Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chuyện Ma Ám Ở Trang Viên Bly

“Tôi nhớ rằng mọi chuyện bắt đầu với một loạt thăng trầm trong cảm xúc, một chút bấp bênh của hồi hộp lo sợ” Một cô gái trẻ nhận được công việc đầu tiên trong đời là làm gia sư cho hai đứa trẻ xinh đẹp, trong sáng và lặng lẽ đến dị thường tại toà dinh thự Bly cô độc, bị bủa vây trong cái ác rình rập. Những bóng người ẩn hiện từ toà tháp tối tăm và ô cửa sổ bụi bặm, các bóng ma xấu xa lặng lẽ tiến đến ngày một gần. Với nỗi kinh hoàng lớn dần, cô gia sư bất lực nhận ra những sinh vật tàn ác đó nhắm đến bọn trẻ, rắp tâm xâm chiếm cơ thể, tâm trí và cả linh hồn các em… Nhưng không ai ngoài cô nhìn thấy những bóng ma ấy. Phải chăng những ám ảnh kia được gợi lên từ chính trí tưởng tượng của cô gia sư, hay sự thật còn chứa đựng nhiều hơn thế? HENRY JAME (1843 - 1916) Là nhà văn người Mỹ, một trong những người sáng lập và dẫn đầu trường phái hiện thực trong văn hư cấu. Ông sống phần lớn cuộc đời tại Anh và trở thành công dân Anh không lâu trước khi qua đời. Ông được biết tới chủ yếu nhờ một loạt tiểu thuyết đồ sộ miêu tả sự giao thoa giữa Mỹ và châu Âu. Truyện của ông xoay quanh mối quan hệ cá nhân, cách sử dụng quyền lực đúng mực trong các mối quan hệ đó, và nhiều vấn đề đạo đức khác. Phương pháp viết của ông lấy góc nhìn của một nhân vật trong truyện, cho phép ông khám phá các hiện tượng ý thức và nhận thức, phong cách viết trong các tác phẩm về sau của ông từng được so sánh với tranh trường phái ấn tượng. Henry James kiên định tin rằng các nhà văn ở Anh và Mỹ nên được tự do tối đa trong việc thể hiện thế giới quan của mình, giống như các nhà văn Pháp. Chất sáng tạo trong thủ pháp sử dụng góc nhìn, độc thoại nội tâm và người trần thuật không đáng tin cậy trong các câu chuyện và tiểu thuyết của ông mang lại chiều sâu và sự hấp dẫn mới cho thể loại hư cấu hiện thực, và báo hiệu sự đổi mới trong văn học của thế kỉ hai mươi. Là một nhà văn có bút lực phi phàm, bên cạnh số lượng tác phẩm hư cấu đồ sộ, ông còn xuất bản báo, sách du lịch, tiểu sử, tự truyện, phê bình văn học, và kịch. Một số vở kịch của ông được biểu diễn lúc sinh thời và đạt được thành công nhất định. Tác phẩm kịch của ông được cho là có ảnh hưởng sâu rộng tới truyện và tiểu thuyết của ông sau này. Henry James từng được đề cử giải Nobel Văn học vào các năm 1911, 1912, và 1916. Từ khi xuất hiện lần đầu vào năm 1898 đến nay, CHUYỆN MA ÁM Ở TRANG VIÊN BLY đã được mệnh danh là một trong những truyện ma nổi tiếng nhất thế giới, là nguyên tác và nguồn cảm hứng cho hàng loạt các tác phẩm chuyển thể cũng như sản phẩm làm lại thuộc nhiều loại hình khác nhau: phim điện ảnh, phim truyền hình, opera, kịch, balê “Một câu chuyện nhỏ độc hại đến sửng sốt, và cũng tuyệt diệu nhất.” – OSCAR WILDE - “CHUYỆN MA ÁM Ở TRANG VIÊN BLY là một trong những câu chuyện ma rùng rợn nhất từ trước đến nay, phần lớn là vì nó khó nắm bắt theo cách quá hấp dẫn.” – GILLIAN FLYNN - *** Chúng tôi quây quần quanh lò sưởi, nín thở lắng nghe câu chuyện, nhưng ngoài lời nhận xét hiển nhiên rằng nó rất ghê rợn, mà chuyện kinh dị vào đêm giáng sinh trong một ngôi nhà cũ thì tất phải ghê rợn, tôi nhớ rằng không ai lên tiếng bình luận gì cho đến khi có người tình cờ nói rằng anh ta từng gặp duy nhất một trường hợp tương tự, xảy đến với một đứa trẻ. Tôi xin nói thêm rằng trường hợp đó là về hồn ma trong một ngôi nhà cũ giống như ngôi nhà chúng tôi đang tụ tập vào dịp này - một vụ hiện hồn kinh khủng, xảy đến với một cậu bé đang ngủ trong phòng với mẹ. Cậu bé đã đánh thức người mẹ trong cơn khiếp hãi; nhưng trước khi người mẹ kịp xua tan cơn sợ và dỗ dành cậu ngủ tiếp, bản thân bà cũng chứng kiến cảnh tượng khiến cậu run rẩy. Nhận xét này đã khơi gợi lời hồi đáp từ Douglas - không phải ngay lúc đó, mà vào tối muộn - dẫn đến một kết quả thú vị khiến tôi chú ý. Câu chuyện người khác đang kể chẳng hấp dẫn lắm, và tôi nhận thấy anh không chú ý lắng nghe. Tôi cho đó là dấu hiệu thể hiện rằng bản thân anh có chuyện muốn kể và chúng tôi chỉ cần chờ đợi. Quả thực chúng tôi đã đợi đến hai đêm sau; nhưng vào tối hôm đó, trước khi chúng tôi giải tán, anh đã nói ra ý nghĩ trong đầu mình. “Tôi đồng ý - về hồn ma của Griffin, hay dù nó là gì đi nữa - rằng việc nó xuất hiện cho cậu bé nhìn thấy trước, ở cái tuổi dễ tổn thương như vậy, đã thêm điểm nhấn cho câu chuyện. Nhưng đây không phải lần đầu tôi nghe về kiểu chuyện hấp dẫn này liên quan đến trẻ con. Nếu một đứa trẻ đã thêm nhát búa chát chúa cho hiệu quả câu chuyện, thì các vị nói sao với haiđứa trẻ…?” “Tất nhiên chúng tôi sẽ bảo rằng chúng mang đến hai nhát búa! Và rằng chúng tôi muốn nghe chuyện về chúng,” có người thốt lên. Tôi vẫn còn có thể hình dung ra Douglas đứng quay lưng về phía ngọn lửa, hai tay đút túi, nhìn xuống những người đang trò chuyện với mình. “Cho đến giờ, chưa có ai ngoài tôi từng nghe chuyện này. Câu chuyện có phần quá kinh khủng.” Câu này đương nhiên là đã được vài người nói ra để tạo hiệu quả tối đa cho câu chuyện của mình, và người bạn của chúng tôi, với nghệ thuật kể chuyện tinh tế, chuẩn bị cho chiến thắng của mình bằng cách đưa mắt nhìn chúng tôi rồi nói tiếp: “Vượt ra ngoài tất cả. Tôi chưa từng biết đến thứ gì có thể chạm tới câu chuyện này.” “Về mặt đáng sợ ư?” Tôi nhớ mình đã hỏi như vậy. Dường như anh muốn đáp rằng không chỉ đơn giản như vậy; như thể anh thực sự không tìm được từ thích hợp để miêu tả. Anh đưa tay xoa mắt, khẽ nhăn mặt. “Về độ kinh hoàng!” “Ôi, hấp dẫn quá đi mất!” Một người trong cánh phụ nữ kêu lên. Anh không hề chú ý đến cô ta; anh nhìn tôi, nhưng như thể thay vì tôi, anh đang nhìn thấy thứ mình nói đến. “Về sự xấu xa dị hợm nói chung, về nỗi khiếp sợ và đau đớn.” “Chà,” tôi bảo, “thế thì hãy ngồi xuống và bắt đầu kể ngay đi.” Anh quay về phía ngọn lửa, đưa chân gẩy một khúc gỗ, ngắm nhìn chốc lát. Rồi anh quay lại đối mặt với chúng tôi: “Tôi chưa bắt đầu kể được. Tôi phải gửi thư vào thành phố đã.” Một loạt tiếng ca thán vang lên, kèm theo trách móc; sau đó anh liền giải thích, vẫn với vẻ lơ đãng: “Câu chuyện đã được ghi lại và cất giữ trong ngăn kéo suốt nhiều năm. Tôi có thể viết thư và gửi kèm chìa khóa cho người của mình; anh ta sẽ gửi bưu kiện tới đây khi tìm thấy nó.” Cá nhân tôi cảm thấy dường như anh chủ động đề xuất việc này - có vẻ anh gần như kêu gọi mọi người giúp anh thôi do dự. Anh đã phá vỡ một lớp băng dày tích tụ qua nhiều mùa đông; anh có những lí do riêng để giữ im lặng lâu như vậy. Những người khác bất mãn với sự trì hoãn, nhưng chính những trăn trở của anh đã hấp dẫn tôi. Tôi yêu cầu anh viết thư để gửi ngay chuyến bưu chính đầu tiên và anh đồng ý cho chúng tôi nghe chuyện sớm; rồi tôi hỏi anh trải nghiệm mà anh nói đến có phải của chính bản thân anh hay không. Với câu hỏi này, anh trả lời ngay tức khắc. “Ôi, ơn Chúa, không!” “Vậy còn bản ghi chép là của anh? Anh đã ghi lại câu chuyện đó?” “Tôi không ghi lại gì ngoài ấn tượng về nó. Tôi ghi khắc vào đây,” anh vỗ lên tim mình. “Tôi chưa từng quên.” “Vậy bản ghi chép…?” “Là một bản thảo cũ kĩ, đã phai màu mực, bằng bút tích đẹp nhất trên đời.” Anh lại quay về phía ngọn lửa. “Bút tích của một phụ nữ. Cô đã qua đời hai mươi năm rồi. Cô gửi cho tôi những trang giấy ấy trước khi chết.” Lúc này tất cả bọn họ đều đang lắng nghe, và tất nhiên có người tỏ ý trêu chọc, hay ít nhất là rút ra suy diễn. Nhưng anh bác bỏ suy diễn một cách nghiêm túc, dù cũng không tỏ vẻ bực bội. “Cô là một người hết sức duyên dáng, nhưng cô lớn hơn tôi mười tuổi. Cô là gia sư của em gái tôi,” anh lặng lẽ nói thêm. “Cô là người phụ nữ đáng mến nhất tôi từng biết ở địa vị đó; dù làm bất cứ nghề nghiệp gì, cô cũng sẽ là một người đáng kính, chuyện đã lâu lắm rồi, và câu chuyện kia còn lâu hơn nữa. Khi ấy tôi đang học ở trường Trinity, tôi gặp cô khi về nhà vào mùa hè năm thứ hai. Năm ấy tôi ở nhà khá nhiều - một mùa hè đẹp. Chúng tôi đã đi dạo và nói chuyện vài lần trong vườn vào giờ nghỉ của cô - những cuộc trò chuyện khiến tôi phát hiện cô cực kỳ thông minh và dễ mến. Ô đúng vậy; đừng cười: tôi yêu quý cô rất nhiều và đến tận hôm nay vẫn lấy làm vui mừng khi nghĩ cô cũng quý mến tôi. Nếu không thì cô đã không kể với tôi rồi. Cô chưa từng kể với bất cứ ai. Không chỉ vì cô nói vậy, mà tôi biết là thực sự cô chưa từng kể. Tôi không chỉ biết chắc; tôi thấy rõ như vậy. Các vị sẽ dễ dàng rút ra kết luận ngay khi nghe chuyện.” “Bởi vì câu chuyện ấy quá đáng sợ?” Anh tiếp tục nhìn chăm chú về phía tôi. “Các vị sẽ tự rút ra kết luận,” anh nhắc lại. “Anh sẽ tự rút ra kết luận.” Tôi cũng nhìn anh không chớp. “Tôi hiểu rồi. Cô ấy đang yêu.” Anh bật cười lần đầu tiên. “Anh nói đúng đấy. Phải, cô đang yêu. Đúng hơn là đã từng yêu. Điều đó thể hiện rõ ràng - cô không thể kể câu chuyện của mình mà không biểu lộ điều đó. Tôi đã thấy, và cô thấy rằng tôi đã thấy; nhưng không ai trong chúng tôi nhắc đến. Tôi nhớ như in thời gian và địa điểm - nơi góc thảm cỏ, dưới bóng râm của hàng sồi lớn và buổi chiều mùa hè dài nóng bức. Đó không phải khung cảnh thích hợp để nghe chuyện kinh dị; nhưng ối chao…!” Anh rời bỏ lò sưởi và thả mình lại ghế ngồi. “Anh sẽ nhận được bưu kiện vào sáng thứ Năm?” Tôi hỏi. “Chắc phải đến chuyến bưu chính thứ hai.” “Vậy thì, sau bữa tối…” “Các vị đều sẽ gặp tôi ở đây?” Anh lại nhìn khắp lượt chúng tôi. “Sẽ không có ai rời đi chứ?” Giọng điệu anh gần như mong đợi. “Tất cả mọi người đều sẽ ở lại!” “Tôi sẽ ở lại” và “Tôi sẽ ở lại!” là tiếng kêu của những quý cô đã định sẵn ngày rời đi. Tuy nhiên bà Griffin tỏ ý muốn biết thêm. “Cô ấy đang yêu ai?” “Câu chuyện sẽ nói rõ,” tôi tranh lời đáp. “Ôi, tôi nóng lòng nghe chuyện quá!” “Câu chuyện sẽ không nói rõ đâu,” Douglas nói; “không nói theo một cách lộ liễu, sỗ sàng.” “Thế thì thật đáng tiếc. Tôi chỉ hiểu được theo mỗi cách ấy.” “Anh cũng không nói ư, Douglas?” Một người khác hỏi. Anh lại đứng bật dậy. “Có - ngày mai. Giờ thì tôi phải đi ngủ thôi. Chúc ngủ ngon.” Rồi anh nhanh chóng vớ lấy một ngọn nến, và bỏ lại chúng tôi trong ngỡ ngàng. Từ đầu bên này của hành lang màu nâu rộng lớn chúng tôi nghe thấy tiếng chân anh bước lên cầu thang; khi đó bà Griffin nói: “Chà, nếu tôi không biết cô ấy đang yêu ai, thì tôi cũng biết anh ấy yêu ai.” “Cô ấy già hơn mười tuổi,” chồng bà đáp lại. “Càng thêm lí do… ở cái tuổi ấy! Nhưng anh ấy giữ kín lâu như vậy cũng khá là đáng quý.” “Bốn mươi năm!” Griffin nói thêm. “Rốt cuộc bảy giờ cũng vỡ oà ra.” “Sự