Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hiệu Ảnh Nishiura ở Enoshima

Được chắp bút bởi tác giả triệu bản tại Nhật Bản - Mikami En. Một cuốn sách góp nhặt một chút diệu kì, hư ảo, lạnh sống lưng và cả sự xót thương đan xen giữa hai thế hệ. Nếu bạn đang tìm kiếm một câu chuyện khiến bạn tò mò đến trang cuối cùng vì không thể nào đoán được kết thúc thì xin đừng bỏ lỡ cuốn sách này. Câu chuyện xảy ra tại một vùng đất kỳ lạ mang tên đảo Enoshima. Hiệu ảnh lâu đời Nishiura kinh doanh hơn một thế kỷ nay đã bị đóng cửa do cái chết bất ngờ của chủ tiệm Fujiko Nishiura. Được mẹ giao nhiệm vụ sắp xếp lại di vật của người bà quá cố đã mất vào mùa thu năm ngoái, cô cháu gái 23 tuổi Mayu đã quay trở lại hòn đảo chứa đựng biết bao hoài niệm ấy.  Khi khám phá ngôi nhà trăm tuổi cũ kỹ ấy, cô đã tìm thấy một túi ảnh được đánh dấu là “chưa chuyển phát”, chúng thực sự kích thích trí tò mò của cô gái trẻ. Bốn bức ảnh được chụp ở bốn thời điểm khác nhau trong suốt 100 năm qua nhưng bố cục lại giống hệt nhau. Mặc dù thời đại thay đổi, trang phục khác nhau nhưng chẳng hiểu vì sao người đàn ông trẻ tuổi đang mỉm cười trong những tấm ảnh ấy trông giống nhau đến lạ. Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng. việc chụp ra những bức ảnh này là hoàn toàn không có khả năng.Cũng chẳng có người nào có thể trẻ mãi không già. Chẳng lẽ chủ nhân của những bức ảnh ấy chưa từng quay trở lại để lấy chúng hay sao? Những câu chuyện ly kì cứ tiếp tục xảy đến. Và rồi, một anh chàng sinh viên trường y 24 tuổi - Akitaka Madori đến xin lại những tấm ảnh cũ. Nhưng anh ta có gương mặt giống hệt người đàn ông trong bức ảnh kia...  Sự trùng hợp rùng rợn này là sao? Ngày trước, Mayu đã quyết tâp theo đuổi sự nghiệp nhiếp ảnh song không hiểu vì sao những bức ảnh cô chụp lại lan tràn trên mạng và hủy hoại cuộc đời của bạn cô Rui Nagano lúc mới chỉ 23 tuổi. Những trải nghiệm cay đắng ấy đã khiến cô từ bỏ việc chụp ảnh để làm nhân viên văn phòng và rồi cô khóa chặt mình trong lớp vỏ đơn độc và tiếc nuối vô bờ bến.  Anh chàng Akitaka kì lạ ấy ngỏ ý nhờ Mayu giải đáp những bí ẩn trong bức hình ấy nhưng liệu tình yêu sâu đậm dành cho nhiếp ảnh của cô gái trẻ có bị đánh thức một lần nữa? và bí mật ẩn sau anh chàng Akitaka kia thực sự là gì? Là sự thật đáng sợ hay đáng thương? Cuốn sách Hiệu ảnh Nishiura ở Enoshima chụp lại những khoảnh khắc của một nước Nhật xa xưa và hiện tại mà ta chẳng thể nào bắt gặp ở bất kì cuốn sách nào khác. Giọng văn lôi cuốn cùng những tình tiết cao trào đầy ngẫu hứng nhưng gây tò mò, chẳng thể nào ngờ tới. Một cuốn sách sẽ ám ảnh bạn trong một thời gian dài, gây xúc động mạnh mẽ khi đọc đến trang cuối cùng. Một cuốn sách làm dịu mát tâm hồn trong những ngày tháng xô bồ của nhịp sống hiện đại.  “Cuộc đời của một con người cũng sẽ không dễ dàng bị đảo lộn. Những cuộc đời đã bị đảo lộn rồi một ngày sẽ bình yên trở lại” *** Mikami En Sinh năm 1971 tại thành phố Yokohama thuộc tỉnh Kanagawa. Tác phẩm đầu tay là Dark Violet do Dengeki Bunko phát hành. Lĩnh vực sáng tác của Mikami trải rộng từ thể loại kinh dị cho đến kì ảo. Văn phong tỉ mỉ và trau chuốt đã thu hút được đông đảo độc giả trung thành. Tác phẩm Dark Violets của ông từng vượt qua ba vòng bình chọn cho giải thưởng tiểu thuyết Dengeki lần thứ 8. Năm 2002, ông ra mắt tác phẩm đầu tay, năm 2011 cho ra mắt bộ tiểu thuyết Tiệm sách cũ Biblia, xoay quanh quá trình đi giải đáp các bí ẩn trong một tiệm sách cũ. Seri Tiệm sách cũ Biblia được ông chấp bút đã bán hơn 6,4 triệu bản tại Nhật Bản và được chuyển thể thành phim. Các tác phẩm chính của ông gồm có bộ truyện Shadow Taker, bộ truyện Người lính giả danh, bộ truyện Tiệm sách cũ Biblia... Tác phẩm này là tập truyện đơn đầu tiên của ông. Chỉ có câu chuyện thứ nhất của tác phẩm này là được đăng trên tạp chí Jaro số 54. Các phần còn lại là được viết mới. Cuộc đời của một con người sẽ không dễ dàng bị đảo lộn. Những cuộc đời đã bị đảo lộn rồi một ngày sẽ bình yên trở lại. *** Mình mua cuốn sách này vì dòng cuối của bìa sau sách: “ Sự trùng hợp rùng rợn này là sao?” vì cứ nghĩ nó mang chút ma mị cổ quái, khi mà sách viết về hiệu ảnh cũ thì yếu tố này cũng dễ hiểu thôi mà, phải không các bạn ? Chưa đọc mà mình cứ nghĩ sẽ có một nhân vật trẻ mãi không già, sống trong một gia tộc cả trăm năm (cũng là do đọc bìa sau sách hihi).   Mở cuốn sách, điều khiến mình thích nhất là bookmark ^^ đâu ra cái máy ảnh dễ thương lắm luôn, nên là đọc cả cuốn này mình kẹp bookmark máy ảnh ở trang đầu và định dùng một bookmark khác, sợ hỏng mất em máy ảnh  Vậy mà sau đó mình đọc xong trong một buổi tối nên cũng chưa cần dùng tới bookmark luôn. Nội dung cuốn sách không quá ma mị như mình tưởng tượng, vì bản thân mình kì vọng hơi cao vào yếu tố này nên bị hẫng chứ thực tế là sách được tiết chế vừa phải, không có các chi tiết thừa hay rườm rà, các câu chuyện chủ chốt cũng thú vị và nhiều chi tiết cần suy ngẫm. Đặc biệt là dịch giả Như Nữ dịch tác phẩm rất mượt mà các bạn ạ. Tuy mình không đặc biệt thích nhân vật nào trong truyện nhưng mỗi nhân vật thì đều có nét thú vị riêng. Với nhân vật chính, Katsuragi Mayu, cô gái 23 tuổi, đang sống từng ngày mà trốn tránh niềm đam mê nhiếp ảnh của bản thân, luôn dằn vặt về một lỗi lầm đáng trách trong quá khứ, thì mình đánh giá cao sự nhạy bén trong cách sắp xếp sự việc của cô, và mình cho rằng đây là một cô bạn thông minh cho dù cô ấy có hơi vụng về khi giao tiếp (một chút, vì từ bé người ta đã ít nói đó). Madori Akitaka là nhân vật thứ 2 và có khá nhiều đất trong truyện, anh là người cùng với Mayu khám phá những điều chưa tỏ được ẩn giấu trong tiệm ảnh cũ này, từ đó tìm ra lời giải cho những khúc mắc bên