Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Sự Thật Về Donald Trump - David Cay Johnston

Sự Thật Về Donald Trump là cuốn sách New York Times Bestseller đầu tiên tiết lộ mối liên hệ giữa Donald Trump với Liên Bang Nga - thứ đã làm tốn không ít giấy mực của giới truyền thông toàn cầu. Trong "Sự thật về Donald Trump", những khía cạnh gay cấn và riêng tư nhất của nhân vật thời đại này sẽ được tiết lộ một cách cẩn trọng, dựa trên những tài liệu vững chắc. Thông qua hàng chục năm nghiên cứu các bài phỏng vấn, báo cáo tài chính, văn kiện tòa án... liên quan đến Donald Trump; tác giả - nhà báo David Cay Johnston cung cấp cho độc giả cái nhìn sâu sắc nhất về người đàn ông khiến cả thế giới phải dõi theo. Đúng như tiêu đề của nó, tất cả những sự thật về Donald Trump, như lịch sử gia đình phức tạp của ông, các câu chuyện hôn nhân đầy toan tính, sự nghiệp kinh doanh lắm thăng trầm, đế chế Trump hùng mạnh nhưng tai tiếng... đều sẽ được phơi bày trong tác phẩm. Và đương nhiên, chúng ta không thể không bàn tới việc Trump đã lôi kéo rất nhiều cá nhân quyền lực vào quỹ đạo của bản thân như thế nào. Johnston tâp trung phân tích hành vi ứng xử của Trump, để người đọc có thể phần nào hiểu được tính cách của con người kỳ lạ này.  Trump cáo già trong truyền thông, luôn sôi sục tinh thần kinh doanh, và có sức ảnh hưởng chính trị không hề nhỏ, ngay cả khi chưa lên làm Tổng thống. Vì nhiều lý do, cuộc đời ông trở thành một chuỗi tranh luận với đủ loại quan điểm trái chiều. Nhưng bạn thì sao, bạn nghĩ như thế nào về Donald Trump? Hãy cầm lên "Sự thật về Donald Trump" và tìm kiếm câu trả lời của riêng mình. *** K hi đài truyền hình quốc gia phát sóng trực tiếp buổi quảng bá chiến dịch tranh cử Tổng thống của Donald Trump tại tòa nhà Trump Tower vào tháng Sáu năm 2015, hầu như mọi ký giả đều xem nó như điều vớ vẩn. Trừ tôi. Tôi đã làm phóng viên điều tra từ năm 18 tuổi. Tôi luôn đào bới sự thật, cập nhật các dự thảo luật, và săn nhiều tin cho các tờ báo San Jose Mercury, Detroit Free Press, Los Angeles Times, Philadelphia Inquirier, và cuối cùng là tờ New York Times. Lúc đầu, tôi tự chọn tin để đăng. Tôi luồn lách trong mớ tin tức vì những bài báo của tôi thu hút người đọc và có hiệu ứng tốt: như vụ chương trình truyền hình bị cấm phát sóng vì đưa tin sai lệch, một người đàn ông được giải oan do tôi tìm được hung thủ thực sự, Jack Welch từ bỏ các khoản lương hưu, hay tiết lộ các vụ phạm pháp và hoạt động gián điệp mật của Sở Cảnh sát Los Angeles với các tổ chức nước ngoài nhằm phá hoại chính trị Mỹ. Trong phi vụ cuối cùng của mình, tôi được trao giải Pulitzer vì đã vạch trần nhiều vụ trốn thuế và chỉ ra các lỗ hổng luật pháp đến mức một chuyên gia luật thuế nổi tiếng đã gọi tôi là “viên chức thuế thực thụ của nước Mỹ”1. 1 Từ gốc “de facto chief tax enforcement officer”. Năm 1987, tôi hứng thú điều tra mảng casino sau khi Tòa án Tối cao ban hành luật người gốc Mỹ2 có quyền sở hữu các sòng bài. Tôi chắc rằng vụ việc này sẽ dẫn tới sự gia tăng hàng loạt casino khắp đất nước – các sòng bài mà hầu hết do các tập đoàn lớn của Mỹ điều hành. Hãng tin Philadelphia Inquirer thích ý tưởng này của tôi: nên vào tháng Sáu năm 1988, tôi chuyển đến thành phố Atlantic. 2 Từ gốc “Native American” chỉ những người quốc tịch Mỹ nhưng không phải nhập cư trước đó. Chỉ vài ngày sau, tôi gặp được Donald Trump. Tôi đánh giá Trump như một P.T. Barnum3 thời hiện đại đang rao bán vé tham quan Người cá Feejee, một trong những xác ướp giả nổi tiếng của ông mà mọi người chấp nhận bỏ tiền để xem. Trump lúc này hoàn toàn bản năng. Tôi nhanh chóng biết được từ người dân trong vùng rằng ông ấy chẳng hề biết gì về ngành công nghiệp casino, cũng như luật chơi của nó. Nhưng điều này hóa ra lại trở nên quan trọng, như tôi sẽ trình bày tại hai chương gần cuối. 3 Nhà chính trị, kinh doanh, ông bầu gánh xiếc nổi tiếng thế kỷ 19. Tới nay, trong gần 30 năm, tôi đã theo dõi sát sao các vụ thỏa thuận kinh doanh của Trump và phỏng vấn ông ấy nhiều lần. Năm 1990, tôi đưa tin về vụ Trump thực sự đang rơi vào nợ nần4, thay vì sở hữu hàng tỉ đô như ông tuyên bố, và chỉ thoát khỏi cảnh phá sản nhờ chính phủ đứng về phía Trump trong cuộc chiến với các ngân hàng. Tôi cũng sẽ nhắc kỹ vấn đề này sau. 4 Negative net worth. Trước khi công nghệ có khả năng số hóa dữ liệu, tôi đã có cả kho tài liệu lớn về Trump, như những phóng viên săn tin thường làm với những đối tượng họ hứng thú. Tôi trữ nhiều thùng tài liệu về ông ấy và những người Mỹ nổi tiếng khác như Barron Hilton, Jack Welch, và giám đốc Sở Cảnh sát Los Angeles, Daryl Gates, nhiều đến nỗi trong nhiều năm, tôi phải thuê tận hai gian nhà kho để lưu trữ chúng. Với vốn hiểu biết đó, tôi chẳng hề ngạc nhiên khi Trump trở thành ứng viên Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 2016. Sau sự kiện này, tôi cũng nói đi nói lại rằng các cuộc thăm dò ý kiến trước thềm không nói lên được điều gì so với khi bầu cử thực sự, các bang lớn thường sẽ quyết định kết quả, và nhờ vậy Trump có thể chiến thắng. Tuy nhiên, tôi, cũng như tất cả mọi người, thậm chí cả đội ngũ của Trump, đều vỡ òa trước chiến thắng thực sự của ông. Trump vốn không chiếm ưu thế trong các cuộc thăm dò ý kiến. Nhưng vào ngày bầu cử, những cử tri ủng hộ Trump hóa ra lại ở các bang công nghiệp trọng yếu vốn thường bầu cho Đảng Dân chủ: Michigan, Minnesota, Ohio, Pennsylvania, và Wisconsin. Dành nhiều thập kỷ săn tin về Trump vì xem ông như hiện tượng văn hóa quan trọng của Mỹ và là một nhân vật thú vị, tôi đã sở hữu nhiều tài liệu của riêng mình và thường xuyên cập nhật đến chúng. Thêm vào đó, nhà báo Wayne Barrett, người đầu tiên nghiên cứu về Trump một cách nghiêm túc, đã chia sẻ cho tôi bộ sưu tập tài liệu khổng lồ của ông. Nhờ vậy, tôi biết nhiều điều mà các ký giả khác không biết. Đầu tiên, tôi biết rằng Trump thực chất đã bàn tới việc chạy đua chức Tổng thống từ năm 1985. Năm 1988, ông tự đề cử mình là ứng cử viên Phó Tổng thống cho George Bush, vị trí mà sau đó được giao cho thượng nghị sĩ Dan Quayle. Tháng Bảy cùng năm, tôi theo dõi ông cập cảng thành phố Atlantic trên chiếc du thuyền Trump Princess trước sự reo hò của đám đông. Một đội hình gồm các thiếu nữ nhảy nhót, hú hét trong vui sướng như thể được gặp thần tượng nhạc rock. Khi Trump và vợ của mình, Ivana, trên thang máy vào sòng bài Castle Casino của ông, cũng có một đám đông reo hò phía dưới. Một người đàn ông thậm chí đã la lớn: “Hãy trở thành Tổng thống của chúng tôi đi, Donald!”