vỡ oà này,” tôi đáp lại, “sẽ biến tối thứ Năm thành một dịp đặc biệt.” Và mọi người đều đồng ý với tôi rằng, trước tình huống này, chúng tôi đều đã mất hứng thú với mọi câu chuyện khác. Câu chuyện cuối cùng, dù không hoàn chỉnh và chỉ như mở đầu của một loạt truyện dài kì, đã được kể ra; chúng tôi bắt tay và “bắt nến”, như một người nói, rồi đi ngủ. Ngày hôm sau, tôi biết rằng một lá thư kèm theo chìa khoá đã được gửi đến căn hộ của Douglas ở London vào chuyến bưu chính đầu tiên. Nhưng dù tin đó đã bị lan truyền cho mọi người, hay phải chăng chính vì lẽ đó, chúng tôi để anh yên cho đến sau bữa tối, thực tế là tới tận khi đã khuya đến mức thích hợp với bầu không khí mà kỳ vọng của chúng tôi tạo lập nên. Khi đó anh trở nên cởi mở đúng như chúng tôi mong muốn và cho chúng tôi lí do chính đáng nhất về thái độ cởi mở đó. Một lần nữa chúng tôi tụ tập trước lò sưởi trong đại sảnh để nghe anh kể, giống như tối hôm trước, khi chúng tôi bị anh khơi gợi tâm trí. Có vẻ như bản tường thuật mà anh hứa sẽ đọc cho chúng tôi nghe thực sự cần một lời mở đầu thích đáng. Tôi xin được nói rõ rằng bản tường thuật mà tôi trình bày dưới đây được lấy từ bản chép nguyên văn do chính tôi ghi lại nhiều năm sau đó. Douglas tội nghiệp đã gửi bản thảo cho tôi trước khi chết - khi anh thấy rõ cái chết sắp đến gần. Bản thảo đến tay anh vào ngày thứ ba của cuộc tụ tập và vào đêm thứ tư, tại đúng chỗ hôm trước, với sự truyền cảm mạnh mẽ, anh bắt đầu đọc trước đám đông quây quần. May thay, các quý cô hôm trước hứa sẽ ở lại cuối cùng lại thất hứa: họ đã rời đi theo lịch trình định sẵn, mang theo lòng hiếu kì sôi sục mà anh đã gợi lên trong tất cả chúng tôi, theo như lời họ thừa nhận. Nhưng điều đó chỉ khiến đám đông thính giả cuối cùng của anh thêm thu gọn và có chọn lọc, chia sẻ một đam mê chung, vây quanh ngọn lửa. Những dòng đầu tiên cho biết rằng bản ghi chép này được thực hiện tại thời điểm sau khi câu chuyện đã bắt đầu. Theo đó, người bạn cũ của Douglas - cô con gái út của một mục sư nông thôn nghèo - ở tuổi hai mươi, đã đến London để nhận công việc dạy học đầu tiên. Lòng đầy hồi hộp, cô tới gặp mặt trực tiếp người đăng quảng cáo tuyển dụng mà trước đó cô đã trao đổi qua thư. Khi cô trình diện tại ngôi nhà đồ sộ và bề thế trên phố Harley, ông chủ tương lai thể hiện mình là một quý ông độc thân lịch thiệp đang tuổi tráng niên; hình tượng như vậy chưa từng xuất hiện, trừ trong mơ hay tiểu thuyết, trước một cô gái đầy xúc động, hồi hộp, đến từ một ngôi nhà của mục sư vùng Hampshire. Mẫu người như anh không bao giờ lỗi thời. Điển trai, bạo dạn và nhã nhặn, tự nhiên, vui vẻ và nhân từ. Tất nhiên anh gây cho cô ấn tượng lịch thiệp và phong nhã, nhưng điều chinh phục cô hơn cả và cho cô lòng dũng cảm mà cô thể hiện về sau là việc anh đã coi toàn bộ công việc của cô như một ân huệ, một trách nhiệm mà đáng lẽ anh phải vui lòng đảm đương. Cô nhận thấy anh giàu có, nhưng cũng xa hoa đến khiếp đảm - cô đã thấy anh trong trang phục đắt tiền hào nhoáng, trong diện mạo đẹp đẽ, trong những thói quen đắt đỏ, trong vẻ phong lưu trước mặt phụ nữ. Nơi ở tại thành phố của anh là một ngôi nhà rộng lớn chứa đầy chiến lợi phẩm và đồ lưu niệm từ du lịch và săn bắn; nhưng nơi anh muốn cô đến ngay lập tức là ngôi nhà ở quê, một biệt thự cổ của gia đình tại Essex. Anh bị trao quyền giám hộ hai đứa cháu một trai một gái, con của người anh trai trong quân ngũ, sau cái chết của cha mẹ chúng tại Ấn Độ vào hai năm trước. Với một người đàn ông ở địa vị của anh - độc thân, không có cả kinh nghiệm lẫn chút ít kiên nhẫn nào - bọn trẻ là gánh nặng rất lớn. Điều này gây ra nỗi lo lớn cùng một loạt sai lầm, hẳn nhiên là từ phía anh, nhưng anh vô cùng xót thương bọn trẻ tội nghiệp và đã làm tất cả những gì có thể. Cụ thể thì anh đã gửi chúng về ngôi nhà khác của mình ở nông thôn, là môi trường thích hợp dành cho chúng, và để chúng ở đó với những người tốt nhất mà anh tìm được để chăm nom chúng, anh thậm chí đã cử chính những người hầu của mình đi phục vụ chúng, và về thăm chúng mỗi khi có thể. Điều khó xử là chúng không còn người thân nào khác, mà việc riêng của anh đã chiếm dụng toàn bộ thời gian. Anh đã cho chúng sở hữu Bly, một nơi an toàn và lành mạnh, đồng thời cử bà Grose, một người phụ nữ xuất sắc, làm người đứng đầu tại dinh cơ nho nhỏ của chúng. Bà Grose từng là hầu gái cho mẹ của anh và anh tin chắc vị khách của mình sẽ quý mến bà. Hiện giờ bà là quản gia và cũng tạm thời đóng vai trò chăm nom bé gái; may mắn thay, bà cực kỳ yêu quý cô bé, vì bản thân bà không có con cái. Còn có nhiều người giúp việc khác, nhưng tất nhiên cô gái trẻ chuẩn bị đến đó làm gia sư sẽ nắm quyền hành tối cao. Vào các kỳ nghỉ, cô cũng sẽ phải trông nom bé trai, cậu bé đã đi học được một kì - dù tuổi hơi nhỏ, nhưng còn cách nào khác đâu? - và chuẩn bị về vì kỳ nghỉ sắp bắt đầu. Trước đó từng có một cô gái khác trông nom hai đứa trẻ nhưng cô ta không may đã mất. Cô ta làm việc khá xuất sắc - là một người hết sức đáng kính - cho đến khi qua đời, dẫn đến tình huống khó xử khiến cho Miles bé nhỏ không còn lựa chọn nào khác ngoài trường học. Kể từ đó, bà Grose đã phụ trách dạy dỗ Flora trong khả năng của mình, về mặt phép tắc và lễ nghi. Ngoài