng đầu tiên của ngày hửng lên từ phía Đông đường chân trời. Đường viền của các khối nhà cũng như chất liệu của chúng đã nhìn thấy rõ hơn. Một số bức tường được xây từ thứ gạch nén sâu đậm, để trần không trát vữa, để lộ vết tích thời gian khi bị các đợt gió nhuốm mùi hóa chất và thứ hơi ẩm khắc nghiệt bào mòn. Nhưng đáng chú ý hơn, phần lớn các bức tường đều phủ kim loại. Những tấm kim loại khổng lồ liền lạc, không đường nối, bọc lấy các ngôi nhà hình hộp. Một số tấm còn mới tinh, phản chiếu các khối kiến trúc đối diện. Có một lúc, rẽ ngoặt theo người dẫn đường, Vinh ngỡ nhìn thấy ai đó đang bước về phía mình. Tuy nhiên, chỉ là hình bóng bị khúc xạ của chính cậu và cô gái mặc bộ váy dạ hội lem luốc in trên tấm gương théo sáng loáng mà thôi. Nếu người nhạc công trẻ chưa thoát khỏi trạng thái bối rối lo sợ thì ngược lại, Lữ Hòa tỏ ra hết sức quen thuộc với dãy phố lẫn lối đi tắt. Cô ta vượt lên trước Vinh vài bước chân. Làn hơi nước trắng đục phả về sau, tỏa ra từ hơi thở gấp gáp của cô. Đôi chân rã rời cùng sức lực gần như bị vắt kiệt sau một ngày xảy ra dồn dập quá nhiều sự kiện, Vinh gằn bước lên, đuổi kịp cô gái: - Chúng ta đang đi đâu vậy? Người đồng hành không trả lời. Cô ta vẫn sải bước, tốc độ gần như chạy. Giờ thì không ngại ngần nữa, Vinh vươn tay, tóm lấy khuỷu tay khô khốc của cô ta, giật nhẹ: - Ban nãy, khi thỏa thuận đi cùng nhau, cô không nói chúng ta sẽ tới đây! Vì vậy, nếu cô không cho biết nơi đây là đâu, chúng ta tới đây nhằm mục đích gì, thì tôi sẽ không đi theo cô nữa! - Nhìn kìa! – Không trả lời vào các câu hỏi, cô gái đột ngột hất cằm. Hướng nhìn của Vinh chuyển theo chỉ dẫn của người đồng hành. Vượt lên trên các khối hộp bê tông chồng chất, có một chiếc cần cẩu cao lênh khênh. In lên nền trời tím tái, khối kim loại han gỉ phả vào không gian chung quanh hơi thở lạnh lẽo của sự lãng quên. Vài gióng xương bằng sắt của cái cần cẩu tuột ốc, rôi xuống lỏng lẻo hoặc chĩa ra ngoài, đâm vào khoảng không. Thấp hơn một chút, sà xuống, gần như chạm vào mái nhà bên dưới, là hai sợi thừng lớn. Giữa hai sợi dây ấy, một túm vải rách bươm, bay phần phật cuồng loạn. Đột ngột, như cảm nhận được ai đó đang nhìn mình, các dải vải tả tơi bỗng im thõng. Rồi không hề có dấu hiệu báo trước, chúng lại tiếp tục đu đưa phất phơ. Trong khung cảnh chỉ có vài khối nhà, không hề hiện diện bóng cây và mọi thứ đều bất động, sự chuyển động lẫn dừng khựng kỳ dị ấy gây nên một ấn tượng ma quái. Không chỉ thân thể Vinh đông cứng, mà các ý nghĩ trong đầu cậu cũng tê dại, mất sạch mọi phán đoán. Phải khá lâu, câu hỏi đơn giản mới có thể thốt ra: - Cái gì vậy? - Phần còn lại của một người nào đó! – Lữ Hòa nhún vai. Cô ngoảnh hẳn về người nhạc công, nói thản nhiên, như thể cô quá quen thuộc với các giải thích kiểu này – Bất kỳ một kẻ lạ nào đến đây mà không được cho phép, đều có kết cục như thế. - Tại sao? – Vinh choáng váng. - Anh không đoán ra ư? Đây là khu vực cấm. Anh thấy rồi đấy, không một sinh vật nào, dù là côn trùng, có thể tồn tại trong bầu không khí này. - Cô thì sao? - Tôi đến bất cứ nơi nào tôi muốn, dù được phép hay không. - Còn tôi bị bắt, bị trừng phạt tàn khốc, vì nơi đây, tôi không được phép có mặt? - Phải. - Cô được quyền đi lại trong khu vực này dễ dàng, thế nên cô đặt tôi vào tình thế của một kẻ lệ thuộc. Và nếu không muốn chết, nhất cử nhất động của tôi sẽ phải tuân theo điều khiển của cô, như một tên ngốc! – Vinh cao giọng, với cơn giận chực bùng nổ. - Nhầm rồi, Vinh! – Lữ Hòa thì thầm, đôi lông mày sắc nét cau lại. Bằng cách ấy, cô ta ngầm nhắc nhở người đối thoại rằng, gây ồn ào lúc này là điều vô cùng ngu xuẩn. Rồi vẫn giữ cung giọng rất thấp, cô ta chậm rãi nhấn mạnh từng từ - Cũng như anh, tôi sẽ nhận trừng phạt hệt những kẻ tọc mạch khác, bị treo lên kia cho đến chết, bị bỏ mặc mục ruỗng, nếu tôi bị bắt gặp trong khu vực cấm này. Người nhạc công trẻ chết lặng. Ánh nhìn của cô gái đối diện đặt vào một điểm nào đó phía sau lưng cậu. Đôi mắt thẫm lại của cô ta chất chứa nỗi giận dữ, giễu cợt, nhưng hơn hết, là sự đau đớn không thể che giấu. Một số niềm tin vốn tạo nên thành trì của lòng can đảm bắt đầu rạn vỡ trong Vinh. Những kinh nghiệm từ tuổi nhỏ cô độc luôn buộc cậu xác định vị thế bất kỳ người nào mà mình tiếp xúc: Là một ai đó không cần để tâm. Là một ai đó buộc phải duy trì mối liên hệ cần thiết. Hoặc kẻ thù. Chỉ có ba lựa chọn. Xúc cảm yếu mềm là món xa xỉ, có thể dành cho bất cứ ai, trừ cậu. Nhưng, ở đây - một nơi không ngờ đến, lúc này – thời khắc không ngờ đến, cô gái ở bên cạnh đột nhiên đưa cậu đến một phát hiện kỳ lạ về chính mình. Cô ta vừa là tất cả, nhưng cũng không là ai trong ba mẩu hình có sẵn. Vinh đã nhận ra, bằng sức mạnh thản nhiên phơi bày, bằng sự yếu ớt cố gắng che đậy, thật tự nhiên, cô ta buộc cậu phải dành cho mình một vị trí khác, một xúc cảm chưa từng biết đến trước kia. Đó là thứ rung động xa lạ, làm khối cơ trong lồng ngực cậu thắt lại, vừa hãi sợ muốn lãng tránh, vừa muốn tiến đến thật gần, giữ lấy cô ta, che chắn cho cô ta khỏi những nguy hiểm vô hình đang lảng vảng đâu đây. Lữ Hòa tiếp tục bước đi. Tay cô khoanh lại trước