. Tôi cũng từng theo dõi Trump một thời gian ngắn chạy đua vào vị trí ứng viên Đảng Cải cách, một đảng phái nhỏ khoảng chục ngàn người (đối đầu với hàng triệu người theo Đảng Dân chủ và Cộng hòa). Trong suốt chiến dịch, Trump tuyên bố ông sẽ trở thành người đầu tiên chạy đua chức Tổng thống và kiếm được lợi nhuận. Ông tiết lộ giành được thỏa thuận mười bài diễn thuyết trị giá triệu đô do Tony Robbins5 tổ chức. Ông đã quảng bá chiến dịch tại các sự kiện này nhằm chi trả phí sử dụng chiếc Boeing 727 của mình. Đó chính là Trump, nhìn thấy lợi nhuận trong mọi thứ, kể cả với chính trị. Tuy vậy, điều này lại ít được ai biết tới. 5 Tác giả, diễn giả hàng đầu nước Mỹ chuyên về truyền cảm hứng. Cũng như với chiến dịch 2016, phần lớn nguồn tài trợ cho Trump được chi trả vào việc sử dụng Boeing 757, chiếc phản lực nhỏ hơn, trực thăng, khu vực văn phòng của Trump Tower, và những dịch vụ khác do tập đoàn của Trump cung cấp. Theo luật, Trump phải tự trả các loại phí thuê máy bay và trả với giá thị trường cho các dịch vụ thuê từ công ty của ông. Đạo luật chống tham nhũng này nhằm ngăn chặn các nhà cung cấp khỏi tình trạng định giá dịch vụ nhằm thao túng chính trị. Nhưng có ai ngờ người giàu có như Trump lại mua dịch vụ từ chính tập đoàn của mình. Năm 2016, giới luật sư đã quả quyết rằng Trump đã kiếm được khoản lời trong chiến dịch tranh cử nhờ hàng hóa và dịch vụ ông thuê từ Trump Organization. Năm 2012, Trump một lần nữa tuyên bố tranh cử. Lúc này, mọi người xem ông ấy như một ứng viên nặng ký, ngoại trừ tôi và nhà sản xuất O’Donnell của đài MSNBC (Mỹ). Rõ ràng, cả hai chúng tôi đều kết luận rằng chiến dịch của Trump nhằm vào một mục đích khác thay vì làm chủ Nhà Trắng. Mục tiêu thực sự của ông, theo như chúng tôi đoán, là một hợp đồng cao giá hơn với đài NBC cho chương trình lâu năm Người Tập sự, vốn nổi tiếng với câu thoại “Anh bị sa thải”. Thực vậy, khi thất bại trong chiến dịch, Trump đã phát biểu rằng chương trình này cần ông ấy hơn Nhà Trắng cần. Cũng vì câu nói này, giới nhà báo cho rằng chiến dịch của Trump là một trò đùa cợt kỳ cục. Do vậy họ cũng ít quan tâm tới ông hơn vào cuộc bầu cử năm 2016. Nhưng kết quả của phi vụ đài truyền hình lần này lại khác. Tỷ lệ xem giảm, chương trình của Trump đứng trước nguy cơ ngừng phát sóng. Đối với Trump, ông hoàng thích ngồi đọc báo sáng New York, đó hẳn là điều tồi tệ nhất khi thức dậy với những dòng tít của Daily News and Post: “NBC: Trump, ông bị sa thải”. Ngay khi Trump tuyên bố tranh cử vào năm 2015, tôi ngay lập tức đăng bài – nhưng chúng lại đối lập với xu hướng truyền thông lúc bấy giờ. Tôi nghĩ tin tức sẽ thà tập trung vào giải đua ngựa còn hơn lý lịch của một ứng viên thậm chí chẳng quan tâm tới dịch vụ công ích. Tôi đã đưa ra một bảng gồm 21 câu hỏi mà giới báo chí nên đặt ra trong suốt chiến dịch. Nhưng chẳng có ai quan tâm. Về sau, trong cuộc chạy đua ứng viên các Đảng, thượng nghị sĩ Marco Rubio mới chọn câu hỏi về Đại học Trump còn Ted Cruz đưa câu hỏi về thỏa thuận giữa Trump với Genovese và Gambino - hai băng nhóm Mafia tại Mỹ - những vụ đó sẽ được đề cập sau. Nhưng quan trọng là không có một nhà báo nào đặt các câu hỏi giống tôi. Tôi luôn tự hỏi sẽ ra sao nếu giới ký giả (hay thậm chí vài người trong số 16 đối thủ của Trump tại Đảng Cộng hòa) đặt ra những câu hỏi này sớm hơn. Cuốn sách này là nỗ lực để tất cả mọi người biết câu chuyện về Trump đầy đủ hơn những gì ông nói. Trump, người tự cho mình là vua Midas6 hiện đại, là người biết rõ về báo chí và lợi dụng nó tài tình hơn bất cứ ai tôi từng biết. 6 Vị hoàng đế nổi tiếng của Thần thoại Hy Lạp, có khả năng biến mọi thứ ông chạm vào thành vàng. Nghề báo thường tập trung vào phương pháp 5W để đưa tin: who, what, where, when, why. Bình thường nó sẽ rất hiệu quả, nhưng lại không đủ nếu muốn giúp người đọc hiểu về Trump, người mà nhân cách và chiến dịch nằm ngoài quy chuẩn bình thường của tin tức chính trị. Trump dùng 5W để kêu gọi những người có mong muốn hình mẫu người cha cứng rắn trở thành lãnh đạo, người thực chất lại chỉ quan tâm đến bản thân kể cả khi vấn đề liên quan tới người khác. Trump nhận gia đình mình là người Mỹ da trắng theo đạo Cơ đốc, trong khi bác bỏ các cáo buộc từ hội Ku Klux Klan7 (Trump từng tuyên bố trên truyền hình vài ngày trước tổng tuyển cử rằng ông không biết về KKK). Ông bổ nhiệm Steve Bannon vào vị trí giám đốc chiến dịch tranh cử và sau đó là chiến lược gia trưởng của Nhà Trắng8. Steve Bannon được xem là người có tư tưởng chống Do Thái và là người điều hành trang báo Brietbart chuyên châm biếm và bịa đặt các thuyết âm mưu kỳ lạ như người phát ngôn thuộc Đảng Cộng hòa Paul Ryan là đặc vụ bí mật của bà Hillary Clinton. 