Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bọn Làm Bạc Giả

Paris, những năm đầu thế kỷ 20, định mệnh đã mang tên thiếu niên ngông cuồng bỏ nhà đi, chàng nhà văn lãng tử mê phiêu bạt, gã tú tài nuôi mộng thi thư, quý phu nhân bạc nhược vì tình, tay sinh viên trường y bội bạc và cậu học sinh sa đọa bởi cám dỗ đến với nhau, rồi từng người họ lại nối kết với những người khác, tạo nên một mạng lưới quan hệ chằng chịt… Không có một cốt truyện rõ ràng, không có một đường dây xuyên suốt, từ đầu đến cuối Bọn làm bạc giả là dòng chảy tùy hứng của số phận mà qua đó, bằng ngòi bút tài tình André Gide đã tạo nên một thế giới nhân sinh sâu thẳm, đi tới tận cùng vùng tăm tối trong bản thể con người. Được xem là tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của Gide, cuốn sách này hàm ẩn cái chân lý văn chương trác tuyệt của ông và nhờ vậy mà trở nên bất tử. Nhận định "Bọn làm bạc giả là một cuốn bách khoa hiếm hoi về sự hỗn hoạn, nhu nhược và tuyệt vọng của nhân loại." - Nhà xuất bản Penguin Books "Tiểu thuyết của Gide mải mê chiêu đãi chúng ta một bữa tiệc đầy ắp những nốt nhạc và thanh âm, một mạng lưới chồng chéo những âm mưu và định mệnh. Nhưng sự hòa trộn đó không tạo nên một bản tạp âm chối tai mà là một phức điệu đích thực, một sự hỗn độn trong trật tự, hệt như một khúc fugue đầy biến động và vô phương hướng của Bach." - Giáo sư Robert Wexelblatt *** “Hình như họ muốn làm chúng ta tưởng rằng con người không có lối thoát nào khác ra khỏi tính ích kỷ, ngoài một lòng vị tha còn gớm ghiếc hơn! Tôi cho rằng nếu có cái gì đấy bỉ ổi hơn con người, và đê hèn hơn, thì đấy là số đông người. Chẳng có lí lẽ nào có thể thuyết phục được tôi là đem cộng những cá thể nhớp nhúa lại sẽ cho ra được một tổng thể tuyệt vời. Chẳng lần nào bước chân lên xe điện hoặc xe lửa mà tôi không ao ước xảy ra một tai nạn khủng khiếp biến cái đám người rác rưởi đó thành một đống nhão nhoét; ồ, kể cả tôi, tất nhiên…” ------------------- “Bọn làm bạc giả” là cuốn tiểu thuyết được coi như dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của André Gide. Chính bản thân tác giả cho rằng, đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong sự nghiệp của ông, bất chấp cả việc nó được viết  khi A. Gide đã 60 tuổi và có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ trước đó. “Bọn làm bạc giả” có nhiều tầng hình ảnh được đan lồng với nhau: những thiếu niên bị sa đà vào cuộc hoan vui; sự lưu hành tiền giả khiến người ta phải đặt ra câu hỏi: tiền giả chỉ đơn giản là tiền hay là sự phơi bày cảm xúc dối trá của con người; chuyện ngoại tình của các ông bố bà mẹ; chuyện sáng tác văn chương, chữa bệnh tâm thần bằng phương pháp tâm lí,…những vấn đề mang tính chất thời sự nóng hổi lúc bấy giờ. Cuốn tiểu thuyết mở ra từng dòng tự sự về thiếu niên ngông cuồng bỏ nhà đi, chàng nhà văn lãng tử mê phiêu bạt, gã tú tài nuôi mộng thi thư, quý phu nhân bạc nhược vì tình, tay sinh viên trường y bội bạc và cậu học sinh sa đọa bởi cám dỗ đến với nhau, rồi từng người họ lại nối kết với những người khác, tạo nên một mạng lưới quan hệ chằng chịt…Các nhân vật được xây dựng rất phức tạp với nhiều lớp lang về xuất thân, tư tưởng, hành động, tái hiện một bức tranh toàn cảnh đời sống tầng lớp thị dân Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.  “Bọn làm bạc giả” không được sắp xếp theo trình tự thời gian nhất định mà bị phá vỡ khi A.Gide đã đưa vào tác phẩm những trang nhật ký của nhân vật nhà văn Édouard. Ông đã viết rất nhiều tác phẩm và tác phẩm tiếp theo đây cũng có cái tên “Bọn làm bạc giả”, nói cách khác, cuốn sách của A.Gide là tiểu thuyết bên trong tiểu thuyết .  *** Bernard tự nhủ: - Bây giờ nghe như có tiếng bước chân ngoài hành lang thì phải. Hắn ngẩng đầu nghe ngóng. Không phải: cha và anh hắn ở lại tòa án, mẹ hắn bận đi thăm viếng, chị gái đi dự hòa nhạc; còn thằng út, thằng Caloub, thì trường học đã cầm chân hắn mỗi ngày sau khi bãi trường. Bernard Profitendieu ở nhà hì hục học thi tú tài, còn ba tuần lễ trước mặt hắn nữa thôi. Gia đình tôn trọng sự tịch mịch của hắn, ngạ quỷ thì không. Bernard đã cởi áo veston mặc ngoài mà vẫn khó thở. Từ khung cửa sổ mở ra đường, chỉ có sức nóng ùa vào. Trán hắn nhễ nhại. Một giọt mồ hôi chảy xuống sống mũi, và rơi xuống lá thư hắn đang cầm nơi tay. Hắn nghĩ: “Diễn trò nước mắt rồi đây. Nhưng thà chảy mồ hôi còn hơn là chảy nước mắt.” Phải, ngày tháng đã rành rành. Không nghi ngờ vào đâu được: thư liên quan đến Bernard, chính hắn. Thư gửi cho mẹ hắn, một lá thư tình mười bảy năm xưa, không kí tên. - Chữ cái này là nghĩa gì? Chữ V, cũng có thể là N lắm chứ... Có nên hỏi mẹ không?... Mình hằng tin tưởng ở sự biết điều của mẹ. Mình tự do tưởng tượng một ông hoàng nào đó. Còn hơn nếu vỡ lẽ mình là con của một tên ma cô nào thì sao? Không biết cha đẻ là ai, mình mới đỡ sợ phải giống ông ta. Mọi cuộc điều tra đều sinh trói buộc. Đáng kể chăng là sự nhẹ nhõm. Đừng đào sâu. Hôm nay thế cũng đủ cho ta rồi. Bernard gấp thư lại. Thư cùng một khổ giấy với mười hai lá thư khác trong gói. Một dải màu hồng buộc lại tất cả mà hắn không cần phải tháo ra, hắn chuồi thư vào đó để thắt cả xấp lại như cũ. Hắn đặt xấp thư vào chiếc hộp nhỏ rồi đặt chiếc hộp vào ngăn kéo bàn. Ngăn kéo không phải mở ra, nó đã tiết lộ bí mật bằng ngỏ trên. Bernard chắp nối những miếng rời của mặt gỗ đỡ tấm mã não phủ lên. Hắn nhẹ tay thận trọng, sập tấm mã não xuống, đặt lại lên trên đó hai giá đèn bằng pha lê cùng với chiếc đồng hồ kềnh càng mà hắn vừa mới đem ra sửa chơi. Đồng hồ gõ bốn tiếng. Hắn vặn lại cho đúng giờ. - Hai cha con ông dự thẩm và ông luật sư không về trước sáu giờ đâu. Ta đủ thì giờ. Thế nào cũng phải cho ông dự thẩm về thấy trên bàn tờ thư đẹp đẽ trong đó ta sẽ nói ý nghĩa sự ra đi của ta. Nhưng trước khi viết, mình thấy rất cần giải thông tư tưởng một chút đã và đi tìm gặp thằng bạn Olivier để cầm chắc một chỗ đậu, ít nữa là tạm thời. Olivier bạn thiết của ta ơi, đã đến lúc ta thử lửa tính chiều lòng của cậu và để cho cậu chứng tỏ giá trị của cậu với ta. Cái đẹp trong tình bạn của hai đứa chính là từ trước tới nay chúng ta chưa hề lợi dụng nhau. Nào! Yêu cầu giúp đỡ một việc ngộ nghĩnh chắc không đến nỗi tẻ nhạt. Phiền nỗi Olivier không ở một mình. Mặc, ta sẽ tìm cách tách riêng hắn ra. Ta muốn cho hắn hoảng kinh vì sự trầm tĩnh của ta. Chính trong cõi bất thường mình mới cảm thấy mình tự nhiên hơn hết. Con đường T..., nơi Bernard Profitendieu sống cho tới hôm nay ở gần sát vườn Luxembourg. Tại đây, cạnh hồ nước Médicis, trên lối đi nhìn xuống hồ nước, mấy đứa bạn hắn có thói quen hẹn nhau mỗi ngày thứ tư từ bốn đến sáu giờ, chuyện trò về nghệ thuật, triết học, thể thao, chính trị và văn học, Bernard bước đi rất nhanh, nhưng khi qua khỏi cổng vườn, hắn nhác thấy Olivier Molinier và lập tức chậm chân lại. Cuộc hội họp hôm đó đông đảo hơn lệ thường, có lẽ vì đẹp trời. Có vài đứa nhập bọn mà Bernard chưa quen. Mỗi đứa trong bọn trẻ này, hễ đứng trước cả bọn, là đóng một vai trò và hầu như mất hết tự nhiên. Olivier bừng đỏ mặt khi thấy Bernard đi tới và, khá đột ngột, hắn bỏ người thiếu nữ đang chuyện trò, lảng ra xa. Bernard là bạn thân thiết nhất của hắn, vì thế Olivier vô cùng thận trọng không làm ra vẻ gì là kiếm tìm hắn; đôi khi hắn còn vờ vĩnh không trông thấy Bernard nữa là khác. Trước khi tới với Olivier, Bernard phải đối đầu với nhiều nhóm, và chính vì cũng giả vờ không tìm kiếm Olivier nên Bernard còn chần chờ. Bốn đứa bạn trong bọn đang đứng quanh một đứa nhỏ người để râu đeo kính xấp xỉ lớn tuổi hơn mấy đứa kia, đang cầm cuốn sách. Hắn tên Dhurmer. Dhurmer ngỏ lời với một đứa trong bọn một cách đặc biệt hơn, nhưng lấy làm sung sướng rõ rệt vì được cả bọn lắng nghe. Dhurmer nói: - Mày nghĩ coi. Tao gắng tới trang ba mươi vẫn không thấy màu sắc gì hết, một chữ để mô tả cũng không. Chàng ta nói về một người đàn bà, áo đỏ hay xanh tao cũng chẳng hay chứ đừng nói gì. Tao, hễ không có màu sắc thì giản dị lắm, tao chẳng nom thấy gì. Và vì cần đại ngôn, nhất là vì hắn cảm thấy mình bị coi như mất bớt vẻ chững chạc, hắn nhấn mạnh: - Tuyệt đối không thấy gì hết. Bernard không để tai tới thằng khoa ngôn nữa, hắn xét thấy không nên bỏ đi quá vội, nhưng hắn đã bắt đầu nghe bọn kia cãi cọ ở sau lưng và Olivier trở lại nhập bọn sau khi bỏ rơi người thiếu nữ; một đứa ngồi trên chiếc ghế dài đọc báo Action Française. Olivier Molinier, giữa bọn chúng, sao trông trịnh trọng thế! Hắn vẫn là một trong mấy đứa nhỏ tuổi nhất. Khuôn mặt còn trẻ thơ và ánh mắt của hắn biểu lộ sự sơ khai của tư tưởng. Hắn dễ đỏ mặt. Tính tình đằm thắm. Dù hắn tỏ ra hòa nhã đối với mọi người, không hiểu một sự dè dặt khó hiểu nào đó, một sự e ấp nào đó vẫn ngăn cách hắn với bạn bè. Hắn khổ tâm vì điều đó. Không có Bernard thì hắn đã khổ hơn. Giống như Bernard lúc này, Molinier ghé vào từng nhóm một lát vì nể bạn, nhưng những điều hắn nghe, không có gì khiến hắn lưu tâm. Hắn nhòm qua vai thằng đọc báo. Bernard, không quay lại, nghe Olivier nói: - Mày không nên đọc báo, nó làm mày ứ huyết. Và tên kia đáp trả lại chanh chua: - Còn mày, hễ ai nói tới Maurras(1) là mày xanh mặt. Tiếp theo, một tên thứ ba, giọng giễu, hỏi: - Bộ mày thích những bài của Maurras sao? Và tên thứ nhất đáp: - Chán ngấy, nhưng tao thấy Maurras có lí. Kế đó, một tên thứ tư mà Bernard không nhận ra giọng: - Còn cái gì không làm mày ngấy, mày đều tưởng là thiếu bề sâu? Tên thứ nhất cãi lại: - Mày tưởng chỉ cần ngốc là chọc cười được ư? - Lại đây! - Bernard vừa nói nhỏ giọng, vừa đột ngột nắm lấy tay Olivier. Hắn kéo Olivier đi ra xa mấy bước. - Trả lời mau, mình có chuyện gấp. Cậu có nói với mình là cậu không ngủ cùng một tầng lầu với hai ông bà, đúng không? - Mình đã chỉ cửa phòng mình cho cậu rồi, cửa phòng mở ra ngay cầu thang, đi một nửa tầng lầu là lên nhà chính. - Cậu có nói em cậu ngủ chung với cậu? - Phải, thằng Georges. - Cậu và Georges không thôi? - Ừ. - Thằng nhỏ biết kín miệng không? - Nếu cần. Tại sao thế? - Là thế này. Mình đã bỏ nhà, hay nói đúng hơn, tối hôm nay mình sẽ bỏ nhà. Mình chưa biết đi đâu. Cậu có thể chứa mình một đêm không? Olivier mặt tái bệch hẳn ra. Chấn động quá mãnh liệt, hắn không đủ sức nhìn Bernard. Olivier bảo: - Được, nhưng đừng đến trước mười một giờ. Mỗi đêm má xuống thăm hỏi trước khi đi ngủ rồi khóa cửa. - Thế thì làm sao... Olivier cười: - Mình có chìa khóa khác. Cậu sẽ gõ cửa khe khẽ để khỏi đánh thức Georges nếu hắn ngủ. - Liệu bác gác cổng có để mình vào không? - Mình sẽ báo cho bác biết. Yên trí! Mình với bác ăn ý nhau lắm. Chính bác cho mình cái chìa khóa kia đấy. Hẹn gặp lại. Hai người từ giã không bắt tay nhau. Và trong khi Bernard bỏ đi, nghiền ngẫm lá thư muốn viết mà ông dự thẩm sẽ phải bắt gặp khi trở về, thì Olivier, vốn không muốn người ta bắt gặp mình đứng riêng với Bernard, nên tìm tới Lucien Bercail mà bọn kia để cho đứng hơi riêng rời. Nếu không yêu Bernard nhất thì Olivier đã yêu thích Lucien lắm đấy. Bernard bạo gan bao nhiêu thì Lucien rụt rè bấy nhiêu. Ai nấy cảm thấy Lucien yếu ớt, dường như hắn chỉ sống bằng trái tim và trí tuệ. Hắn ít khi có can đảm sấn sổ tới, nhưng hắn đã mừng ra mặt ngay khi thấy Oilivier lại gần. Lucien có làm thơ chăng, mọi người đều nghi hoặc; tuy nhiên thiết tưởng Olivier là kẻ độc nhất được Lucien thổ lộ dự định. Cả hai lần ra mé khuôn viên. Lucien bảo: - Tôi muốn làm sao thuật lại, không phải chuyện một nhân vật, nhưng câu chuyện về một địa điểm, - đấy, chẳng hạn câu chuyện một lối đi công viên, như lối đi này, thuật lại những gì xảy ra - từ sáng tới chiều. Trước tiên bọn giữ em đến, rồi bọn vú em đeo những tấm dải... Không, không hẳn... trước tiên là người toàn màu xám tất cả, không phân biệt đàn ông đàn bà tuổi tác, để quét dọn lối đi, tưới cỏ, thay hoa, tóm lại để sửa soạn sân khấu và trang trí trước khi cổng mở, anh hiểu chứ? Bấy giờ bọn vú em vào. Bọn bé con vọc cát cãi cọ, bọn giữ em tát bọn nhỏ. Kế đó là các lớp học nhỏ bãi ra... thêm bọn đàn bà thợ thuyền nữa. Có những kẻ nghèo khó đến ngồi ăn trên ghế. Sau đó là bọn thanh niên kiếm tìm nhau, bọn khác trốn tránh nhau, bọn nữa đứng ngồi riêng, tư lự. Và kế đó là dân chúng, vào lúc nhạc trỗi lên và lúc các nhà hàng đóng cửa. Bọn học sinh, sinh viên như hiện giờ. Buổi chiều, bọn tình nhân hôn nhau, có những kẻ chia tay khóc lóc. Cuối cùng, hết ngày, một cặp người già... Và thình lình, một hồi trống khua: đóng cổng. Mọi người đi ra. Kịch chấm dứt. Anh hiểu chứ: một cái gì đó cho mình cái cảm giác thôi hết rồi của mọi thứ, cái cảm giác của sự chết... nhưng vẫn không nói tới cái chết, cố nhiên. - Phải, tôi hiểu lắm, - Olivier đáp, hắn đang nghĩ tới Bernard chứ có nghe lọt chữ nào đâu. Lucien hăng say nói tiếp: - Chưa hết, chưa hết! Tôi muốn, trong phần coi như màn vĩ thanh, chứng minh chính cái lối đi này đây, ban đêm, sau khi mọi người bỏ đi hết rồi, thì thanh vắng, đẹp hơn ban ngày nhiều; trong cảnh im lặng mênh mông, mọi tiếng động trong thiên nhiên xuất thần: tiếng vòi nước, tiếng gió trong lá, và tiếng lảnh lót của con chim đêm. Ban đầu tôi nghĩ tới chuyện thêm vào đó những bóng tối, có lẽ thêm những bức tượng... nhưng tôi cho rằng như thế lại nhạt nhẽo hơn; cậu nghĩ sao? Mời các bạn đón đọc Bọn Làm Bạc Giả của tác giả André Gide.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Buổi Hẹn Cuối Cùng - James H. Chase
James Hadley Chase là bút danh của tác giả người Anh – Rene Brabazon Raymond (24/12/1906 – 6/2/1985), người cũng đã viết dưới tên James L. Docherty, Ambrose Grant và Raymond Marshall. Ông được sinh ra ở Luân Đôn, là con của một đại tá người Anh phục vụ trong quân đội thuộc địa Ấn Độ, người dự định cho con trai mình có một sự nghiệp khoa học, bước đầu đã cho học tại trường học Hoàng gia, Rochester, Kent và sau đó học ở Calcutta. Ông rời gia đình ở tuổi 18 và làm nhiều công việc khác nhau, một nhà môi giới trong nhà sách, nhân viên bán sách bách khoa toàn thư của trẻ em, người bán sách sỉ trước tập trung vào sự nghiệp viết lách, đã sản xuất hơn 80 cuốn sách bí ẩn. Năm 1933, ông đã cưới Chase Sylvia Ray và có một con trai. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, với khoảng 90 tiểu thuyết, hầu như câu chuyện nào của James Hadley Chase cũng có một nhân vật chính muốn làm giàu nhanh bằng cách phạm tội ác - lừa gạt, cướp bóc hay ăn trộm. Nhưng kế hoạch của họ luôn thất bại, phải giết người để gỡ bí, và càng bí thêm. *** Các tác phẩm của James H. Chase đã được xuất bản tại Việt Nam: Cái Chết Từ Trên Trời Cả Thế Gian Trong Túi Ôi Đàn Bà Cạm Bẫy Gã Hippi Trên Đường (Frank Terrell #5) Thằng Khùng Cạm Bẫy Bản Đồng Ca Chết Người (Frank Terrell #1) Tỉa Dần Hứng Trọn 12 Viên Đam Mê và Thu Hận Tệ Đến Thế Là Cùng Mười Hai Người Hoa và Một Cô Gái Buổi Hẹn Cuối Cùng Trở Về Từ Cõi Chết Không Nơi Ẩn Nấp Đồng Tiền và Cạm Bẫy Lại Thêm Một Cú Đấm Đặt Nàng Lên Tấm Thảm Hoa Cành Lan Trong Gió Bão Những Xác Chết Chiếc Áo Khoác Ghê Tởm Món Quà Bí Ẩn Âm Mưu Hoàn Hảo