trong Mayu và bản thân mình. Anh chàng này làm mình khâm phục vì lòng nhân ái và sự nhẫn nhịn, sự nhẫn nhịn xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo với người bà và cả người bố gia trưởng, mặc cho nỗi băn khoăn cào xé trong lòng mình. Những chàng trai hiếu thảo luôn được mình đánh giá cao ^^ Lòng nhân ái thì thể hiện bằng việc hỗ trợ Mayu dọn dẹp khi thấy cô xoay vần cùng cả đống việc ngổn ngang. Mà ban đầu cứ nghĩ Mayu và Akitaka là một đôi chứ, cũng trai tài gái sắc lắm mà, không ngờ còn một nhân vật nữa tài hơn, sắc hơn đang giấu mặt. Nagano Rui. Thực tế mình không phải ham trai đẹp lắm đâu, nhưng xuyên suốt cả câu chuyện mình cứ nghĩ nếu dựng thành phim thì Akitaka được điểm 10/10 chắc Rui phải được 11/10. Nhân vật này không trực tiếp xuất hiện nhưng qua những câu chuyện cũ, những bước tìm lại điều bấy lâu bị giấu kín đã khắc họa một Rui rất dị biệt nhưng mang nét đẹp tài tử cuốn hút ( đối với mình). Nhưng mình thắc mắc một điều là Rui đẹp vậy mà lại biết cách khiến người khác không chú ý về mình nữa thì lạ ha, thường những người như vậy cứ nghĩ hay được chú ý chứ nhỉ. Bà Fujiko Nishiura. Vì câu chuyên diễn biến khi bà Fujiko đã mất nên hình ảnh bà chỉ xuất hiện thông qua các câu chuyện, nhưng minh vẫn cảm nhận được sự nhân ái và gần gũi của bà. Bìa cuối sách có một câu khiến mình luôn nghĩ về bà Fujiko : “Cuộc đời của một con người không dễ dàng bị đảo lộn. Những cuộc đời đã bị đảo lộn rồi một ngày sẽ bình yên trở lại”. Cảm giác như hình ảnh bà đứng trước tiệm ảnh cũ, mỉm cười và nói như vậy đó. À mà phải rồi, đọc cuốn này tớ thấy thích bạn mèo trắng Yona trong truyện ^^ ngoài ra thì các nhân vật khác cũng có chỗ đứng và khiến người đọc phải suy ngẫm theo một cách riêng nhưng mình xin dừng ở đây thôi để các bạn cùng đọc cuốn sách này nhé. Đọc xong cuốn này và tìm hiểu về tác giả thì mới biết còn có cuốn “Tiệm sách cũ Biburia” cũng được đánh giá tốt. Mình sẽ tiếp tục đọc sách của Mikami En lần nữa. Nếu đọc xong thì đây là cuốn thứ 3 trong list những cuốn sách về cửa tiệm hay cửa hiệu nào đó rồi. Vui quá ạ. Nhưng mình có chút thắc mắc nhờ các bạn giải đáp với. Ở phần giới thiệu của cuốn Hiệu ảnh này ghi là “ Tiện sách cũ Biburia” nhưng mình tìm trên tiki, cùng tác giả thi chỉ có “Tiệm sách cũ Biblia” thôi. Vậy khác biệt là do đâu, mà 2 bộ này vẫn là 1 phải không ạ? Cảm ơn các bạn. Chúc các bạn đọc sách vui vẻ nha. Trang Nguyen *** Một chú mèo trắng cắm đầu ăn cơm trong chiếc đĩa để trên sàn nhà. Có tiếng bước chân vọng xuống từ tầng hai. Chú mèo lơ đễnh ngẩng đầu lên, một người đàn ông mảnh khảnh đang bước về phía cuối hành lang. Nó biết người đàn ông này không có gì phải đề phòng. Có vẻ hôm nay người đàn ông ấy cũng mặc một bộ đồ màu lam, thế nhưng dưới đôi mắt mèo thì chẳng thể nhìn rõ được màu sắc gì cả. Sau tiếng bước chân, có tiếng nước chảy vọng ra. Với loài mèo, con người là loài sinh vật sống bằng chân. Từ cử động của ngón và tiếng động do ngón chân tạo ra là có thể đoán được người đó đang làm gì, đang có tâm trạng gì. Người đàn ông vẫn di chuyển nhanh thoăn thoắt như mọi khi. Anh nhanh chóng thu dọn chén đĩa trên bàn, rửa nồi niêu đã sử dụng. Anh định nhân tiện dọn nốt đĩa thức ăn mèo. Này này, mèo tôi đây còn chưa ăn xong đâu đấy - mèo kêu lên kháng nghị. Thế là người đàn ông bèn vuốt ve lưng mèo như thể xin lỗi. Ngay sau đó, người đàn ông đi ra khỏi nhà theo lối cổng sau. Ngôi nhà yên tĩnh trở lại và chú mèo thong dong ăn nốt bữa cơm của mình. Hiện tại, chỉ có mình mèo và người đàn ông đó sống trong ngôi nhà này. Cũng có thời khá nhiều người sống ở đây hơn, ngôi nhà rất náo nhiệt, nhưng chẳng biết tự khi nào họ đều dần đi khỏi. Mèo không biết người đàn ông luôn ra khỏi nhà vào khung giờ nhất định ấy đi đâu và làm gì. Dù sao nó cũng chẳng có hứng thú biết điều đó. Để lại chiếc đĩa trống không, mèo trắng lách mình qua khe cửa nhỏ. Nhanh chóng băng qua đoạn đường còn mờ tối ẩm ướt, nó chạy về hướng có ánh nắng mặt trời. Ngôi nhà mà mèo đang ở đã cũ nát, khác hẳn những ngôi nhà quanh đó. Nghe nói, từ xa xưa, trước khi mèo tới, đây là nơi sinh sống của rất nhiều người. Phía bên phải có tiếng sóng biển, còn bên trái có tiếng bước chân con người. Chú mèo không muốn lại gần một người xa lạ, nhưng ra gần biển thì cũng chỉ có gió lạnh mà thôi. Cuối cùng, nó quyết định rẽ sang bên trái. Nơi đây là một hòn đảo được biển bao bọc bốn phía. Mèo đi lướt qua vô số người, nhưng trong mắt mèo, nó chỉ thấy toàn chân là chân. Chân to có, chân nhỏ có, chân không nhìn thấy ngón, chân chỉ nhìn thấy ngón... Và trong cái thời tiết giá lạnh như hiện nay thì những đôi giày dày và ấm là nổi bật nhất. Mèo dừng bước chân để tránh một người đang đi từ phía đằng trước tiến lại. Người này to lớn lạ thường, chân của anh ta cũng được bọc trong một đôi giày màu đen. Tiếng bước chân của người này trầm đục một cách kỳ lạ. Cộp, cộp, cộp. Tiếng bước chân truyền tải tâm trạng mịt mùng u ám như sương mù ban đêm, thứ tiếng mà thỉnh thoảng mèo lại nghe thấy. Người đàn ông sống cùng mèo đôi lúc cũng có bước đi như thế. Có lẽ vì mèo dừng lại nên người đàn ông to lớn đối diện hiểu lầm. Anh ta ngồi xổm xuống và duỗi tay ra. Có vẻ anh ta định vuốt ve mèo. Tóc trên đầu anh ta ngắn hơn người khác một chút. Và không chỉ mỗi chân, mà cả người anh ta được bao bọc trong một bộ đồ màu đen khiến anh ta trông như một cái bóng. Mèo chạy vụt đi. Nó ghét nhất là bị con người nhìn chằm chằm hay chạm vào lông mình. Cuối con đường ấy là một sườn dốc lớn. Số chân người trong tầm mắt mèo tăng lên. Mèo cố gắng không lại gần họ mà bước đi trên làn đường rải sỏi. Xuống hết con dốc, mèo cảm thấy mùi của thủy triều nồng đậm trong không khí. Thật hiếm khi