Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hồi Sinh Từ Kiếp Quỷ

Hồi Sinh Từ Kiếp Quỷ là một câu chuyện mượn yếu tố thần tiên ma quái để nói lên thực tế của xã hội đương thời. Cuốn sách kể về hành trình đi tìm chồng của một cô gái người dân tộc thiểu số bất hạnh, từng là nạn nhân của nạn buôn người. Vì cô thành tâm cúng bái ở một cây hòe thần nghìn năm tuổi nên trước ngày lên đường, cô được quỷ hòe tặng cho năm con mọt tinh. Năm con mọt đại diện cho năm loại người trong xã hội, tu ba trăm năm mới được một thân con mọt này. Mỗi lần gặp khó khăn không thể hóa giải được, cô nuốt một con mọt thì sẽ được tai qua nạn khỏi. Nhưng chuyện không chỉ đơn giản như thế, những lần đầu tiên, khi cô nuốt mọt thì cơ thể sẽ thay hồn đổi phách, trong thân xác cô giờ là linh hồn của con mọt thay cô giải quyết công việc, còn linh hồn của cô thì mê man trong nhánh cây hòe, nhưng đến lần cuối cùng, mọt tinh không chỉ chiếm mất thể xác của cô mà còn gây ra một cơn gió tanh mưa máu, thiên hạ đại loạn… Vậy cô phải làm thế nào để lấy lại thân xác, làm thế nào để giành giật lại người cô yêu từ tay Diêm Vương, và cả những âm mưu, tranh chấp, thay đổi triều đại… tất cả đều có trong câu chuyện này. *** Review Hồi sinh từ kiếp quỷ Thường thì mình tuy thích đọc truyện cổ đại nhưng nhìn thấy kiểu nữ chính này sẽ tránh xa ngay, kiểu nữ chính bánh bèo suốt ngày khóc ấy. Nhưng trong lúc rảnh rỗi không có gì làm và chỉ có quyển này ở bên cạnh thì đã đọc một mạch hết cả quyển và thực sự thay đổi cách nhìn về truyện, đặc biệt là An Mi. An Mi là một người con gái Hồ, loại người mạt hạng trong xã hội phong kiến xưa, loại người đóng khế làm nô hoặc bán rẻ tiếng cười trong các quán rượu. Nói chung là gái Hồ không có kết cục gì tốt đẹp, tựa như Khang Cổ Nhĩ – một cô gái vượt biên rất thân với An Mi – đã tự vẫn khi thấy người mình yêu kết hôn với người khác. An Mi không phải là quá xinh đẹp, thậm chí nàng còn rất ngờ nghệch và yếu đuối, cũng chính vì nàng nên 5 loại sâu mọt mới có cơ hội làm loạn thiên hạ. Nhưng người ngốc có phúc, cuối cùng chính sự kiên cường bất khuất và hi sinh hết lòng của An Mi đã cảm động một Phù Trường Khanh lòng dạ sắt đá, làm hắn nguyện thay đổi bản thân vì nàng, nhận ra Đỗ Thục (con mọt thứ năm) chỉ qua một lần gặp mặt. Nếu xếp An Mi vào thể loại nữ chính bánh bèo thì phải nghĩ đến những gian khổ tủi nhục nàng chịu đựng và đã vượt qua để đương đầu sóng vai cùng Phù Trường Khanh, suýt nữa đã tiêu tán hồn phách để cứu mạng Phù Trường Khanh. Nhưng nếu xếp An Mi vào thể loại nữ cường thì càng không thỏa đáng, vì nàng luôn tránh khó khăn và khóc trong bất lực vì không thể làm chủ cuộc sống của mình. Ban đầu vừa đọc mình đã đoán Phù Trường Khanh là nam chính, nhưng thực sự tính cách của anh này quá đáng ghét, luôn vênh mặt kiêu ngạo. Nhìn người hầu Tiểu Đàn kia là biết, chó cậy mặt chủ, mấy lần gặp mặt vô tình của Phù Trường Khanh với An Mi chẳng có gì tốt đẹp, chỉ đi lướt qua nhau mà thôi. Bản tính Phù Trường Khanh ác độc, chuyên nghĩ ra vô số hình phạt tàn nhẫn cho phạm nhân, cũng cực ghét tham quan nên Phù thứ sử là người ai ai cũng muốn lấy lòng. Nhưng không phải ai cũng lấy lòng được, nếu không khéo thì sẽ lập tức vào ngục trong khi còn chẳng hiểu lý do.   Cũng vì những tháng ngày cùng chung hoạn nạn nơi Đột Quyết mới làm Phù Trường Khanh hiểu rõ An Mi, nhưng hắn cũng là một kẻ nhẫn tâm đến cùng cực khi buộc An Mi phải chọn làm thiếp hay coi như không quen biết. Phù Trường Khanh này tàn độc đến tận xương tủy, ác với cả mình lẫn cả người mình yêu, nhưng tất cả cũng chỉ vì muốn bảo vệ An Mi. Nàng và hắn tuy trong lòng đều đầy vết thương, nhưng khi đến với nhau là duyên trời tác hợp. Quỷ Hòe Quỷ Liễu có lẽ là nhân vật quan trọng nhất. Họ tạo ra cơ hội để An Mi và Phù Trường Khanh gặp gỡ, cứu sống Phù Trường Khanh và An Mi, vậy mà suýt chút nữa bị hắn đốn cây. Mình rất thích cp này, đặc biệt là chi tiết “quan tài gỗ Liễu khắc uyên ương song hí”. Đỗ Thục có lẽ là nhân vật phản diện lớn nhất, nhưng cũng là nhân vật mình thích nhất. Mình đã đọc đi đọc lại phần đó không biết bao nhiêu lần. Đỗ Thục tính cách quả quyết, nhẹ nhàng mà tàn nhẫn, nàng gieo rắc đại họa cho cả đất nước, làm những người chứa chấp nàng đều chết cả. Đỗ Thục là một diễn viên trời phú, một nhà thông thái, một bậc thầy ngoại giao siêu đẳng, nàng cũng là một người trọng tình trọng nghĩa với những huynh đệ đã tu hành cùng nàng, và nàng cố gắng thực hiện sứ mệnh cuối cùng của mình. Trong truyện, Đỗ Thục lúc nào cũng thảnh thơi, ung dung, nắm hết mọi thứ trong lòng bàn tay, tuy cuối cùng lật thuyền vì Phù Trường Khanh nhưng mình cũng thở phào nhẹ nhõm vì một cái kết HE. Quyển này của Thủy Hợp khá u buồn, sâu lắng, làm mình vừa đọc vừa lau nước mắt nhưng cũng có nhiều chi tiết hài hước. Giọng văn dịu dàng cuốn hút làm cho cái kết trở nên hoàn mỹ, dù cả An Mi và Phù Trường Khanh sau này đều thương tích đầy mình, theo nghĩa đen. Thời đó có một lời nói lưu truyền, “Lạc Dương có Phù Trường Khanh tài hoa tuấn tú, Kinh đô có Quý Tử Ngang đường đường chính chính.” Phù Trường Khanh: “Quý Tử Ngang là hạng gà chó gì mà dám so sánh với ta.” Và hai bậc anh tài này đều có tính cách như nhau, kiêu căng ngạo mạn như nhau, người giám sát kẻ kia chém đầu, kẻ đứng dưới nhìn người mất đầu. Chung quy đều chết dưới tay Đỗ Thục, người mà cả hai đều lơ là. _Kyo_ *** Tác giả: Thủy Hợp Thuở nhỏ sống ở Nam Kinh, cực kỳ yêu thích tiểu thuyết. Trong số đó đã từng say mê những chuyện phong hoa tuyết nguyệt, thần tiên ma quái, thích tưởng tượng những văn nhân nhạy cảm ẩn nấp trong số những nhân vật phong lưu, và mong một ngày nào đó có đủ khả năng để hạ bút viết về những nhân vật đầy mâu thuẫn như vậy… *** “Này Quỷ Hòe, có muốn cá cược không?” “Hở? Cược