Cướp Sòng Bạc Cạm Bẫy Dành Cho Johnny Những Xác Chết Câm Lặng Em Không Thể Sống Cô Đơn Thà Anh Sống Cô Đơn Buổi Hẹn Cuối Cùng Mùi Vàng Phu Nhân Tỉ Phú Giêm Tình Nhân Gã Vệ Sĩ Dấu Vết Kẻ Sát Nhân Trong Bàn Tay Mafia Này Cô Em Vòng Tay Ác Quỷ Thiên Đường của Vũ Nữ Châu Dã Tràng Xe Cát .... *** Các ông Johnsten, Whitlr, Peacock hân hạnh báo cho tôi biết tờ chúc thư của bác sĩ Cole quá cố đã được hợp thức hoá, và theo ý nguyện cuối cùng của người chết, một số tiền năm nghìn đô la trở thành của tôi. Tờ séc gửi kèm theo tờ biên nhận mà các luật sư đề nghị tôi vui lòng trả lại cho họ sau khi đã ký tên vào đó. Tôi đặt tờ séc và biên nhận lên mặt bàn. Tôi có quyền yêu cầu họ trả thêm một số tiền khác cũng là năm nghìn đô la, nhưng tôi không nghĩ đến điều đó, vì lẽ ra tôi phải giao cho cảnh sát chính người đã giết bác sĩ Cole thì trái lại tôi lại tạo điều kiện để người đó không bị trừng trị. Trong thâm tâm, tôi hài lòng về vụ việc đã được kết thúc theo cung cách như vậy. Kẻ chịu trách nhiệm thực sự là Lucius. Tên này đã bị cảnh sát bắt giữ đúng lúc hắn định dùng máy bay chuồn đi California. Hắn sẽ bị đưa ra toà xét xử và chắc chắn bản án tử hình đã dành sẵn cho hắn. Những người khác chẳng qua là những nạn nhân: Cole, lột tên hèn nhát, Agnès, một cô gái bị ruồng bỏ. Chỉ một chút xíu nữa là tôi đã tìm lý lẽ bào chữa cho Miriam Cole. Chắc chắn bà ta cố tên cách bám riết tôi. Tôi cầm hai phong thư đến cùng với các loại giấy tờ khác. Một lá gửi từ Topeka, tiểu bang Kansas. Trong phong bì chỉ có mỗi một tờ giấy trắng trên đó có những dòng chữ viết tay và không ký tên người gửi: “Bởi vì anh đã biết việc em làm cũng như em đã biết việc anh làm; chúng ta có nên xa nhau không? Và anh có nghĩ chúng ta có thể bắt đầu đi tiếp trên mối quan hệ mới không?” Trong một thoáng tôi định gửi ngay bức điện tín với tiếng "Có" và không thêm lời nào khác. Nhưng ý muốn đó kéo dài không lâu. Tôi xé phong bì thứ hai. Đó là một tấm thiếp in và chỉ có mỗi tên là được viết bằng tay nằm ở giữa: “Bà Miriam Cole thông báo với ông Bowman biết hàng tuần bà tiếp khách vào ngày thứ sáu từ ba đến năm giờ chiều. Bà sẽ rất vui sướng có sự hiện diện của ông làm vinh dự cho bà". Hai tay tôi cầm hai lá thư, đầu óc suy nghĩ. Dù tôi chọn theo hướng nào thì trên con đường đi cũng đều gặp những chuyện phiền toái, rắc rối. Tôi biết mình không thể nào làm một người chồng tốt, hay một gã điếm đực ngon lành. Vậy là… Tiếng chuông điện thoại vang lên cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. - Thưa ông Bowman, đây là Hãng hàng không Pan American, - một giọng nói thánh thót trẻ trung trong ống nói. - Tôi gọi tới ông về lời yêu cầu của ông muốn biết tin tức của chuyến bay đến Florida. - Tôi xin nghe lời cô nói. - Vâng, thưa ông Bowman, một hành khách đã xin huỷ chỗ giữ trước vào chiều nay. Nếu ông muốn đi chuyến này xin vui lòng cho chúng tôi được biết… - Tốt quá! - Tôi nói to. - Tôi xin cam đoan với cô hai lần chứ không phải là một! Giữ cho tôi chỗ đó. Tôi sẽ có mặt tại phi trường một tiếng đồng hồ trước khi máy bay cất cánh. Cám ơn cô nhiều! Tôi cúp máy vầ khoan khoái hát khe khẽ trong miệng. Thượng đế đã thay tôi trong việc quyết định. Thế là tôi không có gì phải hối hận, tiếc nuối. Tôi chỉ có việc lên đường, tấm nắng, bơi lội trong làn nước xanh của Vịnh Mexique. Và sau một hay hai tháng rong chơi ở đó, tôi quên hết mọi nỗi buồn về mặt tình cảm cũng như những thứ khác. Đời vẫn đẹp sao! Tôi xé vụn bức thư của Agnès và tấm thiếp của Miriam rồi vứt vào sọt giấy. Sau đó tôi khoá cửa văn phòng, xuống dưới nhà, tuồn người vào trong chiếc Dodge và khởi động máy. Tối đã chuẩn bị hành lý từ trước rồi… Mời các bạn đón đọc Buổi Hẹn Cuối Cùng của tác giả James H. Chase.