7 Hay KKK, phong trào ra đời năm 1866 tại Mỹ và vẫn tồn tại đến ngày nay, có tư tưởng cực hữu, xem người da trắng là thượng đẳng, chống người nhập cư, và thường có hành động tấn công vũ lực những người họ phản đối. 8 Cố vấn cấp cao, chức danh mới xuất hiện dưới thời Donald Trump. Quan trọng hơn, Trump đã cật lực ngăn chặn tin tức về các rắc rối liên quan tới buôn lậu cocain, băng cướp Mỹ - Nga, và lừa đảo. Ông ấy đã bị kiện rất nhiều lần vì không trả lương cho nhân viên, nhà cung cấp, và những người khác. Các nhà đầu tư ở nhiều thành phố khác nhau cũng kiện ông vì tội lừa đảo. Trong số những kỹ năng tài tình nhất của Trump có thể kể tới khả năng làm chệch hướng hoặc ngừng các cuộc điều tra về hành pháp. Ông cũng thường dùng kiện tụng để đe dọa các công ty mới ngừng việc soi mói người có-vẻ-như-là vô cùng quyền lực và khôn ngoan như Trump. Vào những buổi đầu phỏng vấn Trump, tôi đã đặt câu hỏi mà tôi đã mong cũng có người hỏi ông ấy trước thềm bầu cử tháng Mười Một năm 2016. Tôi chọn vấn đề về sòng bài mà Trump không biết nhiều, cố ý đưa ra những tiểu tiết sai, một mánh thường sử dụng trong điều tra. Tôi làm vậy vì các nguồn tin tại thành phố Atlantic – kể cả những người thân cận với Trump – cho biết rằng ông ấy chẳng biết gì về kinh doanh sòng bài ngoại trừ cào tiền ở đó. Tôi tỏ vẻ cực kỳ hoài nghi khi đề cập về một chuyện tầm phào và ngạc nhiên khi Trump ngay lập tức đáp trả dựa theo tình tiết tôi nói, giống như các nhà tâm linh lắng nghe mạch truyện từ người kể để đưa ra lời tiên đoán. Thói quen lấy thông tin từ người nói của Trump lộ rõ khi vào cuối tháng Sáu năm 2016, phát thanh viên chuyên mục Thời sự tối của đài NBC, Lester Holt, đề cập tới phát ngôn của ông về bà Hillary Clinton đã ngủ suốt khi vụ tấn công cơ quan ngoại giao Mỹ tại Benghazi (Ai Cập) xảy ra năm 2012. Sau khi Holt nhấn mạnh rằng sự việc là vào giữa chiều nơi bà Clinton đang ở, Trump đã cố gắng liên kết chúng với câu trả lời của mình, rồi cố che giấu rằng ông thiếu kiến thức về vụ việc. Dành cho những ai nghi ngờ về sự thiếu hiểu biết của Trump trong các vấn đề quan trọng, tôi cam đoan là có rất nhiều tình huống thực tế. Đây là một ví dụ: Suốt buổi tranh luận giữa các ứng viên Đảng Cộng hòa do đài CNN tổ chức hồi tháng Mười Hai năm 2015, Hugh Hewitt đã hỏi Trump ở buổi trò chuyện trên đài phát thanh Đảng Bảo thủ rằng, “Cái nào ông cho là sáng giá nhất trong bộ ba hạt nhân10 của nước ta?” 10 Thuật ngữ “Nuclear Triad”. “Trước hết, tôi nghĩ chúng ta cần một người hoàn toàn có thể tin tưởng, cực kỳ trách nhiệm, và biết rõ anh ta đang làm gì”, Trump trả lời. “Điều đó rất quan trọng. Và một trong những sự việc, thẳng thắn mà nói làm tôi rất tự hào, là tôi đã phản đối kịch liệt Mỹ đưa quân vào Iraq năm 2003 và 2004 bởi vì chúng ta sẽ làm Trung Đông mất ổn định. Tôi đã lên án rất mạnh mẽ. Chúng ta phải tuyệt đối cẩn trọng về vấn đề hạt nhân. Vũ khí hạt nhân sẽ thay đổi toàn bộ thế cờ. Tôi sẽ thẳng thắn nói rằng hãy ra khỏi Syria – vì lúc đó chúng ta không có vũ khí mạnh như hiện nay. Nhưng hiện nay, chúng ta mạnh đến nỗi không thể bỏ qua các khu vực mà chỉ 50 hay 70 năm trước chúng ta còn chẳng thèm quan tâm. Đó là trận đối đầu trực diện…” Phát thanh viên Hewitt tiếp tục hỏi: “Nhưng trong số ba phương tiện của vũ khí hạt nhân, ông ưu tiên cái nào nhất?” Trump vẫn tiếp tục huyên thuyên rằng: “Tôi nghĩ… tôi nghĩ rằng sức mạnh [hạt nhân] rất quan trọng. Khả năng tàn phá của nó rất đáng quan tâm”. Hewitt lúc này chuyển câu hỏi sang thượng nghị sĩ Marco Rubio của bang Florida, người mà Trump thường chế nhạo là kẻ rỗng tuếch. “Đầu tiên, hãy giải thích cho mọi người hiểu bộ ba này là gì?” Ông Rubio trả lời, “Đó là khả năng của Mỹ trong việc triển khai các cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân thông qua máy bay, tên lửa dưới hầm, trên mặt đất hay từ các bệ phóng hạt nhân”. Đây không phải lần đầu tiên Trump được hỏi về cách chi tiền cho ba phương pháp tấn công hạt nhân của quân đội Mỹ. Bốn tháng trước, Hewitt đã hỏi Trump câu tương tự trên đài phát thanh. Ông ấy trả lời không ăn nhập gì với ý của vị phát thanh viên. Rõ ràng ông ấy không hề nỗ lực cải thiện thiếu sót trong ngần ấy thời gian. “Tôi nghĩ một trong những vấn đề quan trọng nhất là việc truyền bá rộng rãi về hạt nhân”, Trump trả lời. “Sức mạnh hạt nhân mà chúng ta có hiện nay, và vụ thỏa thuận với Iran – mục tiêu của nó quan trọng tới nỗi chúng ta phải tăng gấp đôi, gấp ba lệnh trừng phạt…” Cuốn sách này sẽ phơi bày sự thật đã được tôi chứng minh và ghi nhận trên phương tiện truyền thông. Chúng là những thông tin thật và chất lượng như tất cả sản phẩm trí tuệ mà tôi đã tạo ra từ nửa thế kỷ trước. Nhiều người thắc mắc tại sao tôi không viết về Hillary Clinton hay tiểu sử tốt về Donald Trump. Đó là vì năm 1988, tôi đã đến Atlantic thay vì Arkansas11. Tôi chỉ biết về Trump và chưa hề nói chuyện với Clinton hay chồng của bà. Tuy nhiên, dưới cương vị là đệ nhất phu nhân, Clinton đã từng chiếm trọn các bài báo trên New York Times về vụ bà và chồng đã đóng gấp đôi thuế thu nhập cá nhân do người tư vấn kém, mặc dù hai người phải chi gần 10.000 đô/năm để được cố vấn về đóng thuế. 11 Năm 1988, Hillary Clinton là Đệ nhất phu nhân bang Arkansas khi Bill Clinton đang trong nhiệm kỳ Thống đốc của bang. Trong thời gian ở bang Arkansas, Hillary cũng sáng lập rất nhiều tổ chức cộng đồng. Điều cuối cùng cần ghi nhớ khi đọc cuốn sách này. Đó là về những nhóm người trẻ ngồi đầy khán phòng của Trump Tower vào tháng Sáu năm 2015, vỗ tay 43 lần trong suốt bài phát biểu của Trump về chiến dịch có kèm theo lời đe dọa nhằm vào người Mexico, Hồi giáo, và giới truyền thông. Tôi đã nghĩ thật vô lý khi ở Manhattan lại có tư tưởng bài ngoại hay ủng hộ các kiểu chỉ trích. Thật vậy, đám đông không phải khán giả tự nguyện. Nhiều trong số họ là diễn viên được trả tiền thù lao 1,5 đô la. Như chúng ta rồi sẽ thấy, chiến dịch tranh cử của Trump được bắt nguồn từ trong chính cuộc sống và sự nghiệp của ông. Mời các bạn đón đọc Sự Thật Về Donald Trump của tác giả David Cay Johnston.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Kiếm Sống - Maxim Gorky