ra còn có một đầu bếp, hầu gái, người phụ nữ phụ trách việc bơ sữa, một con ngựa lùn già, cùng người giữ ngựa, và một người làm vườn già, tất cả đều vô cùng đáng kính. Sau khi Douglas trình bày bối cảnh đến đây, có người đặt câu hỏi. “Thế cô gia sư trước chết vì cái gì? Chết ngộp trong đáng kính chắc?” Bạn tôi trả lời ngay tức khắc. “Sau này sẽ nói. Tôi không báo trước.” “Xin lỗi, tôi nghĩ báo trước chính là việc anh đang làm.” “Đứng từ vị trí của người kế nhiệm cô ta,” tôi gợi ý, “tôi sẽ muốn được biết nếu công việc đi kèm với…” “Nguy hiểm đến tính mạng?” Douglas nói tiếp suy nghĩ của tôi. “Cô ấy quả thực muốn biết, và cô ấy đã biết. Ngày mai anh sẽ được nghe chuyện gì cô ấy đã biết. Còn trước mắt, tất nhiên, viễn cảnh đối với cô có vẻ ảm đạm. Cô còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, đầy lo lắng: một viễn cảnh với nhiều trách nhiệm và ít bầu bạn, cùng nỗi cô đơn to lớn. Cô do dự - mất vài ngày đắn đo cân nhắc. Nhưng mức lương được trả cao hơn hẳn mức sống đạm bạc của cô. Cô đã nhận lời vào buổi phỏng vấn thứ hai.” Và đến đây, Douglas tạm dừng, khiến tôi góp lời thay mặt cho mọi người… “Mà cốt lõi của việc này tất nhiên là sức quyến rũ của chàng thanh niên phong nhã. Cô ấy đã bị chinh phục.” Anh đứng dậy và, như đã làm vào đêm hôm trước, bước về phía lò sưởi, dùng chân gẩy một thanh củi, rồi đứng quay lưng về phía chúng tôi trong chốc lát. “Cô chỉ gặp anh ta hai lần.” “Đúng vậy, nhưng điều đó càng nói lên tình cảm của cô ấy.” Tôi hơi ngạc nhiên khi Douglas nghe vậy và quay về phía tôi. “Chính là như thế. Có những người khác,” anh nói tiếp, “không bị chinh phục. Anh ta đã nói thành thật với cô mọi khó khăn của mình - rằng một số ứng viên khác cho rằng điều kiện công việc quá khắt khe. Vì lẽ nào đó họ thực sự e ngại. Công việc này nghe có vẻ tẻ nhạt - có vẻ kỳ quặc; và hơn hết là do điều kiện chính anh ta đặt ra.” “Đó là…?” “Là cô không bao giờ được làm phiền anh ta - tuyệt đối không bao giờ: dù là để yêu cầu, than phiền, hay vì bất kể lý do gì; cô chỉ có thể tự mình giải quyết mọi vấn để, nhận mọi khoản tiền từ luật sư của anh ta, đảm nhận toàn bộ trách nhiệm và để anh ta yên. Cô hứa sẽ làm như vậy, và cô kể với tôi rằng cô đã cảm thấy được đền đáp khi anh ta nắm lấy tay cô trong giây lát, vui mừng vì thoát khỏi gánh nặng, cảm ơn cô vì sự hi sinh.” “Nhưng cô ấy chỉ được đền đáp có như vậy thôi ư?” Một người trong cánh phụ nữ hỏi. “Cô ấy không bao giờ gặp anh ta nữa.” “Ôi!” Người phụ nữ nọ đáp. Và đó là từ duy nhất góp thêm vào chủ đề này, khi bạn chúng tôi lại một lần nữa lập tức bỏ chúng tôi mà đi, cho đến đêm hôm sau, bên góc lò sưởi, trong chiếc ghế thoải mái nhất, anh mở tấm bìa đỏ phai màu của một cuốn sổ mỏng viền vàng cũ kĩ. Cả câu chuyện mất hơn một đêm để kể, nhưng ngay khi có cơ hội, vẫn người phụ nữ hôm trước đặt một câu hỏi nữa. “Đầu đề anh đặt cho câu chuyện là gì?” “Tôi chưa đặt.” “Ôi, tôi thì có!” Tôi thốt lên. Nhưng Douglas không để ý đến tôi và bắt đầu đọc bằng giọng rành rọt như thể biểu đạt với tai người nghe vẻ đẹp của bút tích tác giả. Mời các bạn đón đọc Chuyện Ma Ám Ở Trang Viên Bly của tác giả Henry James & Nguyên Hương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Mật Mã Phù Thủy tập 3
Một buổi chiều muộn tháng 9, Diana Bishop, nữ sử gia đồng thời là một học giả hóa học trẻ tuổi và tài năng đang miệt mài nghiên cứu giữa đống cổ thư trong thư viện Bodleian, trường Oxford. Diana vô tình cầm một bản thảo cổ xưa về thuật giả kim, cuốn sách Ashmole 782, lên xem. Ngay lập tức, cô nhận ra nó có một sức mạnh bí ẩn vô cùng lôi cuốn và huyền bí. Thực tế, Diana còn là hậu duệ của một dòng dõi phù thủy lâu đời và xuất chúng, song cô không muốn thừa nhận và sử dụng năng lực siêu nhiên của mình – và bao nhiêu năm qua, cô đã cố gắng sống như bao cô gái bình thường khác. Chính vì thế, sau một thoáng lướt qua cuốn Ashmole 782, Diana đã trả nó lại cho thư viện và lờ đi những linh tính phù thủy của mình Tuy nhiên, Diana không phải nhân vật duy nhất nhận ra sự trở lại của cuốn sách huyền bí, và những khám phá của cô sau đó ngay lập tức đã khuấy đảo cả thế giới ngầm. Ashmole 782 là một kho báu vô giá đã thất lạc hàng thế kỷ và Diana là sinh vật đầu tiên cũng như duy nhất biết được thần chú mở ấn. Ngay lập tức, cô nhận ra mình cùng lúc bị ba loài sinh vật thần bí trên trái đất bao vây – yêu tinh, phù thủy, và ma cà rồng – những kẻ đang ùn ùn kéo về Oxford hòng tìm kiếm cuốn cổ thư. Trong số đó, cô cảm nhận được mối liên hệ mạnh mẽ với Mathew Clairmont, một nhà di truyền học điển trai, mạnh mẽ và cũng là một ma cà rồng. Mathew là nhân vật có những thành tựu học thuật xuất chúng sau hàng trăm năm miệt mài nghiên cứu. Hai nhân vật thuộc về hai giống loài vốn cố mối thâm thù, nhưng sau những bữa tối bên ánh nến lung linh, những lớp học yoga với các bài tập siêu nhiên thần bí, và sau chuyến đi về ngôi nhà cổ kính của Matthew (mà thực ra là một lâu đài) ở miền Nam nước Pháp, họ đã dần xích lại gần nhau… Khi những thử thách hai người phải đối đầu ngày một nghiêm trọng, năng lực của Diana cũng ngày càng mạnh lên, cô cùng với Matthew đã phải sát cánh bên nhau để chiến đấu chống lại những thế lực đang thèm khát giải mã cuốn cổ thư với những