Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chuyện Ma Ám Ở Trang Viên Bly

“Tôi nhớ rằng mọi chuyện bắt đầu với một loạt thăng trầm trong cảm xúc, một chút bấp bênh của hồi hộp lo sợ” Một cô gái trẻ nhận được công việc đầu tiên trong đời là làm gia sư cho hai đứa trẻ xinh đẹp, trong sáng và lặng lẽ đến dị thường tại toà dinh thự Bly cô độc, bị bủa vây trong cái ác rình rập. Những bóng người ẩn hiện từ toà tháp tối tăm và ô cửa sổ bụi bặm, các bóng ma xấu xa lặng lẽ tiến đến ngày một gần. Với nỗi kinh hoàng lớn dần, cô gia sư bất lực nhận ra những sinh vật tàn ác đó nhắm đến bọn trẻ, rắp tâm xâm chiếm cơ thể, tâm trí và cả linh hồn các em… Nhưng không ai ngoài cô nhìn thấy những bóng ma ấy. Phải chăng những ám ảnh kia được gợi lên từ chính trí tưởng tượng của cô gia sư, hay sự thật còn chứa đựng nhiều hơn thế? HENRY JAME (1843 - 1916) Là nhà văn người Mỹ, một trong những người sáng lập và dẫn đầu trường phái hiện thực trong văn hư cấu. Ông sống phần lớn cuộc đời tại Anh và trở thành công dân Anh không lâu trước khi qua đời. Ông được biết tới chủ yếu nhờ một loạt tiểu thuyết đồ sộ miêu tả sự giao thoa giữa Mỹ và châu Âu. Truyện của ông xoay quanh mối quan hệ cá nhân, cách sử dụng quyền lực đúng mực trong các mối quan hệ đó, và nhiều vấn đề đạo đức khác. Phương pháp viết của ông lấy góc nhìn của một nhân vật trong truyện, cho phép ông khám phá các hiện tượng ý thức và nhận thức, phong cách viết trong các tác phẩm về sau của ông từng được so sánh với tranh trường phái ấn tượng. Henry James kiên định tin rằng các nhà văn ở Anh và Mỹ nên được tự do tối đa trong việc thể hiện thế giới quan của mình, giống như các nhà văn Pháp. Chất sáng tạo trong thủ pháp sử dụng góc nhìn, độc thoại nội tâm và người trần thuật không đáng tin cậy trong các câu chuyện và tiểu thuyết của ông mang lại chiều sâu và sự hấp dẫn mới cho thể loại hư cấu hiện thực, và báo hiệu sự đổi mới trong văn học của thế kỉ hai mươi. Là một nhà văn có bút lực phi phàm, bên cạnh số lượng tác phẩm hư cấu đồ sộ, ông còn xuất bản báo, sách du lịch, tiểu sử, tự truyện, phê bình văn học, và kịch. Một số vở kịch của ông được biểu diễn lúc sinh thời và đạt được thành công nhất định. Tác phẩm kịch của ông được cho là có ảnh hưởng sâu rộng tới truyện và tiểu thuyết của ông sau này. Henry James từng được đề cử giải Nobel Văn học vào các năm 1911, 1912, và 1916. Từ khi xuất hiện lần đầu vào năm 1898 đến nay, CHUYỆN MA ÁM Ở TRANG VIÊN BLY đã được mệnh danh là một trong những truyện ma nổi tiếng nhất thế giới, là nguyên tác và nguồn cảm hứng cho hàng loạt các tác phẩm chuyển thể cũng như sản phẩm làm lại thuộc nhiều loại hình khác nhau: phim điện ảnh, phim truyền hình, opera, kịch, balê “Một câu chuyện nhỏ độc hại đến sửng sốt, và cũng tuyệt diệu nhất.” – OSCAR WILDE - “CHUYỆN MA ÁM Ở TRANG VIÊN BLY là một trong những câu chuyện ma rùng rợn nhất từ trước đến nay, phần lớn là vì nó khó nắm bắt theo cách quá hấp dẫn.” – GILLIAN FLYNN - *** Chúng tôi quây quần quanh lò sưởi, nín thở lắng nghe câu chuyện, nhưng ngoài lời nhận xét hiển nhiên rằng nó rất ghê rợn, mà chuyện kinh dị vào đêm giáng sinh trong một ngôi nhà cũ thì tất phải ghê rợn, tôi nhớ rằng không ai lên tiếng bình luận gì cho đến khi có người tình cờ nói rằng anh ta từng gặp duy nhất một trường hợp tương