ngực, chống cự khí lạnh càng lúc càng tê buốt. Đôi vai mảnh khảnh luôn vươn thẳng kiêu hãnh hơi rủ xuống, tựa một lời thừa nhận câm nín về sự cảnh giác mệt mỏi và bất an đeo bám. Vinh lẳng lặng đi theo cái bóng co ro phía trước. Cả hai không trao đổi. Trong lặng thinh, họ bỗng thấy rõ rật tình trạng yếu ớt, cô độc và quá khó khăn để chia sẻ của mình. Vinh nghĩ cậu có thể bước nhanh hơn, chạm nhẹ vào người đồng hành, nói gì đấy với cô. Điều gì cũng được, chẳng hạn xin lỗi về sự ngờ vực thô bạo ban nãy buông ra. Nhưng, lời nói cứ bám lại trong cổ họng, như những chiếc lá khô mục, rời rạc, cho đến một lúc thì hoàn toàn chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Cái cần cẩu lùi dần về sau. Vinh không dám ngoảnh nhìn nó thêm. Dù chẳng hề là người yếu bóng vía, cậu vẫn không khỏi sởn gai ốc với ý nghĩ, rằng sau lưng cậu, bị treo lơ lửng trên cao, là một ai đó đã từng hít thở, đi đứng nói cười, yêu thương và giận dữ, liều lĩnh và can trường. Một ai đó đi ra từ một ngôi nhà nào đó, nơi anh ta hay cô ta đã từng gắn bó, có một chỗ quan trọng trong lòng người thân bạn bè. Nhưng giờ đây, những điều ấy chỉ còn là chút âm vọng đang tắt lịm. Tất cả đều tan biến, ngoại trừ chút tàn tích sót lại đung đưa trong làn gió lúc hừng đông. Ở lối rẽ hẹp, Lữ Hòa bỗng dừng lại trước ngôi nhà giống như một khối rubic, được bọc bởi từng mảng lớn những ô gạch nhiều màu. Một vài chỗ bong tróc, để lộ bên trong cũng là thứ gạch cùng loại, sẫm màu hơn vì lâu năm hơn. Thật kỳ quặc khi người ta không dùng vữa hay bột trát chuyên dụng, mà bảo trì ngôi nhà bằng cách phủ thêm các lớp gạch khác. Có lẽ đó là lý do khiến các khối nhà nơi đây khá nặng nề, còn các ô kính cũ thì như những con mắt lõm sâu, được bảo vệ bởi các tấm lưới sắt. Loay hoay một lúc với cánh cửa đóng chặt, như một tay trộm, bằng đầu mũi nhọn của chiếc mỏ neo mắc trên sợi dây kim loại mảnh thắt ngang eo chiếc váy dạ hội, Lữ Hòa đã mở được ổ khóa bấm. Trước khi lỉnh hẳn vào bên trong tối om, cô dặn khẽ: “Chờ tôi nơi đây, khoảng 10 phút. Đừng đi đâu hết nếu không muốn gây nguy hiểm. Tôi sẽ quay ra ngay khi lấy được thứ cần thiết!”. Vinh gật, chấp nhận dễ dàng. Đuôi váy lấp lánh ánh bạc lấm bụi đất của cô ta vừa bị bóng tối bên trong nuốt gọn, cánh cửa tức khắc khép lại, với tiếng “tách” nhẹ của ổ khóa đã được bấm chốt. Trong ánh sáng hửng lên, khung cảnh xung quanh hiện ra càng rõ nét hơn. Vỉa hè khá hẹp, lót gạch sỏi, cao hơn hẳn so với mặt đường trải nhựa. Khu vực này không quá lớn như lúc đầu Vinh tưởng. Có lẽ chỉ chừng hơn chục con đường. Nhưng các con đường ấy cắt nhau như một bàn cờ. Để xóa nhòa khả năng định hướng, Lữ Hòa đã cố ý đưa cậu đi ngoằn ngoèo qua tất cả các đường cắt trên bàn cờ ấy. Đầu gối Vinh thoáng run lập cập. Không hẳn vì lạnh. Cậu nhận ra mình đang rất đói. Suốt từ chín giờ tối hôm qua, lúc dạ tiệc khai màn, cậu đã không ăn thêm chút gì. Giá có mẩu bánh mì hay cốc sữa thì thật tốt lúc này. Không hy vọng tìm thấy thức ăn quanh đây, ngoại trừ liều mạng đột nhập vào bên trong một ngôi nhà bất kỳ. Như một cái bóng, Vinh lặng lẽ men theo bức tường gạch, rẽ trái. Ở một ô cửa sổ, lớp lưới bảo vệ đã bị bung ra khỏi bản lề. Bên trong, lớp kính ố nâu từng đốm loang lổ. Vinh nghiêng người về phía trước, chống cả hai khuỷu tay lên bệ cửa để giữ thăng bằng và đu hẳn người lên khỏi vỉa hè. Mũi giày cậu gá vào một viên gạch vỡ. Với tất cả sức lực còn lại, cậu kéo mạnh tấm lưới, giằng hẳn ra khỏi khung cửa. Một tiếng xoảng nhẹ khi tấm lưới mục rơi xuống vỉa hè. Vinh gồng người, căng thẳng chờ đợi phản ứng đáp trả. Nhưng không gì cả. Cậu rướn lên cao hơn. Hơi thở mạnh làm mờ lớp kính trước khi phả ngược trở lại vào mặt cậu. Khi đưa tay chùi lớp kính ẩm lạnh, Vinh thoáng giật thót. Nhưng chỉ là phản chiếu gương mặt của chính cậu, với đôi mắt to tướng, với hốc má tối thẫm, với vệt lông mày dày rậm nổi rõ trên vầng tráng cao trắng bệch. “Bình tĩnh và tập trung nào!” – cậu lẩm bẩm tự nhủ. Ánh sáng mờ nhạt đầu ngày chỉ cho phép nhìn thấy một phần không gian bên trong. Các căn phòng liên thông với nhau bởi những ô cửa không cánh. Ở phòng này, kê dọc theo tường là vài chiếc gương đơn bằng sắt sơn trắng, loại giường có thể điều chỉnh lên xuống bằng tay xoay cổ điển đã có mặt cách đây vài chục năm. Chắc chắn đã lâu không ai sử dụng mấy cái giường này bới chúng không có nệm, chỉ có những lò xo kim loại chăng ngang dọc. Phòng kế bên, góc nhìn khuất hơn chỉ cho thấy một dãy bàn làm việc, cũng sơn trắng xếp cạnh nhau. Phía trên, những kệ đựng hồ sơ được khóa chặt. Đột nhiên, Vinh nghĩ, trí tưởng tượng của mình đã không đi quá xa khi so sánh khu vực này với một bệnh viện bị bỏ hoang. Căn phòng mà cậu đang nhìn trộm vào chỉ có thể là nơi làm việc của bác sĩ, y tá và bệnh nhân, không thể khác được. Lần tay theo kẽ hở giữa khung kính và gờ tường, Vinh tìm cách đẩy cánh cửa này lên. Tuy nhiên, khung gỗ bao quanh tấm kính được gắn rất chặt vào tường gạch. Cách duy nhất để lọt vào bên trong là đập vỡ lớp kính. Đúng lúc người nhạc công trẻ xoay khuỷu tay trong chiếc jacket, chuẩn bị thúc mạnh, ở mặt sàn thông giữa hai gian phòng, thình lình trườn đến một bóng đen bé nhỏ. Giữ cánh tay đưa lên trong tư thế kỳ quặc, dán mặt vào vuông kính ố màu, Vinh mở căng mắt. Bóng người đang duy chuyển trên sàn đá cẩm thạch lam ngắt khựng lại, ngước lên, nhìn thẳng vào mắt kẻ bám vào ô kính ... Mời các bạn đón đọc Máu Hiếm của tác giả Phan Hồn Nhiên