chuyện gì? Cược cái gì?” “Cược xem sau khi ngươi bị sét đánh đen thui thì còn ai thờ cúng ngươi nữa không. Ai thua thì dùng hình dạng nguyên thủy của người đó làm quan tài.” “Khà khà, lấy… thân gỗ thần nghìn năm làm quan tài, lão Liễu… lấy thi thể to lớn của ngươi?” “Bớt nói những câu đùa nhạt nhẽo đi. Nào, tới đây…” Tại một thôn nhỏ tên Tiểu Trạch ở phía tây nam huyện Phù Phong, quận Thủy Bình ở Tần Châu, An Mi đang tranh thủ thời gian chạng vạng rảnh rỗi để ngâm cả cánh tay đầy thương tích vào dòng nước suối mát lạnh. Dòng suối có một vùng nước trong và lặng sóng tại chỗ dòng chảy hiền hòa, vừa hay in bóng khuôn mặt khổ sở của nàng. Đó là một khuôn mặt xinh đẹp, làn da trắng nõn như sữa dê,ngũ quan thanh tú và rõ nét, nhất là đôi lông mày đen nhánh dưới tóc mái, nó như trăng non, dài mảnh, phần đuôi lại hơi xếch lên. Thái dương mịn màng như lấp lánh các tia sáng xanh… Ấy vậy mà đôi lông mày phong lưu như thế lúc này đây đang nhíu lại, đôi con ngươi đen láy hơi run rẩy, hoảng loạn dưới hàng mi dày. “Mình phải đi tìm chàng…” Sau khi thở dồn dập một hồi lâu, An Mi ngẩn người nhìn ráng mây hồng trôi qua dưới đáy nước màu xanh lam, nàng lẩm bẩm, vừa sợ hãi nhưng cũng rất kiên quyết. An Mi họ An, đây là một trong “Chiêu Vũ cửu tính1” nổi danh của người Hồ, nguyên quán tại Tây Vực, châu An Tức nước An2. 1.Chiêu Vũ cửu tính, hay còn được gọi là “Chín họ người Hồ”, là tên gọi chung cho chín nước nằm bên ngoài núi Thông Lĩnh, Trung Quốc: nước Khang, An, Thạch, Mễ, Sử, Tào, Hà, Hỏa Tầm, Mậu Địa. Tổ tiên của chín họ cũng như chín nước này là tộc người Nguyệt thị cư trú rất sớm ở thành Chiêu Vũ, núi Kỳ Liên. Trước Công nguyên, họ bị người Hung Nô truy đuổi, phải chuyển đến phía tây núi Thông Lĩnh, trước tiên lập ra nước Khang rồi sau mới phân nhánh mà thành chín nước. Quân vương của chín nước này đều có thêm hai chữ “Chiêu Vũ” trước họ của mình để dòng họ không bị mất gốc. 2.Nước An vào thời Hán còn có tên gọi là nước An Tức, do đó hai tên riêng này trong truyện đều chỉ nước An. Ngạn ngữ đất Tần có câu: “Người Hồ năm trăm năm sau có họ Bạch họ Khang, nghìn năm sau mang họ Triệu họ Trương.” Thật ra câu này là câu châm chọc người ta nói về người Hồ. Trước triều đình Đại Ngụy ngày nay, Trung Nguyên có mấy trăm năm bị ngoại tộc tàn sát. Hai mươi năm trước, thiên hạ được họ Thiệu dân tộc Hán thống nhất mới xem như kết thúc cục diện người Hồ làm loạn. Tuy rằng triều Đại Ngụy ngày nay cũng chưa thể nói là thái bình thịnh thế, trời yên biển lặng nhưng dù sao thì người Hồ hung ác cũng đã lùi ra quan ngoại. Sau khi được mở mày mở mặt thì thái độ của những người Hán từng chịu đủ loại ức hiếp khó tránh hơi quá khích với người Hồ. Cũng đúng như câu ngạn ngữ trên - có lẽ một nhánh dân tộc Hồ định cư tại Trung Nguyên năm trăm năm vẫn giữ họ Triệu hay Trương thì bọn họ vẫn cứ là người Hồ. Dòng máu thấp hèn đã được gắn vào họ ngay từ lúc mới sinh ra. “Mình phải đi tìm chàng.” “Chàng” trong lời An Mi chính là phu quân của nàng - Từ Trân, vào ngày tân hôn đã bị quan binh dẫn đi Lạc Dương xây kênh Đại Hưng. Từ hai mươi năm trước, khi người Hồ quấy nhiễu Trung Nguyên rồi phải lùi ra quan ngoại tới nay, hằng năm có rất nhiều thương nhân người Hồ mua thiếu nữ Hồ ở chợ đàn bà tại Quy Từ, Vu Chân1, rồi đi nghìn dặm xa xôi tới bán ở Trung Nguyên. Xưa nay, những cô gái Hồ xinh đẹp giá rẻ chính là lựa chọn đầu tiên của người nghèo khi mua vợ. 1.Tên hai nước ở Tây Vực. Lúc An Mi mười hai tuổi thì được nhà họ Từ bỏ mười lăm nghìn tiền mua từ một quán rượu ở huyện Phù Phong. Mấy năm qua, từ lớn tới bé nhà họ Từ đều sai nàng như đầy tớ, cho tới năm ngoái nàng hơn mười sáu tuổi thì làm lễ chải tóc2, thành thân với Từ Trân. Ai ngờ vào ngày nàng thành thân thì quan sai đi bắt tráng đinh tới bất ngờ, kết quả là dù đã làm lễ chải tóc nhưng cuộc sống không thay đổi gì cả, thậm chí bà mẹ chồng có tính cách quái đản còn quy chụp chuyện rời đi của con trai là tại nàng, từ đó càng bắt nàng làm nhiều việc hơn. 2.Một trong các tập tục cưới hỏi của dân tộc Hán, trước khi kết hôn thì các cô gái phải thay đổi kiểu tóc, đồng thời cạo sạch phần lông tơ trên mặt. “Cưới một đứa con gái người Hồ quả nhiên không may mắn.” Khi bà mẹ chồng của nàng là Vương thị nhìn chằm chằm nàng làm việc thì thường đảo đôi con ngươi phát sáng, bĩu môi nói. “Lại chả biết ngày sinh tháng đẻ, ai mà biết có phải khắc mệnh không, mặt nhọn má gầy mắt hồ ly, càng lớn càng không biết an phận…” An Mi đã nhẫn nhịn thành quen, cũng không cãi lại mà chỉ nhẫn nhục chịu khó, một lòng trông ngóng Từ Trân có thể trở về sớm. Không ngờ đợi một năm cũng không thấy tin tức, chỉ nghe nói lao dịch trên kênh Đại Hưng chết hết nhóm này đến nhóm khác, những người không chết thì do cả ngày ngâm mình trong nước mà chân cũng có dòi. Đa phần đều trở nên tàn phế. Thời gian càng dài thì Từ Vương thị càng cho rằng con trai cả của bà ta tám phần đã mất mạng, liền nghĩ đến chuyện để An Mi thành thân với đứa con trai nhỏ - Từ Bảo - năm nay mới mười bốn tuổi. Trong lòng An Mi trăm nghìn lần không đồng ý nên khó giấu được đôi ba ý hiển hiện trong lời nói, tuy nhiên nếu nàng chống đối lại Từ Vương thị thì nhất định sẽ phải chịu một trận đòn nặng. Nàng không muốn gả cho người khác, huống hồ trượng phu còn chưa có tin báo tử chính xác. Có khi tìm tới kênh Đại Hưng ở Lạc Dương thì có thể tìm được trượng phu; cho dù phải ở lại nơi đó, ở bên trượng phu tiếp tục đi lính, hoặc tìm việc giặt giũ may vá gần đấy làm kế sinh nhai thì cuộc sống cũng sẽ tốt hơn bây giờ chứ? Khi lòng nàng đã quyết thì dường như nàng nhìn thấy một tia hy vọng. Nàng phấn khích chạy xuống một con dốc thoai thoải, đón làn gió đêm mùa thu thổi qua bãi lau sậy trắng đang bay nhảy. Nàng chạy một mạch đến bên gốc cây hòe