tự, xảy đến với một đứa trẻ. Tôi xin nói thêm rằng trường hợp đó là về hồn ma trong một ngôi nhà cũ giống như ngôi nhà chúng tôi đang tụ tập vào dịp này - một vụ hiện hồn kinh khủng, xảy đến với một cậu bé đang ngủ trong phòng với mẹ. Cậu bé đã đánh thức người mẹ trong cơn khiếp hãi; nhưng trước khi người mẹ kịp xua tan cơn sợ và dỗ dành cậu ngủ tiếp, bản thân bà cũng chứng kiến cảnh tượng khiến cậu run rẩy. Nhận xét này đã khơi gợi lời hồi đáp từ Douglas - không phải ngay lúc đó, mà vào tối muộn - dẫn đến một kết quả thú vị khiến tôi chú ý. Câu chuyện người khác đang kể chẳng hấp dẫn lắm, và tôi nhận thấy anh không chú ý lắng nghe. Tôi cho đó là dấu hiệu thể hiện rằng bản thân anh có chuyện muốn kể và chúng tôi chỉ cần chờ đợi. Quả thực chúng tôi đã đợi đến hai đêm sau; nhưng vào tối hôm đó, trước khi chúng tôi giải tán, anh đã nói ra ý nghĩ trong đầu mình. “Tôi đồng ý - về hồn ma của Griffin, hay dù nó là gì đi nữa - rằng việc nó xuất hiện cho cậu bé nhìn thấy trước, ở cái tuổi dễ tổn thương như vậy, đã thêm điểm nhấn cho câu chuyện. Nhưng đây không phải lần đầu tôi nghe về kiểu chuyện hấp dẫn này liên quan đến trẻ con. Nếu một đứa trẻ đã thêm nhát búa chát chúa cho hiệu quả câu chuyện, thì các vị nói sao với haiđứa trẻ…?” “Tất nhiên chúng tôi sẽ bảo rằng chúng mang đến hai nhát búa! Và rằng chúng tôi muốn nghe chuyện về chúng,” có người thốt lên. Tôi vẫn còn có thể hình dung ra Douglas đứng quay lưng về phía ngọn lửa, hai tay đút túi, nhìn xuống những người đang trò chuyện với mình. “Cho đến giờ, chưa có ai ngoài tôi từng nghe chuyện này. Câu chuyện có phần quá kinh khủng.” Câu này đương nhiên là đã được vài người nói ra để tạo hiệu quả tối đa cho câu chuyện của mình, và người bạn của chúng tôi, với nghệ thuật kể chuyện tinh tế, chuẩn bị cho chiến thắng của mình bằng cách đưa mắt nhìn chúng tôi rồi nói tiếp: “Vượt ra ngoài tất cả. Tôi chưa từng biết đến thứ gì có thể chạm tới câu chuyện này.” “Về mặt đáng sợ ư?” Tôi nhớ mình đã hỏi như vậy. Dường như anh muốn đáp rằng không chỉ đơn giản như vậy; như thể anh thực sự không tìm được từ thích hợp để miêu tả. Anh đưa tay xoa mắt, khẽ nhăn mặt. “Về độ kinh hoàng!” “Ôi, hấp dẫn quá đi mất!” Một người trong cánh phụ nữ kêu lên. Anh không hề chú ý đến cô ta; anh nhìn tôi, nhưng như thể thay vì tôi, anh đang nhìn thấy thứ mình nói đến. “Về sự xấu xa dị hợm nói chung, về nỗi khiếp sợ và đau đớn.” “Chà,” tôi bảo, “thế thì hãy ngồi xuống và bắt đầu kể ngay đi.” Anh quay về phía ngọn lửa, đưa chân gẩy một khúc gỗ, ngắm nhìn chốc lát. Rồi anh quay lại đối mặt với chúng tôi: “Tôi chưa bắt đầu kể được. Tôi phải gửi thư vào thành phố đã.” Một loạt tiếng ca thán vang lên, kèm theo trách móc; sau đó anh liền giải thích, vẫn với vẻ lơ đãng: “Câu chuyện đã được ghi lại và cất giữ trong ngăn kéo suốt nhiều năm. Tôi có thể viết thư và gửi kèm chìa khóa cho người của mình; anh ta sẽ gửi bưu kiện tới đây khi tìm thấy nó.” Cá nhân tôi cảm thấy dường như anh chủ động đề xuất việc này - có vẻ anh gần như kêu gọi mọi người giúp anh thôi do dự. Anh đã phá vỡ một lớp băng dày tích tụ qua nhiều mùa đông; anh có những lí do riêng để giữ im lặng lâu như vậy. Những người khác bất mãn với sự trì hoãn, nhưng chính những trăn trở của anh đã hấp dẫn tôi. Tôi yêu cầu anh viết thư để gửi ngay chuyến bưu