Xác Chết Dưới Gốc Sồi - Fred Vargas
Câu chuyện mở đầu bằng việc cựu danh ca opera Sophia Simeonidis phát hiện trong vườn mình đột nhiên xuất hiện một cây sồi non, không phải là cây mầm, mà là cây có cành lá hẳn hoi, xung quanh gốc cây có dấu vết đào đất. Ai trồng cái cây này, khi mà người làm vườn đã nghỉ phép cả tuần trước đó? Ông chồng của Sophia tỏ thái độ hoàn toàn bàng quan trước vụ việc, và cho rằng đó chỉ đơn thuần là tác phẩm của một kẻ hâm mộ rảnh chuyện nào đó. Chỉ có Sophia là cảm thấy lo lắng. Quyết tâm tìm hiểu vụ việc, bà sang nhờ ba anh hàng xóm sang đào hộ xem bên dưới cái cây ấy có gì lạ hay không. Thật trùng hợp, cả ba anh chàng này đều là những chuyện gia trong lĩnh vực "đào bới", hiểu theo nghĩa rộng : Matthias là nhà tiền sử học, Marc thì nghiên cứu về trung cổ, còn lịch sử cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất là chuyên môn của Lucien. Ở cùng với ba nhà sử học còn có ông già Vandoosler, một cảnh sát đã về hưu. Những người hàng xóm, bị thúc đẩy bởi óc hiếu kỳ và máu thám tử , liền sốt sắng nhận lời giúp đỡ Sophia. Họ không tìm thấy gì bất thường dưới gốc cây sồi. Mọi chuyện tưởng sẽ êm xuôi thì mười sáu ngày sau đó cựu danh ca opera đột ngột biến mất. Mấy hôm sau, xảy ra một vụ cháy ở khu nhà bỏ hoang bên bờ sông. Cảnh sát tìm thấy một thi thể cháy thành than. Pierre, người chồng của nữ danh ca ngay lập tức nhận ra viên đá lửa, vật bất ly thân của vợ mình từ hai mươi tám năm qua…    *** Fred Vargas sinh năm 1957 tại Paris, bà là nhà khảo cổ học, chuyên gia về thời kỳ Trung đại. Bà là gương mặt khá tiêu biểu của văn học trinh thám Pháp. Nhiều cuốn tiểu thuyết trinh thám của Fred Vargas được liệt vào danh sách những cuốn bán chạy nhất như: CON NGƯỜI ĐỐI DIỆN, ĐỨA CON NGOÀI GIÁ THÚ, XÁC CHẾT DƯỚI GỐC SỒI v.v... o O o Sophia là diễn viên ca kịch nổi tiếng một thời, sau một đêm ngủ dậy bỗng phát hiện trong vườn nhà mình có cây sồi không rõ ai đã đem trồng. Sophia lo lắng thuê người đào bới xung quanh nhưng không có gì lạ. Đột nhiên Sophia mất tích. Dư luận xung quanh cho rằng cô đã nhận được điện hẹn của người yêu cũ và bỏ đi cùng ông ta. Đó là Stelyos - Người yêu trung thành - một người say mê cô cuồng nhiệt, quyến rũ. Tình cờ Sophia đã gặp Pierre nên bỏ rơi người yêu cũ. Stelyos tức tối tìm cách tung hê tất cả, anh ta định nhảy xuống biển tự tử nhưng không thành. Stelyos điên cuồng gào thét đe dọa... Từ đó, Sophia cũng không bao giờ biết tin về Stelyos nữa. Cuộc hôn nhân của Sophia với Pierre, tính đến thời điểm bà mất tích là hai mươi năm - và cũng là khoảng thời gian Sophia chia tay với Stelyos. Nghi vấn kẻ tình địch sau hai mươi năm quay trở lại trả thù món nợ tình. Rồi người ta lại phát hiện xác một người phụ nữ bị thiêu cháy. Mọi nghi vấn đều hướng về Pierre Relivaux - người chồng vô tình và cô cháu gái Alexandra đột nhiên xuất hiện... Mời các bạn đón đọc Xác Chết Dưới Gốc Sồi của tác giả Fred Vargas.
Con Tằm - Robert Galbraith
Khi tiểu thuyết gia Owen Quine, mất tích, vợ ông tìm đến thám tự tư Cormoran Strike. Thoạt đầu, bà ngỡ chồng mình chỉ đi đâu đó vài ngày, nên nhờ Strike tìm ông về. Nhưng khi bắt tay vào điều tra, Strike phát hiện đằng sau vụ mất tích của Quine còn nhiều điều hé lộ. Nhà văn này vừa hoàn thành một bản thảo châm chọc sâu cay hầu như tất cả mọi người ông quen. Nếu tiểu thuyết này được xuất bản, nó sẽ hủy hoại cuộc sống rất nhiều người - thế nên không ít kẻ muốn nhà văn phải im lặng. Khi phát hiện xác Quine bị giết trong một hoàn cảnh cực kỳ quái gở, thám tử Strike bắt đầu cuộc chạy đua với thời gian để tìm hiểu động cơ của kẻ giết người… Một tiểu thuyết tội phạm với liên tiếp những nút thắt và chuyển ngoặt bất ngờ. Con Tằm là cuốn thứ hai trong bộ tiểu thuyết lừng danh về chàng thám tử Cormoran Strike và cô trợ lý trẻ trung Robin Ellacott của tác giả Robert Galbraith, bút danh khác của nữ nhà văn J.K.Rowling. *** Với cuốn 2 trong series truyện trinh thám xoay quanh chàng thám tử Cormoran Strike, đại phù thủy ngôn từ có vẻ quyết không trở về thế giới huyễn ảo mà dấn hẳn vào giới Muggles – Người thực (Bộ Harry Potter phiên bản có tranh minh họa đã ra tập 1 và hứa hẹn là một dự án dài hơi thành công, nhưng dù sao cũng chỉ là một sản phẩm giá-trị-gia-tăng) Nếu như The Casual