trang sách hứa hẹn sẽ hé mở những bí mật động trời trong quá khứ cũng như tiết lộ những tiên đoán về tương lai đầy bí ẩn. *** Deborah Harkness là Giáo sư khoa Lịch sử tại trường Đại học Nam California. Bà từng nhận học bổng của Fulbright, Guggenheim và Trung tâm Nhân loại Quốc gia. Công trình nghiên cứu gần đây nhất của bà là Ngôi nhà đá quý: London thời Elizabeth và cuộc Cách mạng khoa học. “Harkness viết với một sự thích thú đến nghẹt thở về thế giới phép thuật. Dù bà miêu tả những lớp tập yoga cho phù thủy, yêu tinh và ma cà rồng, hay những đoạn Dianna đến thăm lâu đài của Matthew, tất cả đều hồi hộp và tinh tế đến khó tin... Khi những điều huyền bí bắt đầu được hé lộ, tôi bắt đầu lật trang sách nhanh hơn, như thể chúng tự động lật giở vậy. Đến lúc thiên truyện kết thúc hoàn toàn gây thỏa mãn, Harkness đã biến tôi thành một tín đồ...” “Mật mã phù thủy là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Deborah nhưng đã gây tiếng vang rộng rãi và gây kinh ngạc cho các nhà phê bình. Đây là một trong những cuốn sách được bàn tán và chờ đợi nhiều nhất tại Hội chợ sách Frankfurt 2009, bản quyền của nó đã được bán đi cho 36 quốc gia, và trong tuần phát hành đầu tiên đã đạt số lượng bán kỉ lục: hơn 300.000 bản...”    Mật mã phù thủy là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Deborah và là cuốn đầu tiên trong bộ ba All Souls. Đây là một trong các cuốn sách được bàn tán và chờ đợi nhiều nhất tại Hội chợ sách Frankfurt 2009, bản quyền đã được bán cho 32 quốc gia ngay từ khi sách chưa được xuất bản. Một thiên tiểu thuyết vô cùng mê hoặc, Mật mã phù thủy là sự cân bằng hài hòa giữa lịch sử và phép màu huyền bí, giữa lãng mạn và ly kỳ… Mật mã phù thủy được bình chọn là một trong những cuốn sách hay nhất của tháng 2 năm 2011 trên trang www.amazon.com 11/ 2/ 2011, số bản in của cuốn sách đã lên tới 210.000 bản, và còn 100.000 bản đã được đặt hàng. Cuốn sách xếp thứ 6 trong danh mục best seller của tờ Sunday Times ở Anh. 18/2/2011, cuốn sách vươn lên xếp thứ 2 trong danh mục bestseller của New York Times. *** Các hồn ma không có nhiều vật chất. Tất cả đều được tạo thành trong những ký ức và tư tưởng. Trên đỉnh một trong những tháp tròn của Sept-Tours , Emily Mather ép một bàn tay mờ mờ trên vị trí ở trung tâm lồng ngực mà ngay cả bây giờ cũng vẫn đang bị đè nặng với nỗi sợ hãi. Liệu nó có bao giờ được dễ dàng hơn? Giọng nói, giống như phần còn lại của bà, hầu như không thể nhận thấy. Quan sát? Chờ đợi? Nhận biết? Không phải là tôi không lưu ý, Philippe de Clermont trả lời vắn tắt. Ông đang ngồi gần đó, nghiên cứu những ngón tay trong suốt của mình. Trong số tất cả những điều Philippe không thích về việc đã chết : không có khả năng chạm vào người vợ của mình, Ysabeau, thiếu nhận biết về mùi hoặc hương vị, thực tế là ông không có chút cơ bắp nào cho một đấu sĩ vô hình truyệt hảo đứng đầu danh sách. Đó là một lời nhắc nhở liên tục rằng ông đã trở nên tầm thường như thế nào. Mặt Emily cúi gằm, và Philippe thầm nguyền rủa bản thân mình. Kể từ khi qua đời, bà phù thủy đã là kẻ bầu bạn vĩnh hằng của ông, đã chia nỗi cô đơn của ông làm hai. Ông nghĩ gì thế, quát tháo bà như thể bà là một người đầy tớ sao? Có lẽ sẽ dễ dàng hơn khi họ không cần chúng ta nữa, Philippe nói bằng một giọng nhẹ nhàng. Ông có thể là hồn ma nhiều kinh nghiệm hơn, nhưng Emily mới là người hiểu rõ tính siêu hình trong tình huống của họ. Những gì bà phù thủy nói với ông đi ngược lại tất cả mọi thứ Philippe đã tin về kiếp sau. Ông đã nghĩ rằng người sống nhìn thấy những kẻ chết vì họ cần một cái gì đó từ họ: sự hỗ trợ, sự tha thứ, sự trừng phạt. Emily khăng khăng những điều này không có gì khác hơn là những chuyện hoang đường của con người, chỉ khi sự sống đi tiếp và buông bỏ để thì cái chết mới có thể xuất hiện với họ. Thông tin này đã khiến những thất bại trong việc gây chú ý cho Ysabeau phần nào dễ chịu hơn, nhưng không nhiều. "Em không thể chờ để xem phản ứng của dì Em. Dì ấy sẽ rất ngạc nhiên. " Giọng nữ trầm ấm áp của Diana trôi nổi lên những bờ thành châu mai. Diana và Matthew, Emily và Philippe đồng thanh nói, nhìn xuống khoảnh sân rải sỏi bao quanh lâu đài. Nhìn này, Philippe nói, chỉ vào lối đi. Ngay cả khi đã chết, ông vẫn có tầm nhìn ma cà rồng sắc bén hơn so với bất kỳ con người nào. Ông cũng vẫn còn đẹp trai hơn bất kỳ người đàn ông nào, với đôi vai rộng và nụ cười quỷ quái. Ông quay nhìn Emily, người không thể không mỉm cười đáp lại. Chúng là một cặp đẹp đẽ, đúng không? Nhìn xem con trai tôi đã thay đổi nhiều như thế nào kìa. Ma cà rồng không bị thay đổi bởi tác động của thời gian, và do đó Emily mong đợi sẽ thấy cùng mái tóc đen, thẫm đến nỗi lấp lánh màu xanh; cùng đôi mắt xanh xám có thể biến đổi, lãnh lẽo và xa xăm như một vùng biển mùa đông; cùng màu da nhợt nhạt và khuôn miệng rộng. Dù vậy, có một vài sự khác biệt tinh tế như Philippe đã nêu. Tóc Matthew ngắn hơn, và mang bộ râu đó khiến anh trông thậm chí nguy hiểm hơn, giống như một tên cướp biển. Bà thở hổn hển. Liệu nó có bao giờ được dễ dàng hơn? Giọng nói, giống như phần còn lại của bà, hầu như không thể nhận thấy. ... Mời các bạn đón đọc Mật Mã Phù Thủy tập 3: Cuốn Sách của Sự Sống của tác giả Deborah Harkness.