chính đầu tiên và anh đồng ý cho chúng tôi nghe chuyện sớm; rồi tôi hỏi anh trải nghiệm mà anh nói đến có phải của chính bản thân anh hay không. Với câu hỏi này, anh trả lời ngay tức khắc. “Ôi, ơn Chúa, không!” “Vậy còn bản ghi chép là của anh? Anh đã ghi lại câu chuyện đó?” “Tôi không ghi lại gì ngoài ấn tượng về nó. Tôi ghi khắc vào đây,” anh vỗ lên tim mình. “Tôi chưa từng quên.” “Vậy bản ghi chép…?” “Là một bản thảo cũ kĩ, đã phai màu mực, bằng bút tích đẹp nhất trên đời.” Anh lại quay về phía ngọn lửa. “Bút tích của một phụ nữ. Cô đã qua đời hai mươi năm rồi. Cô gửi cho tôi những trang giấy ấy trước khi chết.” Lúc này tất cả bọn họ đều đang lắng nghe, và tất nhiên có người tỏ ý trêu chọc, hay ít nhất là rút ra suy diễn. Nhưng anh bác bỏ suy diễn một cách nghiêm túc, dù cũng không tỏ vẻ bực bội. “Cô là một người hết sức duyên dáng, nhưng cô lớn hơn tôi mười tuổi. Cô là gia sư của em gái tôi,” anh lặng lẽ nói thêm. “Cô là người phụ nữ đáng mến nhất tôi từng biết ở địa vị đó; dù làm bất cứ nghề nghiệp gì, cô cũng sẽ là một người đáng kính, chuyện đã lâu lắm rồi, và câu chuyện kia còn lâu hơn nữa. Khi ấy tôi đang học ở trường Trinity, tôi gặp cô khi về nhà vào mùa hè năm thứ hai. Năm ấy tôi ở nhà khá nhiều - một mùa hè đẹp. Chúng tôi đã đi dạo và nói chuyện vài lần trong vườn vào giờ nghỉ của cô - những cuộc trò chuyện khiến tôi phát hiện cô cực kỳ thông minh và dễ mến. Ô đúng vậy; đừng cười: tôi yêu quý cô rất nhiều và đến tận hôm nay vẫn lấy làm vui mừng khi nghĩ cô cũng quý mến tôi. Nếu không thì cô đã không kể với tôi rồi. Cô chưa từng kể với bất cứ ai. Không chỉ vì cô nói vậy, mà tôi biết là thực sự cô chưa từng kể. Tôi không chỉ biết chắc; tôi thấy rõ như vậy. Các vị sẽ dễ dàng rút ra kết luận ngay khi nghe chuyện.” “Bởi vì câu chuyện ấy quá đáng sợ?” Anh tiếp tục nhìn chăm chú về phía tôi. “Các vị sẽ tự rút ra kết luận,” anh nhắc lại. “Anh sẽ tự rút ra kết luận.” Tôi cũng nhìn anh không chớp. “Tôi hiểu rồi. Cô ấy đang yêu.” Anh bật cười lần đầu tiên. “Anh nói đúng đấy. Phải, cô đang yêu. Đúng hơn là đã từng yêu. Điều đó thể hiện rõ ràng - cô không thể kể câu chuyện của mình mà không biểu lộ điều đó. Tôi đã thấy, và cô thấy rằng tôi đã thấy; nhưng không ai trong chúng tôi nhắc đến. Tôi nhớ như in thời gian và địa điểm - nơi góc thảm cỏ, dưới bóng râm của hàng sồi lớn và buổi chiều mùa hè dài nóng bức. Đó không phải khung cảnh thích hợp để nghe chuyện kinh dị; nhưng ối chao…!” Anh rời bỏ lò sưởi và thả mình lại ghế ngồi. “Anh sẽ nhận được bưu kiện vào sáng thứ Năm?” Tôi hỏi. “Chắc phải đến chuyến bưu chính thứ hai.” “Vậy thì, sau bữa tối…” “Các vị đều sẽ gặp tôi ở đây?” Anh lại nhìn khắp lượt chúng tôi. “Sẽ không có ai rời đi chứ?” Giọng điệu anh gần như mong đợi. “Tất cả mọi người đều sẽ ở lại!” “Tôi sẽ ở lại” và “Tôi sẽ ở lại!” là tiếng kêu của những quý cô đã định sẵn ngày rời đi. Tuy nhiên bà Griffin tỏ ý muốn biết thêm. “Cô ấy đang yêu ai?” “Câu chuyện sẽ nói rõ,” tôi tranh lời đáp. “Ôi, tôi nóng lòng nghe chuyện quá!” “Câu chuyện sẽ không nói rõ đâu,” Douglas nói; “không nói theo một cách lộ liễu, sỗ sàng.” “Thế thì thật đáng tiếc. Tôi chỉ hiểu được theo mỗi cách ấy.” “Anh cũng không nói ư, Douglas?” Một người khác hỏi. Anh lại đứng bật dậy. “Có - ngày mai. Giờ thì tôi phải đi ngủ thôi. Chúc ngủ ngon.” Rồi