Mắt Bão - Phan Hồn Nhiên
'Mắt bão' là tập truyện dài mới nhất của nhà văn Phan Hồn Nhiên. Tập sách nói về những thăng trầm trên con đường sự nghiệp và cuộc sống của 5 người trẻ tuổi.  > www.vinabook.com tặng độc giả 10 cuốn sách. Trong vòng xoáy ấy, cuốn theo cùng những cặn bã, rác rưởi của xã hội là những tâm hồn đẹp, những người tốt và cả những tâm hồn yếu đuối mong manh... Đó là một Thái Vinh đáng thương hơn đáng giận, cô gái con nhà giàu, đã chọn cho mình cách sống buông thả. Sinh trưởng trong một gia đình mà món tiền 100 triệu đồng chi ra nhẹ bỗng như không, vì cũng chỉ bằng tiền thay vài cái kính chiếu hậu xe hơi, cô gái non nớt này sớm sành sỏi hàng hiệu, chốn ăn chơi nhưng lại mang tâm hồn lạnh vì thiếu tình thương, thiếu hơi ấm của gia đình. Đó là một chàng Vĩnh, bề ngoài có vẻ đĩnh đạc, hạnh phúc nhưng bên trong là sự ruỗng mục và hoang hoải dần của tuổi trẻ mất phương hướng trong đời. Đó cũng có thể là Hữu, xuất thân nghèo khó và đi lên bằng cách đạp đổ đối thủ bằng mọi thủ đoạn, miễn sao thu phần lợi về mình. Cuốn sách dồn nén rất nhiều vấn đề xã hội, về những góc khuất, mặt trái của cuộc sống sôi động ở thành phố lớn: Từ chuyện chụp ảnh nude, đến quan hệ đồng tính, rồi những đấu đá tranh chấp, giành giật chỗ đứng, vị trí trong xã hội. Sách cũng đề cập đến giá trị của chữ hạnh phúc và ý nghĩa của tuổi trẻ, hai thứ mà dù tiền có nhiều đến đâu cũng khó có thể đạt được.   Cảnh mở đầu và kết thúc truyện Mắt bão đều là ở phi trường, nơi đón nhận những cuộc trở về và chuyến ra đi, nơi những chiếc máy bay cất cánh đến mọi miền đất trên thế giới, nơi những người trẻ Việt Nam đầy hoài bão luôn mang khát vọng được vươn ra, bay xa, chiếm lĩnh tri thức và cuộc sống theo cách của họ. Dù toàn truyện Mắt bão nhuốm màu xám và nặng nề tựa như "cơn bão" cuộc đời đang dồn tụ trên đầu những người trẻ, vẫn còn le lói một đốm sáng là nhân vật Hải, chàng sinh viên tự tin, kiên định, luôn đi lên bằng chính năng lực và trái tim của mình. "Gần hai năm trôi qua kể từ cuộc gặp gỡ lạ lùng. Thời gian tựa cơn lốc xoáy, cuốn theo bao người vào tâm những trận bão khắc nghiệt. Để khi sống sót, nhoài lên từ những đợt sóng lớn, tất cả đều phải thay đổi...", dòng suy nghĩ của Hải ở cuối truyện cũng chính là nỗi day dứt mà bất cứ người trẻ nào khi muốn trụ vững giữa cuộc sống sôi động, đều từng một lần trăn trở. Phan Hồn Nhiên chưa gọi cuốn sách của mình là "tiểu thuyết" mà chỉ dừng ở mức "truyện dài". Chút e dè này vô tình khiến chị chưa đưa ra được những hướng giải quyết hợp lý cho quá nhiều nút thắt mà chị đã tung ra trên trang viết. Vì thế, còn đôi chỗ trong sách có thể làm độc giả không thỏa mãn. Nhưng dù sao, đây là một trong số ít tác phẩm đã mang đến cho văn học trong nước cái nhìn gần gũi về một lớp người trẻ của xã hội Việt Nam đương đại. *** Một cách chậm rãi, Hải bắt đầu chấp nhận ý tưởng anh có thể là một ứng viên tranh cử chức chủ tịch Hội. Với uy tín và khả năng thuyết phục đặc biệt, Vĩnh khiến cho văn phòng khoa lẫn bên Đoàn trường đồng ý với sự thay đổi. Tất cả đều thừa nhận Hải là một lựa chọn mới hoàn toàn hợp lý, một cú hích ẩn giấu bất ngờ. Mối quan hệ lỏng lẻo lâu nay giữa hai người bạn, với mục đích chung mới này, đã được gia cố, gắn kết trở lại. Những khoảng thời gian trống sau các buổi học, họ tranh thủ cùng nhau đi đến một số công ty lớn, trực tiếp trao đổi với phòng nhân sự về nguồn việc làm cho sinh viên. Thật sự, mọi việc dễ dàng hơn Hải và Vĩnh hình dung. Hầu hết các doanh nghiệp đều có nhu cầu kiếm tìm nguồn sinh viên cho các vị trí thử việc, đào tạo để sử dụng được ngay sau khi những sinh viên này có bằng tốt nghiệp, trở thành nhân viên chính thức hoạt động hiệu quả. Nhu cầu lớn đến mức chỉ sau ba ngày đi gặp gỡ và đặt vấn đề, họ đã kiếm được bảy đơn đặt hàng tuyển dụng cho gần năm mươi vị trí hấp dẫn. Tại một công ty nước giải khát, nơi có nhu cầu tuyển dụng mười sinh viên tập sự, chuẩn bị cho các vị trí tại một số chi nhánh của họ ở tỉnh sau này, trước câu hỏi của Vĩnh vì sao không trực tiếp xuống trường đặt mối liên hệ hoặc thông qua các văn phòng môi giới việc làm vốn không thiếu trong thành phố, trưởng phòng nhân sự nhún vai, thẳng thắn: "Chúng tôi đã thử, nhưng không hiệu quả. Những dịch vụ làm việc trước đó với tôi đều không hết lòng. Nối kết nhân lực là một việc làm khá tế nhị. Không phải chỉ đếm đủ số người, nộp đủ các bộ hồ sơ là xong. Điều mà giới nhân sự như chúng tôi cần ở nhà môi giới như các bạn là sự tư vấn, tìm kiếm chính xác ứng viên cho khách hàng, làm dịch vụ nhân lực đúng nghĩa. Người ta nói quá nhiều về việc cung và cầu nguồn nhân lực sinh viên không gặp nhau. Nhưng để tháo gỡ nó như thế nào, thì tôi chưa thấy ai thật sự có giải pháp tốt!". Hải gật đầu: "Về việc này, ông có thể tin vào chúng tôi. Đúng năm ngày nữa, ông sẽ có trên bàn các bộ hồ sơ tốt nhất