có ít người ở đó như thế, mặc dù vậy, thỉnh thoảng nó cũng gặp rắc rối khi bị mấy đứa trẻ đuổi bắt. Trong lúc đang tìm một chỗ có nhiều ánh nắng, mèo đã đặt chân đến một cây cầu lớn dẫn ra khỏi đảo. Nó cũng nhận thức được một cách mơ hồ rằng, cây cầu này do con người tạo ra. Những loài động vật khác chẳng thể làm ra được thứ như thế này. Mèo vẫn luôn sống trên mảnh đất này và chưa bao giờ qua bên kia cây cầu. Con người hoàn toàn không gượng ép nó, nhưng nó vẫn ở lại, bởi tự nó cảm thấy mảnh đất này là nơi dành cho mình. Có những thứ vô hình đã gắn kết mèo với hòn đảo này. Rất nhiều người đã băng qua cây cầu lớn bắc qua biển để đến với nơi đây. Trong họ cũng có điều gì đó gắn kết bản thân với hòn đảo này. Mèo nghiêng tai lắng nghe, hầu hết những bước chân ấy đều rất nhẹ nhàng, dễ chịu, mang theo tâm tình vui vẻ, tươi sáng. Chỉ có người đàn ông có bước chân trầm đục lúc nãy là khác. Trong một ngày, mèo cũng chẳng gặp mấy người như thế. Cộp, cộp. Đột nhiên, mèo dựng thẳng đôi tai. Không ngờ hôm nay mèo có thể gặp tới người thứ hai như thế, quả là chuyện hiếm. Lần này là một cô gái nhỏ nhắn hơn người lúc nãy. Cô gái ấy mặc trang phục màu trắng bồng bềnh tròn trịa, nhưng mèo biết cơ thể thực của cô gái khá mảnh mai. Trông cô gái này chẳng có gì là nổi bật cả, giống như cô đã cố tình làm cho mình trở nên như vậy. Cô gái có vẻ đang mang tâm trạng u ám. Mèo có cảm giác như đã gặp cô gái này trước đây, hoặc có lẽ mèo biết một người giống cô ấy. Nó ngồi trên thảm sỏi đã ngấm đủ ánh mặt trời, dõi theo chủ nhân của tiếng bước chân kia. Còn cô gái, cô ấy hoàn toàn không nhận ra sự tồn tại của mèo ta. Rất có thể mèo sẽ gặp lại cô gái. Bởi không hiểu sao, những người có bước chân nặng nề, trầm đục thường hay đi đến ngôi nhà cũ mà mèo đang sống. Dường như có một thứ vô hình nào đó đã gắn kết họ với ngôi nhà ấy. Giống như ngoài nơi ấy ra họ không còn nơi nào khác để đi vậy. ... Mời các bạn đón đọc Hiệu Ảnh Nishiura ở Enoshima của tác giả Mikami En.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tận Cùng Là Cái Chết - Agatha Christie
Bản dịch của dịch giả Tuấn Việt. Ở Ai Cập vào năm 2000 trước công nguyên, cái chết được xem là mang lại ý nghĩa cho sự sống. Tại chân một vách đá là thi thể co quắp bấy nát của Nofret, thiếp yêu của một giáo sĩ. Trẻ, đẹp và ác dạ, hầu hết mọi người đồng ý rằng đó là định mệnh - cô ta đáng phải chết như một con rắn! Tuy nhiên tại nhà của cha mình bên bờ sông Nile, cô con gái Renisenb của giáo sĩ lại nghĩ rằng cái chết của người phụ nữ thật đáng ngờ. Càng ngày cô càng tin mầm mống của cái ác nảy nở trong nhà mình - và chứng kiến một cách bất lực những mê đắm của gia đình trong cảnh chết chóc. Agatha Christie sinh tưởng tại Devonshire nước Anh. Bà khởi sự viết văn từ chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong suốt mấy chục năm cầm bút, bà đã làm cho thế giới kinh ngạc và thán phục không những về số lượng tác phẩm đồ sộ, về tài xếp đặt, bố trí các tình tiết một cách chặt chẽ, khéo léo, hay "nghệ thuật đánh lạc hướng" có một không hai - vốn là yếu tố quyết định sự thành công của một cuốn tiểu thuyết trinh thám - mà còn về nhãn quan sắc sảo tinh tế của bà về tâm hồn con người qua những xung đột, phát triển nội tâm về tính nhất quán và đột biến của hành vi con người. Chính do điều đó, một số tác phẩm của Agatha Christie không chỉ dừng lại ở phạm vi giá trị của thể loại tiểu thuyết trinh thám, chúng còn đặt ra những vấn đề về con người buộc chúng ta phải suy nghĩ, băn khoăn. Là vợ của một nhà khảo cổ học tiếng tăm, bản thân bà cũng đã từng đi điền giã khảo cổ nhiều lần ở vùng Cận Đông. Lần này, trong "Tận cùng là cái chết", bạn đọc sẽ được cuốn hút vào những tội ác xảy ra tại Ai Cập Cổ Đại, bên bờ sông Nile hai ngàn năm trước Công nguyên. Ở đây, Agatha Christie đã mô tả thật đặc sắc những uẩn khúc của tâm hồn con người, lột tả và lên án gay gắt thói ích kỷ, sự sụp đổ của nền tảng đạo đức, trật tự gia đình dưới sự chi phối của vật chất đến mức lên án của chế độ phong kiến, chế độ nô lệ. Tầng sâu của tư tưởng tác giả, qua "Tận cùng là cái chết", còn nhằm tố cáo những khía cạnh suy đồi đó của xã hội tư sản, đế quốc đương thời, nơi mà "sự phát triển của con người không theo hướng tốt hơn, lớn lao hơn, mà nó nuôi dưỡng điều ác" - như lời Hori, một nhân vật trong tiểu thuyết đã nói. Bạn đọc Việt Nam đã từng làm quen với Agatha Christie qua các tiểu thuyết "Cái chết trước sân gôn", "Bí mật chiếc bình xanh"... Lần này chúng tôi giới thiệu Agatha Christie qua tiểu thuyết "tận cùng là cái chết" theo bản tiếng Việt của Tuấn Việt dịch. *** Imhotep ngồi co quắp người lại. Trông ông già hơn nhiều, chỉ còn là một ông cụ còm cõi và rã rời. Nét mặt ông trông ngớ ngẩn thảm hại. Henet mang thức ăn lại và cố ép ông ăn: - Nào, nào, ngài Imhotep, phải giữ gìn sức khỏe mới được. - Tại sao chứ? Mà sức khỏe là gì chứ? Ipy khỏe - khỏe, trẻ và đẹp - và giờ đây nó đang nằm trong buồng ướp xác. Con trai của ta, đứa con trai ta thương yêu nhất đời. Đứa con trai cuối cùng của ta. - Không, không, ngài Imhotep, ngài còn có cậu Yahmose mà. - Trong bao lâu nữa? Không, thằng Yahmose cũng sắp tiêu rồi. Tất cả chúng ta đều sẽ chết hết. Điều quỷ quái nào đó đổ lên trên chúng ta vậy nhỉ? Ta đâu có biết được những tai họa như thế này xảy ra khi ta đem cái con hầu đó về nhà? Đó là một chuyện ai cũng thừa nhận, một điều đúng đắn và phù hợp với luật của người cũng như luật của thần linh. Ta cũng trân trọng nó. Thế thì tại sao những điều này lại xảy đến cho ta? Hay là chính Ashayet đã trả thù ta? Chính nàng chứ không phải Nofret đã không tha thứ cho ta? Rõ ràng nàng đã không đáp lại lời thỉnh nguyện của ta. Những điều ác sẽ còn