anh nhanh chóng vớ lấy một ngọn nến, và bỏ lại chúng tôi trong ngỡ ngàng. Từ đầu bên này của hành lang màu nâu rộng lớn chúng tôi nghe thấy tiếng chân anh bước lên cầu thang; khi đó bà Griffin nói: “Chà, nếu tôi không biết cô ấy đang yêu ai, thì tôi cũng biết anh ấy yêu ai.” “Cô ấy già hơn mười tuổi,” chồng bà đáp lại. “Càng thêm lí do… ở cái tuổi ấy! Nhưng anh ấy giữ kín lâu như vậy cũng khá là đáng quý.” “Bốn mươi năm!” Griffin nói thêm. “Rốt cuộc bảy giờ cũng vỡ oà ra.” “Sự vỡ oà này,” tôi đáp lại, “sẽ biến tối thứ Năm thành một dịp đặc biệt.” Và mọi người đều đồng ý với tôi rằng, trước tình huống này, chúng tôi đều đã mất hứng thú với mọi câu chuyện khác. Câu chuyện cuối cùng, dù không hoàn chỉnh và chỉ như mở đầu của một loạt truyện dài kì, đã được kể ra; chúng tôi bắt tay và “bắt nến”, như một người nói, rồi đi ngủ. Ngày hôm sau, tôi biết rằng một lá thư kèm theo chìa khoá đã được gửi đến căn hộ của Douglas ở London vào chuyến bưu chính đầu tiên. Nhưng dù tin đó đã bị lan truyền cho mọi người, hay phải chăng chính vì lẽ đó, chúng tôi để anh yên cho đến sau bữa tối, thực tế là tới tận khi đã khuya đến mức thích hợp với bầu không khí mà kỳ vọng của chúng tôi tạo lập nên. Khi đó anh trở nên cởi mở đúng như chúng tôi mong muốn và cho chúng tôi lí do chính đáng nhất về thái độ cởi mở đó. Một lần nữa chúng tôi tụ tập trước lò sưởi trong đại sảnh để nghe anh kể, giống như tối hôm trước, khi chúng tôi bị anh khơi gợi tâm trí. Có vẻ như bản tường thuật mà anh hứa sẽ đọc cho chúng tôi nghe thực sự cần một lời mở đầu thích đáng. Tôi xin được nói rõ rằng bản tường thuật mà tôi trình bày dưới đây được lấy từ bản chép nguyên văn do chính tôi ghi lại nhiều năm sau đó. Douglas tội nghiệp đã gửi bản thảo cho tôi trước khi chết - khi anh thấy rõ cái chết sắp đến gần. Bản thảo đến tay anh vào ngày thứ ba của cuộc tụ tập và vào đêm thứ tư, tại đúng chỗ hôm trước, với sự truyền cảm mạnh mẽ, anh bắt đầu đọc trước đám đông quây quần. May thay, các quý cô hôm trước hứa sẽ ở lại cuối cùng lại thất hứa: họ đã rời đi theo lịch trình định sẵn, mang theo lòng hiếu kì sôi sục mà anh đã gợi lên trong tất cả chúng tôi, theo như lời họ thừa nhận. Nhưng điều đó chỉ khiến đám đông thính giả cuối cùng của anh thêm thu gọn và có chọn lọc, chia sẻ một đam mê chung, vây quanh ngọn lửa. Những dòng đầu tiên cho biết rằng bản ghi chép này được thực hiện tại thời điểm sau khi câu chuyện đã bắt đầu. Theo đó, người bạn cũ của Douglas - cô con gái út của một mục sư nông thôn nghèo - ở tuổi hai mươi, đã đến London để nhận công việc dạy học đầu tiên. Lòng đầy hồi hộp, cô tới gặp mặt trực tiếp người đăng quảng cáo tuyển dụng mà trước đó cô đã trao đổi qua thư. Khi cô trình diện tại ngôi nhà đồ sộ và bề thế trên phố Harley, ông chủ tương lai thể hiện mình là một quý ông độc thân lịch thiệp đang tuổi tráng niên; hình tượng như vậy chưa từng xuất hiện, trừ trong mơ hay tiểu thuyết, trước một cô gái đầy xúc động, hồi hộp, đến từ một ngôi nhà của mục sư vùng Hampshire. Mẫu người như anh không bao giờ lỗi thời. Điển trai, bạo dạn và nhã nhặn, tự nhiên, vui vẻ và nhân từ. Tất nhiên anh gây cho cô ấn tượng lịch thiệp và phong nhã, nhưng điều chinh phục cô hơn cả và cho cô lòng dũng cảm mà cô thể hiện về sau là việc anh đã coi toàn bộ công việc của cô như một ân