lớn ở đầu thôn, quỳ xuống một cách thành kính, cầu khấn. Đó là một cây thần trong thôn, hằng năm người dân đều làm lễ cúng tế bên gốc cây. Mùa thu năm ngoái, một trận sấm chớp kỳ lạ đã chém cháy cả cây đại thụ, làm nó không thể đâm chồi non được nữa. Trưởng lão trong thôn cho rằng cây thần bị trời phạt, nhất định có lý do không may mắn nào đấy, từ đó bèn dỡ bàn tế, cờ dài ở cây. Từ sau khi bỏ cúng bái thì dân trong thôn cũng dần dần không để ý tới cây hòe này nữa, thường ngày đi qua cũng chẳng thèm liếc nhìn một cái, chỉ có điều không dám tự ý đốn cái cây đã chết khô đi làm củi đốt mà thôi. Trong thôn chỉ còn An Mi là vẫn nhớ tới cây hòe, bình thường nàng hay lén chạy tới cúi lạy, cầu khấn một hồi. Có khi đi lấy nước ngang qua cũng không mất hy vọng mà vẩy ít nước cho nó, mong có một ngày nào đó nó có thể sống lại. “Thần Hòe phù hộ, phù hộ cho con đi Lạc Dương tìm thấy phu quân, phù hộ cho con đêm nay lên đường thuận lợi…” Hai tay An Mi đang chắp lại thành hình chữ thập, miệng đang đọc lời cầu khấn thì nàng chợt thấy sắc trời tối hẳn, ráng mây hồng trên bầu trời mênh mông kia bỗng chốc tan biến. Đêm tối lạnh lẽo ập xuống. An Mi giật mình sợ hãi trước cảnh tượng kỳ quái bất thình lình này, nàng không dám nhúc nhích cả một lúc lâu. Bỗng có tiếng cười êm tai đằng sau cây hòe đã chết khô, tiếp theo đó là tiếng bước chân loạt soạt, dường như có người đang giẫm lên cỏ, đi về phía nàng. “Ngày xưa thì vây quanh ta mồm năm miệng mười, ta cũng lười để ý; nay chỉ còn mỗi một tín đồ, ta đây lại có hứng nghe xem nàng ta muốn cầu gì đây.” An Mi nhìn chằm chằm người đàn ông mặc quần áo màu xanh đi ra từ đằng sau cây hòe, nàng há hốc miệng, nghẹn họng, ngẩn ra nhìn. Người đàn ông áo xanh vẫn luôn nở nụ cười, nhìn nàng an ủi: “Ngươi đừng sợ, ta chính là cây hòe này.” Mời các bạn đón đọc Hồi Sinh Từ Kiếp Quỷ của tác giả Thủy Hợp.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Xuyên Thấm - Phan Hồn Nhiên
Sách Nói Xuyên Thấm   Trên chiếc xe buýt hai tầng vào một ngày mùa Hè, cuộc gặp gỡ tình cờ đã bẻ ngoặt dòng chảy cuộc sống của Nguyên và Doanh Minh. Từ khoảnh khắc ấy, hiện ra hương thơm kỳ bí bao quanh, khiến hai người trẻ tuổi và cô độc không thể ngừng nghĩ về nhau. Sau cuộc gặp gỡ định mệnh, một vài hiện tượng kỳ lạ xảy ra, bắt đầu từ ngôi nhà mới, nơi Minh và cha cô chuyển đến sống cách đó chưa lâu. Ngay cả ngôi trường nơi Minh đi học, các sự kiện bất thường cũng kéo đến: Hai học sinh khối 12 chuyển đến, một trong đó chính là chàng trai mang theo mùi hương bí hiểm của loài hoa tử đinh hương… Và án mạng bất ngờ đã đẩy bốn thành viên của ngôi trường trung học danh tiếng vào cuộc truy đuổi một bí mật đáng sợ. Sẽ có người giành mối lợi lớn lao trong bí mật ấy. Sẽ có kẻ bị huỷ diệt. Quan trọng hơn cả, chỉ khi xuyên hết hành trình này, họ mới thấu rõ chân dung của nhau, và phát hiện con người thật của chính mình. Sau cuộc gặp gỡ định mệnh Nguyên và Doanh Minh, một vài hiện tượng kỳ lạ xảy ra... Minh là ai? Tại sao cô gái nhỏ kín đáo và nhút nhát ấy luôn trở thành tâm điểm của các sự kiện ghê rợn? Là một linh hồn lang thang trong thế giới này, với mục tiêu đã định sẵn, vì lẽ gì vào những thời khắc quyết định, cận kề chiến thắng, Nguyên lại tự mình làm vuột mất cơ hội thành công? Vị trí của cô bạn thời trang và sôi nổi Tina sẽ ở đâu? Cô ấy đứng về phía ai trong cuộc chạy đua truy tìm quyền lực bí mật? Và không thể bỏ qua, phía sau lớp vỏ ngoài nổi loạn bất cần của một chàng trai bóng rổ, Trung là một người như thế nào? *** Xuyên thấm là tác phẩm chốt lại cho bộ ba fantasy của Tủ sách teen thế kỷ 21, pha trộn giữa hai thể loại trinh thám (detective) và kinh dị (thriller). Bí mật dẫn dắt bí mật. Những nút thắt liên tục nghẹt thở khiến bạn không thể dừng lại một khi đã chạm vào lời kể đầu tiên. Bố cục khác lạ giúp bạn hóa thân vào từng góc nhìn riêng biệt của bốn người bạn - bốn nhân vật chính dẫn dắt toàn bộ câu chuyện. Xuyên thấm sẽ xuất hiện trong hình thức illustrated book - sách minh họa cao cấp. Phần nhìn của Xuyên thấm mang đậm hơi hướng siêu thực, tính biểu trưng độc đáo được nhấn mạnh. Bố cục đăng đối khác lạ, với từng nhân vật như hiện ra từ các quân bài tarot huyền bí sẽ khiến những ai là tín đồ của loại hình mỹ thuật hiện đại khó lòng chối từ sức hút của Xuyên thấm. Vượt qua lằn ranh giữa sự sống và cái chết, gạt bỏ mọi toan tính tối tăm, để phần lương thiện trong mỗi con người mạnh hơn tham vọng của chính họ, chỉ có thể duy nhất sức mạnh của tình yêu thuần khiết. Thông điệp giản dị mà sâu thẳm này sẽ được Phan Hồn Nhiên và Phan Vũ Linh gửi đến cho các bạn một cách trọn vẹn, lắng đọng trong Xuyên thấm. *** Trên đỉnh những cây cổ thụ sừng sững, bóng tối là một khối mềm xốp dày đặc. Những hạt mưa to nặng đang rơi nhưng không chạm xuống đất. Hàng vạn cành nhánh đã vươn ra thấm trọn những phiến nước còn ở lưng chừng không gian. Có một tích tắc, chàng trai trẻ hướng đôi mắt xanh trong suốt lên c Âm thanh dường như chưa từng tồn tại trong không gian này nếu không kể từ những hốc đen được tạo nên bởi hàng vạn cội rễ già nua nhô hẳn lên mặt đất, thảng khi vẳng ra tiếng ngân của sự im lặng. Đế giày vải mềm tiếp tục lướt bên trên thảm lá mục, khá nhanh nếu tính theo tốc độ người chạy, nhưng chỉ là trung bình với một bóng ma bay lơ lửng trong không trung. Không gì có thể ngăn chàng trai mảnh khảnh. Mọi thứ nơi đây cậu thuộc như lòng bàn tay, và cậu đã di chuyển cùng trời cuối đất theo cách kỳ dị ấy suốt hơn nửa thế kỷ. Bóng ma chỉ dừng lại khi giữa cánh rừng, bỗng hiện ra hồ nước mênh mông. Nếu có thể phân biệt các lối mòn ngoằn ngoèo trong rừng cây cổ thụ dày ken hay nhận ra đôi mắt loài thú đêm trong không gian đóng kín, chính là nhờ thứ ánh sáng dịu nhẹ hắt lên từ mặt hồ trơn nhẵn như