Vacancy (Bản Việt: Khoảng trống) xuất bản năm 2012 có thể xem là lời chấp nhận thách thức công khai và và quyết liệt của J.K.Rowling khi lao từ đỉnh cao chót vót sang một lãnh địa hoàn toàn mới; thì tập đầu của series trinh thám – The Cuckoo’s calling (Bản Việt: Con chim khát tổ) – ra mắt lặng lẽ hơn nhiều vì Rowling dùng bút danh khác và kiểm soát ngặt nghèo mọi khả năng tiết lộ thông tin Robert Galbraith chính là mình. Ngay cả khi Con Tằm xuất bản và ai cũng rõ tác giả là người-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, thì trong các bản quy định về truyền thông sách ở các nước cũng ghi rõ phải marketing bộ trinh thám này riêng biệt, càng ít dính dáng tới bút danh cũ và Harry Potter càng tốt. Có thể thực sự bà ẩn danh để “viết cho thoải mái, không đặt nặng doanh số” (theo trả lời phỏng vấn The Guardian). Có thể sau nhiều vinh quang không thiếu phần hư ảo, bà muốn lắng nghe những nhận xét thật lòng không thành kiến. Mà cũng có thể, theo nhận xét riêng của người viết, Rowling cẩn thận vì thể loại trinh thám – tội phạm bà đang nhảy vào là một vùng biển tiềm năng nhưng đồng thời số cá lớn cũng “quá đông, quá nguy hiểm”. Các fan dòng trinh thám – tội phạm hẳn đã quá quen thuộc với chàng điệp viên James Bond, con đẻ của nhà văn Anh Ian Flaming. Một cái tên nữa không xa lạ: nữ hoàng trinh thám Agatha Christie, người giữ kỷ lục Guiness về sách trinh thám bán chạy nhất mọi thời đại, cũng là người Anh. Các báo lớn của Anh không thiếu những bài review, thống kê sách thể loại này; các kênh truyền hình đầy thể loại phim phá án dài tập làm mê mẩn bà con xứ sương mù, nhất là series Sherlock Homes, nhân vật huyền thoại của Sir Conan Doyle (dân Scotland, mất ở Anh!). Vai chính thôi thì đủ cả: thám tử của cảnh sát, thám tử tư, cặp đôi phá án hoàn hảo, nhóm thám tử đủ loại tính cách và tài năng, luật sư, nhà tâm lý đại tài….khai thác đủ mọi khía cạnh của quá trình phá án, từ tìm thủ phạm cho tới xét xử. *** Strike thả người xuống sofa ở phòng ngoài. Chiếc sofa gần như mới nguyên, một khoản chi cần thiết sau khi hắn làm hỏng món đồ si đa mua hồi mới mở văn phòng. Chiếc sofa này bọc da giả, lúc ở phòng trưng bày hắn thấy cũng có vẻ tươm tất. Mua về mới biết mỗi khi ngồi lên mà loay hoay không khéo thì nó lại phát ra tiếng... đánh rắm nghe rất kỳ. Cô trợ lý của hắn - cao, gợi cảm, nước da sáng, đôi mắt xanh trong, vừa uống cà phê vừa chăm chăm nhìn hắn. “Trông anh khiếp quá.” “Thức suốt đêm để moi chuyện giường chiếu và tiền bạc bẩn thỉu của một ông quý tộc, từ một bà đang loạn trí,” Strike nói, ngáp sái cả quai hàm. “Ngài Parker hả?” Robin há hốc. “Chính y,” Strike đáp. “Ổng làm gì kia...?” “Cùng lúc cặp ba nhân tình, rồi tuồn hàng triệu bảng ra nước ngoài cất kỹ.” Strike đáp. “Nếu bụng dạ ngon lành không sợ ói ngược thì cô thử đọc tờ News of the World số Chủ Nhật này.” “Làm sao anh biết mấy chuyện đó?” “Người quen của người quen của người quen,” Strike ngâm nga. Hắn lại ngáp tiếp, miệng ngoạc ra trông đến khổ. “Anh đi ngủ đi,” Robin khuyên. “Ừ chắc vậy,” Strike đáp, vẫn ngồi im. “Anh đâu có khách nào khác trừ Gunfrey lúc hai giờ chiều nay.” “Gunfrey,” Strike thở dài, giơ tay mát xa mí mắt. “Tại sao khách của tôi toàn thứ ất ơ?” “Bà Quine kia đâu có vậy.” Hắn nhìn Robin qua kẽ mấy ngón tay thô tháp. “Sao cô biết tôi nhận làm?” “Tôi biết mà,” Robin nói, không nhịn cười được. “Bà đó đúng kiểu anh thích.” “Máy bay bà già đời thập kỷ tám mươi?” “Không phải, ý tôi là kiểu khách hàng anh thích ấy. Với lại anh cũng muốn chọc tức Baker.” “Có tác dụng đó chứ?” Điện thoại đổ chuông. Robin nhấc máy, vẫn còn cười khoái chí. “Văn phòng Cormoran Strike,” cô nói, “A, anh hả.” Là Matthew, chồng chưa cưới của cô. Robin liếc nhìn ông sếp. Strike đã nhắm mắt lại, đầu nghẹo qua một bên, hai tay bệ vệ vòng trước ngực. “Nè,” Matthew nói trong điện thoại. Khi nào gọi từ cơ quan giọng Matthew cũng có vẻ lạnh lùng. “Đổi lại vụ đi uống bia từ thứ Sáu qua thứ Năm đi.” “Sao vậy Matt,” cô nói, cố gắng không tỏ ra thất vọng hay bực tức. Như vậy là đã năm lần thay đổi tới lui. Trong ba người chỉ có mỗi Robin là chưa bao giờ đòi đổi giờ giấc hay địa điểm, lúc nào cũng sẵn sàng đi. “Tại sao vậy?” cô hạ giọng hỏi. ... Mời các bạn đón đọc Con Tằm của tác giả Robert Galbraith.