huệ, một trách nhiệm mà đáng lẽ anh phải vui lòng đảm đương. Cô nhận thấy anh giàu có, nhưng cũng xa hoa đến khiếp đảm - cô đã thấy anh trong trang phục đắt tiền hào nhoáng, trong diện mạo đẹp đẽ, trong những thói quen đắt đỏ, trong vẻ phong lưu trước mặt phụ nữ. Nơi ở tại thành phố của anh là một ngôi nhà rộng lớn chứa đầy chiến lợi phẩm và đồ lưu niệm từ du lịch và săn bắn; nhưng nơi anh muốn cô đến ngay lập tức là ngôi nhà ở quê, một biệt thự cổ của gia đình tại Essex. Anh bị trao quyền giám hộ hai đứa cháu một trai một gái, con của người anh trai trong quân ngũ, sau cái chết của cha mẹ chúng tại Ấn Độ vào hai năm trước. Với một người đàn ông ở địa vị của anh - độc thân, không có cả kinh nghiệm lẫn chút ít kiên nhẫn nào - bọn trẻ là gánh nặng rất lớn. Điều này gây ra nỗi lo lớn cùng một loạt sai lầm, hẳn nhiên là từ phía anh, nhưng anh vô cùng xót thương bọn trẻ tội nghiệp và đã làm tất cả những gì có thể. Cụ thể thì anh đã gửi chúng về ngôi nhà khác của mình ở nông thôn, là môi trường thích hợp dành cho chúng, và để chúng ở đó với những người tốt nhất mà anh tìm được để chăm nom chúng, anh thậm chí đã cử chính những người hầu của mình đi phục vụ chúng, và về thăm chúng mỗi khi có thể. Điều khó xử là chúng không còn người thân nào khác, mà việc riêng của anh đã chiếm dụng toàn bộ thời gian. Anh đã cho chúng sở hữu Bly, một nơi an toàn và lành mạnh, đồng thời cử bà Grose, một người phụ nữ xuất sắc, làm người đứng đầu tại dinh cơ nho nhỏ của chúng. Bà Grose từng là hầu gái cho mẹ của anh và anh tin chắc vị khách của mình sẽ quý mến bà. Hiện giờ bà là quản gia và cũng tạm thời đóng vai trò chăm nom bé gái; may mắn thay, bà cực kỳ yêu quý cô bé, vì bản thân bà không có con cái. Còn có nhiều người giúp việc khác, nhưng tất nhiên cô gái trẻ chuẩn bị đến đó làm gia sư sẽ nắm quyền hành tối cao. Vào các kỳ nghỉ, cô cũng sẽ phải trông nom bé trai, cậu bé đã đi học được một kì - dù tuổi hơi nhỏ, nhưng còn cách nào khác đâu? - và chuẩn bị về vì kỳ nghỉ sắp bắt đầu. Trước đó từng có một cô gái khác trông nom hai đứa trẻ nhưng cô ta không may đã mất. Cô ta làm việc khá xuất sắc - là một người hết sức đáng kính - cho đến khi qua đời, dẫn đến tình huống khó xử khiến cho Miles bé nhỏ không còn lựa chọn nào khác ngoài trường học. Kể từ đó, bà Grose đã phụ trách dạy dỗ Flora trong khả năng của mình, về mặt phép tắc và lễ nghi. Ngoài ra còn có một đầu bếp, hầu gái, người phụ nữ phụ trách việc bơ sữa, một con ngựa lùn già, cùng người giữ ngựa, và một người làm vườn già, tất cả đều vô cùng đáng kính. Sau khi Douglas trình bày bối cảnh đến đây, có người đặt câu hỏi. “Thế cô gia sư trước chết vì cái gì? Chết ngộp trong đáng kính chắc?” Bạn tôi trả lời ngay tức khắc. “Sau này sẽ nói. Tôi không báo trước.” “Xin lỗi, tôi nghĩ báo trước chính là việc anh đang làm.” “Đứng từ vị trí của người kế nhiệm cô ta,” tôi gợi ý, “tôi sẽ muốn được biết nếu công việc đi kèm với…” “Nguy hiểm đến tính mạng?” Douglas nói tiếp suy nghĩ của tôi. “Cô ấy quả thực muốn biết, và cô ấy đã biết. Ngày mai anh sẽ được nghe chuyện gì cô ấy đã biết. Còn trước mắt, tất nhiên, viễn cảnh đối với cô có vẻ ảm đạm. Cô còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, đầy lo lắng: một viễn cảnh với nhiều trách nhiệm và ít bầu bạn, cùng nỗi cô đơn to lớn. Cô do dự - mất vài ngày đắn đo cân nhắc. Nhưng mức lương được trả cao hơn hẳn mức sống đạm bạc của cô. Cô đã nhận lời vào buổi phỏng vấn thứ hai.” Và đến đây, Douglas tạm dừng, khiến tôi góp lời thay mặt cho mọi người… “Mà cốt lõi của việc này tất nhiên là sức quyến rũ của chàng thanh niên phong nhã. Cô ấy đã bị chinh phục.” Anh đứng dậy và, như đã làm vào đêm hôm trước, bước về phía lò sưởi, dùng chân gẩy một thanh củi, rồi đứng quay lưng về phía chúng tôi trong chốc lát. “Cô chỉ gặp anh ta hai lần.” “Đúng vậy, nhưng điều đó càng nói lên tình cảm của cô ấy.” Tôi hơi ngạc nhiên khi Douglas nghe vậy và quay về phía tôi. “Chính là như thế. Có những người khác,” anh nói tiếp, “không bị chinh phục. Anh ta đã nói thành thật với cô mọi khó khăn của mình - rằng một số ứng viên khác cho rằng điều kiện công việc quá khắt khe. Vì lẽ nào đó họ thực sự e ngại. Công việc này nghe có vẻ tẻ nhạt - có vẻ kỳ quặc; và hơn hết là do điều kiện chính anh ta đặt ra.” “Đó là…?” “Là cô không bao giờ được làm phiền anh ta - tuyệt đối không bao giờ: dù là để yêu cầu, than phiền, hay vì bất kể lý do gì; cô chỉ có thể tự mình giải quyết mọi vấn để, nhận mọi khoản tiền từ luật sư của anh ta, đảm nhận toàn bộ trách nhiệm và để anh ta yên. Cô hứa sẽ làm như vậy, và cô kể với tôi rằng cô đã cảm thấy được đền đáp khi anh ta nắm lấy tay cô trong giây lát, vui mừng vì thoát khỏi gánh nặng, cảm ơn cô vì sự hi sinh.” “Nhưng cô ấy chỉ được đền đáp có như vậy thôi ư?” Một người trong cánh phụ nữ hỏi. “Cô ấy không bao giờ gặp anh ta nữa.” “Ôi!” Người phụ nữ nọ đáp. Và đó là từ duy nhất góp thêm vào chủ đề này, khi bạn chúng tôi lại một lần nữa lập tức bỏ chúng tôi mà đi, cho đến đêm hôm sau, bên góc lò sưởi, trong chiếc ghế thoải mái nhất, anh mở tấm bìa đỏ phai màu của một cuốn sổ mỏng viền vàng cũ kĩ. Cả câu chuyện mất hơn một đêm để kể, nhưng ngay khi có cơ hội, vẫn người phụ nữ hôm trước đặt một câu hỏi nữa. “Đầu đề anh đặt cho câu chuyện là gì?” “Tôi chưa đặt.” “Ôi, tôi thì có!” Tôi thốt lên. Nhưng Douglas không để ý đến tôi và bắt đầu đọc bằng giọng rành rọt như thể biểu đạt với tai người nghe vẻ đẹp của bút tích tác giả. Mời các bạn đón đọc Chuyện Ma Ám Ở Trang Viên Bly của tác giả Henry James & Nguyên Hương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Điệu Tango Bí Hiểm - Jason Dark
Jason Dark khởi đầu sự nghiệp viết văn của mình vào năm 1966 với một tiểu thuyết giả tưởng. Sau đó, ông tiếp tục viết một vài tiểu thuyết hình sự và Western, cho tới khi sáng tác ra nhân vật John Singlair, một chàng thám tử tại London, nhân viên của Scotland Yard. Đối tượng theo dõi, diệt trừ của John không phải là những tội phạm bình thường. Cùng các bạn bè, cây thánh giá thần và khẩu Beretta bắn đạn bạc, John Singlair là một chuyên gia đuổi ma diệt quỷ. Thành công của những chuyến phiêu lưu mà John thực hiện đã đẩy sáng kiến thành một loạt truyện với số lượng độc giả không ngừng tăng.  Jason Dark sử dụng tất cả mọi “ngóc ngách” của thế giới bí hiểm, từ những huyền thoại cổ đại bao trùm châu lục như quỷ Medusa, ma cà rồng, cương thi... những câu chuyện của đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Hồi, các nhóm đạo Á, Mỹ, Âu, những truyền thuyết của từng địa phương cụ thể, trộn lẫn với những lý thuyết khoa học viễn tưởng hết sức hiện đại như trường thời gian, các trường vật chất, dòng điện sinh học cực mạnh... Chất huyền thoại được tác giả dùng để “xử lý” những vấn đề thời sự nóng bỏng theo một nhân sinh quan dương bản: bảo vệ môi trường, giữ gìn nền tảng gia đình, giữ gìn lòng tin vào cái thiện...  