Xin Đừng Ốm - R. L. Stine
Đây là lần thứ hai Corey cùng chị Meg và bố mẹ rời xa khu phố Fear thân quen, vì chị Meg của nó cần tham gia buổi diễn thử múa ba lê ở xa nhà. Theo kế hoạch, chị Meg và bố mẹ tạm trú ở khách sạn, còn nó bị "ra rìa", về nông thôn sống với bà ngoại Marsha. Trước khi bỏ nó lại, bố mẹ không quên dặn dò "Đừng ốm ở nhà bà", nhưng thật không may, nó đổ bệnh... *** R.L.STINE là bút hiệu của Robert Lawrence Stine. Ông sinh ngày 8 tháng 10 năm 1943 tại Columbus (Ohio), là một nhà văn Mỹ, tác giả của hơn 12 truyện khoa học giả tưởng kinh dị dành cho độc giả thuộc lứa tuổi thanh thiếu niên. Những tác phẩm ấy được biết đến nhiều nhất là Goosebumps, Rotten School, Mostly Ghostly, The Nightmare Room và Fear Street . Tất cả các cuốn sách của ông đều có một series các đoạn truyện tạo nên một “cảm giác sợ hãi an toàn”, vì cho dù tạo cho các đọc giả một cảm giác sợ hãi đến đâu nhưng các nhân vật trong truyện “chẳng có ai chết cả”. Sách của ông được dịch ra thành 32 sinh ngữ và đã được bán hơn 300 triệu bản trên toàn thế giới … Liên tiếp trong 3 năm từ 1990, nhật báo USA Today đã mệnh danh ông là tác giả có sách bán chạy nhất của Hoa Kỳ . Những câu chuyện kỳ bí được dịch và xuất bản tại Việt nam gồm có: Miếng Bọt Biển Ma Quái Ai Đã Nằm Trong Mộ Trò Chơi Trốn Tìm Ác mộng trong không gian ba chiều Cái nhìn ma quỷ Căn phòng cấm Chuyện trại Fear Con vượn bơi trong bể kính Đảo giấu vàng Đêm của ma mèo Hiệp sĩ sắt Những bức ảnh tiên tri Trở thành Ma cà rồng Nào Chúng Mình Hãy Biến Cái Đầu Khô Của Tôi Máu Quỷ Căn Hầm Bí Ẩn Chào Mừng Đến Với Ngôi Nhà Chết Lời Nguyền Trại Lãnh Hồ Chiếc Đồng Hồ Cúc Cu Vật Tìm Thấy Dưới Chậu Rửa Bát Ma Sói Trong Đầm Sốt Rét Ngôi Nhà Cây Xin Đừng Ốm Cái Máy Ăn ... *** — Corey! Đừng có đá vào lưng ghế! – Bố lên tiếng từ ghế ngồi đằng trước ô tô. — Và hãy rụt cái cùi trỏ của em khỏi mạng sườn chị. – Chị Meg của tôi rên lên. — Và hãy quay cánh cửa xe lên. – Mẹ đề nghị. – Nó làm tóc mẹ bay lung tung hết cả. — Tại sao tất cả mọi người lại cứ chỉ nhằm vào mình mà kêu ca nhỉ? – Tôi than vãn. – Mình chẳng làm gì cả. Tôi cuộn tròn người lại và gườm gườm nhìn ra cửa sổ. Tôi không muốn tham dự chuyến đi này. Tôi chỉ muốn ở lại nhà tại Shadyside với bạn bè của mình, với cô mèo mắt xám đen bên hàng xóm. Nhưng không được! Chị Meg phải đi diễn thử ở một trường ba lê vớ vẩn nào đó. Vì thế mà chúng tôi phải tự lèn mình vào chiếc xe ngốc nghếch này và đang trên đường tới bang Pennsylvania trong cái nắng nóng như thiêu mà không có điều hoà nhiệt độ. Đây là lần thứ hai chúng tôi phải rời khu phố Fear. — Nóng quá! – Tôi càu nhàu khi chúng tôi đã đi được hoảng hơn năm dặm. – Khi nào chúng ta mới tới nơi ạ? — Tự con cũng biết tới nhà bà Marsha thì mất bao lâu mà. – Từ ghế trước mẹ xoay người lại nhìn tôi. – Chính xác là mất bốn tiếng tính từ cửa chính nhà mình đến cửa nhà bà. Tôi tròn mắt nhìn mẹ. — Bà Marsha? – Tôi đáp lại. Tôi ngạc nhiên nhìn mẹ mấy lần. Bà Marsha ư? Tôi không hề biết người mà mẹ nhắc đến. Đầu óc tôi hoàn toàn không có bóng dáng cái tên đó. — Bà Marsha sẽ rất vui khi gặp con. – Mẹ lùa tay vào mái tóc vàng hoe của tôi trìu mến nói. Tôi lại rất ghét mẹ làm vậy. Tôi đã mười hai tuổi rồi vậy mà mẹ cư xử như thể tôi mới lên bốn. Tôi né đầu khỏi bàn tay mẹ và hỏi: — Con gặp bà lần gần đây nhất là hồi nào mẹ nhỉ? Mẹ ngờ vực nhìn tôi đăm đăm: — Đừng có nói với mẹ là con đã quên đấy! — Vâng con sẽ không quên đâu ạ. Tôi nói khoác. Thực sự thì tôi chẳng nhớ ra. Chị Meg đưa mắt nói: — Corey…, chúng ta đã tới thăm bà Marsha tháng bảy năm ngoái nhân dịp sinh nhật em. Bà đã tặng em một đống quà còn gì. Tôi cười ngượng nghịu và gật đầu: — À, đúng rồi… Thật là kỳ lạ. Làm sao mình có thể quên chính bà mình nhỉ? Meg mở nắp một hộp sữa chua không béo và cắm thìa vào: — Bà thường gửi cho em những món quà giá trị như ván trượt tuyết, những quả bóng rổ, cả tấm bia phi tiêu kia nữa. Còn chị bà chỉ gửi séc thôi. — Bà đã gửi cho em tấm ván trượt ấy à? – Tôi giật mình. Tại sao mình vẫn không nhớ ra nhỉ? Mình đã dùng cái ván trượt đó suốt cả năm trời. — “Bà Marsha” hẳn là một “vấn đề” đó, Corey nhỉ? – Bố cười thích thú. — Hê hê… Đúng rồi, đúng như vậy. – Bà là một “ vấn đề”, đúng thế. Một người hoàn toàn xa lạ. Cổ họng tôi khô khốc. Tôi không thể tin được điều này! Tôi hoàn toàn không có một ý tưởng nào trong đầu rằng bà Marsha là ai. Mẹ vỗ vào đầu gối tôi: — Thôi nào, Corey. Con đừng đùa cợt nữa. — À vâng. – Tôi ngồi ngay ngắn lại. – Con chỉ đùa thôi mà. Làm sao tôi có thể nói với gia đình mình rằng tôi không thể nhớ ra chính bà ngoại mình nhỉ? Mọi người sẽ nghĩ mình gàn dở. Tôi liếc sang phía chị Meg. Chị ấy đang nhìn tôi đầy vẻ ngờ vực. — Đó là em đùa đấy mà! – Tôi khẳng định với một giọng hơi to. – Được chứ? Đùa thôi mà! ... Mời các bạn đón đọc ​Xin Đừng Ốm của tác giả R. L. Stine.