của chúng tôi!". Trên đường về, cả hai im lặng, đuổi theo những suy nghĩ miên man. Dù có tài phán đoán đến đâu, thì thực tế vẫn luôn biết cách khiến người ta phải ngỡ ngàng. Vĩnh chợt hỏi: - Cậu nghĩ gì về những điều ông trưởng phòng nhân sự mới nói hồi nãy? Thoáng chút đắn đo, Hải trả lời bằng câu hỏi: - Có phải ý cậu là Hội của khoa và trường có tiềm năng làm được rất nhiều cho sinh viên. Nhưng tiềm năng đó chưa được khai thác hết? - Đúng vậy! Tớ nghĩ, sinh viên trường mình, nhất là sinh viên năm cuối, nỗi lo lớn nhất chính là tìm việc sau khi tốt nghiệp. Than thở vậy thôi, nhưng trước sau gì, ai cũng kiếm được một công việc nào đó. Triển vọng có, bèo nhèo cũng có. Đủ hết! - Vĩnh phân tích - Không hiếm sinh viên tụi mình ra trường có khả năng, nhưng thiếu cầu nối, phải nhận làm đủ loại việc dưới năng lực. Vấn đề ta suy nghĩ ở đây không phải là thất nghiệp hay có việc làm. Ta nên thử hỏi, hiện nay, sinh viên Quản trị tốt nghiệp có tìm được việc làm xứng đáng hay không. Triển vọng được đào tạo, thăng tiến mới là yếu tố quan trọng, Hải ạ. - Ừ, tớ hiểu rồi. Nhưng nói thiệt, sinh viên tụi mình ít ai nhìn xa vậy lắm. Trước mắt ai cũng chỉ mong ra trường, có việc, kiếm tiền phụ giúp gia đình. Sau đó, vài năm đi làm có kinh nghiệm, rồi tính tiếp. - Đành vậy. Nhưng tất cả những gì tụi mình vừa trao đổi, có gợi cho cậu một ý tưởng nào không? - Vĩnh nheo mắt, cười. Lâu lâu, họ lại thử tài nhau kiểu này. - Có! - Ngay tức khắc, Hải đọc ra ngầm ý của bạn - Đây là một gợi ý tuyệt vời để chúng ta lập ra một công ty tư vấn, một công ty săn đầu người đúng nghĩa, phải vậy không? - Chính xác. Cậu hãy ghi nhớ ý tưởng này. Cứ xem việc ở Hội cũng là một bước thực tập cho công ty của chúng ta trong tương lai. Sau khi cậu đi học ở Sing về, tớ cũng lấy xong bằng MBA, tụi mình sẽ cùng triển khai các dự án lớn. - Nghe thấy "tương lai" quá! - Hải bật cười. - Ừ, có vẻ hơi viển vông. Nhưng tụi mình là bạn. Không chỉ bây giờ... Câu nói của Vĩnh để lại trong Hải cảm giác xúc động sâu xa. Một tương lai chung đồng nghĩa họ sẽ là những người bên nhau, gắn bó lâu dài. Cuối cùng thì họ đã tìm thấy lại tình bạn. Nhưng ở một tầng ý nghĩa mới mẻ. Cả hai tiếp tục những cuộc truyện trò. Trong bất cứ chủ đề là gì, họ càng ngày càng nhận ra những tương hợp, về cách nhìn nhận cuộc sống, về lựa chọn tương lai, về ý thức danh dự... Vĩnh hiểu biết rộng. Trước một sự kiện, anh thường xuyên đưa ra những phân tích sâu sắc bao nhiêu thì ngược lại, Hải là người suy xét việc đó từ góc nhìn thực tế, khả thi nhất. Ở khía cạnh nào đó, họ nể phục nhau, ở chỗ không bao giờ nhường bước trước cản trở, càng không dành chỗ cho sự xuất hiện của thái độ thụ động, yếm thế hay buồn bã chua chát. Mỗi khi người này tìm ra một giải pháp, người kia sẽ biết cách triển khai nó, để giải pháp đó được thực hiện một cách hoàn hảo. Đúng như Vĩnh dự đoán, việc Hải thay thế anh ra tranh cử chức chủ tịch đã trở thành một sự kiện gây chấn động sinh viên khoa Quản trị. Trong mắt đám đông, ấn tượng về Hải quá mờ nhạt. Một số người đã đến chúc mừng Hữu, xem như cậu ta thắng cuộc sớm. Nhưng với những người thông thạo hơn, họ dự đoán nếu có sự chống lưng của một cựu chủ tịch giàu kinh nghiệm như Vĩnh, gió có thể đổi chiều vào phút cuối. Tin đồn râm ran. "Thời gian quả là quá ít ỏi để anh Hải kịp làm được điều gì đó cho ra hồn. Mà trước tiên. anh ấy cần chịu khó đánh bóng hình ảnh giùm một cái. Anh Hải nhìn chân thật mộc mạc đó. Nhưng chủ tịch Hội của dân Quản trị tụi mình thì vậy đâu có đủ, phải khá hơn nữa chứ. Phải hoạt bát, văn minh và biết tạo thiện cảm. Một người nhanh nhẹn và nhiều kinh nghiệm như anh Hữu mới nên!" - Vỹ, cậu sinh viên năm dưới hoạt động trong ê- kíp của Hữu, mang kiến thức marketing ra phân tích. Sự phân rẽ trong cử tri không còn khó thấy. Một số bạn trước đây ủng hộ Vĩnh, nay cũng chuyển hướng, dành chú ý cho Hữu. Họ không thể hiểu nổi, một người bình thường như Hải thì có thể làm được gì. Ê- kíp của Hữu hoạt động thực sự hiệu quả. Giờ học ở giảng đường, các sinh viên thường nhận trên mặt bàn cây bút quà tặng kèm tờ rơi thông báo một buổi họp mặt lấy ý kiến đóng góp cho chủ tịch Hội tương lai. Chiêu này do Hữu đích thân đứng ra tổ chức. Vì lý do nào đó, một vài kẻ quá khích bắt đầu nhìn Hải dưới con mắt biếm họa. Có lần, bước vào lớp, Hải nhận ra không khí im lặng khó chịu. Mọi người lén nhìn anh. Hải ngoảnh lại phía sau. Trên tấm bảng, ai đó vẽ bằng phấn hình Vĩnh đang đưa cao một cánh tay làm động tác múa rối. Con rối trên tay Vĩnh có khuôn đầu vuông và mái tóc ngắn sát, đặc điểm không lẫn vào đâu được của riêng Hải. Vĩnh lưu ý Hải cần hết sức bình tĩnh trước các công kích hay nhận xét bất lợi. Một cách kín đáo, cả hai dán một loạt thông báo các công ty tuyển dụng nhân lực sinh viên. Bên dưới thông báo, yêu cầu nộp hồ sơ gửi về văn phòng khoa. "Tại sao không để tên cậu hay tớ để các bạn biết đến?" - Hải nóng ruột thắc mắc. Vĩnh điềm tĩnh: "Chúng ta sẽ chứng minh bằng hiệu quả công việc. Đó là cách thực hiện dự án Liên kết tài năng tốt nhất. Nếu gây ồn ào phô trương thanh thế vào lúc này, các bạn tưởng đây là trò quảng cáo của