tiếp diễn nữa. - Không, không, ngài không được nói như vậy. Mới một thời gian quá ngắn kể từ khi chúng ta dâng lễ vật với lời nguyện lên bà Ashayet. Ai lại chẳng biết việc xử kiện là việc làm tốn rất nhiều thời giờ, trước pháp đình việc kiện cáo nhiều khi hoãn đi hoãn lại mãi rồi đến các quan giám sát lại còn lâu hơn nữa. Công lý là công lý, trong đời này cũng như đời sau, một việc kiện tụng càng diễn ra chậm chạp thì lại càng được phân xử công minh vào lúc chung cục ngài ạ. Imhotep vẫn cứ lắc đầu ngờ vực. Henet tiếp tục: - Vả lại, ngài Imhotep ạ, ngài phải nhớ rằng cậu Ipy không phải là con của bà Ashayet - cậu là con của bà Ankh, vợ kế của ngài. Vì thế, làm sao mà bà Ashayet có thể hết mình lưu tâm vì cậu ta được? Nhưng với cậu Yahmose thì khác - cậu Yahmose sẽ lành bệnh, bởi vì bà Ashayet ở trên kia sẽ can thiệp để cậu ấy phải bình phục. - Henet, ta phải thú nhận rằng lời mụ an ủi ta rất nhiều... mụ nói nhiều điều đúng lắm. Quả thật hiện giờ thằng Yahmose hàng ngày hồi phục được một ít. Nó quả là một đứa con tốt, trung thành. Nhưng mỗi khi ta nghĩ đến thằng Ipy của ta... một trí thông minh như vậy, một sắc đẹp như vậy... Imhotep lại rên rỉ. - Trời ơi hỡi trời! Henet cũng rên lên trong niềm thông cảm với ông. - Cái con đàn bà khốn nạn với sắc đẹp đáng nguyền rủa của nó! Ước chi ta đã đừng để mắt đến nó. - Đúng vậy, đúng vậy, thưa chủ nhân. Nó đúng là con gái của ma vương. Nó có học ma thuật và bùa chú, điều đó thì không còn nghi ngờ gì nữa. Có tiếng gậy đập lên nền nhà và Esa khập khiễng bước vào khách sảnh. Bà khịt mũi chế nhạo: - Sao đấy, không còn một ai trong nhà này còn chút lý trí hay sao? Các người không có việc gì hơn là ngồi buông ra những lời nguyền rủa một cô gái bất hạnh, một cô gái quen thói thù vặt và ranh mãnh, được thúc giục thêm bởi cách xử sự ngu ngốc của những con vợ ngu ngốc của những đứa con trai ngu ngốc của con. - Thói thù vặt và ranh mãnh, mẹ gọi như vậy được sao mẹ? Trời ơi, ba đứa con trai của tôi, hai đứa đã chết, còn một đứa thì đang chết. Thế mà mẹ tôi lại nói tôi những lời như vậy! - Có lẽ phải cần có một người nào đó nói với con những điều như vậy, vì con không thể nhận thức sự việc đúng như nó vốn có. Hãy giũ sạch trong đầu óc con cái sự mê tín xuẩn ngốc về linh hồn của một cô gái trở về báo thù đi. Đây là một bàn tay người sống đã đè đầu thằng Ipy xuống hồ, và một bàn tay người sống đã rót thuốc độc vào trong rượu mà thằng Yahmose và Sobek uống. Con có một kẻ thù, đúng vậy, Imhotep ạ, một kẻ thù ở ngay trong nhà này. Và chứng cớ là từ khi con làm theo lời khuyên của Hori để con Renisenb nấu thức ăn cho thằng Yahmose, hoặc để cho một tên nô lệ nấu nhưng nó canh chừng rất kỹ và tự tay nó bưng cho thằng Yahmose ăn, từ khi đó, mẹ bảo con rõ, thằng Yahmose hồi phục lại sức khỏe ngày một. Cố gắng đừng tỏ ra ngốc nữa, con cứ ngồi rên rỉ và vò đầu bức tai mãi, về mấy chuyện này thì mụ Henet giúp con nhiều lắm... - Ôi cụ Esa, cụ nói oan cho con lắm! - Và mẹ bảo con, về chuyện này, Henet giúp con không biết là vì mụ cũng ngốc hay vì một lý do nào khác... - Xin thần Re tha thứ cho cụ vì cụ đã tỏ ra độc ác với một người đàn bà đơn độc và bất hạnh. Bất chấp Henet, Esa huơ cây gậy trong một cử chỉ mạnh mẽ: - Imhotep, hãy cương nghị lên, và cố gắng suy nghĩ. Ashayet, người vợ đã khuất của con, nhận tiện đó là một người đàn bà rất đáng yêu và không ngốc tí nào, có thể gây ảnh hưởng cho con từ thế giới bên kia, nhưng khó có thể suy nghĩ thế cho con trong thế giới này! Chúng ta phải hành động Imhotep ạ, nếu chúng ta không muốn có thêm một người chết nữa trong nhà này. - Một kẻ thù trong nhà này? Và là người sống? Mẹ thật sự tin như vậy sao mẹ? Nhưng như vậy thì nghĩa là tất cả chúng ta đều nguy hiểm? - Chắc chắn rồi. Chúng ta bị nguy hiểm không phải bàn tay của hồn ma bùa quỷ gì cả mà bởi sức mạnh của con người, bởi những ngón tay người sống đã rót thuốc độc vào thức ăn thức uống, bởi một khuôn mặt người lò dò theo sau thằng Ipy đang từ làng trở về nhà giữa đêm khuya và ấn mạnh đầu nó xuống dưới hồ. Imhotep trầm ngâm: - Làm được vậy cần phải có sức mạnh. - Trông bề ngoài thì đúng vậy, nhưng mẹ cũng không chắc lắm. Thằng Ipy đã say mèm vì rượu bia ở làng. Có thể nó bước thấp, bước cao đi về nhà, và không đề phòng gì người cùng đi với nó, nó bèn cúi đầu xuống hồ rửa mặt cho mát. Và lúc đo thì không cần nhiều sức lực lắm. - Mẹ cố nói gì vậy mẹ? Mẹ muốn nói rằng chính một người phụ nữ đã làm điều đó? Nhưng, không thể được. Toàn bộ chuyện đó là không có thể! Không thể nào có kẻ thù trong nhà này, nếu có thì chúng ta phải biết, con phải biết. - Con ạ, tội ác nằm ở nơi con tim chứ không biểu lộ trên nét mặt đâu. - Mẹ muốn nói một trong bọn đày tớ hoặc nô lệ? - Không phải đày tớ cũng không phải nô lệ, Imhotep ạ. - Một trong chúng ta? Hoặc người khác... có phải mẹ muốn nói Hori hoặc Kameni? Nhưng Hori thì cũng như người trong gia đình. Nó xưa nay vẫn trung thành và đáng tin cậy. Còn Kameni? Nó là một người lạ thật đấy, nhưng nó thuộc đẳng cấp với chúng ta và nó đã chứng tỏ lòng nhiệt thành tận tụy của nó khi làm việc cho con. Mới sáng nay nó vừa đến gặp con đã thúc giục con bằng lòng cho nó cưới Renisenb. - Ồ, thế hả? Esa tỏ ra chú ý - Và con trả lời sao? - Con trả lời sao được? Imhotep sốt ruột. Lúc này có phải là lúc nói chuyện cưới hỏi đâu, con đã bảo nó vậy. - Thế nó bảo sao? - Nó bảo rằng theo ý nó thì đây chính là lúc nói chuyện cưới hỏi. Nó bảo Renisenb không an toàn trong nhà này. - Mẹ tự hỏi - Esa nói - Mẹ tự hỏi rất nhiều... Có phải chính là con ấy không? Trước đây mẹ nghĩ nó là... - và Hori cũng nghĩ vậy - nhưng bây giờ. ... Mời các bạn đón đọc Tận Cùng Là Cái Chết của tác giả Agatha Christie.