Ngôi Nhà Cây - R. L. Stine
Sống cùng gia đình ở phố Fear, một con phố tiếp giáp với rừng, thằng bé mười một tuổi tên Dylan Brown cảm thấy tẻ nhạt, buồn chán, vì đang đọc nhiều sách nói về ma, Dylan nghĩ rằng trên đời này thế nào cũng có ma, và nó mơ ước có ngày được gặp một con ma. Kể từ đó, đi đâu, nhìn thấy gì, nó cũng ngờ ngợ như thấy ma. Một hôm, nó lẻn vào khu rừng, bỗng phát hiện ra một ngôi nhà cây bị hư hại, cháy xém mà theo nó là chắc chắn có ma ở trong đó. Dylan rủ rê anh mình – Steve đi khám phá. Trải qua bao lần theo dõi dò la ban ngày lẫn ban đêm, hai anh em nó nhận thấy có những hiện tượng rất kỳ bí, ví dụ như khi bọn chúng chuẩn bị đồ lề, gỗ ván đem vô để sửa sang ngôi nhà kia thì có khi cây búa của chúng gác trên rui tự nhiên bị bay đi. Tới lúc sửa sang tạm ổn thì hôm sau trở lại, chúng thấy bao nhiêu gỗ ván đều bị tháo rời, văng tung tóe. Thằng Dylan càng tin chắc rằng ngôi nhà này có ma… Thế rồi một hôm chúng phát hiện tại ngôi nhà có hai đứa bé gái. Hóa ra mọi sự đều do mấy đứa con gái này ranh mãnh sắp đặt để đưa anh em Dylan và Steve vào tròng. Chứ kỳ thật thì chẳng có con ma nào ở đó. Hai anh em thằng Dylan tức tối tìm cách báo thù hai đứa con gái. Trong cuộc báo thù, hai anh em nó bỗng gặp ma thật. Ngoài hai đứa con gái, còn có thêm thằng anh hiện ra nhát chúng một trận tơi bời. Nhưng đó cũng chẳng phải là ma. Đó là kết quả của cái ảo tưởng về ma sinh ra từ thằng Dylan và Steve mà thôi. *** R.L.STINE là bút hiệu của Robert Lawrence Stine. Ông sinh ngày 8 tháng 10 năm 1943 tại Columbus (Ohio), là một nhà văn Mỹ, tác giả của hơn 12 truyện khoa học giả tưởng kinh dị dành cho độc giả thuộc lứa tuổi thanh thiếu niên. Những tác phẩm ấy được biết đến nhiều nhất là Goosebumps, Rotten School, Mostly Ghostly, The Nightmare Room và Fear Street . Tất cả các cuốn sách của ông đều có một series các đoạn truyện tạo nên một “cảm giác sợ hãi an toàn”, vì cho dù tạo cho các đọc giả một cảm giác sợ hãi đến đâu nhưng các nhân vật trong truyện “chẳng có ai chết cả”. Sách của ông được dịch ra thành 32 sinh ngữ và đã được bán hơn 300 triệu bản trên toàn thế giới … Liên tiếp trong 3 năm từ 1990, nhật báo USA Today đã mệnh danh ông là tác giả có sách bán chạy nhất của Hoa Kỳ . Những câu chuyện kỳ bí được dịch và xuất bản tại Việt nam gồm có: Miếng Bọt Biển Ma Quái Ai Đã Nằm Trong Mộ Trò Chơi Trốn Tìm Ác mộng trong không gian ba chiều Cái nhìn ma quỷ Căn phòng cấm Chuyện trại Fear Con vượn bơi trong bể kính Đảo giấu vàng Đêm của ma mèo Hiệp sĩ sắt Những bức ảnh tiên tri Trở thành Ma cà rồng Nào Chúng Mình Hãy Biến Cái Đầu Khô Của Tôi Máu Quỷ Căn Hầm Bí Ẩn Chào Mừng Đến Với Ngôi Nhà Chết Lời Nguyền Trại Lãnh Hồ Chiếc Đồng Hồ Cúc Cu Vật Tìm Thấy Dưới Chậu Rửa Bát Ma Sói Trong Đầm Sốt Rét Ngôi Nhà Cây ... *** Đã từ lâu, lâu đến nỗi tôi không còn nhớ nữa, tôi đã muốn gặp một con ma. Tôi chỉ muốn gặp một con ma chân thành, tốt bụng, hơi sợ một tý, và hoàn toàn trong suốt. Nhưng rồi tôi đành phải gạt mong muốn ấy lại. Thật không công bằng khi cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa gặp được con ma nào. Những đứa trẻ khác quanh đây ít nhất đã một lần bắt gặp điều gì đó khủng khiếp nơi chúng sống. Song không phải là tôi, Dylan Brown này. Không lẽ nào. Mặc dù tôi đang sống tại phố Fear, một nơi đáng sợ nhất thế giới, thế mà cuộc sống của tôi vẫn hết sức tẻ nhạt, buồn chán, bình thường đến mức chưa từng có khái niệm ma là gì. Nhưng hôm nay tôi có linh cảm mọi việc sẽ thay đổi. Bởi cuối cùng hôm nay tôi cũng sẽ đi gặp ma. Tại sao ư? Tại vì hôm nay thời tiết rất khác thường. Sáng sớm trời nắng chói chang – báo hiệu một ngày xuân đẹp trời. Nhưng đến buổi trưa, những đám mây nặng trịch hơi nước kéo đến đen kịt, xám xịt bầu trời. Đó chỉ có thể là kiểu thời tiết ma quái, bạn có nghĩ thế không? Ừm, dù sao đây cũng là suy nghĩ của tôi khi nằm dài trên chiếc tràng kỷ cổ màu xanh lá cây của bố tôi. Tôi đặt quyển sách đọc dở trên đùi và lơ đãng nhìn ra cửa sổ. Một cơn gió mạnh thổi ùa vào. Những tán cây ngoài sân trước rung lên xào xạc. Hôm nay phố Fear trông khá hay ho và đáng sợ, tôi nghĩ thầm, dí mũi vào sát cửa sổ kính. Thật là một cảnh hoàn hảo cho cuộc gặp gỡ một sinh vật lạ từ thế giới khác. Nhưng… nó ở đâu? Hiển nhiên là không phải ở sân trước nhà tôi. Tôi quay sang trái rồi sang phải, quan sát các nhà hàng xóm. Thất vọng. Chẳng có gì hết. Rồi tôi nhoài ra nhìn hẳn xuống phố. ... Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Cây của tác giả R. L. Stine.