một tấm gương bất động. Chàng trai trẻ đã chạm chân xuống mặt đất cạnh hồ. Mắt nhắm nghiền, đôi tay gầy mảnh vươn thẳng về phía trước, trong một tư thế bất động kỳ dị. Tư thế của nỗi cô độc tột cùng. * Lan theo các luồng khói mỏng nhẹ bay phất phơ, những mùi hương vốn dĩ tách biệt bỗng hiện rõ mồn một. Mùi rễ cây ẩm ướt quanh hồ. Mùi hơi nước. Và mùi của chính chàng trai - được tạo nên bởi hàng triệu phân tử hương thơm của một loài hoa bị giam hãm trong bóng đêm, dần biến đổi thành thứ mùi hương khô lạnh ở một vài sinh vật mà sự sống rời bỏ, giờ đây đang trong quá trình phân hủy cuối cùng. Trong đôi mắt mở choàng của bóng ma, thoáng hiện nỗi phân vân. Có nên liều lĩnh một lần nữa nhấc bổng thân hình, bay vút qua khoảng nước mênh mông? Nhưng, cậu ta đã chậm một bước. Một tiếng kêu thảng thốt của con chim nào đó náu mình trong bóng tối đã xé toạc sự tĩnh mịch. Cánh rừng bỗng chốc vang động tiếng vỗ cánh dữ dội, đồng loạt. Cùng với vụn lá mục, hàng ngàn con bướm chấp chới bay lên. Những con thú đêm phủ phục cũng nhỏm dậy, rùng rùng bỏ chạy khỏi các mỏm đất nhấp nhô. Bầu không khí nhuốm xanh bất biến phút chốc vụn vỡ tả. Từ bên kia bờ hồ tối om, luồng gió thốc sang, cuộn xoáy. Như một thân cây non trẻ, chàng trai đổ sắp nửa thân trên về phía trước, liền sau đó lại bị kéo bật ra sau. Mái tóc bay tung trong cơn lốc xoáy dữ dội. Tuy nhiên, đôi chân cậu vẫn bám chặt vào mặt đất. Mặt nước phía trước nghiêng lệch, đổ dồn về phía chàng trai. Trong chớp mắt, nó đã dựng lên thành một bức tường cao ngất, sẵn sàng đổ ụp xuống kẻ đối diện nhỏ nhoi. - Ta biết ngươi ở đó! - Chàng trai cất giọng trầm đục. Bức tường nước rờn lên, như một cánh phổi khổng lồ thở phập phồng. Đôi mắt xanh thẫm nhìn trừng trừng về phía trước, nói to hơn: - Hiện hình đi! Một cái tát khủng khiếp giáng mạnh. Bóng ma trẻ tuổi tung bắn về sau, đổ vật xuống trong tư thế co quắp. Mọi nỗ lực nhoài dậy đều bất khả, bởi từ trong các hốc cây, hàng chục cánh tay trắng bệch tủa ra, ghì níu đôi vai, khuỷu tay và cả phần cổ của cậu. Càng giãy giụa, cậu càng bị ghì chặt và cào cấu đau hơn bởi những bàn tay nghều ngào. Tất cả chúng đều bị chặt mất một ngón. Kẻ gác cửa giữa hai thế giới dần dần hiện hình. Một thân thể cao lớn. Một gương mặt không tuổi tác, không giới tính, nhẵn mịn tựa men sứ, với các đường nét hoàn hảo của một đầu tượng tuyệt mĩ mà cảm xúc duy nhất lóe ra từ đôi mắt hồng nhạt như loài thỏ rừng là nỗi thèm khát mãnh liệt che giấu dưới vẻ lạnh lẽo thản nhiên. Dẫm mạnh đế giày gắn đinh nhọn hoắt lên mái tóc mềm xõa trên thảm lá mục, đầu tượng rít lên: - Mi dám tới tận nơi đây, khi vật thể mà ta cần mi chưa đem đến? Mi ngờ rằng có thể qua mặt ta, bay sang bên kia hồ để đào thoát dễ dàng ư? - Không thể truy tìm vật thể ấy được nữa! - Giọng chàng trai nghẹn lại - Mỗi khi ta lần ra dấu vết, gần chạm vào được, nó lại vuột đi. - Mi sợ tai họa mà nó gây ra? Ha ha ha...! Tiếng cười rú lên chói tai rồi đột ngột im bặt. Đầu tượng xanh tái hạ giọng, thì thào - Hãy thú nhận là mi cũng nhúng tay vào tội ác! Hơn ai hết, mi thừa hiểu, tai họa càng nhiều, thì uy lực nó càng lớn mạnh. Uy lực càng lớn mạnh, đương nhiên càng khó kiểm soát. Nếu không thế, ta đã không yêu cầu mi đem vật ấy về đây, đánh đổi, như hai chúng ta đã thỏa thuận nửa thế kỷ trước! - Phải, biết vậy, nhưng nó đã thất lạc! Thời gian qua, ta truy tìm nó, nhưng không có dấu vết nào... - Chàng trai cố giải thích trong hơi thở bị bóp nghẹt. Đầu tượng cao lớn chậm rãi cúi xuống. Từ khuôn miệng đen ngòm, nụ cười gằn phả ra sự giận dữ cóng lạnh: - Mi đã tiêu tốn quá nhiều thời gian vào những hành động vô bổ. Mi thích đóng vai một kẻ vô hình lang bạt thôi sao? Nay, ta gia hạn: 6 tháng cuối cùng còn được phép hiện diện trong thế giới của người sống, mi phải hiện hình. Hãy trở về nơi mi đã bắt đầu. Chỉ như thế mi mới có cơ may tìm ra thứ ấy, tiếp cận nó. Và bằng mọi giá, mi phải mang nó đến đây cho ta. Nếu không, mi biết rõ điều gì sẽ xảy đến! Chàng trai trẻ khẽ gật đầu, hoàn toàn kiệt quệ. Nhanh chóng như khi hiện ra, kẻ gác cửa hóa thân lại thành trận gió xám xanh, biến mất. Những bàn tay mất ngón trắng bệch vươn ra từ đám rễ cây cũng rút trở về hang hốc tối đen. Khẽ rên lên, bóng ma trẻ tuổi xoay người, tìm cách ngồi dậy. Những phần tử diệp lục khiến đôi mắt có màu lá cây trong suốt lúc này sẫm lại. Lưng áo đã rách bươm. Cổ, khuỷu tay và vai áo cậu ta đầy các vết cào. Từ những vết trầy xước, rỉ ra thứ chất lỏng đặc sánh, ngả sắc xanh. Rốt cuộc, cậu cũng loạng choạng thở dốc, đứng lên. Đúng khi ấy, bức tường nước vẫn dựng cao phía trước bất thần đổ ụp. Trong chớp mắt, chàng trai vừa gượng dậy đã bị cuốn thốc vào trong làn nước dữ dội, chìm sâu xuống tận đáy hồ. Nước tràn vào mắt, vào tai, vào phổi, xóa nhòa mọi nhận thức. Trong một nỗ lực khủng khiếp, bóng ma trẻ tuổi gượng ngoi lên mặt nước lạnh băng. Nhưng, bức tường thứ hai đã tiếp tục ụp xuống, hất tung thân hình nhỏ bé lên đỉnh ngọn sóng tung bọt. Bất tỉnh hoàn toàn, buông mình trong làn nước trôi băng băng, cậu nhắm nghiền mắt, để mặc con sóng hung hãn vươn cao ngang tầm những đỉnh cổ thụ, phá tan vòm trời dày đặc tối đen, ném cậu sang một không gian hoàn toàn khác hẳn. * Tia sáng tinh khôi xuyên qua hạt nước đọng trên mi mắt. Dải quang phổ rung nhẹ, mỏng dần, chỉ còn màu trắng dịu êm ả khi đôi mắt dần hé mở. Hơi ấm tỏa đến từ Mặt Trời ban mai, sưởi cho tấm lưng lạnh cứng mềm lại, đồng thời làm dậy lên hương thơm dịu ngọt của những cụm hoa hồng phớt, xanh nhạt và trắng kem đang nở rộ trên một hàng cây. Tỉnh lại sau cú va đập bất tỉnh, chàng trai trẻ nhận ra mình đang nằm trong vòm lá xanh tươi mát, trên một chạc cây, giữa hàng trăm cụm hoa vào mùa nở rộ. ... Mời các bạn đón đọc Xuyên Thấm của tác giả Phan Hồn Nhiên.