Tại Sao Không Là Evans - Agatha Christie
Tác phẩm Tại sao không là Evans? có tựa gốc là Why Didn't They Ask Evans? Tác phẩm này còn được xuất bản dưới tựa là Người trong ảnh. Khi chàng Bobby Jones, con trai thứ tư của một mục sư sống tại làng Marchbolt, trong một trận gôn đã đánh chệch đường banh vào vách núi, và khi đi tìm lại trái banh gôn ấy, anh phát hiện ra một tai nạn: một người đàn ông bị té xuống vực núi, do thời tiết lúc ấy đầy sương mù. Người đàn ông ấy đang hấp hối. Trước khi chết, trong giây phút tỉnh táo duy nhất, ông ta nói một câu "Tại sao không là Evans?". Bobby giúp phủ mặt người chết bằng chính chiếc khăn tay lấy ra từ túi của ông ta, và khi anh kéo khăn ra, một tấm hình của một phụ nữ xinh đẹp cũng rơi ra theo. Người chết được nhận dạng là Alex Pritchard bởi người em gái. Cô em gái này, theo báo chí, thì được tìm thấy nhờ vào tấm hình trong túi của người chết. Khi đến làm chứng trước tòa với tư cách người phát hiện ra nạn nhân đầu tiên, Bobby thật ngỡ ngàng khi người em gái có mặt tại tòa hoàn toàn khác xa với người trong ảnh. Với bản tính thật thà, chân thật, Bobby đã viết thư cho "người em gái" của nạn nhân để nhắc lại lời nói của cùng mà Alex Pritchard đã nói với anh khi hấp hối. Và cũng vì việc cung cấp tin tức này mà Bobby - với sự hợp tác của tiểu thư Frances Derwent, tên gọi thân mật là Frankie - bị lôi kéo vào một cuộc phiêu lưu, trong đó tính mạng anh và Frankie nhiều lần bị đe dọa. *** Frankie sững sờ. - Bây giờ thì cô hiểu chứ! - Bobby như bị kích động kêu lên - Câu hỏi của cô rất giống câu hỏi của ông Alan Carstairs. Tại sao không là bà hầu phòng? Tại sao không là Evans? - Ô! Bobby, chúng ta thành công rồi! - Cái điều nghịch thường ấy cũng đã xuất hiện trong tâm trí của ông Alan Carstairs và thế là ông ấy đi tìm những chuyện khác thường trong bản di chúc. Theo tôi, ông ấy đến Galles cũng vì lý do ấy. Gladys Evans là cái tên thường thấy ở Galles và chắc hẳn bà Evans là người vùng này. Ông Carstairs về Marchbolt tìm bà Evans nhưng bị một kẻ nào đó theo dõi… và ông ta không gặp được bà này. - Nhưng tại sao người ta không gọi bà Evans đến ký vào bản di chúc? - Frankie nhắc lại - chắc chắn có lý do, mà là lý do quan trọng. Đã có hai bà giúp việc trong nhà, tại sao lại đi gọi ông làm vườn? - Thế này: Rose Cludleigh và Albert Mere là những kẻ ngốc nghếch, còn Evans là một phụ nữ thông minh. - Còn vấn đề nữa. Ông Elford lúc ấy cũng có mặt tại đấy, chắc chắn ông ấy sẽ nhận ra những chuyện gian dối nếu có. Bobby, đây là cái nút phải gỡ cho ra: Tại sao người ta dùng bà Cludleigh và ông Mere làm nhân chứng chứ không dùng bà Evans? Mọi điều bí mật là ở đấy... Khoan đã! Có phải do... Frankie đứng yên, nhìn thẳng phía trước nhưng hình như không trông thấy gì cả, sau đó lại nhìn Bobby, mắt sáng lên một cách khác thường. - Bobby, khi anh được mời đến nghỉ tại một ngôi nhà có hai bà hầu thì anh cho ai tiền thưởng trước? - Cho bà hầu phòng. Người ta không thưởng bà nấu bếp vì đơn giản là người ta không nhìn thấy bà này bao giờ. - Không thường xuyên nhìn thấy thôi. Nếu anh ở lâu ở nhà bạn và hay đi lại thì đôi khi anh cũng nhìn thấy bà nấu bếp. Còn bà hầu phòng thì hàng ngày mang bữa ăn sáng vào phòng cho anh, phục vụ bàn ăn cho anh... - Cô muốn dẫn tôi đi đâu đây, Frankie? - Người ta không gọi bà Evans đến ký tên vào bản di chúc vì bà ta sẽ nhận ra người để lại di chúc không phải là ông Savage. - Frankie, vậy người đó là ai? - Roger Bassington-ffrench! Hắn đóng giả và thế chân ông Savage. Tôi cũng khẳng định là chính Roger đã đi khám bác sĩ và đã sáng tác ra câu chuyện ung thư. Sau đó hắn cho người đi mời ông chưởng khế, người chưa bào giờ biết mặt ông Savage nhưng lại sẵn sàng thề đã chứng kiến ông này ký tên vào bản di chúc trước hai nhân chứng mà một người lần đầu tiên nhìn thấy "ông Savaga" còn người kia thì mắt kém và chưa chắc gặp người ký di chúc lần nào. Anh hiểu chứ?... - Nhưng lúc ấy ông Savage thật ở đâu? - Ông ta ở Londres. Nhưng tôi giả thiết rằng ông ta đã bị nhốt ở kho đồ cũ trước đó để Roger Bassington-ffrench có đủ thời gian làm trò lừa đảo của mình. Sau đó hắn giết ông bằng clô-rô-phoóc và đặt ông lên giường để bà Evans thấy ông đã chết vào sáng hôm sau. - Frankie, tôi công nhận ý kiến cô là đúng, nhưng làm thế nào để chứng minh được? - Tôi không biết...ít nhất là đưa cho bà Rose Cludleigh, tức là bà Pratt, xem một bức ảnh của ông Savage. Có thể bà này sẽ nói: "Đây không phải là người ký bản di chúc!" - Tôi không tin vì bà ta quá ngu dại. - Chính vì thế nên người ta mới chọn bà ấy. Nhưng nếu có một nhà chuyên môn có thể biết chữ ký giả thì sao? - Nhưng toà án đã không làm được việc này. - Vì không ai nêu vấn đề này lên. Cho đến lúc này không ai nghĩ đây là một bản di chúc giả. Bây giờ thì khác rồi. - Trước hết - Bobby nói - Chúng ta phải tìm cho ra Gladys Evans. Chắc chắn bà này biết nhiều chuyện. Xin nhớ là bà ấy đã làm việc cho nhà Templeton trong sáu tháng. - Tìm bà ta ở đâu? - Chúng ta thử hỏi trạm bưu điện xem - Bobby gợi ý. Hai người cùng tới trạm bưu điện. Frankie bước vào và bắt chuyện. Trong trạm chỉ có một nhân viên nhận và phát thư. một cô gái mũi dài một cách kỳ cục. Frankie mua vài con tem, nói chuyện thời tiết rồi cuối cùng nói thêm: - Ở đây thời tiết dễ chịu hơn địa phương chúng tôi. Tôi ở Galles… tại làng Marchbolt. Cô không biết ở vùng chúng tôi trời mưa như thế nào đâu. Cô gái mũi dài nói ở đây cũng đang trong mùa mưa và chủ nhật trước trời mưa tầm tã suốt ngày. Frankie nói: - Ở làng Marchbolt tôi đã có dịp gặp một người sinh trưởng tại đây. Bà ta tên là Evans... Gladys Evans. Có thể cô biết bà này, đúng không? Người thu phát thư trả lời không chút nghi ngờ: - Đúng thế. Tôi biết bà này. Bà ấy làm việc ở Tudor Cottage. Bà ấy không phải là người ở đây mà từ Galles tới. Bà ấy đã trở lại đấy để lấy chồng. Bây giờ bà ấy là bà Roberts. - Cô có biết chính xác bà ta đang ở đâu không? Tôi mượn của bà ta chiếc áo đi mưa nhưng quên chưa trả lại. Nếu biết địa chỉ tôi sẽ gìn trả theo đường bưu điện. - Dễ thôi. Thỉnh thoảng bà ấy có gửi cho tôi một tấm bưu ảnh. Vợ chồng bà ấy làm việc cùng một nơi. Xin đợi một phút. Cô gái lục trong đống giấy tờ. Sau đó cô đặt một tờ giấy lên quầy. - Đây! Bobby và Frankie cùng cúi xuống đọc. Họ không đợi một sự bất ngờ như vậy: "Bà Roberts, nhà xứ làng Marchbolt, Galles". ... Mời các bạn đón đọc Tại Sao Không Là Evans của tác giả Agatha Christie.