K iếm sống[1] là phần hai trong tác phẩm bộ ba tự thuật[2] của M. Gorky, miêu tả thời niên thiếu của cậu bé Alyosha Peskov, tức Gorky, từ năm 1878 đến năm 1884. Trong phần đầu, M. Gorky đã kết thúc Thời thơ ấu của mình bằng những dòng chua chát: “Sau khi chôn cất mẹ tôi được vài ngày, ông ngoại bảo tôi: - Này Leksei, mày không phải là cái mề đay, mày không thể lủng lẳng mãi trên cổ tao, mày hãy đi ra đời mà kiếm sống… Và thế là tôi bước vào đời.” Mới mười tuổi đầu, cậu bé mồ côi Alyosha đã bắt đầu ở với người đời, tìm hiểu cuộc sống và đấu tranh để tìm ra lối thoát cho mình. Giai đoạn này đã hình thành mối quan hệ mới của Alyosha với con người và thế giới xung quanh. Bước vào đời để kiếm sống, Alyosha luôn va chạm với sự hèn hạ, tồi tệ của bọn “tiểu thị dân”, những kẻ luôn tự cho mình là “ưu việt nhất thành phố”, họ tưởng rằng họ “biết những phép cư xử đúng đắn nhất và dựa trên những phép tắc mù mờ đối với tôi đó mà kết tội mọi người một cách tàn nhẫn, không thương tiếc”. Những kẻ này thường có thái độ ganh tị, ghen ghét với điều tốt đẹp ở những người mà họ không sao hiểu nổi. Để biện bạch cho cuộc sống nhỏ nhen và nghèo nàn, khiến nó tăng thêm cái vẻ quan trọng bề ngoài, họ, giống như ông lão Kashmirin keo kiệt, hung dữ hay bà già Matryona độc ác, ích kỉ, luôn luôn lôi kéo Chúa vào những việc tẹp nhẹp buồn tẻ của mình, biến Chúa thành một sức mạnh trừng phạt mù quáng để bảo vệ cho tội lỗi và lợi ích cá nhân… Alyosha càng ngày càng thấy rõ mặt trái của cuộc sống, thấy những sự nhục mạ nhân cách, những lao động vô nghĩa, khổ sai. Lúc ấy, theo như lời Gorky kể, cuộc sống của Alyosha như vĩnh viễn bị quy định một cách chặt chẽ trong các hình thức và các mối quan hệ mà Alyosha trông thấy ngày này qua ngày khác, mỗi ngày một buồn tẻ, gay gắt hơn, khiến khó mà nghĩ tới khả năng thay đổi, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng khi ấy, sách vở – kho tàng tư tưởng sáng tạo của con người – đã tới giúp Alyosha. Những tác phẩm của các nhà văn Nga ưu tú, của các tác giả nước ngoài như Walter Scott, Dickens… đã giúp cậu hiểu được rất nhiều điều mà trước đó cậu vẫn băn khoăn. Sách vở đã giúp Alyosha khắc phục tâm trạng bối rối, mất niềm tin vào con người. Mỗi cuốn sách hay như mở ra trước mắt Alyosha một cánh cửa sổ hướng về thế giới mới mẻ mà cậu bé chưa từng biết, chưa từng thấy. Càng đọc nhiều sách, Alyosha càng thấy gần gũi với thế giới hơn, cuộc sống đối với cậu càng sáng sủa, có ý nghĩa hơn. Sau này, Gorky nhớ lại: “Sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong cuộc sống, nói cho tôi biết rằng con người thật vĩ đại và đẹp đẽ, luôn hướng về cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã gây ra nhiều chuyện trên trái đất và vì thế mà họ phải chịu biết bao đau khổ.”[3] Một nhân vật trong Kiếm sống là Jikharev đã nói với Alyosha với vẻ đồng tình: “Cháu không có thái độ dửng dưng mà luôn tập trung vào công việc. Cháu cứ nên như thế mãi, điều đó rất tốt!” Alyosha đã dũng cảm lao vào cuộc sống, dũng cảm “bước vào đời” mặc dù nhiều khi va chạm phải mặt trái xấu xa ghê tởm của nó. Gorky viết: “Trong tôi có hai con người: Một người sau khi đã biết quá nhiều điều ghê tởm và bẩn thỉu, trở nên sợ hãi cuộc sống, nản lòng bởi hiểu quá rõ các chuyện khủng khiếp xảy ra hằng ngày. Người ấy bắt đầu nhìn cuộc sống, nhìn mọi người với thái độ thiếu tin tưởng và hoài nghi, thương hại một cách bất lực cả bản thân và những người xung quanh. Con người ấy mơ ước một cuộc sống cô độc, yên tĩnh, chỉ có sách vở, không dính líu đến ai, mơ về một tu viện, một chòi canh trong rừng, một vọng gác đường sắt, mơ được đến Ba Tư, được đảm nhiệm cương vị một người gác đêm ở ngoại ô thành phố. Càng ít người càng tốt, càng tránh xa con người càng tốt… Còn người kia được nuôi dưỡng bằng ý chí thiêng liêng của các cuốn sách hay và sâu sắc, mỗi khi cảm thấy sức mạnh của những điều khủng khiếp xảy ra hằng ngày kia có thể dễ dàng đè bẹp mình, làm nhơ bẩn trái tim mình, nên cố sức tự vệ, cắn chặt răng, siết chặt nắm đấm, luôn sẵn sàng xông vào bất kì cuộc tranh cãi và trận chiến đấu nào. Con người này giàu tình yêu thương, và giống như những nhân vật dũng cảm trong các cuốn tiểu thuyết Pháp, chỉ cần đến câu thứ ba là đã rút ngay gươm ra khỏi bao và sẵn sàng chiến đấu.” Trên bước đường kiếm sống, Alyosha đã gặp và sống với những người lao động bình thường: thợ mộc, thợ nề, thợ làm tượng thánh, phu khuân vác… và cả các nghệ sĩ, nhà thơ, nhà triết học… Mỗi người đều cần thiết và quan trọng đối với Alyosha, giúp tâm hồn cậu thêm phong phú, khiến cậu trở nên mạnh mẽ, khôn ngoan, có đủ nghị lực đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trong quá trình tiếp xúc với những người này, tính cách của Alyosha dần dần hình thành. Bác đầu bếp Smouri, một trong những “người thầy” của Alyosha, một người vốn nghiêm nghị và thích cô độc, có tâm hồn hiền hậu và tấm lòng công bằng, cao thượng. Khi Alyosha đọc cho bác nghe chuyện Taras Bulba của Gogol, tới cảnh cái chết của vị thủ lĩnh Cossack thì Smouri, người mà tất cả mọi người trên tàu đều sợ, đã khóc nức nở. Chính nhờ cuộc gặp gỡ với Smouri mà Alyosha bắt đầu say mê đọc sách. Càng tiếp xúc với những người Nga bình thường, càng tìm hiểu họ sâu hơn, Alyosha càng thấy “những người chủ” là tầm thường, tẻ nhạt, thế giới của họ hóa ra không bền vững và chắc chắn như cậu tưởng. Alyosha đã trải qua cả một “trường học đường đời” khi làm việc ở xưởng làm tượng thánh. Những người thợ trong xưởng mà Alyosha tiếp xúc là những người có tinh thần ham hiểu biết, có tâm hồn phong phú và có tài năng. Ở mỗi người, Alyosha đều cảm thấy họ thực sự hiểu biết cuộc sống và nghệ thuật. Những người đó tuy sống tù túng trong xưởng nhưng vẫn đầy lòng cao thượng, sức mạnh và vẻ đẹp. Không phải vô cớ khi kể về Sitanov, Gorky nhắc rằng trong anh hình như có một cái gì giống với “nhà quý tộc Tây Ban Nha”, nhân vật mà Sitanov yêu thích hơn cả. Đặc biệt, Jikharev đã khiến Alyosha rất đỗi ngạc nhiên; đó là một nghệ sĩ nhân dân, một người bị giày vò vì khát vọng hiểu biết và sáng tác tự do. “Chúng ta biết được những gì? Chúng ta sống thật quá tầm thường… Còn đâu là tâm hồn? Tâm hồn ở đâu rồi? Nguyên bản thì có đấy; nhưng trái tim thì không…” Alyosha lo lắng và vui mừng nghe những lời lạ tai ấy của Jikharev. Những người này