Hồi Ức Kẻ Sát Nhân - Amelie Nothomb
Cái tin nhà văn từng đoạt giải Nobel Prétextat Tach chỉ còn hai tháng nữa là qua đời khiến báo giới xôn sao đổ xô đi đăng ký phỏng vấn ông. Trong số năm phóng viên ít ỏi được chọn, bốn người thất bại ra về trong tình trạng kiệt quệ tinh thần và sức lực. Chỉ có Nina, cô phóng viên thứ năm là kiên quyết đối đầu đến cùng, không chút khoan nhượng với tiểu thuyết gia phì nộn, liệt bại, bí ẩn, căm thù phụ nữ, kinh tởm và bệnh hoạn này, để rốt cuộc cũng buộc ông ta phải lộ mặt, tự thú quá khứ đen tối, đầy ám ảnh của mình. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, hầu hết là những đoạn đối thoại liên tục, dồn dập khiến người ta có cảm giác như đang tham dự những cuộc hỏi cung gay cấn, căng thẳng, vô cùng hồi hộp. Để rồi bất ngờ đến bàng hoàng với kết thúc kỳ lạ của câu chuyện… *** - “Hồi ức kẻ sát nhân đến với thế giới văn học không khác gì một trái bom nhỏ đột nhiên được thả xuống, khiến người ta không khỏi sửng sốt bởi sự bất ngờ, tiếng vang và cả ảnh hưởng của nó” – L’Express - “Độc giả sẽ không thể dứt khỏi những đoạn hội thoại liên tục đầy lôi cuốn. Ngòi bút kỳ diệu của Nothomb khiến người ta vừa ghê tởm nhân vật Prétextat Tach lại vừa tò mò ngốn ngấu từng lời nói, từng biến đổi tâm trạng của ông ta. Một cuốn tiểu thuyết vô cùnghấp dẫn” – www.evene.fr - “Cuốn tiểu thuyết khiến người ta sững sờ. Rồi choáng váng. Amélie Nothomb đã đưa độc giả đến một nơi rất gần sự chết bằng câu chuyện tự nhiên nhưng điên cuồng, ngây thơ nhưng tai ác và từ đó chỉ ra bộ mặt mà mỗi người có thể cất giấu sâu thẳm trong mình” – Le Figaro. - “Hồi ức kẻ sát nhân là tác phẩm đầu tay của Nothomb đồng thời cũng là tác phẩm tiêu biểu mở màn cho một loạt các tiểu thuyết mang đậm văn phong bí ẩn và lôi cuốn của Nothomb, khiến cô xứng đáng với danh hiệu nhà văn của sự im lặng” – Lire *** Amélie Nothomb sinh ngày 13/8/1983 là người Bỉ, nhưng Amélie Nothomb lại chào đời và trải qua một phần tuổi thơ tại Nhật Bản. Từ sau cuốn tiểu thuyết đầu tay Hồi ức kẻ sát nhân xuất bản năm 1992 đến nay, mỗi năm cô cho ra mắt bạn đọc thế giới một tác phẩm mới. Trong đó phải kể đến Phá ngầm tình tứ (1993) với các Giải thưởng Vocation và Chardonne; Sững sờ và run rẩy (1999) với Giải thưởng Lớn của Viện Hàn lâm Văn học Pháp; Không Adam cũng chẳng Eva (2007) với Giải thưởng Flore. CÙNG MỘT TÁC GIẢ: - Phá ngầm tình tứ, 1993. - Những chất dễ cháy, 1994. - Những bài châm biếm, 1995. - Xiêm y, 1996. - Mưu sát, 1997. - Thủy ngân, 1998. - Sững sờ và run rẩy, 1999. (Tác phẩm đoạt giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp). - Lý luận trừu tượng về điện thoại, 2000. - Thuốc xức tóc của kẻ thù, 2001 - Từ điển Robert về danh từ riêng, 2002. - Kẻ phản Chúa, 2003. - Tiểu sử của cơn đói, 2004. - Axit sunfuric, 2005. - Không Adam cũng chẳng Eva (2007) *** Khi đông đảo công chúng biết tin Prétextat Tach chỉ còn hai tháng nữa sẽ tạ thế, các phóng viên từ khắp nơi trên thế giới liền khẩn khoản xin được trao đổi riêng với văn sĩ tuổi ngoài tám mươi này. Hẳn là nhà văn lão thành đã tạo dựng được một uy tín lớn, thế nhưng người ta vẫn không khỏi kinh ngạc khi thấy đổ xô đến đầu giường bệnh của tiểu thuyết gia sáng tác bằng tiếng Pháp các phóng viên thường trú của những nhật báo nổi tiếng như (chúng tôi xin mạo muội tạm dịch) Những tin đồn từ Nankin và Ngườiquan sát Bangladesh. Như thế, hai tháng trước khi qua đời, Tach đã có thể hình dung đôi chút về danh tiếng của mình. Thư ký riêng của nhà văn chịu trách nhiệm chọn lọc cẩn thận những đề nghị phỏng vấn: người này loại ra tất cảnhững tờ báo không sử dụng tiếng Pháp bởi vì người bệnh đang hấp hối chỉ nói ngôn ngữ này và không tin tưởng vào bất cứ phiên dịch nào; anh ta cũng từ chối những phóng viên da màu, bởi lẽ dần dà khi đã có tuổi, nhà văn bắt đầu có những phát ngôn mang tính phân biệt chủng tộc, những lời lẽ không trùng khớp với quan điểm thực sự của ông - các chuyên gia nghiên cứu về Tach hết sức lúng túng bởi họ nhìn thấy trong những câu chữ này biểu hiện của mong muốn gây công phẫn nảy sinh theo tuổi tác; cuối cùng, viên thư ký lịch sự từ chối lời đề nghị thiết tha của các kênh truyền hình, các tạp chí dành cho phái nữ, những tờ báo được đánh giá là quá thiên về chính trị và nhất là những tạp chí y khoa chuyên ngành muốn biết làm thế nào mà con người vĩ đại này mắc phải một chứng ung thư hiếm gặp đến vậy. Tach không phải là không tự hào khi biết mình mắc phải hội chứng Elzenveiverplatz đáng sợ, tên thường gọi là"chứng ung thư sụn", được đặt theo tên nhà bác học vào thế kỷ XIX đã tìm ra triệu chứng căn bệnh trên khoảng chục trường hợp bệnh nhân vốn là tù khổ sai tại Cayenne, chịu án giam vì phạm tội cưỡng dâm rồi thủ tiêu nạn nhân, và kể từ đó trở đi, người ta không còn phát hiện thêm một trường hợp phát bệnh nào nữa.Tiểu thuyết gia cảm thấy sự chẩn bệnh lần này giống như một sự phong tước vượt quá sức mong đợi: với cơ thể phì nộn không chút râu ria, ở ông hội tụ tất cả những đặc điểm nhận dạng của một viên quan hoạn, chỉ trừ có giọng nói, ông đang sợ sẽ phải chết vì chứng tim mạch ngớ ngẩn. Khi thảo ra nhữngdòng rồi đây sẽ khắc trên mộ chí của mình, ông không quên nhắc đến cái họ quý tộc của vị bác sĩ người gốc Teuton, nhờ cái họ ấy ông mới có thể từ giã cõi đời này một cách hiển hách. Nói đúng ra, việc lão già phì nộncứ suốt ngày ru rú trong nhà thọ được đến tuổi tám mươi ba đã khiến giới y họ chiện đại phải bối rối. Người đàn ông này béo đến nỗi từ nhiều năm nay, ông thú nhận là không còn khả năng đi bộ; ông đã lờ tịt những lời căn dặn của các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng và ăn vô độ. Ngoài ra, ông còn hút chừng hai mươi điếu xì gà La Habana mỗi ngày. Nhưng ông lại uống rất điều độ và đã từ lâu không còn duy trì sinh hoạt tình dục: các bác sĩ không tìm ra cách giải thích nào kháccho sự vận hành trơn tru của trái tim bị mỡ bóp nghẹt ấy. Sự sống sót của ông không hề kém phần bí hiểm, cũng giống như nguồn gốc của chứng bệnh sẽ kết thúcnó. Không một cơ quan truyền thôngnào là không công phẫn khi cái chết kề cận này bị đem ra câu khách. Ý kiến phản hồi từ phía độc giả cũng hưởng ứng nhiệt liệt những nỗ lực tự phê bình ấy củabáo chí. Chính vì thế, loạt phóng sự của một số ít phóng viên được chọn lựa lạicàng được mong đợi hơn bao giờ hết, hợp với quy luật của thông tin hiện đại. Các nhà viết tiểu sử chưa chi đãtỏ ra hết sức thận trọng. Giới xuất bản trang bị đầy đủ khí giới cho đội quân của mình. Hẳn cũng đã có một vài trí thức tự hỏi, phải chăng thành công lạ lùng này đã bị thổi phồng quá mức: phải chăng Prétextat Tach đã thực sự tạo ra một bước cách tân? Phải chăng ông không chỉ kế nghiệp tài tình một số nhà canh tân còn chưa được đánh giá đúng mức? Và để chứng minh, họ kể ra một vài tác giả mang những cái tên bí hiểm mà chính họ cũng chưa hề đọc trọn bộ tác phẩm, điều ấy cho phép họ luận bàn với vẻ am hiểu. Tất cả những nhân tố nói trên đều góp phần đảm bảo cho quãng thời gian trước khi từ giã cõi đời này một tiếng tăm đặc biệt lừng lẫy. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một thành công. Tác giả, người đã có đến hai mươi hai cuốn tiểu thuyết thành công, sống trong căn hộ tầng trệt của một tòa chung cư giản dị: ông cần một chỗ ở nơi mà mọi vật dụng đều đặt ngang tầm với, bởi lẽ ông di chuyển bằng xe lăn. Ông sống đơn độc và không có lấy một con vật nuôi làm bạn. Ngày nào cũng vậy, một nữ hộ lý rất nhiệt thành đến tắm rửa cho ôngvào lúc năm giờ chiều. Nhà văn không chịu để người khác đi mua sắm thay mình:ông đích thân tìm đến cửa hàng thực phẩm của khu phố để mua đồ ăn dự trữ. Viênthư ký riêng, Ernest Gravelin, sống cách căn hộ của ông bốn tầng nhà nhưng cũng hết sức tránh chạm mặt nhà văn; anh ta đều đặn liên lạc với ông chủ bằng điện thoại và Tach không bao giờ bỏ lỡ dịp để bắt đầu cuộc trò chuyện bằng câu:"Tiếc quá, Ernest thân mến, tôi hãy còn sống nhăn đây." Tuy nhiên, Gravelin vẫn nhắc đi nhắc lại với những phóng viên được chọn rằng nhà văn già vô cùng hào hiệp:chẳng phải năm nào ông cũng trích tặng nửa phần thu nhập của mình cho một tổ chức từ thiện đó sao? Chẳng lẽ người ta không mơ hồ cảm nhận được lòng độ lượng kín đáo này qua một vài nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm của ông hay sao?"Tất nhiên rồi, ông ấy khiến tất cả chúng ta, mà nhất là tôi đây, phát hoảng,nhưng tôi khẳng định rằng vẻ hằn học bề ngoài này chỉ là một cách làm đỏm: ông ấy thích đóng vai một lão già phì nộn điềm tĩnh và khe khắt nhằm che giấu một tính cách nhạy cảm cực độ." Vả chăng, những lời lẽ này không đủ làm yên lòng các phóng viên phụ trách mục thời luận đang không muốn từ bỏ một nỗi sợ vốn khiến kẻ khác phải phát ghen với họ: nỗi sợ ấy đem lại cho họ một vầng hào quang vẻ vang của những phóng viên thời chiến. Tin tức về cái chết đang rình rậplan truyền vào ngày 10 tháng Giêng. Nhà báo đầu tiên có thể gặp nhà văn vàongày 14. Anh ta bước vào giữa căn hộ tối om, tối đến mức phải mất một lúc anh ta mới nhận ra cái bóng hộ pháp đang tọa trên chiếc xe lăn ở chính giữa phòng khách. Giọng nói ồm ồm của ông lão tám mươi chỉ thốt lên một câu "Chào cậu" vô cảm để giúp anh ta thoải mái, câu nói ấy càng khiến anh chàng khốn khổ co rúm người lại. - Hân hạnh được gặp ngài, ngàiTach. Đây là một vinh dự lớn đối với cá nhân tôi. Chiếc máy thu âm chuyên dụng đã được bật lên, rình chộp lời lẽ của lão già đang câm bặt. - Xin thứ lỗi, ngài Tach, tôi có thể bật đèn chứ? Tôi không nhìn rõ khuôn mặt ngài. - Anh bạn, lúc này là mười giờ sáng, tôi không bật đèn vào thời điểm này trong ngày. Vả lại, cậu sẽ sớm nhìn thấy tôi thôi, ngay khi mắt đã quen với bóng tối. Vậy nên hãy tận dụng khoảng thời gian miễn xá được ban cho mình và bằng lòng với việc nghe thấy giọng nói của tôi, đó là thứ đẹp nhất tôi có được. - Quả là ngài có một chất giọng đẹp. - Đúng vậy. Vị khách không mời mà đến chỉ còn biết im lặng bối rối, anh ta ghi vào sổ tay: "T. có một sự im lặng cay độc. Cố tránh hết sức có thể." - Ngài Tach, cả thế giới thán phục quyết tâm của ngài, quyết tâm từ chối không nhập viện điều trị, bất chấp lệnh bác sĩ đưa ra. Vậy nên câu hỏi đầu tiên nhất thiết phải thế này: ngài cảm thấy trong người thế nào? ... Mời các bạn đón đọc Hồi Ức Kẻ Sát Nhân của tác giả Amelie Nothomb.