Rượu Độc Lóng Lánh - Agatha Christie
Cuốn tiểu thuyết trinh thám "Rượu độc lóng lánh" của tác giả Agatha Christie được giới chuyên môn đánh giá là một thành công lớn bởi giá trị nhân văn của nó. Với việc xây dựng cốt truyện hấp dẫn, linh hoạt, tác giả đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, mà nhân vật trung tâm là Iris Marle. Mối quan hệ phức tạp nhưng đầy thú vị giữa các nhân vật, và cách giải quyết những mâu thuẫn của họ khiến câu chuyện trở nên rất sinh động, qua đó thể hiện rõ nét cái nhìn của tác giả về thế giới hiện đại ngày nay.  *** Được mệnh danh là 'nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám', Agatha Christie là nhà văn người Anh ăn khách nhất trên thế giới trong thể loại này. Hơn 3 thập niên sau ngày bà qua đời, dường như chưa có tác giả nào soán ngôi Agatha Christie (1890-1976) trong thể loại tiểu thuyết trinh thám. Nữ nhà văn này được xem như là một hiện tượng văn học và được giới chuyên gia dày công nghiên cứu không kém gì tác giả truyện trinh thám Arthur Conan Doyle, cha đẻ của thám tử tài ba Sherlock Holmes. Ở cái thuở ban đầu không dễ quên ấy, bà bước vào nghiệp văn với lý do hết sức ngẫu nhiên tình cờ. Trong một cuộc trò chuyện giữa mấy chị em gái, các chị của bà cho rằng tiểu thuyết trinh thám rất chán bởi vì chỉ cần xem một vài trang là người đọc đã biết ngay kẻ nào là thủ phạm rồi. Không đồng tình với những ý kiến đó của các chị mình, Agatha Christie đã lặng lẽ dấn thân vào nghề viết như muốn phản biện lại quan niệm của các chị. Và dường như đây chính là mối tơ duyên gắn kết cuộc đời bà với hoạt động sáng tác văn học. Bà đã viết với tất cả vốn hiểu biết và lòng say mê của mình. Tưởng chừng làm thử một cú, nào ngờ trở thành bậc thầy. Với trí tưởng tượng phong phú dồi dào, Agatha Christie đã đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, tạo ra nhiều sự gay cấn hồi hộp khiến người đọc khi cầm sách trong tay muốn đọc liền một mạch, như thể cặp mắt bị dán vào các dòng chữ sinh động. Bằng lối tư duy thời gian, hạn chế đến tối đa sự đoán trước của người đọc về tính cách, số phận của các nhân vật cũng như kết thúc câu chuyện… tiểu thuyết trinh thám của Agatha Christie có một sức hấp dẫn đến kỳ lạ. *** Iris Marle nghĩ về chị cô Rosemary. Trong gần một năm, cô đã cố tình xua đuổi khỏi tâm trí mình hình ảnh của Rosemary. Cô không muốn nhớ lại gì cả. Điều đó thật khủng khiếp và đáng sợ. Khuôn mặt tím tái, đôi tay cứng đờ với những ngón co quắp… Hình ảnh đó thật là trái ngược với Rosemary của ngày hôm trước vui vẻ và đáng yêu đến thế… Nói là vui vẻ thì, cũng chưa hẳn là chinh xác… Chị ấy vừa bị cúm, suy sụp và ủ rũ. Điều đó đã được nhấn mạnh trong cuộc điều tra và chính Iris cũng chú trọng vào điểm đó. Nó giải thích cho sự tự sát của Rosemary phải vậy không? Cuộc điều tra kết thúc: Iris đã cố gắng xua đuổi tất cả những cái đó ra khỏi tâm trí. Nhớ lại có ích gì? Tốt nhất là hãy quên đi… Quên đi tất cả những chuyện khủng khiếp này. Vậy mà bây giờ cô nhận thấy là cần phải nhớ lại Cô nhớ về quá khứ… Cô nhớ lại cả những điều lặt vặt thậm chí cả những việc có vẻ như chẳng có ích lợi gì… Cuộc nói chuyện lạ lùng tối hôm qua với George đã lên án anh ta. Việc đó thật là bất ngờ và làm đảo lộn tất cả… Nhưng có thật là cô đã bị bất ngờ không? Chẳng phải đã có một số dấu hiệu để cho cô nhìn thấy trước? Ví dụ vẻ bận rộn ngày càng tăng của George, sự đãng trí của anh ta, thái độ không thể giải thích được của anh ta và… Chúa ơi phải rồi, sự kỳ quặc của anh ta… Tất cả những cái đó chính là những chỉ dẫn… Và tối hôm qua, anh ta đã gọi cô vào văn phòng và rút từ ngăn kéo ra những bức thư… Không, giờ đây cô sẽ không thể làm việc gì khác. Cô cần phải nghĩ về Rosemary. Ước gì cô nhớ lại được Rosemary… Chị gái của cô… Đột nhiên Iris ngạc nhiên nhận thấy rằng đây là lần đầu tiên trong đời cô nghĩ về Rosemary. Ít nhất là cô cũng nghĩ về chị cô một cách khách quan như về một người nào khác. Cô đã luôn luôn chấp nhận Rosemary mà không hề thắc mắc chút nào về những lời gièm pha chị ấy. Người ta không nghĩ về mẹ mình, cha mình, chị mình hoặc cô mình. Họ tồn tại và chỉ có vậy thôi và người ta cũng không đặt ra những câu hỏi về họ. Người ta chỉ nghĩ về họ như những con người. Người ta thậm chí cũng không tự hỏi họ là ai. Rosemary, chị ấy là ai? Biết được điều đó là rất quan trọng trong lúc này. Biết bao nhiêu việc phụ thuộc vào phát hiện này. Iris kiên quyết đưa ý nghĩ của mình quay về quá khứ. Cô thấy lại mình thời ấu thơ - với Rosemary, chị gái hơn cô 6 tuổi. Những mảnh vụn của quá khứ quay về trong cô loang loáng như những bức tranh, những màn kịch thoáng qua. Cô thấy lại mình bé xíu, đang ngồi ăn sáng, nhúng bánh mì vào sữa. Rosemary, tóc tết bím đỏm đáng làm bộ quan trọng vì có bài tập phải làm. Sau đó, vào mùa hè, trên bãi biển, Iris thèm muốn nhìn Rosemary, đã là "người lớn" và đã biết bơi. Rồi Rosemary vào học nội trú và chỉ về nhà vào kỳ nghỉ. Sau đó cô lại nhìn thấy chính mình vào học nội trú. Còn Rosemary, chị cô vừa kết thúc khoá học ở Paris. Khi ra đi chị cô còn là một nữ sinh, chân tay vụng về lóng ngóng. Vậy mà khi trở về chị cô đã thay đổi hẳn. Một Rosemary mới lạ, đáng kinh ngạc, sang trọng, duyên dáng, giọng nói mượt mà và dáng đi uyển chuyển. Chị ấy