chúng ta không chừng. Lúc đó, ta cũng không hoàn thành lời hứa với bên mấy công ty đâu!". Ngay cả khâu xem xét lựa chọn, phân loại hồ sơ của từng ứng viên sao cho phù hợp hơn cả với nhà tuyển dụng, cũng tự tay Vĩnh và Hải thực hiện. Từ hơn một trăm bộ hồ sơ nhận về, họ lọc ra tám mươi ứng viên, gửi về các công ty đặt hàng. Sau hơn một tuần, không nằm ngoài dự đoán của Hải và Vĩnh, đúng năm mươi sinh viên giỏi nhất đã tìm được vị trí thực tập thích hợp. Đến lúc đó, câu hỏi "Ai là người thực hiện dự án kết nối hữu ích?" mới được đặt ra. Một cái nhìn hoàn toàn khác của đám đông hướng về Hải. Sự thiếu tin cậy dần dần lắng xuống và biến mất. Ấn tượng "việc làm tại công ty" mau chóng lấn át "mũ bảo hiểm miễn phí". Tuy nhiên, vẫn còn đó sự ngờ vực. Có thật là kế hoạch của Hải hay Vĩnh mới là người vạch ra và thực hiện? Câu hỏi treo lơ lửng trong các cuộc tụ tập của sinh viên. Tan buổi học chiều, Vĩnh và Hải cùng ra bãi giữ xe. Nét mặt Hải lầm lì. - Cậu có khó chịu vì các đồn thổi, đúng không? - Vĩnh hỏi thẳng. Hải gật: - Đương nhiên là có! Vĩnh lắc đầu: - Nếu khó chịu, là sập bẫy. Giai đoạn này, đừng nghe ai hết. Chỉ tin cậy vào chính mình! - Tớ hiểu! - Hải đồng ý, giọng quả quyết - Tớ đang nghĩ phải có thêm một hoạt động nào đó, có thể triển khai từ bây giờ cho đến hết năm. Quan trọng là mang lại lợi ích thiết thực cho sinh viên. Dù ê- kíp của ta có thắng hay không! - Nghe được đấy! - Vĩnh phụ Hải nhấc đuôi mấy chiếc xe máy ngổn ngang để lấy xe của Hải ra - Cậu có hướng gì chưa? - Hôm bữa tụi mình đọc hồ sơ của các bạn, cậu có để ý trình độ tiếng Anh của sinh viên khoa mình không cao lắm. Thua hẳn bên khoa Ngoại thương hay Du lịch. Nói thiệt, hồi đó, nếu cậu không phụ tớ tiền đi học lại tiếng Anh, tớ bây giờ cũng vẫn yếu kém. Cú hích ban đầu quan trọng lắm. Tớ nghĩ, chúng ta thử liên hệ với một số trung tâm ngoại ngữ, kiếm học bổng hoặc đề nghị chương trình giảm giá cho các bạn xem ra cũng ổn... - Hay đó! Sáng mai, tụi mình làm luôn! - Vĩnh thầm nghĩ chính tấm lòng nhân hậu khiến Hải luôn đồng cảm, nhìn ra những vấn đề của người khác. Xe Hải bị xì bánh sau. Vĩnh vội, phải phóng về công ty trước. Hải dắt xe sang đường, đến tiệm sửa xe vỉa hè. Anh mua một tờ báo, chăm chú đọc. Thình lình, mắt anh tối om. Hai bàn tay bịt mắt anh từ phía sau. Cố gắng vùng ra, anh quát lên: "Ai?". Tiếng nói líu ríu vang bên tai: "Anh không nhận ra Hikaru sao?". Hải ngoảnh phắt lại. Thái Vinh đứng sau lưng anh, nghiêng đầu, miệng cười. Nhưng dưới đáy hai con mắt viền đen, hắt lên tia sáng kỳ lạ, gợi cảm giác vô cùng u ám. ... Mời các bạn đón đọc Mắt Bão của tác giả Phan Hồn Nhiên.
The Joker - Phan Hồn Nhiên
Sau cái chết đột ngột của người bạn gái, Huy cảm thấy vô cùng bất an và nghi vấn, anh quyết định dấn thân tìm sự thật. Bắt đầu từ những manh mối nhỏ nhất, bằng sự khéo léo và kiên định, Huy đã khám phá những bí mật đằng sau cái chết và những uẩn khúc trong cuộc đời bất hạnh của cô gái. "The Joker" là cuộc "rượt đuổi" căng thẳng về trí tuệ giữa các nhân vật. Đó cũng là một thể nghiệm viết mới của nhà văn Phan Hồn Nhiên: giải mã những bí mật tâm lý để qua đó hình thành một câu chuyện ly kỳ, gay cấn... *** - Ổn cả chứ? Chốc nữa, anh có cần tôi đưa lên nhà không? - Tôi sẽ tự đi được! - Huy lẩm bẩm, như thể đang nói với một người xa lạ, không liên quan, chứ chẳng phải kẻ đã ra tay nện mình nhừ tử. Luồng khí lạnh từ máy điều hòa chiếu thẳng vào ngực áo lấm ướt khiến anh run nhẹ, đề nghị - Nếu tăng nhiệt độ lên một chút thì tốt! Hơn 12 giờ đêm. Những xe tải và container chở hàng như bầy thú khổng lồ nối nhau kéo vào thành phố. Đoạn rẽ ở một ngã ba, xe đổ vào càng đông đúc. Phát lái chậm hẳn, giữ chiếc xe nhỏ chạy với tốc độ 50km/h. Thảng hoặc, Huy ngỡ như có một bóng người đang kiên trì bám theo, cố gắng nhìn anh qua cửa kính. Nhưng, chỉ là vài vệt đèn sáng từ chiếc xe nào đó lướt nhanh trên cánh cửa phía bên anh ngồi. - Đôi khi tôi lại hành động như một kẻ mất kiểm soát. Nói theo kiểu của Minh, là dấu vết của tuổi niên thiếu bị bỏ mặc, lạc lõng và mất phương hướng - Phát giải thích chầm chậm, đột nhiên mỉm cười. Nụ cười biến gương mặt anh ta thành cái đầu sọ kiệt sức, nỗ lực bày tỏ xúc cảm cuối cùng - Nhưng, giá như anh đừng dò xét, đừng bới tung những thứ đã được sắp xếp đúng chỗ, thì tôi không tốn công sức gây ra những rắc rối như thế này đâu... Mắt vẫn mở to, nhìn thẳng về phía trước, Huy im lặng. Gương mặt anh cứng đờ. Các khối cơ tê dại. Lớp da trên mặt đã biến mất, trở thành cái mặt nạ trơ lỳ, bất động. Toàn bộ con người anh chia làm hai phần rõ rệt. Phần thân thể nhức nhối, bị sợi dây bảo hiểm ràng qua ngực như sắp thắt chặt buồng phổi. Vai và gáy anh đau đến mức tựa nhẹ vào lòng ghế da mềm cũng trở thành cực hình. Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, đầu óc anh vô cùng sáng suốt. Đến mức mọi hình ảnh, từ ngữ khi dội đến đều hiện ra với ý nghĩa thật của nó. Bàn tay với những ngón tay dài mảnh đặt hờ trên vô-lăng, Phát vẫn nói, giọng đều đều, không ngưng nghỉ. Dường như anh ta chỉ chờ đến lúc này đây, chọn chính kẻ mà anh vừa bạo hành, không còn sức cựa quậy, để phơi bày một góc sự thật con người anh ta bấy lâu nay giấu kín: Một cậu con trai hời hợt. Các mong muốn dễ dàng được đáp ứng. Những ngày tháng sống nhàn tản, chẳng buồn bận tâm bất cứ điều gì bên ngoài bản thân. Rồi Minh xuất hiện, trong thời gian ngắn ngủi bẻ ngoặt chuỗi niềm tin ngây thơ trong đầu anh ta qua một hướng khác. Phát hiện về một thứ cảm xúc lớn lao mà cô ta có thể đem tới, lớn hơn cả dục vọng. Nó gần giống như sự che chở của một người mẹ, thứ tình cảm anh ta không biết đến từ khi còn nhỏ. Nhưng những ngày đẹp đẽ ấy không kéo dài. Sau đó, một vài xung đột tầm thường của hai người yêu nhau cứ liên tục kéo đến, không sao kiểm soát. Cái chết tình cờ của cô gái quỷ quyệt ấy khiến anh ta sợ hãi, nhưng cũng thật nhẹ nhõm khi ngỡ rằng đã được giải thoát hoàn toàn... Quá nhiều ngôn từ. Quá nhiều hành động không rõ mục đích. Hồ như tất cả những con người chung quanh đều nỗ lực chuyển động. Chuyển động cuồng loạn mà cũng không dám đoan chắc đích đến. Mỗi kẻ hành động đều có lý do chết tiệt nào đó. Không ai quan tâm ai cả. Và rốt cuộc, điều cuối cùng mà người ta có thể nhận ra, như Huy lúc này nhận ra, là quá nhiều thương tổn thương không thể cứu chữa được nữa. Cơn mưa li ti rơi xuống, không tiếng động. Tránh chiếc xe du lịch ngược chiều phóng như điên, cỗ xe tải ở ngay phía trước xe của Phát đánh mạnh tay lái về bên phải. Đám đất cát chất cao có ngọn trong thùng xe chuồi xuống một góc, tung tóe thành lớp bụi đỏ dày đặc, bao phủ đoạn đường phía sau. Bụi và nước mưa mau chóng biến thành lớp bột nhão loang lổ trên lớp kính. Trái với phán đoán của Huy, người điều khiển xe bỗng nhiên tăng tốc đột ngột. Như một con vật mù lòa điên cuồng, cỗ xe nhỏ màu đen lao về phía trước, lách giữa khoảng đường hẹp hiện ra lờ mờ giữa hai làn đường. Trong tích tắc, Huy thấy đuôi chiếc container xám bạc hiển hiện sát ngay trước mặt. Chỉ một phần mười giây thôi, cả chiếc xe con sẽ trôi tuồn tuột, lọt thỏm vào dưới gầm xe, chắc chắn. Đúng khi tấm kính trước mặt họ chỉ cách cạnh dưới của cái hộp sắt khổng lồ chưa đầy nửa mét, Phát đạp thắng, đột ngột. Nếu không có dây bảo hiểm, cả cơ thể Huy đã vọt thốc về phía trước, xuyên qua kính như một viên đạn. Cái cảm giác vừa tiếp xúc với cái chết, quá gần, khiến Huy buồn nôn kinh khủng. Để trấn áp nó, anh ngoảnh sang người bên cạnh, hỏi thẳng: - Anh làm gì vậy? - Anh đã nếm được cảm giác khiếp hãi thật sự, đúng không? Giống hệt như cảm giác anh đã gây ra, khi dai dẳng bám theo tôi, hỏi han về nguyên nhân cái chết của Minh. - Nếu anh không liên quan trực tiếp vụ việc đó, vì lẽ gì nó ám ảnh, khiến anh phải tốn quá nhiều mưu mẹo? - Huy lạnh nhạt. - Anh muốn tôi nhắc lại sự thật bao nhiêu lần nữa đây? - Người cầm lái nhếch môi. Dù anh ta tỏ ra hờ hững nhất, thì Huy vẫn cảm thấy anh ta đang tìm cách che đậy một thứ gì đó, mơ hồ, nhưng không phải không có thật. Đèn đỏ. Dòng xe dừng hẳn. Bảng hiệu giao thông vươn ra tận giữa lòng đường. Các vệt đèn điện tử hắt xuống chùm tia màu đỏ sẫm, vuông góc với lớp kính chắn gió. Chúng kết hợp với bùn đất và nước mưa loang lổ trên kính như một thứ máu đặc sánh ri rỉ. Bấm nút điều khiển cần gạt, các ngón tay Phát vuốt nhẹ gương mặt hốc hác: - Tôi căm ghét Minh. Căm ghét các trò diễn quái quỷ của cô ta. Căm ghét tình thế lố bịch cô ta đẩy tôi vào. Cô ta lấy đi của tôi tất cả những gì tôi từng tin là đáng giá nhất. Tôi ngáng đường anh, vì tôi không muốn chung quanh biết được bí mật tồi tệ giữa tôi và cô gái ấy. Sự thật chỉ có vậy. Anh hài lòng rồi chứ? - Quỳnh thì sao? Anh từng gặp gỡ cô ta, đúng không? - Đúng. Nhưng chẳng có gì đáng kể. Tôi bám theo cô ta, để hỏi thăm và gắng liên lạc với Minh. Nhưng cô ta lại ra sức bảo vệ chị họ. Một cô gái cứng đầu. Trò thách thức của cô ta cũng đáng căm ghét như thái độ tự phụ của chị họ cô ta vậy! - Được rồi. Bây giờ thì cho tôi biết rõ hơn một chút về bí mật tồi tệ giữa anh và Minh đi! Nhưng Phát không nói gì nữa. Suốt quãng đường còn lại, anh ta hoàn toàn chú mục vào tay lái. Chiếc xe lướt trên mặt đường nhựa trơn mượt, lao về phía đầu kia thành phố. Huy nhắm mắt, thở nhẹ. Bằng trực giác, đột nhiên, anh nhận ra người ngồi cạnh bên đang khóc. Không có âm thanh nào. Đơn giản là nước mắt ứa ra, ràn rụa, không cách gì ngăn lại. Điều hòa không khí trong xe tắt. Cửa kính hai bên cửa hạ xuống. Gió đêm thốc vào. Lạnh. Mạnh. Trong sạch. Xe dừng dưới chân chung cư Huy sống. Họ vẫn ngồi im trong xe, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng biệt. Cả hai đều biết rõ, câu hỏi và câu trả lời buộc phải đưa ra, nếu một trong hai người lên tiếng đề cập. Nhưng, Huy hiểu, tốt nhất là không nói thêm gì nữa. Đừng mong thông tin kiếm được dễ dàng từ miệng kẻ khác. Nếu có được, cũng chỉ là thứ tin tức sai lạc. Cuối cùng, người ta chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân mình. Tháo dây bảo hiểm, anh đưa tay kéo chốt cửa. Ánh đèn vàng bật sáng tức khắc nhúng mọi thứ trong xe vào dòng sáng hổ phách. Gương mặt đã khô lạnh của Phát hướng thẳng về Huy. Con ngươi trong mắt anh ta giãn rộng. Không phải là vẻ ân hận, mà là sự bàng hoàng kinh sợ không sao hiểu nổi. Rồi anh ta mấp máy môi, thì thào, như