Khởi Đầu Từ Cái Chết - Diana Rowland
Angel Crawford là một nhân vật cá biệt và nổi loạn. Cô nghiện bia rượu, các loại thuốc hỗ trợ và thay công việc như thay áo vì tính khí bất thường cùng thái độ làm việc thiếu nghiêm túc. Mẹ Angel mất sớm và cô sống cùng ông bố nghiện ngập bất cần đời. Ngoài ra, Angel còn có cậu bạn trai sống trong ngôi nhà lưu động và sửa ô tô để kiếm sống, cũng là dân nghiện thuốc và cần sa giống như cô. Sau một đêm phê rượu và thuốc ở quán bar quen thuộc, Angel tỉnh dậy trong bệnh viện với những ký ức máu me ghê rợn về một tai nạn giao thông thảm khốc đã xảy ra với mình vào đêm hôm trước. Tuy vậy, ngoài việc không còn mảnh quần áo nào trên người thì cô lại không hề có một vết xây xước. Báo cáo của bệnh viện cho thấy cô đã bị sốc vì dùng thuốc quá liều. Angel rời khỏi bệnh viện cùng một lá thư sắp xếp công ăn việc làm mà một kẻ nặc danh đã để lại cho cô. Angel được thu xếp vào làm việc ở Nhà xác của Viện Kiểm thi của thị trấn. Nhiệm vụ của cô là đánh xe đi thu gom các xác chết bước đầu được xác định là đã qua đời một cách không bình thường, đưa về nhà xác và sau đó phụ mổ cho bác sĩ pháp y phẫu thuật tử thi để tìm ra nguyên nhân cái chết. Trong quá trình làm việc ở nhà xác, Angel dần dần kinh hoàng nhận ra mình là một thây ma khi cô khám phá ra mình thèm muốn và sẵn sàng làm mọi chuyện để có thể đánh chén những bộ não trong những xác chết mà cô phải xử lý. Khi cơn bàng hoàng trôi qua, Angel bắt đầu lên kế hoạch dự trữ thứ đồ ăn mang tính sống còn đối với mình, đồng thời cô cũng nhận ra rằng kẻ nặc danh đã để cô lại trong bệnh viện lúc đầu chính là kẻ phải chịu trách nhiệm đối với việc biến đổi cô thành thây ma. Thị trấn Tucker Point bắt đầu xuất hiện những xác chết lạ thường, những xác chết mất đầu hoặc bị tổn thương nặng phần đầu. Toàn bộ Viện Kiểm thi cũng như Sở cảnh sát bị đặt vào tình trạng báo động trước khả năng đối đầu với một kẻ giết người hàng loạt. Riêng Angel có những lập luận của riêng mình và cô khẳng định đã xuất hiện một kẻ săn thây ma trong thị trấn. Càng nhiều các vụ án xảy ra, Angel càng dần tiếp cận với sự thật. Cuối cùng, sự thật kinh hoàng và không ngờ nhất đã được phơi bày. *** Mày phải chết rồi mới đúng”, mụ y tá vừa nói vừa chỉnh gì đó trên dây truyền dịch của tôi. Mụ ta không béo mà là vạm vỡ, với đôi mắt tô vẽ lem nhem cùng mái tóc nhuộm màu cam ánh đỏ kinh tởm. Khi tôi không đáp lại ngay lập tức, mụ ta liền liếc về phía tôi như để đảm bảo là tôi đã thực sự tỉnh và nhận thức được rồi. “Mày thừa biết như thế nhỉ?”, mụ ta gặng hỏi. “Mày còn sống là phúc tổ rồi.” “Ờ... ô kê”, tôi lầm bầm. Tôi sờ tay lên phần bụng bên dưới lớp chăn rồi cau mày hỏi, “Tôi bị hôn mê hay gì à?”. Đôi môi mỏng dính của mụ ta mím lại. “Bất tỉnh ấy hả? Không. Người ta đưa mày đến cách đây vài giờ.” Mụ ta dừng lại, chống hai tay lên hông. “Mày bị sốc thuốc.” Tôi xoa một tay lên mặt, lắc đầu. “Đâu, tôi bị tai nạn ô tô mà”, tôi khăng khăng. “Tôi nhớ là mình bị thương.” Phải không nhỉ? “Bị chảy máu”, tôi thêm vào, thấy bớt chắc chắn hơn khi sờ soạng lên cái bụng vẫn còn nguyên vẹn lần nữa. Mụ y tá khịt mũi thô thiển. “Người mày chả có vết xước nào cả. Chỉ tưởng tượng là giỏi.” Mắt mụ ta nheo lại ra vẻ coi thường và chê trách. Tôi đếch quan tâm. Tôi đã quen bị người khác nhìn kiểu đó rồi. Thủy tinh, máu và kim loại. Một cơ thể nát vụn bên cạnh tôi. Răng và cơn đói. Từng miếng thịt bị xé ra... Gáy tôi đổ mồ hôi lạnh. Chuyện đó sao có thể là ảo giác được? Ảo giác phải dị hợm, mơ hồ và lộn xộn chứ. Tôi biết thế vì đã vài lần bị ảo giác rồi. Mụ y tá hắng giọng ra vẻ khó chịu rồi giật lấy tờ biểu đồ ở chân giường. “Cô em da trắng vô danh. Hừmmm. Cưng có nhớ họ tên không hả?” Mụ ta đảo mắt quay lại nhìn tôi và ném cho tôi nụ cười mật ngọt ác ý, chẳng có lấy một chút quan tâm thực sự nào trong đó. “Có, tôi biết rõ cái tên chết tiệt của mình chứ”, tôi gầm gừ. “Angel Crawford.” Tôi muốn thêm vào rằng, Và bà có thể viết lại cái tên ấy bằng cây bút chì bị cắm vào đít bà ấy, nhưng rồi vẫn kìm lại được. Tôi biết là y tá có quyền năng làm cuộc đời người ta te tua hơn vốn dĩ, và rõ ràng con mụ khốn kiếp này nghĩ rằng chỉ còn cách một bước nữa thôi, tôi sẽ thành vai chính trong một show Maury Povich[1] đặc biệt. Con mụ già chết tiệt. Tôi á, còn phải cách ít nhất hai bước nữa nhá. Mụ y tá khịt mũi như kiểu chẳng thực lòng tin tôi đủ nhanh nhạy hay tỉnh táo để biết mình là ai. “Xem trong người mày có những gì nào - THC, hydrocodone, alprazolam, codeine...” Mụ ta lép bép thêm tên vài loại thuốc dài ngoằng và rùng rợn nữa trong khi tôi quắc mắt ghê tởm nhìn mụ. Rồi mụ ném cho tôi ánh mắt chất chứa vẻ thỏa mãn ngạo mạn, treo lại tấm biểu đồ và vênh váo lạch bạch rời khỏi phòng trước khi tôi kịp đáp trả. Cũng tốt, vì điều tôi muốn nói với mụ ta sẽ phù hợp với show Jerry Springer[2] hơn là Maury Povich. Cơn giận của tôi teo quắt lại ngay khi mụ y tá bỏ đi, choáng ngợp bởi cảm giác bối rối và nỗi sợ hãi đến buồn nôn. Tôi nhấc chăn lên để tận mắt chứng kiến, một lần nữa, là mình vẫn còn nguyên vẹn. Tôi vật vã tìm cách lý giải mọi chuyện. Tôi nhớ là có máu. Rất nhiều máu. Có một vết rách gì đó dài ngang bụng, và tôi vẫn còn lưu giữ cái ký ức buồn nôn khi thấy một đầu xương trắng lởm chởm thò ra từ đùi, máu phun khắp mọi nơi. Nhưng giờ chẳng có gì bất thường cả. Không xây xát, không bầm tím. Da thịt trên người bình thường đến hoàn hảo. Một cơn hôn mê sẽ giải thích được chuyện đó, phải không nhỉ? Đại loại là vài tháng gì đó, đủ thời gian để tôi lành lặn trở lại. Nhưng mà tôi cũng chẳng có vết sẹo nào. Tôi thở dài rồi lại thả đầu xuống gối. Tôi không bị hôn mê. Mụ y tá không nói dối, cũng chẳng làm gì khiến đầu óc tôi loạn cả lên. Không, tôi chỉ đơn giản là một kẻ bỏ đi. Sốc thuốc. Tuyệt! Ôi chao, đây là một mức độ thấp kém mới đối với tôi. Và cũng chẳng khá khẩm gì hơn, khi việc tôi tụt xuống đến mức độ này là chuyện hoàn toàn có thể hiểu được. Điều có thể gây sốc duy nhất là việc này đã chẳng xảy ra sớm hơn. Tôi không nhớ là mình đã nốc thuốc nhiều đến mức như mụ y tá lắm điều đã nói, nhưng hiện giờ chuyện tôi đang ở trong phòng cấp cứu đã đủ minh chứng cho điều đó rồi. Mụ y tá cũng chẳng thay đổi kết quả xét nghiệm của tôi làm gì. Tất cả là do chính tôi gây ra, hệt như từ trước đến giờ. Tôi bị cảm giác suy kiệt rã rời nuốt chửng khi nhìn chằm chằm lên trần nhà ốp gạch lốm đốm. Bên kia cửa, tôi có thể nghe thấy âm thanh huyên náo của một cái cáng được đẩy ngang qua và những giọng nói cất lên với vẻ quan tâm ngắn ngủi. Tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Một nhân viên xã hội hay nhà tâm lý học nào đó sẽ đến và bảo rằng tôi cần phải đi cải tạo, tư vấn hay mấy trò mả mẹ như thế, đó là một gợi ý ngu xuẩn vì tôi chẳng có tiền hay bảo hiểm quái gì. Hoặc tệ hơn, tôi sẽ bị bắt giam bảy mươi hai tiếng để “đánh giá thần kinh”, vì rõ ràng tôi là mối nguy hiểm đối với chính bản thân mình, và rất có thể tôi sẽ tàn đời trong một buồng bệnh từ thiện tởm lợm nào đó. Đừng có mơ tôi sẽ chịu đựng điều đó. Lúc này tôi cảm thấy tuyệt đối bình thường, và còn rất sẵn sàng cuốn xéo khỏi nơi này. Tôi đá chăn ra và trượt khỏi giường. Nền gạch trơn lạnh dưới đôi chân trần. Tôi cần giày và quần áo. Tôi đang mặc chiếc váy bệnh viện ngu