có mái tóc đẹp màu hạt dẻ sẫm, cặp mắt to xanh biếc viền bởi hàng mi dài cong vút. Một sinh linh tuyệt đẹp, chuyển động trong một thế giới hoàn toàn khác với thế giới của Iris. Cũng từ lúc đó, họ gặp gỡ nhau rất ít. Chưa bao giờ, chênh lệch 6 năm tuổi giữa họ lại rõ rệt như bây giờ. Iris văn đi học: Rosemary nếm trải mọi thú chơi "thời thượng". Thậm chí khi Iris đến London, họ vẫn sống xa cách. Cuộc sống của Rosemary ra sao? Buổi sáng dậy muộn, tiệc tùng với bạn bè và khiêu vũ hầu hết các tối. Còn Iris, cô ngồi trong phòng học với "Mademoiselle", cô gia sư người Pháp, đi dạo với cô gia sư trong công viên Hyde Park. Ăn tối lúc 9 giờ và 10 giờ thì lên giường ngủ. Mỗi liên hệ giữa hai chị em chỉ giới hạn trong những câu trao đổi ngắn ngủi ví dụ như: "Iris, em gọi lại cho chị được không? Em thật đáng yêu! Chị bị muộn quá mất rồi." hoặc "Em không thích cái váy mới của chị, Rosemary. Nó không hợp với chị đâu, nhiều thứ trang trí quá?" Rồi Rosemary đính hôn với George Barton. Khoảng thời gian sôi động: mua sắm ở các cửa hàng, hàng đóng gói, bọc trang phục của các cô phù dâu. Tại lễ cưới, đi trong nhà thời đằng sau Rosemary, cô nghe thấy tiếng thì thầm: - Cô dâu mới xinh đẹp làm sao! ,,, Mời các bạn đón đọc Rượu Độc Lóng Lánh của tác giả Agatha Christie.
Những Chiếc Đồng Hồ Kỳ Lạ
Sheila Webb nghĩ mình đến gặp một quý bà bị mù đợi cô ở nhà số 19 khu Wilbraham Crescent - chứ không phải là gặp một cái xác đàn ông trên sàn nhà. Nhưng khi cô Pebmarsh phủ nhận việc yêu cầu cử cô Sheila Webb đến đây, cũng như không hề sở hữu những chiếc đồng hồ hiện diện xung quanh cái xác, rõ ràng họ cần đến một thám tử tài ba. “Vụ án quá phức tạp nên hẳn nhiên nó phải rất đơn giản,” Hercule Poirot tuyên bố. Nhưng kẻ sát nhân vẫn lộng hành còn thời gian thì cứ trôi đi… Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng với sự kiện Hercules Poirot không hề đến hiện trường xảy ra tội ác hoặc thẩm vấn nhân chứng hay người bị tình nghi. Ông bị thách thức chứng minh rằng có thể giải quyết một vụ án chỉ bằng kinh nghiệm và trí thông minh. *** Một con người có khả năng đấy! - Anh đăm chiêu nói. - Tôi khó biết nổi anh ta muốn đi đến đâu. - Chắc là anh ta không đầu hàng mà sớm hiểu ra. - Bà Tanios đã phôn cho tôi lúc nãy. - Tôi thông báo. - Tôi đã nghĩ thế. Tôi báo cho anh biết lời ủy thác. - Tốt. Mọi sự đang tiến triển như ý. Trong hai mươi bốn giờ nữa, Hastings, chúng ta sẽ được biết chính xác. - Tôi hãy còn lưỡng lự. Ai đúng là kẻ để chúng ta ngờ vực? - Tôi không thể nói người nào anh nghi ngờ, Hastings! Mọi người, lần lượt, tôi đang nghĩ ra hắn! - Đôi khi tôi có cảm giác rằng anh lấy làm thích thú để tôi rơi vào tình trạng không biết đâu mà lần! - Không, không, trò vặt ấy không làm tôi vui lắm đâu! - Tôi không tin là anh chịu bó tay trong việc này. - Tôi đáp. Poirot im lặng, vẻ lo lắng. Tôi hỏi anh: - Anh đang có điều gì, trong lúc này vậy? - Này anh bạn, khi sắp kết thúc một cuộc điều tra hình sự, tôi luôn luôn cảm thấy căng thẳng thần kinh. Có thể điều gì đó sắp xảy ra? - Anh muốn điều gì xảy ra? - Tôi không biết, anh ạ. (Anh nhíu mày và nói thêm) Tôi cho rằng đã làm hết khả năng... - Trong trường hợp này, hãy quên vụ án này đi và hãy đi đến rạp chiếu bóng, nào, mời anh! - Đúng đấy, Hastings, một ý kiến hay đấy! Chúng tôi có một buổi tối tuyệt vời, mặc dầu tôi đã phạm sai lầm là đưa Poirot đi xem một bộ phim hình sự. Một lời khuyên các bạn đọc rằng: đừng bao giờ đưa một người lính đi xem một vở kịch về chiến tranh, một thủy thủ một vở về hàng hải, một thám tử một vở về hình sự... Hàng tràng dài những câu phê bình của họ sẽ làm các bạn chán ngấy cuộc biểu diễn ấy. Poirot phát hiện ra một ngàn lẻ một chỗ yếu kém về tâm lý của bộ phim và sự thiếu phương pháp và thứ tự của thám tử xuýt làm cho anh phát điên. Khi ra về Poirot còn giải thích cho tôi rằng có thể đã vạch trần điều bí mật ngay ở nửa đầu của cuốn phim đầu. - Vô lý, không thể có phim khá thế đâu, anh Poirot! Poirot phải chấp nhận là tôi có lý. Sáng hôm sau độ hơn chín giờ một chút, tôi đến nhà bạn tôi. Tôi thấy anh đang vừa ăn sáng vừa mở các phong bì của chuyến thư tín. Điện thoại reo. Tôi cầm ống nghe. Một giọng hổn hển nói: - Có phải ông đấy không, ông Poirot? Ồ! Hóa ra là ông, đại úy Hastings? Tôi nghe thấy một thứ tiếng thở dài, và tiếng nức nở. - Có phải bà Lawson đang nói đấy không? - Tôi hỏi. - Vâng, vâng, đã xảy ra một chuyện khủng khiếp. - Cái gì vậy? - Cô ấy đã rời khách sạn Wellington... Tôi muốn nói về Bella. Tôi đã đến đó chiều hôm qua và người ta đã trả lời tôi rằng cô ấy đã đi rồi. Cô ấy cũng không để lại cho tôi một thông tin nào. Không có gì! Thật là lạ! Dù sao, bác sĩ Tanios có lẽ đã có lý. Ông nói về cô ấy bằng một giọng rất dịu dàng, và có vẻ rất buồn đến nỗi tôi phải tự hỏi rằng ông ta đã không thành thực chăng. - Nào, bà Lawson, hãy nói tôi biết điều gì đã xảy ra. Phải chăng chỉ là bà Tanios đã rời khách sạn mà không báo cho bà biết trước? - Ồ không! Nếu như chỉ là thế? Bác sĩ Tanios nói rõ rằng vợ ông ấy không còn nữa... Tóm lại, ông hiểu điều tôi muốn nói... Ông ta gọi bệnh này, là chứng trưng cảm truy bại. - Vâng. Điều gì đã xảy ra vậy? - Ồ! Thật khủng khiếp! Chết trong giấc ngủ... Liều thuốc ngủ quá mạnh! Và những đứa trẻ tội nghiệp! Buồn