Trong mỗi một tiểu thuyết, tác giả cho người anh hùng của mình ra trận tại một địạ điểm cụ thể tại các nước châu Âu và kể cả các địa điểm tại châu Phi, châu Mỹ. Những yếu tố đặc thù trong những huyền thoại của địa phương được sử dụng làm nền tảng cho một cuộc đụng đầu quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu. Mạch chuyện nhanh gọn là sức thu hút chính. Những nét miêu tả tuy thoáng qua song sắc sảo về phong cảnh, tập tục của địa phương cũng tạo nên một khía cạnh hấp dẫn khác. Một điểm cần nhấn mạnh trong loạt truyện John Singlair là giới hạn tuân thủ Luật Bảo vệ Thanh Thiếu niên của nước Đức được tác giả Jason Dark luôn luôn giữ vững: rất hấp dẫn, song không quá đẫm máu, không quá căng thẳng, không quá nhiều xác chết. Cái tốt, cái dương bản luôn vượt lên, luôn chiến thắng bản thân mình, đạt tới những đỉnh cao mới. *** Một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt do NXB Thanh Niên phát hành trong Tủ sách Lâu đài xanh hầu hết nằm trong series Geisterjäger John Sinclair hơn 300 cuốn lận: - Hòn đảo bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #002 - Die Totenkopf-Insel) - Bàn tay gã đao phủ (Geisterjäger John Sinclair #248 - Gatanos Galgenhand) - Điệu nhảy thầy tu (Geisterjäger John Sinclair #270 - Geistertanz der Teufelsmönche) - Câu đố bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #640 - Das Blut-Rätsel) - Nhóm đạo Wyang (Geisterjäger John Sinclair #688: Der Kult) - Điệu Tango bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #718: Tango Fatal) - Con quái vật sau những nụ hoa (Geisterjäger John Sinclair #731 - Die Blüten-Bestie) - Lưỡi dao bị nguyền rủa (Geisterjäger John Sinclair #740: Todesgruß der Templer) - Bi kịch người sói (Geisterjäger John Sinclair #759 - Werwolf-Wahnsinn) - Thiên tài bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #791 - Diondra, einfach mörderisch) - Bức tường đá kinh hoàng (Geisterjäger John Sinclair #865 - Auf ewig verflucht) - Con quỷ đất (Geisterjäger John Sinclair #879 - Das Erdmonster) - Con gái quỷ Medusa (Geisterjäger John Sinclair #1778 - Das Wappen der Medusa) - Lạc vào cõi ma - Đội quân ánh sáng - Dàn máy tính quỷ ám Các bản dịch tiếng Việt thường ghi nhầm tên tác giả là Jarson Dark. *** Sa bẫy! Khốn kiếp, cô ta đã lừa tôi, và tôi đã ngu ngốc đánh giá quá thấp người đàn bà đó. Ba tấm gương đã bị tôi phá hủy. Chín tấm gương còn lại đang đứng trước mặt tôi. Chín lần Ramona. Nhưng Ramona thật sự đang đứng ở đâu? Cô ta chắc chắn phải đứng ở một vị trí trung tâm, đáng tiếc là vị trí này lại nằm trong bóng tối. Dù đưa ánh mắt nhìn về hướng nào chăng nữa, tôi cũng không thấy người đàn bà đó. Dĩ nhiên rồi, cô ta quen từng ngóc ngách trong ngôi nhà này, cô ta biết cô ta phải chuyển động ra sao, phải đứng ở vị trí nào để gây bối rối cho một kẻ lạ. Dù sao thì ánh sáng của ngọn đèn cũng đủ cho tôi nhận ra mặt cô ta. Cả khuôn mặt đang bóng nhẫy lên như được phủ dầu. Đôi con mắt óng lên như hai khối nhựa đường màu đen. Không còn một chút nào của cái dáng điệu mời gọi khêu gợi mà cô ta đã chỉ ra khi