nói với chính mình: "Bỏ qua hết đi... Vì tất cả chúng ta đều cô độc!". Tình thế kỳ dị. Không tìm được câu hỏi nào khả dĩ, Huy nhặt chiếc phong bì vàng, lẳng lặng xoay lưng. Ngay khi đế giày mềm chạm xuống mặt đường, một phản chiếu thoáng qua trong kính chiếu hậu khiến anh tê dại. Huy đã hiểu, vì sao Phát lại khiếp sợ như thế khi nhìn rõ mặt anh. Toàn bộ gương mặt anh giờ đây là hình ảnh lặp lại của một hình ảnh có sẵn. The Joker. Suốt phần còn lại của đêm, Huy ngồi trước máy tính. Anh mở chiếc phong bì, xem kỹ các chi tiết cần chỉnh sửa, sau đó bắt tay vào các việc cần làm. Càng vẽ, đầu óc anh càng tỉnh táo. Trong khi chỉnh các đường viền mới cho lưng chiếc ghế gỗ, anh nhìn thấy lại mối quan hệ giữa Minh và Quỳnh. Thoạt đầu là sự trấn áp. Con thú tinh ranh và trải nghiệm dẫn dắt con thú nhỏ hơn, khờ khạo hơn bước theo con đường nó đã đi qua. Tuy nhiên, vào lúc không ngờ nhất, con thú nhỏ đã chống cự, vùng chạy. Vì dù yếu ớt và sợ hãi, nó vẫn biết rõ nó sẽ phải đi con đường của riêng mình. Đây chính là lời giải tốt nhất, cho thái độ yêu quý, tìm hết cách để che chắn, bảo vệ cho chị họ, nhưng đồng thời cũng vẫn gửi đi một thông điệp âm thầm cho anh biết không bao giờ là bản sao của Minh nữa, từ Quỳnh. Đặt lại các cánh cửa đã thay đổi số đo vào khung xương tủ, Huy nhìn thấy rành mạch sự gắn kết giữa Minh và Phát. Anh đã bị đánh lạc hướng bởi sai lầm ngay từ đầu, khi tin rằng giữa hai người ấy là tình yêu. Chẳng có tình yêu nào hết. Anh ta chỉ là một tấm chắn. Thông qua Phát, Minh tiếp cận một người khác. Người đã theo dõi anh khi anh đột nhập nhà trọ của Minh. Chủ nhân thật sự của chiếc mô-tô, kẻ đã tấn công anh hầu chiếm lại chiếc USB chứa đựng bí mật nguy hiểm. Người bị ghi hình, khi tàn nhẫn đánh đập Minh. Cũng chính là người giờ đây khiến Quỳnh khiếp sợ, phải lẩn trốn... Bất giác, anh nhìn ra cánh cửa lớn. Chờ đợi tiếng gõ nhẹ. Nhưng không ai cả. Giống như một bài toán hình không gian, khi anh nối các điểm đã xác định được, những hình ảnh dần hiện ra. Huy đứng dậy, bước đến tủ lạnh, rót một cốc nước đầy và uống cạn. Đột nhiên, anh nhớ quãng thời gian hồi chín tuổi, hoặc nhỏ hơn, anh từng ốm một trận rất nặng. Đến mức anh tin mình sẽ chết. Điều ấy làm anh khổ sở ghê gớm. Nhưng sau cơn mê sảng khiến thân thể muốn vỡ tung ra như các mảnh gỗ ghép lại, anh lại nghĩ thật tuyệt nếu được chấm dứt tất cả. Đó là ý nghĩ kỳ dị với một đứa trẻ nhỏ, anh biết, nên không nói với ai cả. Ngay cả khi cơn ốm qua khỏi một cách kỳ diệu, thì mãi mãi sau này, anh vẫn không quên trải nghiệm có những thời khắc người ta rất thèm được buông xuôi, được thua cuộc. Rồi trí nhớ trôi dạt của anh lại hướng về Quỳnh. Hoàn toàn không đúng lúc, hiện ra hình ảnh cô khỏa thân hoàn toàn. Không có gì che chắn. Yếu ớt. Khoảng vai hẹp nhô lên. Đường cong nhẹ của khoảng ngực gầy. Tấm lưng bầm tím. Gương mặt lạc lõng, xa cách ngay với thân thể của chính mình... Nếu lúc khác, hẳn anh đã tự trách mình bởi các tưởng tượng tồi tệ. Nhưng giờ đây, ngược lại, anh bấu víu vào những hình ảnh ấy. Có thật cô ấy cần anh không hay là anh tự vẽ ra? Có thật là từng có giây phút, cô ấy tin cậy, trao cho anh tất cả con người cô, chẳng ngại ngần? Cái buổi sáng kỳ dị ấy, có thật không hay là anh tưởng tượng nên? Nếu là mơ, thì nó quá đẹp và sinh động. Nhưng nếu là thật, thì vì sao anh lại một mình đứng đây, đứt lìa mọi liên lạc với cô gái lạ lùng? Các cánh cửa đều mở. Ngoài âm thanh rù rì của máy vi tính, căn phòng trống rỗng. Gió đã biến mất. Những rèm cửa phẳng lặng. Nhiệt độ quanh anh không thay đổi. Anh đứng im, nhìn ra khoảng trời đêm. Vệt đèn sáng nhấp nháy bên dưới chiếc trực thăng đang bay qua bầu trời thành phố như một con mắt nhìn anh từ trên cao, mệt và buồn, nhưng thấu hiểu. Cảm giác tổn thương, nỗi sợ hãi, sự giận dữ lâu nay tích tụ trong anh chầm chậm đổ sụp xuống. Anh dựa lưng vào tường, run rẩy, nhìn vào đống đổ nát hỗn loạn bên trong chính mình. Kiệt sức. Nhưng, ít nhất, anh đã chiến đấu, không bỏ cuộc. Ít nhất, anh đã chống cự lại sự mục ruỗng của mong muốn thỏa hiệp. Ít nhất, trong cuộc săn đuổi con quái vật vô hình, anh đã không biến thành một con quái vật mới, vô cảm, thô bạo và lạnh lẽo. Dưới ánh sáng của ngọn đèn néon trắng, cái bóng anh trên mặt sàn mỗi lúc thêm sẫm lại, như một người khác, cũng đang lặng lẽ quan sát anh. Huy vào phòng tắm, mở nước lớn. Vài vệtmáu dưới mũi và quanh miệng anh đã khô. Dưới làn nước mạnh, chúng trôi đi mộtcách dễ dàng. Anh tắt vòi nước đột ngột, ngẩng lên. Trong gương, làn da trắngsáp của cái mặt nạ vẫn còn phảng phất. Một chỉ dẫn kỳ dị, nhưng không thể rõràng hơn. Khi hàng loạt suy nghĩ, phỏng đoán không tìm ra câu trả lời, thì vớimột hình ảnh tình cờ của gã hề gây rối loạn, mọi thứ bỗng xếp đúng vị trí. Manhmối cuối cùng đã được tìm thấy. Anh sẽ đến tìm gặp kẻ cần gặp ấy, ngay khi trờisáng. ... Mời các bạn đón đọc The Joker của tác giả Phan Hồn Nhiên.
Dạt Vòm - Phan Hồn Nhiên