càng ngày càng nhận thức rõ sự bất công, vô nghĩa của thứ lao động cưỡng bách. Họ bị dồn vào cảnh lao động kiệt sức và đơn điệu, mất hết niềm vui và phúc lợi ở đời. Họ thèm muốn ánh sáng, tri thức, cái đẹp. Những cuốn sách mà Alyosha đọc đã khiến họ say mê, rung động. Khi Alyosha đọc tập thơ Con quỷ của Lermontov, những người này khiến cậu hết sức ngạc nhiên bởi khả năng thụ cảm nghệ thuật rất tinh vi và sâu sắc của họ. Qua những năm sống phiêu bạt ấy, trong Alyosha nảy sinh tình yêu mạnh mẽ với con người, thứ tình yêu mà cậu sẽ mang suốt đời. “Chú được cái tốt là đối với ai chú cũng coi như họ hàng thân thích cả, cái đó rất tốt!” Kapendiukhin đã nói với Alyosha như vậy. Alyosha luôn có mặt trên con đường đi tìm chân lí, mục đích cuộc sống, đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi vẫn giày vò cậu: “Làm thế nào để giúp đỡ mọi người?” Đối với Alyosha, việc tìm hiểu ông lão thợ mộc Osip là một điều “hết sức cần thiết”. Tính tình phức tạp của Osip giúp cho Alyosha hiểu được bản chất mâu thuẫn của nông dân (Về Osip, năm 1897 Gorky đã viết trong truyện ngắn Vanka Mazin và năm 1912 trong truyện ngắn Băng chuyển). Alyosha biết tìm ở mọi người những điều cần thiết với cậu, mặc dù những người ấy khác xa cậu. Trong tâm thức, Alyosha đã phân biệt được ước mơ và thực tế. Giờ đây, cậu không chỉ hướng về sách vở, thơ ca, truyện thần thoại để tìm kiếm sự dũng cảm và chân lí mà biết hướng vào hiện thực: “Điều đó càng khiến tôi ngạc nhiên hơn, tôi cảm thấy rất rõ những mâu thuẫn giữa thực tế và sách vở. Trước mặt tôi là con người sinh động mà trong sách vở không thấy được: bác Smouri, anh thợ đốt lò Yaakov, ông khách lưu lạc Aleksasha Vassiliep, bác Jikharev, chị thợ giặt Natalya…” Hình ảnh của những con người sinh động này chiếm một vị trí quan trọng trong tâm trí cậu bé Alyosha. Chương cuối của Kiếm sống xuất hiện một hình tượng đầy ý nghĩa – cảnh “trái đất nửa thức nửa ngủ”. Alyosha muốn đá tung tất cả trái đất và ngay cả chính mình nữa để cho tất cả mọi vật “xoay như một cơn lốc mừng vui trong điệu múa tưng bừng của những người yêu nhau say đắm, những người yêu cuộc sống này – cuộc sống mở đầu cho một cuộc sống khác tươi đẹp, phấn khởi và ngay thật”… Nhưng trong giai đoạn này, hiểu biết của Alyosha còn hạn chế, cậu chưa trả lời được câu hỏi: Cụ thể phải làm gì để giúp mọi người, phải thực hiện lí tưởng xây dựng một thế giới hợp lí và công bằng như thế nào? Tác phẩm Kiếm sống kết thúc bằng những suy nghĩ già dặn của cậu thiếu niên Alyosha mười sáu tuổi, sau những năm lăn lộn với sóng gió của cuộc đời để kiếm sống. “Tôi nghĩ bụng: ‘Ta phải làm được một việc gì chứ, nếu không thì ta sẽ sống vô ích…’ Vào những ngày thu ảm đạm, khi không những không nhìn thấy, không cảm thấy, mà còn quên mất cả mặt trời, tôi thường bị lạc trong rừng. Tôi đi chệch đường, chẳng tìm được lối hẻm nào; cuối cùng, sau khi sục sạo đến mệt bã người, tôi cắn răng đi xuyên qua rừng rậm, giẫm trên những cành cây mục nát, những mô đất tròng trành của vũng lầy. Cuối cùng, tôi luôn tìm được đường đi. Tôi quyết định cũng sẽ sống một cuộc đời như vậy.” Nhưng mãi đến sau này, phải qua nhiều năm được tôi luyện trong “những trường đại học” thực tế của cuộc đời, chàng thanh niên Alyosha Peskov mới tìm được hướng đi cho mình. Truyện tự thuật không phải là một thể loại mới trong văn học. Trước kia ở Nga, Saltykov Shchedrin, Lev Tolstoy, Aksakov… cũng đã từng viết truyện tự thuật. Gorky phát triển một cách sáng tạo truyền thống ưu tú của quá khứ và nâng cao tính tư tưởng của thể truyện này. Tác phẩm tự thuật của Gorky đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Nó là chiếc chìa khóa giúp ta hiểu thấu nguồn gốc thiên tài của Gorky, nắm chắc mối quan hệ vô cùng sâu sắc giữa Gorky với nhân dân, đất nước và cuộc sống. Con đường Gorky đã trải qua là con đường tiêu biểu của nhiều người Nga mòn mỏi trong cảnh bần cùng hóa bi thảm, trong lao động cực nhọc, sự vươn lên của tuổi trẻ với khát khao sáng tạo thường chịu áp chế, bóp nghẹt, nhưng những người trẻ tuổi vẫn tràn trề lòng tin, vượt mọi trở ngại trên con đường đi tìm lẽ sống. Gorky không coi tiểu sử của Alyosha Peskov là một hiện tượng siêu việt, ông từng tuyên bố: “Lịch sử của Gorky không phải là một trường hợp duy nhất và không phải là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt.”[4] Các nét tính cách nổi bật của Alyosha là: Lòng biết ơn nồng nhiệt với những người có lòng tốt với mình; tình cảm thương yêu những bạn cùng trang lứa đau khổ hơn mình; khát vọng chính nghĩa tới mức say sưa; mối căm thù sâu sắc đối với bọn áp bức tàn bạo; tinh thần bất khuất, khắc phục khó khăn; lòng yêu lao động… Nổi bật nhất là tinh thần hiếu học, chí cầu tiến, óc quan sát tinh vi, thói quen nhìn thẳng vào sự việc để phân biệt rõ ràng cái tốt, cái xấu. Alyosha không sống thụ động, tính cách cậu dần được hình thành vững vàng trong cuộc đấu tranh chống lại nguồn gốc của cái xấu xa trong đời sóng, trong khao khát hướng tới những điều tốt đẹp, công bằng và nhân đạo. Gặp Gorky lần đầu tiên năm 1905, Lenin nói: “Phải học ở Gorky cách nhìn và cách nghe.” Tác phẩm tự thuật của Gorky là một kho vốn sống phong phú, miêu tả lại bước đường gian truân đã dẫn dắt Gorky tới tuổi trưởng thành, nêu lên những ấn tượng sâu sắc nhất đã gợi hình, gợi ý, chuẩn bị cho đời sống văn học của Gorky. Tác phẩm không chỉ là tiểu sử riêng của một cá nhân mà còn là bức chân dung của cả một thế hệ, bức họa rộng lớn về phong cảnh, đất nước và xã hội Nga cuối thế kỉ XIX với những nét khắc họa điêu luyện, sâu sắc về cả diện mạo và tâm lí sinh động của con người. Tính điển hình của các hiện tượng được miêu tả trong tác phẩm bộ ba Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi khái quát cao độ, làm rung động và chiếm được cảm tình lớn của độc giả. Nhà văn Alexander Shirvanzade[5] đã nói về tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky như sau: ‘Theo quan điểm của tôi, toàn bộ cuốn sách tượng trưng cho cuộc sống của nhân dân Nga; cuốn sách kể về tâm hồn nặng trĩu không chỉ của dân tộc Nga mà của các dân tộc nói chung. Anh xem, tôi có phải là người Nga đâu, tôi là người Armenia, sinh trưởng và sống khác xa cuộc sống Nga, vậy mà những gì anh miêu tả rất giống cuộc sống của dân tộc tôi. Anh hãy tin rằng nhà văn Pháp, nhà văn Anh, hay nhà văn ở bất kì nước nào, xuất thân từ nhân dân hoặc hiểu biết cuộc sống của dân tộc mình, cũng sẽ nói với anh những điều như vậy.”[6] Nhà cách mạng Đức Rosa Luxemburg[7] trong bài luận văn Tinh thần văn học Nga có bàn tới tác phẩm tự thuật của M. Gorky như sau: “Chú bé kêu gào như một con sói con bị truy bức, nhe nanh vuốt sắc nhọn trước số mệnh. Cái tuổi thơ ấu đầy khốn quẫn, đau khổ, nhục nhã, hoài nghi, lưu lạc, gần gũi với những cặn bã của xã hội ấy bao hàm tất cả những đặc trưng có tính chất điển hình trong cuộc sống của giai cấp vô sản nước Nga đương thời. Phải đọc hồi kí của Gorky mới có thể lường được quá trình phát triển kinh khủng của ông – từ dưới đáy của xã hội vươn đến đỉnh cao của thế giới quan khoa học, của nghệ thuật thiên tài và của sự tu dưỡng văn hóa. Vận mệnh cá nhân của Gorky tượng trưng cho giai cấp vô sản Nga – giai cấp nhìn bề ngoài thì thiếu văn hóa, thô bạo, dưới thời Nga hoàng đã trải qua những thử thách của cuộc đấu tranh tàn khốc và trong một thời gian ngắn ngủi đến kinh người, trong vòng hai mươi năm, trở thành lực lượng tích cực của lịch sử.”[8] Đối với Gorky, cuộc sống và số phận ông cũng là cuộc sống và số phận của nhân dân ông; những điều khủng khiếp xảy ra xung quanh ông có ghê gớm đến thế nào đi chăng nữa cũng không thể làm ông mất lòng tin vào cuộc sống. Ông vẫn nhìn thấy trong cuộc sống những mầm non tốt đẹp của tương lai và vạch ra con đường của quá trình phát triển lịch sử sau này. Đó là một trong những điểm khác biệt giữa tác phẩm tự thuật của Gorky và các tác phẩm tự thuật cổ điển khác. Trên cơ sở tài liệu tự thuật, Gorky đề ra một trong những vấn đề quan trọng nhất của hiện thực xã hội chủ nghĩa – vấn đề hình thành tính cách con người tiêu biểu cho những mói quan hệ mới – mà sau này nhiều nhà văn khác kế thừa. Có thể nói tác phẩm tự thuật của Gorky là một tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa cổ điển đặc sắc, bởi vì Gorky đã cương quyết vạch trần chủ nghĩa tư bản theo lập trường quan điểm của Đảng, đồng thời cũng khẳng định tương lai vĩ đại của dân tộc Nga. Các nhà nghiên cứu và phê bình văn học nhiều lần nhận định rằng, chỉ xét riêng các chi tiết miêu tả một cách tế nhị, tinh vi tâm hồn, đặc điểm tâm lí, nghệ thuật thể hiện nội tâm, tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky có thể sánh ngang với các tác phẩm ưu tú của nền văn học thế giới. Tuy nhiên, điểm nổi bật trong sáng tác của Gorky là quá trình hình thành tư tưởng cách mạng, quá trình con người nhận thức xã hội. Đó chính là cái sáng tạo mà Gorky đã đóng góp vào truyền thống văn học vẻ vang của quá khứ, và chính điều đó đã xác định giá trị tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky với sự phát triển của nền văn học Xô viết và thế giới. Trần Khuyến Mời các bạn đón đọc Kiếm Sống của tác giả Maxim Gorky.
Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới
Được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1898, “Chiến tranh giữa các thế giới” (tên gốc: “War of the Worlds”) là một lời dự báo u buồn cho tương lai của nhân loại. Chiến tranh giữa các thế giới là một trong những cuốn sách thuộc giai đoạn đầu sự nghiệp của H.G.Wells, minh chứng rõ nhất cho những xu hướng sáng tác ấy. Cuốn sách tường thuật lại sự kiện người sao Hoả đổ bộ lên Trái đất và cuộc xâm lăng kéo dài gần một tháng trời sau đó. Làng mạc bị thiêu rụi, con người bị thảm sát bởi Tia Nhiệt bắn ra từ những con tàu và những cuộn khói độc màu đen kịt, Luân Đôn bị xoá sổ, những người sống sót bỏ chạy trong kinh hoàng… Nhân chứng của tất cả chuỗi sự kiện ấy là một người Trái đất nhỏ bé. Anh ta buộc phải lao vào một cuộc đào thoát điên cuồng, để rồi tự hoài nghi “Có lẽ tương lai nằm trong tay họ, chứ không phải chúng ta”. 117 năm là khoảng thời gian đủ dài để chứng minh tính “vượt thời gian” của Chiến tranh giữa các thế giới. Việc cuốn sách được xuất bản từ thế kỉ 19 không hề ngăn cản việc nó đã dự báo trước, không phải thảm hoạ, mà là góc nhìn của những con người ở thế kỉ này – vốn dĩ sống cách xa nó đến hơn 100 năm có lẻ. Loài người càng tiến thêm được những bước sâu hơn, xa hơn vào vũ trụ thì mối nghi ngờ của họ, dự cảm của họ, thậm chí cả sự tự ti của họ đối với một điều bất trắc vô hình cũng vì thế mà không ngừng tăng lên. Trong cuốn sách của mình, ông mô tả cỗ máy của bọn xâm lăng là những khối máy móc khổng lồ với chùm Tia Nhiệt có khả năng thiêu đốt mọi thứ chỉ bằng một tia sáng. Quân đội đã tiêu diệt được một trong số những cỗ máy ấy, nhưng hoàn toàn nhờ vào may mắn. Những cỗ máy giết người ấy vẫn là kẻ chiến thắng sau cùng trong mỗi trận chiến, và loài người trở thành kẻ trốn chạy trên chính đất đai quê hương mình. Một tấm gương vỡ mãi mãi không thể là một tấm gương lành, giống như hoà bình sau chiến tranh không bao giờ là hoà bình trước cuộc chiến ấy. Trong Chiến tranh giữa các thế giới, người ta vẫn tiếp tục sống, và làm những việc người ta vẫn thường làm, nhưng trong thẳm sâu suy nghĩ, mỗi người trong số họ đều biết rằng họ đã cách xa mãi mãi những tháng ngày yên bình trong quá khứ. Thế giới ấy đã mất đi vĩnh viễn, không thể vãn hồi. Cùng với sự mất mát ấy, con người biết rằng giờ đây họ mãi mãi không còn an toàn, nhỏ bé và dễ bị tấn công giữa vũ trụ bao la này. *** Herbert George Wells (21/09/1866 - 13/08/1946), thường được biết đến với cái tên H. G. Wells, là một nhà văn người Anh nổi tiếng với những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng như Kẻ Vượt Thời Gian, Người Vô Hình, Đảo Bác Sỹ Moreau, Xứ Sở Của Người Mù, Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới, Tiên phong lên mặt trăng.... Ông là một nhà văn của nhiều thể loại truyện, tiểu thuyết, bao gồm cả viễn tưởng, phi viễn tưởng hay các bài bình luận về lịch sử và xã hội. Wells cũng là một người theo chủ nghĩa xã hội, các tác phẩm của ông sau này thường nặng tính chính trị và giáo điều. Chỉ có những tác phẩm tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của ông là vẫn còn rất được ưu chuộng hiện nay. Wells và Jules Verne thường được coi "cha đẻ của khoa học viễn tưởng". Công việc: Tiểu thuyết gia, Giáo viên, nhà sử học, nhà báo. Wells có nhiều tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau, trong số đó 5 tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đều là truyện Sci Fi, mỗi cuốn đều tạo ra một dòng văn riêng biệt cho thể loại độc đáo này Wells sống rất đào hoa. Ông trải qua hai đời vợ (1 trong số đó là chị họ mình) và trong quãng đời kết hôn ông vẫn thường xuyên qua lại với nhiều phụ nữ khác. Một số người còn trở thành cảm hứng cho ông viết sách Wells có bút lực hiếm ai bì kịp, bốn năm liền cho xuất bản bốn cuốn bestsellers, và có thể viết 3 cuốn tiểu thuyết hay mỗi năm. Trong một cuốn sách phi hư cấu của mình H. G. Wells dự đoán rất chính xác sự phát triển của các khu thành thị, kinh tế toàn cầu hoá và các cuộc xung đột vũ trang nổ ra trên toàn cầu. Năm 1938, cuốn Chiến tranh giữa các thế giới của H. G. Wells được phát sóng trên radio, gây nổ ra cả một cuộc hoảng loạn vì mọi người tưởng người Sao Hoả đang xâm lăng thật. Lời cuối cùng Wells nói trước khi mất là: "Đi chỗ khác. Ta có sao đâu." Một số tác phẩm của H. G. Wells được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Kẻ Vượt Thời Gian - Herbert George Wells Người Vô Hình - Herbert George Wells Đảo Bác Sỹ Moreau - Herbert George Wells Xứ Sở của Người Mù - Herbert George Wells Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới,  Tiên phong lên mặt trăng .... Mời các bạn đón đọc Chiến Tranh Giữa Các Thế Giới của tác giả H. G. Wells.
Ngôi Nhà Của Người Cá Say Ngủ - Higashino Keigo
Tác phẩm kỉ niệm 30 năm cầm bút của Bậc thầy trinh thám số 1 Nhật Bản. Đồng thời được vinh danh trong top 10 sách văn học bán chạy nhất năm 2015 và 2016 theo thống kê từ NIPPAN. Nhà văn Keigo Higashino trở lại với một tác phẩm về tâm lý xã hội và y học đầy trăn trở và suy tư. Vẫn còn đó sự tò mò và hồi hộp nhưng lại thêm vào  những diễn biến tâm lý xã hội sâu sắc về ranh giới giữa sự sống và cái chết. Xoay quanh câu chuyện về một cặp vợ chồng dự định sẽ ly hôn sau khi cô con gái Mizuko vào cấp một.Nhưng tin dữ ập đến, một tai nạn bất ngờ không may ập đến với cô bé ở bể bơi. Nhưng sự thật còn đau đớn hơn gấp bội khi đứa con gái duy nhất của họ đã chết não nhưng trái tim vẫn còn đập bởi một sức mạnh kì lạ. Chính vào giây phút dấu hiệu của sự sống đang lụi tàn dần, cha mẹ cô bé phải tiếp nhận một sự thật tàn khốc: có nên hiến tạng của cô bé hay không? Trái tim cô bé vẫn còn đang đập và những ràng buộc riêng trên mặt luật pháp đã không cho vị bác sĩ nào dám khẳng định cô bé đã tử vong. Họ buộc lựa chọn tiếp tục chăm sóc đứa con gái đã rơi vào trạng thái thực vật hay buông tay, chấp nhận hiến tạng đứa con gái yêu duy nhất? Tất cả tạo nên một chuỗi những âu lo với bố mẹ cô bé :“Vậy kẻ hại chết con gái tôi sẽ là tôi sao? Không chỉ là những trăn trở về mặt pháp luật mà còn nhen nhóm hi vọng mong manh rằng chỉ cần trái tim còn đập thì một ngày kia cô bé sẽ dần lấy lại ý thức?. “Liệu cố gắng níu giữ sự “sự tồn tại” của một người đã chết có ý nghĩa gì? Hay đây chỉ là sự ích kỷ của bản thân họ khi từ chối hiến tạng con gái mình?. Điều này đã khiến người mẹ đã có những ý nghĩ không thấu đáo nhất thời nhưng cuối cùng... Nhà văn Keigo đã khéo léo gợi nhắc một khía cạnh nhức nhối không chỉ tồn tại trong xã hội Nhật Bản mà còn có giá trị hiện thực ở nhiều nơi trên thế giới về vấn đề hiến tạng. Cuốn sách còn giống như một lời gợi nhắc về tình cảm gia đình, về tấm lòng của những người làm cha làm mẹ dành cho những đứa con của mình. Gia đình là nơi không ngừng yêu thương và không bao giờ nói bỏ cuộc. Rõ ràng chỉ có yêu thương mới khiến người ta trăn trở đến thế, muốn cố gắng hết sức để cứu con gái yêu duy nhất. Giống như người cá vậy, cô bé Mizuko có một trái tim thật đẹp, những nhịp đập yếu ớt vẫn muốn gửi gắm đến cha mẹ tình yêu chưa một lần nói ra. Một lần nữa nhà văn Keigo Higashino lại khiến người đọc trăn trở trong từng câu văn, từng hình ảnh, từng cung bậc cảm xúc và để lại trong lòng độc giả câu hỏi day dứt “Nếu bạn ở trong hoàn cảnh ấy, liệu bạn sẽ lựa chọn ra sao?” và có lẽ đáp án lại tùy thuộc vào cách nghĩ của mỗi người. *** Higashino Keigo, sinh năm 1958 tại Osaka, là nhà văn trinh thám hàng đầu hiện nay tại Nhật Bản. Năm 1985, Higashino Keigo giành được giải Edogawa Rampo lần thứ 31 cho tác phẩm trinh thám hay nhất với tiểu thuyết Giờ tan học. Các năm sau đó, Higashino Keigo liên tục được đề cử vô số giải thưởng văn học lớn. Năm 1999, ông đoạt giải Mystery Writers of Japan Inói chuyện với tiểu thuyết Bí mật của Naoko, và năm 2006, là giải Naoki lần 134 cho Phía sau nghi can X. Năm 2012 tiểu thuyết Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya giành giải thưởng Chuokoron lần thứ 7. Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya đã bán được hơn một triệu bản ở Nhật, hơn một,sáu triệu bản tại Trung Quốc, được dựng thành kịch hai lần vào năm 2013 và 2016. Một số tác phẩm của Higashino Keigo đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam:  Phía Sau Nghi Can X - Higashino Keigo Bạch Dạ Hành - Higashino Keigo Bí mật của Naoko - Higashino Keigo Thánh Giá Rỗng - Higashino Keigo Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya Hoa Mộng Ảo Ngôi Nhà Của Người Cá Say Ngủ ... Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Của Người Cá Say Ngủ của tác giả Higashino Keigo.