Dặm Xanh - Stephen King
Dặm Xanh (The Green Mile) là tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của Stephen King, một nhà văn nổi tiếng với những câu chuyện hình sự, kinh dị; người được báo chí và độc giả mệnh danh là "Ông vua kinh dị" (King of Horror). Tác phẩm này đã được giải thưởng Bram Stoker năm 1997 cho thể loại tiểu thuyết xuất sắc nhất. Dặm Xanh (The Green Mile) gồm sáu phần được nối kết với nhau qua lời tường thuật của viên quản giáo trưởng trại tử tù khi đã già. Câu chuyện xoay quanh các tù nhân đang chờ ngày lên ghế điện và các quản giáo có nhiệm vụ canh giữ họ trong những ngày cuối đời. Trong số các tử tù có John Coffey, một người da đen to lớn có năng lực siêu nhiên. Anh bị kết án tử hình vì tội đã bắt cóc và sát hại hai bé gái sinh đôi của ông bà Detterrick. Điều trớ trêu là John Coffey không phải là thủ phạm. Anh đã bị bắt khi đang cố gắng cứu sống hai đứa trẻ và bị kết án tử hình vì tội ác do kẻ khác gây ra... Xen lẫn trong câu chuyện dữ dội ở trại tử tù là những mối quan hệ đầy nhân bản giữa người và người. Các quản giáo, dù biết tù nhân của mình đã phạm phải những tội ác tày trời và sắp phải trả giá cho tội ác ấy, nhưng họ vẫn cố gắng trấn an họ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời. Có thể nói Dặm Xanh (The Green Mile) là một trong những tiểu thuyết gây tiếng vang lớn của Stephen King, không chỉ bởi cốt truyện đầy kịch tính mà còn bởi phong cách hành văn đặc biệt của ông: lôi cuốn, đơn giản và sâu sắc. Cuốn tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề nhức nhối trong xã hội Mỹ hiện nay: sự kì thị chủng tộc, những tù nhân bị kết án tử hình oan. Đó cũng là điều nhắc nhở cảnh báo đối với lương tri của mỗi con người. Dặm Xanh (The Green Mile) cũng đã được chuyển thể và dựng thành phim với nam diễn viên Tom Hanks đóng vai viên quản giáo trưởng trại tử tù Paul Edgecombe. Phim đã có ở Việt Nam với tựa đề "Quản giáo và tử tù". *** Stephen King (sinh ngày 21 tháng 9 năm 1947) là nhà văn người Mỹ thiên về thể loại kinh dị hoặc giả tưởng rất được tán thưởng khắp thế giới, đặc biệt với mô-típ biến đổi những tình huống căng thẳng bình thường thành hiện tượng khiếp đảm. Những cốt truyện kinh dị và lối viết đa dạng của King đã giúp giới phê bình chấp nhận thể loại kinh dị giả tưởng là một thành phần của nền văn học trong thế kỷ 20. Cuối năm 2006, tổng số sách ông đã bán có khoảng 350 triệu cuốn. Stephen King là người đi tiên phong trong việc xuất bản "sách điện tử" (e-book) trên mạng internet. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn học, kể cả giải Hugo cho tác phẩm Danse Macabre (1980) và Giải thưởng Tưởng niệm O. Henry cho truyện ngắn The Man in the Black Suit (1994). Tác phẩm mới nhất của ông là Lisey's Story, đã đạt mức bán chạy nhất nhiều tuần liền. Hầu hết tất cả các tác phẩm của ông khi tung ra đều đạt mức bán chạy nhất, nhưng có người gọi ông chỉ là một kẻ "viết truyện rùng rợn", như một cách chê bai thể loại văn học bình dân. *** John ngã vật ra trước, vướng vào đai thắt trên ngực. Trong một thoáng, mắt gã gặp mắt tôi. Chúng vẫn còn ý thức, tôi là vật cuối cùng gã nhìn thấy khi chúng tôi xô gã ra khỏi bờ vực thế giới. Rồi gã ngã ngửa vào lưng ghế, nón sắt nghiêng đi một chút trên đầu, khói - một thứ sương mù như khói than - tỏa ra từ bên dưới. Nhưng nói chung, bạn biết đấy, sự việc kết thúc nhanh chóng. Tôi nghi ngờ chuyện không gây đau đớn theo quan điểm của những người ủng hộ hình phạt ghế điện (một quan điểm mà thậm chí kẻ hung hăng nhất trong số họ dường như cũng không bao giờ dám tự mình kiểm chứng). Bàn tay gã lại rũ xuống lần nữa, những vành hình trăng ở gốc móng tay trước đó trắng xanh giờ đã thành màu cà tím, một sợi khói từ đôi má bốc lên còn ướt nước muối từ vòng xốp... và nước mắt của gã. Những giọt nước mắt cuối cùng của John Coffey. Tôi được yên ổn cho đến khi về nhà. Bình minh đã ló dạng, chim chóc hót vang. Tôi dừng chiếc xe rẻ tiền lại, ra ngoài, bước lên bậc thềm, và rồi cơn đau buồn thứ hai to tát nhất phủ lên người tôi. Vì tôi nghĩ đến nỗi sợ bóng tối của gã. Tôi nhớ lại lần đầu chúng tôi gặp nhau, gã đã hỏi chúng tôi ban đêm có để đèn sáng không và chân tôi mềm nhũn đi. Tôi ngồi xuống bậc thềm, gục đầu vào đầu gối và khóc. Cũng không hẳn chỉ khóc cho John mà cho tất cả chúng ta. Janice bước ra và ngồi xuống bên tôi. Nàng quàng tay qua vai tôi. - Anh đã hết sức không làm cho anh ta đau đớn chứ? Tôi lắc đầu tỏ ý không. - Và anh ta muốn ra đi. Tôi gật đầu. - Vào nhà đi. - Nàng nói và giúp tôi đứng lên. Nàng làm tôi nghĩ đến cách John giúp tôi đứng lên sau khi chúng tôi cùng nhau cầu nguyện. - Vào nhà uống cà phê. ... Mời các bạn đón đọc Dặm Xanh của tác giả Stephen King.