Truyện kể về hành trình đi tìm "cuộc sống mới" của một chàng trai, sau khi tự từ bỏ chính mái ấm của mình. Những suy nghĩ, những âu lo.... của một thanh niên trước cuộc sống tự lập. Vẫn cách viết sắc sảo và lôi cuốn của tác giả, Dạt vòm buộc bạn đọc đến trang cuối cùng. Một nội dung quen thuộc với tuổi mới lớn: tôi đã lớn lên thế nào. Quá trình va đụng giữa cá thể tôi với xã hội, với những người xung quanh; giữa những giá trị nguyên sơ sách vở với thực tế phũ phàng; những khám phá mới về bản thân… tất cả được thể hiện sinh động dưới ngòi bút tinh tế của tác giả. Có thể tóm tắt cuốn truyện bằng những dòng sau: Một chuyến đi nổi loạn của tuổi trẻ… Những khám phá lạ lẫm về cuộc sống… Những bí mật phức tạp giấu kín… Những mất mát khó hồi phục… Và một lần tìm thấy… Như những truyện khác, truyện vừa này rất thú vị.  *** Cái chết của Châu đã bứng đi khỏi tôi một điều gì đó. Khoang bụng tôi trống rỗng. Vòng tay tôi trống rỗng. Và đầu óc tôi cũng trống rỗng. Tôi sống với khoảng không mênh mông, hoang mang hơn tất cả những gì tôi đã cố hình dung trước đấy. Tôi không khóc, cũng cũng buồn thảm kiệt quệ. Chỉ đơn giản là tôi vắng vẻ đến cùng cực. Bà chủ nhà đã trở về sau chuyến du lịch châu Âu. Tôi giao lại chùm chìa khoá cho bà cụ, rồi đeo ba-lô lên đường. Tôi đi về miền tây, ngồi trên ghe đi qua các kênh rạch. Sau đó tôi vòng ra miền trung, đi dọc theo quốc lộ. Tôi sống vạ vật. Một ngày ăn hai lần. Chỉ nhớ đổ xăng đầy bình. Rồi lang thang theo đường viền chân núi. Thỉnh thoảng ghé vào một nhà trọ rẻ tiền, trú mưa. Chẳng có địa chỉ nào cụ thể. Điện thoại tôi khoá lại. Có một đêm, tôi đắp áo gió, ôm mũ bảo hiểm trước bụng, ngủ trên băng ghế đá, dưới những cây phi lao gần sát mí biển Nha Trang. Khi tỉnh dậy, có một người trung niên ngồi gần phía chân tôi, hút thuốc. Ông ta đội một cái mũ nhung mềm, xụp xuống trán. Tôi ngỡ kẻ gian định lấy trộm xe. Nhưng người trung niên ấy bảo tôi cứ việc ngủ. Ông ta không phải là kẻ nguy hiểm. Tôi ngồi dậy, bên cạnh một kẻ hoàn toàn xa lạ, chẳng nói gì, nhìn biển. Mặt trời mọc lên phía tay trái tôi, ửng đỏ. Còn bên tay phải, màn nước vẫn bị bóng tối âm u ngậm trong vòm miệng. Phải chăng mọi thứ trên đời này đều bị phân chia làm đôi. Đêm và ngày. Ánh sáng và bóng tối. Sức khoẻ và ốm đau. Một người vẫn sống, đi lại, trò chuyện và hít thở. Một người vĩnh viễn lặng im và dừng lại. Tôi đọc ở đâu đó nói rằng, cái chết chẳng có gì đáng sợ. Nó không phải là mặt trái của sự sống, mà chỉ là vùng tối cần thiết, một phần phải có và thuộc về cuộc sống mà thôi. Biết vậy, nhưng tôi vẫn không sao thoát được ý nghĩ cả tôi và cô ấy giờ đây đều chịu sự đơn độc, mà không sao chạy đến nâng giúp cho nhau được nữa... Người đàn ông mời tôi một cốc cà phê mà ông mang theo trong cái phích màu đỏ. Ông ta biết tôi ở thành phố, khi nhìn bảng số xe. Ông hỏi tôi có chuyện gì đau lòng hay không mà lang thang ra đến tận đây. Tôi gật. Ông ấy ta bỗng bảo vợ ông ta mất năm ngoái. Vì thế mà buổi sáng, ông thích đi ra đây nhớ vợ của mình, và ôn lại những ngày đã qua, từ khi còn là một chàng trai trẻ, nhẫn tâm, mải chơi và vô trách nhiệm. "Thật khó tin một kẻ trải đời như tôi uỷ mị thế này. Nhưng tôi cho phép mình không cứng rắn trong một thời gian. Kiên cường quá, đôi khi cũng không để làm gì!" - Người đàn ông lầm bầm. Tôi uống trong nắp phích từng ngụm nhỏ cà phê đắng, tỉnh táo. Tôi chẳng buồn chia sẻ. Chẳng ai hiểu được tôi đâu. Người đàn ông cũng không gạn hỏi gì. Ông ta lại hỏi tôi có đói bụng không và cho tôi một miếng bánh mì cất trong túi áo. Thật vô cớ, bỗng dưng nước mắt ứa đầy mặt tôi. Tôi úp mặt vào lòng tay, khóc nức nở. Nước mắt nóng chảy qua kẽ ngón, ướt nhoè lớp da tay bám đầy cát, khô rám và cáu ghét. Người đàn ông đứng dậy, mặc tôi khóc một mình cho thoả. Trước khi đi, ông ta cho tôi cái mũ nhung. "Từ đây về thành phố còn xa. Lúc nào không đội mũ bảo hiểm thì cậu đội cái này. Dù sao cũng cần phải giữ gìn đầu óc..." Tôi về thành phố vào lúc 6 giờ sáng. Tôi ghé vào một cây xăng ở ngoại ô, rửa mặt và đánh răng. Trong gương, một người xa lạ, râu lởm chởm, mặt mũi cháy nâu nhìn thẳng vào mắt tôi. Tấm lịch sau lưng tôi cũng in hình vào gương. Đó là ngày bắt đầu học kỳ mới. Mình trở lại trường đại học luôn sáng nay, tôi tự nhủ. Tôi khởi động lại mobile và nổ máy xe. Bỗng, mobile trong túi áo tôi vang lên tiếng nhạc. Linh gọi cho tôi. Cô ấy trách móc tôi luôn miệng, vì đêm qua tôi đã khoá điện thoại. Tôi im sững hồi lâu, rồi mới hiểu ra. Ừ, thì chỉ là tình cờ. Hẳn hôm qua cô ấy mới gọi lại cho tôi sau nhiều tuần giận dữ. Một chi tiết nhỏ xíu, mà khiến tôi bàng hoàng. Trong khi người này đang vỡ ra, đau đớn lớn lên, thì với người kia, cuộc sống vẫn bình lặng tuôn chảy theo nhịp điệu cũ. Hệt như chẳng có gì ghê gớm đã xảy ra giữa những lần nói chuyện thế này. Tôi đồng ý gặp lại cô bạn, nói chuyện tử tế về việc du học, cho cô an lòng. Rồi tôi tắt máy. Điện thoại lại rung lên. Con bé Hoan em tôi. Nó thầm thì hối hả: "Anh này, em nhớ anh điên lên. Anh này, em khỏi hẳn ốm rồi đấy. Anh có muốn nghe tiếng kèn trumpet em thổi không?". Tôi thử mỉm cười. Biết nói gì với một góc tâm hồn bé nhỏ trong thời điểm này? Tôi mãi đứng im ngay giữa con đường rộng. Âm thanh chói loà vang lên trong tai tôi, toả ra ánh sáng đỏ rực, chói chang. Mời các bạn đón đọc Dạt Vòm của tác giả Phan Hồn Nhiên.