biết bao! Tôi chỉ biết khóc từ khi tôi biết tin này! - Bà đã biết tin ấy thế nào? Bà hãy kể tôi nghe chi tiết đi. Trong khóe mắt, tôi nhìn thấy Poirot đã ngừng mở các lá thư và đang lắng tai nghe. - Người ta đã gọi tôi qua điện thoại. Từ khách sạn... Khách sạn Coniston. Hình như người ta tìm thấy tên tôi và địa chỉ của tôi trong túi cầm tay của cô ấy. Ồ! Đại úy Hastings, khủng khiếp quá phải không? Những đứa trẻ ấy không còn mẹ nữa! - Hãy nghe tôi. Bà có chắc là đó là một tai nạn không? Đừng nghĩ nhiều đến một vụ tự sát? - Ôi, một ý kiến đáng sợ, đại úy Hastings! Tôi không biết gì cả. Ông có cho đó là một vụ tự sát không? Điều đó sẽ còn kinh khủng hơn! Cô ta có vẻ rất suy sụp... vô lý, tôi cam đoan với ông như vậy. Cô ấy không có khó khăn gì về tiền bạc cả vì tôi đã sẵn sàng chia sẻ với bà ấy... Tôi xin thề với ông về việc đó! Tiểu thư Arundell muốn thế, tôi có tình cảm với bà ấy. Và nghĩ rằng bà ấy có thể sẽ tự sát... Nhưng có thể là không đúng như thế... Những người của khách sạn nói đến một tai nạn. - Bà ấy đã dùng cái gì? - Một loại thuốc ma túy để ngủ. Veronal. Không, đúng hơn là Chloral. Vâng chính là Chloral. Ô, đại úy Hastings, ông có nghĩ... Không quá câu nệ, tôi đặt lại ống nghe và quay sang Poirot. - Bà Tanios... Poirot giơ bàn tay lên. - Phải tôi biết điều anh sắp thông báo cho tôi rồi. Bà ấy đã chết phải không? - Vâng, một liều mạnh thuốc ngủ, thuốc Chloral. Poirot đứng dậy. - Đến đấy, Hastings. Ta đi đến đấy ngay lập tức! - Phải chăng đó là cái kết cục mà anh đã sợ hãi chiều hôm qua? Anh chẳng đã nói rằng vào lúc kết thúc cuộc điều tra hình sự, anh luôn luôn cảm thấy căng thẳng thần kinh đó sao? - Vấn đề là một cái chết khác. - Poirot nói, mặt xị xuống. Trong khi phóng xe đi Euston chúng tôi gần như không nói gì cả. Đến lúc thấy Poirot lắc đầu tôi mới rụt rè hỏi anh: - Anh có nghĩ... Phải chăng là một tai nạn? - Không, Hastings, không. Không phải là một tai nạn. - Làm sao biết? Poirot không trả lời tôi. Cuối cùng chúng tôi đến khách sạn Coniston. Poirot, bỗng có cử chỉ thô bạo, chìa thẻ của mình ra và xông thẳng vào văn phòng giám đốc. Người ta kể lại cho chúng tôi các sự kiện. Một quý bà tên là Peters cùng với hai con đã đến khách sạn hôm qua lúc mười hai giờ rưỡi trưa. Họ ăn lúc một giờ. Lúc bốn giờ, một người đàn ông xuất hiện, mang một mảnh giấy cho bà Peters. Chúng tôi đem giấy lên. Vài phút sau bà ấy đi xuống cùng với hai con và một chiếc va-li. Bà giao các con bà cho người khách, rồi quay lại văn phòng và giải thích rằng bà chỉ lấy một phòng thôi. Bà ấy không có vẻ đặc biệt chán chường, bà hình như cũng khá bình tĩnh. Bà ăn tối lúc bảy giờ rưỡi, và ít phút sau, đi lên phòng mình. Sáng hôm sau lúc cô hầu mang lên cho bà một tách trà, đã thấy bà ấy chết rồi. Một thầy thuốc được gọi đến vội vã, đã tuyên bố rằng bà ấy đã chết trước đó nhiều giờ. Chúng tôi tìm thấy một chai rỗng trên bàn đầu giường của bà ấy. Mọi sự chỉ rằng bà đã uống một loại thuốc ngủ và do lầm lẫn, bà đã dùng một liều quá mạnh. Thầy thuốc bảo rằng đó là Chloral. Không có gì để tin rằng đó là vụ tự sát. Chúng tôi không tìm thấy một lá thư nào cả. Khi lục lọi các đồ riêng của bà để báo cho gia đình, chúng tôi tìm thấy trong một cái túi cầm tay có tên và địa chỉ của bà Lawson chúng tôi đã báo cho bà này qua điện thoại. Poirot hỏi người ta không tìm thấy gì về mặt thư từ và giấy tờ... Chẳng hạn, lá thư được mang đến bởi người đàn ông đã đến tìm bọn trẻ. Người đối thoại đáp: không một tờ giấy thuộc bất kỳ loại nào được tìm thấy trong phòng cả, nhưng người ta thấy trong lò sưởi một đống giấy tờ đã cháy. Trong chừng mực mà người ta có thể khẳng định thì bà Peters không tiếp bất kỳ ai cả trừ người đàn ông đến mang các con bà đi. Bản thân tôi hỏi người gác cổng về dấu hiệu nhận dạng của người này, nhưng anh ta cho tôi biết một chân dung cũng khá mờ nhạt: vóc tầm thước, tóc vàng hoe, dáng vẻ một người lính, không có gì đặc biệt lắm trên thân thể. - Đó không phải là Tanios. - Tôi nói thầm với Poirot. - Hastings thân mến ơi! Anh có thật sự tin rằng bà Tanios sau biết bao khó nhọc mới mang đi được bọn trẻ khỏi bố chúng, lại ngoan ngoãn trả chúng lại cho ông ấy mà không than khóc cũng không phản đối gì cả ư? Không! Không đâu! - Vậy thì người này là ai? - Rõ ràng là một người nào đó đã có thể chiếm được niềm tin của bà Tanios, hay đúng hơn là một người nào đó được một người thứ ba có tín nhiệm của bà Tanios phái đến. Tư cách pháp nhân của người đến mang bọn trẻ nhà Tanios đi không quan trọng lắm. Tác nhân gây án thực sự hãy còn trong bóng tối. - Và mảnh giấy là của người thứ ba ấy à? - Phải. - Một người nào đó được bà Tanios tín nhiệm ư? - Nhất định là thế. - Và mảnh giấy bị cháy thì sao? - Phải, có thể là bà ấy có lệnh là phải đốt nó đi. - Còn bản tóm tắt vụ án mà anh đã đưa cho bà ấy thế nào? Poirot trả lời tôi, vẻ trịnh trọng: - Cũng đã đốt rồi. Nhưng toàn bộ việc ấy không có gì quan trọng cả. - A! Sao thế? - Vì tất cả còn lưu giữ trong đầu Hercule Poirot. Anh nắm vội cánh tay tôi. - Đi thôi! Hastings, hãy rời khỏi khách sạn này. Ta hãy để lại những người đã chết để ta săn sóc đến người đang sống. Họ đòi hỏi chúng ta phải hết sức cảnh giác. ... Mời các bạn đón đọc Những Chiếc Đồng Hồ Kỳ Lạ - Agatha Christie.