Ma Sói - Fred Vargas
Thứ Ba, bốn con cừu bị cắn đứt họng trên đỉnh Ventebrune, dãy núi Alpes. Thứ Năm, chín con tại vùng Pierrefort. Một con sói đơn lẻ? Xảo quyệt, tàn bạo, mông kéo lê trên cặp chân xám. Con Vật vùng Mercantour. Nhưng tại làng Saint-Victor-du-Mont, không ai tin là do một Con Vật cả. Đó không phải là một Con Vật. Đó là một con người. Một con ma sói. Suzanne nằm thẳng trên lớp rơm vấy phân, mặt ngửa lên, hai tay dang rộng, váy ngủ tốc lên đến đầu gối. Một vết thương kinh khủng trên cuống họng làm một dòng máu trào ra. Tại Paris, trước máy thu hình, Jean-Baptiste Adamsberg dõi theo tin tức về con thú vùng Mercantour. Anh nhắm mắt lại. Kỉ niệm tuổi thơ tại Pyrenees, giọng nói thì thầm của những người già...  Như những đốm lửa, con trai ơi, những cặp mắt sói trong đêm đen, chúng hệt những đốm lửa. *** Sinh năm 1957 tại Paris, có mẹ là nhà hóa học và bố là một nhà trí thức không bao giờ xuất bản tác phẩm của mình, cô bé Fred (thu gọn từ cái tên Frédérique) nhanh chóng thể hiện rõ những gì được thừa hưởng: đầu óc toán học của mẹ và khiếu nghệ thuật của cha.   Tất cả những phẩm chất này giúp Fred trở thành một nhà khảo cổ học xuất sắc tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia CNRS. Tuy nhiên, bà vẫn cảm thấy nhu cầu thể hiện khuynh hướng nghệ thuật thừa hưởng từ cha và bắt đầu sáng tác truyện tranh, chơi accordeon.  Vì cảm thấy mình không đủ tài năng để trở thành nhạc công, Fred Vargas tìm thấy “niềm vui” khi viết tiểu thuyết trinh thám. Bà bắt tay vào viết với bút danh Fred Vargas - lấy ý tưởng từ bút danh Jo Vargas của cô em gái sinh đôi. Tiểu thuyết đầu tay của Fred Vargas được nhận giải thưởng cho Tiểu thuyết trinh thám tại Festival Cognac. Tiểu thuyết thứ hai đánh dấu một bước quan trọng trong sự nghiệp của Vargas. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên được xuất bản tại Viviane Hamy, một nhà xuất bản trẻ mà cho tới giờ Vargas vẫn chung thủy gắn bó. Đây cũng là lần đầu nhân vật cảnh sát trưởng Jean-Baptiste Adamsberg – “nhân vật hộ mệnh” của Fred Vargas, xuất hiện. Bà còn tiếp tục theo đuổi các cuộc điều tra của Adamsberg trong nhiều tác phẩm sau đó.  Để dung hòa giữa công việc của nhà khảo cổ học và nhà văn, Fred Vargas có cách làm việc riêng của mình. Những ý tưởng chính hình thành trong tâm trí bà trong vòng một năm, sau đó trí nhớ lựa chọn những ý tưởng tốt nhất, và ngay khi câu chuyện đã khá ăn sâu vào ký ức, bà tái hiện nó dưới ngòi bút của mình liền một mạch trong vòng ba tuần, vào kỳ nghỉ. Sau đó đến giai đoạn sửa chữa. Một câu, một từ, một đoạn không ổn và thế là cả một trang giấy có thể được thay đổi. Sự nhạy cảm với các chi tiết, phẩm chất của một nhà khảo cổ học cùng với lần đọc lại của người em gái sinh đôi Jo Vargas đã giúp cho bản thảo của Fred Vargas có thể được đem thẳng tới nhà in, theo lời của biên tập viên NXB Viviane Hamy. Các tiểu thuyết của bà tiếp nối nhau và lượng sách bán ra ngày một tăng (đã vượt con số 4,5 triệu bản). Trước thành công rực rỡ của mình (báo chí gọi bà là Nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám của Pháp), nữ tác giả lại ngày càng ít xuất hiện trước công chúng, bà không thích những gì thuộc xã hội thượng lưu. Fred Vargas tiếp tục lối sống giản dị và dành khoảng thời gian rảnh rỗi ít ỏi cho gia đình: cậu con trai và người em gái sinh đôi mà bà coi là một nửa của mình. Điều khiến Fred Vargas lo lắng nhất đó là, hoàn cảnh sẽ biến một nhà nghiên cứu trầm lặng thành người lãnh đạo và biến một tác giả tiểu thuyết trinh thám thành người nổi tiếng. Giải thưởng văn học, doanh thu bán sách khổng lồ - tất cả đều không khiến bà quan tâm.  Một số tác phẩm được xuất bản tại Việt Nam: Dans les bois éternels (Trong những cánh rừng vĩnh cửu); L'Homme à l'envers (Ma sói);  Sous les vents de Neptune (Dưới những ngọn gió biển). Mời các bạn đón đọc Ma Sói của tác giả Fred Vargas.