ngốc, còn quần áo của tôi thì dính đầy máu đến nỗi nếu mặc vào, tôi sẽ thu hút mọi sự chú ý khi cố ra khỏi đây... Tôi lắc đầu. Không, vụ máu me chỉ là một ảo giác. Chẳng có dấu hiệu gì cho thấy quần áo của tôi có ở trong phòng. Không có buồng thay, chỉ có một cái tủ và đống thiết bị y tế rùng rợn. Tôi đang dợm bước về phía chiếc tủ thì kịp nhớ ra bộ truyền dịch mà chỉ thêm một bước nữa, tôi sẽ vô tình giật nó khỏi cánh tay, rồi mất vài giây cố quyết định xem liệu mình có thể mang cái túi ấy theo cùng thay vì rút kim ra hay không. Tôi sợ kim tiêm kinh lên được, nhưng cứ để nguyên đấy hẳn sẽ tồi tệ hơn là tự mình rút ra. Đệch mợ, đó là lý do duy nhất khiến tôi chẳng bao giờ đụng đến những thứ thuốc mạnh hơn như heroin hay meth. Nhát chết đến mức chẳng dám cắm kim tiêm vào người để được tận hưởng cơn phê kiểu đó. Thuốc viên thì dễ dàng. Hơn nữa tôi có thể tự trấn an rằng tôi chẳng phải là con nghiện thực thụ. Thế mà giờ tôi suýt sữa đã tự giết chết mình, chẳng khác gì bị sốc heroin. Gạt ý nghĩ khó chịu đó ra khỏi đầu, tôi lột lớp băng dính trên cánh tay rồi nghiến răng rút kim truyền ra. Tôi chuẩn bị tinh thần trước cơn buồn nôn luôn tấn công bất cứ khi nào nhìn thấy máu, đặc biệt là máu của mình, nhưng thật nhẹ nhõm làm sao khi tôi chẳng đau đớn gì và cũng không cảm thấy nôn nao. Một giọt máu nhỏ xíu tuôn ra từ vết chích, nên tôi dùng viền váy lau đi trước khi kịp nhớ ra là đáng lẽ mình phải thấy buồn nôn mới đúng. Có lẽ đó là lý do vì sao tôi có ảo giác về chuyện mình bị bê bết máu? Chẳng có mấy thứ khiến tôi phát hoảng đâu, ngoài chuyện đó. Cửa phòng lại mở ra làm tôi giật thót, đánh rơi đống dây truyền với vẻ mặt đỏ bừng tội lỗi khi một y tá khác bước vào. Người này trẻ hơn mụ vừa nãy nhiều, có lẽ mới ngoài đôi mươi, với mái tóc vàng cột đuôi gà bóng mượt và kiểu gương mặt tươi tắn không trang điểm mà tôi ước gì mình cũng có. Tôi mà để mặt mộc thì trông như con chết trôi, và dù tóc tôi cũng màu vàng, nhưng thực ra là do tôi tự nhuộm lấy, cũng có nghĩa nó là một đống bùi nhùi xoăn tít, xơ xác. Mắt cô y tá liếc sang bộ truyền dịch bị bỏ rơi, song có vẻ như cô ta chẳng bực bội gì khi thấy tôi đã tháo nó ra. “Tôi muốn đảm bảo là cô đã tỉnh táo và tươm tất”, cô ta nở nụ cười thân thiện hơn tôi trông đợi. “Có hai cảnh sát đang muốn nói chuyện với cô.” Một cơn rùng mình khiếp sợ bắn xuyên qua tôi. “V... vì sao?”, tôi hỏi, mặc dù khá chắc chắn là mình biết lý do. Họ ở đây để tống tôi vào khám. Tay sĩ quan quản thúc tôi phát hiện ra tôi lại dùng thuốc và khoảng thời gian tạm tha của tôi đã chấm dứt. Hoặc là họ muốn tôi chỉ nơi tôi đã mua thuốc. Hẳn tôi đã trắng bệch cả ra vì cô y tá đóng cửa lại và mỉm cười trấn an tôi. “Họ chỉ muốn nói chuyện với cô thôi. Cô sẽ không sao đâu. Ngồi xuống đây”, cô ta nói, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết đẩy tôi xuống giường. Cô ta không bắt tôi phải nằm mà chỉ kéo chăn vòng quanh giường sao cho che hết phần người dưới và đôi chân trần của tôi. “Thế tốt hơn. Tôi biết là mình sẽ không đời nào nói chuyện được với bất kỳ loại quan chức nào trong tình trạng bán khỏa thân”, cô ta nháy mắt với tôi. Vẻ dễ chịu không ngờ của cô ta làm tôi hơi chới với, đặc biệt là sau vẻ thù địch công khai của mụ y tá trước đó. “Quần áo của tôi đâu hết rồi?” ... Mời các bạn đón đọc Khởi Đầu Từ Cái Chết của tác giả Diana Rowland.
Truyền Kỳ Mạn Lục - Nguyễn Dữ
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm văn xuôi duy nhất của Việt Nam từ xa xưa được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” (ngòi bút kỳ lạ của muôn đời), một cái mốc lớn của lịch sử văn học, sau này được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm gồm 20 truyện thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái nhằm gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, xã hội nhiễu nhương. Truyền kỳ mạn lục đã được dịch và giới thiệu ở một số nước như Pháp, Nga… *** Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A.176/1-2). Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ), hình như tác giả muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ. Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái. Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của người tiều phu trong núi Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến thế sự, vẫn không quên đời, vẫn nuôi hy vọng ở sự phục hồi của chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo "thuần vương", phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân. Nguyễn Dữ đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v.v. để lý giải một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi tình yêu lành mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn với lý lẽ bảo thủ trong lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người, tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân. Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian. BÙI DUY TÂN Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI. Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội). Truyện được viết bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng thương. Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp. Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận. Hà Thiện Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo Vũ Phương Đề cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau nhiều học giả tên tuổi Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều ghi chép về Nguyễn Dữ và định giá tác phẩm của ông. Nhìn chung các học giả thời Trung đại khẳng định giá trị nhân đạo và ý nghĩa giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại phát hiện thêm giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng túng" của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối đậm màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng lại đem đến chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan nghiệt. Về mặt thể loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn lục vẫn là "áng văn hay của bậc đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ cũng như của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam. TRẦN THỊ BĂNG THANH Lời tựa(1) Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu (2). Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền (3). Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra ngoài phên giậu của Tông Cát (4), nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu! Vĩnh Định năm đầu (1547), tháng Bảy, ngày tốt. Đại An Hà Thiện Hán kính ghi Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên. (1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản này hiện chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm 1987. Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa này nhưng không ghi tên Hà Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để làm bản gốc cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc". Chú thích (2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa chánh sứ. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong phúc thần. (3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. (4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân thoại. Mời các bạn đón đọc Truyền Kỳ Mạn Lục của tác giả Nguyễn Dữ.