Lớp Học Cuối Cùng - Mitch Albom
Có những khoảnh khắc bất ngờ, những sự việc ngẫu nhiên lại có ảnh hưởng sâu sắc, làm đảo lộn cả nếp sống và thay đổi những sắp đặt của đời người. “Lớp học cuối cùng” ra đời từ cái khoảnh khắc tình cờ ấy, nói cho đúng ra, đó là sự tiếp nối của lớp học đầu tiên thời sinh viên: Gần hai thập kỷ trước, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Mitch Albom từng là học trò cưng của tiến sĩ xã hội học Morrie Schuwartz, một giáo sư giàu uy tín và kinh nghiệm giảng dạy, một người bạn lớn, nhiệt tình và có sức thu hút đối với sinh viên, được họ trìu mến đặt cho biệt danh “Coach” - Huấn luyện viên. Mối quan hệ thầy trò khắng khít tưởng chừng thâm giao ấy bỗng dưng bị gián đoạn sau lễ tốt nghiệp của Mitch, bởi chàng trai trẻ ấp ủ quá nhiều dự định đã lao ngay vào guồng quay hối hả của xã hội ngõ hầu chạy đua với thời gian trên con đường tự khẳng định mình, và lời hẹn với thầy ngày tốt nghiệp đã nhanh chóng rơi vào lãng quên, như anh tự bạch: “Tôi đã đánh đổi nhiều giấc mơ thời thanh niên để nhận lại hàng đống tiền”! Cho đến cái khoảnh khắc tình cờ nọ... Đó là cái tích tắc nhà báo thời danh Mitch Albom tiện tay bật TV, và tiết mục truyền hình "Câu chuyện hàng đêm” đã khiến anh rúng động toàn thân khi gặp lại người thầy cũ: Chàng “thanh niên râu” linh hoạt và vui nhộn, người tưởng chừng không có tuổi, người từng sáng chói trên sàn nhảy tự do năm xưa với vũ điệu độc đáo của riêng mình, giờ đây đã trở thành một ông lão tàn phế bị cột chặt trên xe lăn với bản án tử hình đã được phán quyết - Căn bệnh nan y ALS, đang phá hủy hệ thần kinh, đẩy ông dần đến cái chết. Trong những ngày tháng cuối cùng trên giường bệnh, thay vì bất lực nhìn tử thần cứ dần dà gậm nhấm từng mẩu thân thể của mình, thầy Morrie đã trăn trở tự vấn: “Ta cứ héo hắt biến mất khỏi thế gian này hay cố gắng biến quãng đời còn lại thành thời gian đẹp nhất của cuộc sống” để rồi đi đến một quyết định quan trọng, rằng “Thầy sẽ biến mình thành quyển sách giáo khoa sống để người khác đọc”, rằng “Thầy muốn bước qua cây cầu cuối cùng nối giữa sự sống và cái chết. Đi qua và thuật lại cho hậu thế”. Và thế là buổi tái ngộ sau nhiều năm xa cách trở thành buổi đầu tiên của khóa học cuối cùng - một thầy một trò - ngay bên giường bệnh. Hầu như toàn bộ những vấn đề có ý nghĩa nhất của cuộc sống đã được đặt ra trong 13 tuần ngắn ngủi ấy: tình yêu, công việc, gia đình, cộng đồng, cái chết... không có giáo trình hay tài liệu tham khảo, chỉ là những lời tâm tình, gợi ý và chiêm nghiệm, là sự chứng kiến của học trò trước cái cách ung dung và dũng cảm đương đầu với bệnh tật của người thầy. Không có kì tốt nghiệp, bởi vì đó là ngày vĩnh biệt người thầy. Nhưng còn lại đây “khóa luận” kết thúc lớp học, đó chính là những trang sách bạn đọc sắp thưởng thức, một công trình được sự gợi ý và bàn bạc của thầy Morrie, một “đề án của chúng ta” - như cách ủy thác của vị giáo sư quá cố. Lẫn trong nỗi tiếc nhớ vô hạn, là niềm tự hào không che giấu của Mitch về người thầy của mình: “Có bao giờ bạn thực sự có một người Thầy? Một người trân trọng bạn như viên ngọc quý chưa được mài giũa, một thứ trang sức mà có thể lấy trí tuệ chà cho sáng bóng lên…” Lớp học cuối cùng của thầy Morrie đã kết thúc bởi đời người không thể vượt qua các hữu hạn, nhưng hình ảnh một Người Thầy với tất cả ý nghĩa cao đẹp của nó cùng những bài học về nhân sinh thì vẫn mãi mãi bất tử. *** Mitch Albom là một nhà báo, giữ mục thể thao cho tờ Detroit Free Press. Liên tiếp mười năm, lúc chỉ vào lứa tuổi trên 30, anh chàng  ký  mục  gia  thể  thao  này,  được  Hội  Ký  Giả  Thể  Thao (Associated Press Sports Editors) vinh danh là người ký muc gia thể Thao hay nhất. Thế rồi một ngày nọ, vì một sự đình công, anh đã tạm ngưng viết mục ký Thể Thao, để hoàn thành quyển sách, sau này là quyển sách bán chạy nhất trong năm 1977 - Quyển sách không liên quan gì tới thể thao. Một quyển sách viết về kinh nghiệm cuộc đời của một giáo sư đại học già đang chết dần mòn vì bệnh Lou Gehrig. Một tối nọ, Mitch Albom đang đổi từ  đài này qua đài khác không mục đích, và anh bỗng chú ý tới chương trình "Nightline" của Ted Koppel. Kìa người ta đang nói về ông Thầy yêu quý của anh! Từ lâu khi ra khỏi đại học, anh không còn liên lạc với ông Thầy Xã Hội Học, mà anh rất thân từ thuở bận quần jeans, áo thun, và đầu óc đầy lý tưởng. Giờ đây Mitch Albom là ký mục gia ăn khách, người ta cần anh viết về các trận banh, bóng rỗ, túc cầu, baseball, quần vợt nóng bỏng. Thêm vào đó anh còn làm cho đài radio, xuất hiện trên đài truyền hình, anh bận rộn với các các buổi phỏng vấn về các tay thể thao gia nổi tiếng đương thời. Anh chạy theo từng mùa của thể thao và quên mất ông Thầy yêu quý đã từng có những buổi nói chuyện đời lý thú với.... Sau buổi truyền hình, Mitch Albom gọi điện thoại hỏi thăm người thầy già, rồi bay về lại thành phố đại học cũ để thăm thầy. Và từ đó mỗi ngày thứ Ba cho đến khi Thầy Morrie Schwartz qua đời, hai thầy trò gặp nhau. Một thầy giảng về cuộc đời, và một trò ghi chép bài học và cảm nghĩ đã thay đổi đời sống của anh. Dù Thầy đang chết dần mòn nhưng thế giới thầy đầy tình yêu và hy vọng. "Tình Yêu là sự hiện diện của ta trên cuộc đời, dù rằng thể xác ta đã ra đi (Love is how you stay alive, even after you are gone).  Mitch Albom đã ghi lại kinh nghiệm của một người đang chết dần mòn, nhưng tư tưởng của ông vẫn còn mãi mãi. Đó là quyển "Những Ngày Thứ Ba Với Thầy Morrie" (Tuesdays with Morrie) của Mitch Albom. Một số tác phẩm của Mitch Albom được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Năm Người gặp trên thiên đường - Mitch Albom Những Ngày Thứ Ba Với Thầy Morrie - Mitch Albom Lớp Học Cuối Cùng ... Mời các bạn đón đọc Lớp Học Cuối Cùng của tác giả Mitch Albom.