khiêu vũ. Người đàn bà trước mặt tôi bây giờ là một kẻ giết người, là một kẻ sẽ tận hưởng tình huống tới giây phút cuối cùng. Kể cả cái chết của đối phương. - Mày không tính tới khả năng này phải không? - Đúng. Cô ta trề môi dưới ra. - Tao nói cho mày nghe, Singlair. Tao không để cho đứa nào phá hủy thế giới này của tao. Tao sẽ không đứng yên mà nhìn mày phá hủy những gì cha mẹ tao để lại. Tao vừa phải chứng kiến cảnh mày hủy diệt linh hồn của họ, tao muốn vỡ tim ra vì đau đớn, nhưng mày chỉ khiến cho lòng căm thù của tao dâng lên cao hơn. Singlair, tao sẽ tiếp tục, tao sẽ tiếp tục hành động nhân danh họ. Tao sẽ tiếp tục chứng minh cho Beelzebub thấy tao là một đệ tử trung thành và xứng đáng. Tôi lắc đầu. Một cử chỉ thất vọng, tiếc nuối. - Tôi rất buồn cho cô, Ramona, tôi thật sự buồn cho cô. Cô đã chọn sai đường. Hãy nghe tôi nói đi, cô không thể thắng cuộc được đâu. Hoàn toàn không có cơ hội. Cái Ác rồi sẽ thất bại trước cái Thiện. Nó đã thua cuộc suốt bao nhiêu thời đại nay rồi, và tình hình sẽ không thay dổi. Tại sao cô lại đi ngược lại xu hướng đó? - Vì tao đã quyết định! - Đầu hàng đi, Ramona! - Không đời nào! - Người đàn bà giơ vũ khí lên. Tôi muốn kéo dài câu chuyện như có thể. Lòng thầm hy vọng sẽ tìm ra chỗ ẩn nấp của cô ta. Khốn kiếp thật, cô ta là người chứ đâu phải là ma, cô ta đang phải ẩn ở đâu đó, một nơi tạo cho cô ta cái nhìn bao quát nhất. Chắc chắn không phải đằng sau mà cũng không phải giữa những tấm gương, mà ở phía trước chúng. Nếu không những tấm gương đã chẳng thể in bóng hình của cô ta rõ đến như thế được. Tôi thở phì ra thành tiếng. Tôi làm ra vẻ rất bình tĩnh, thờ ơ. Trong lòng tôi thầm hy vọng sẽ bằng một cách nào đó dụ cô ta ra khỏi chỗ đứng hiện thời. Chỉ cần cô ta bước về phía trước vài ba bước là tình thế đã rất tiện lợi cho tôi. Tôi đã nghĩ đến khả năng dùng đèn pin để quét sáng thật nhanh mọi chỗ, nhưng phương pháp này chắc chắn sẽ không mang lại kết quả, bởi Ramona đã quyết tâm vùi tôi xuống địa ngục. Mà khẩu súng tự động đã nạp sẵn đạn trong tay cô ta sẽ biến mục tiêu đó thành một bài toán dễ giải quyết. - Tao không cho mày thời gian để nói lời cầu nguyện cuối cùng đâu, Singlair. Tao muốn nhìn thấy mày chết! Người đàn bà này tràn đầy căm hận. Cô ta không đủ vẻ lạnh lùng của một tên giết người chuyên nghiệp, và đây thật sự là một cơ hội cho tôi. Những ai xử sự như cô ta bây giờ, thường sẽ để lộ ý định của mình trưởc khi hành động. Cô ta giơ hai tay lên một chút, nhưng đồng thời lại chúc nòng súng xuống dưới. Ra là cô ta đứng ở hướng trên và muốn găm những viên đạn xuyên chéo xuống người tôi. Những gì tôi kể ở đây thật chậm, nhưng trong sự thật đã xảy ra rất nhanh, và tôi phản ứng cũng rất nhanh. Tôi giật người về sau. Đúng lúc khẩu súng bắt đầu gầm lên. Khi nghiêng người xuống tôi vẫn nhìn thấy những lưới lửa phụt ra từ đầu nòng súng, thế rồi tôi đập người ngay xuống bậc cầu thang trên cùng, ánh mắt vẫn hướng về phía trước. Những viên đạn quỷ quái cày xới trên nền sàn nhảy, chẻ toác nền gỗ chúng ra. Những viên đạn đang đến lại gần tôi, chùm đạn đã tới gần, chỉ một nhịp tim đập nữa thôi là nó sẽ chết chóc găm vào đích. Tôi lăn người xuống dưới. Đó là bậc cầu thang trên cùng. Tôi đã lấy đà thật nhiều và thật mạnh, người tôi nẩy qua bậc thang trên cùng. Thế rồi thân hình tôi xoay xuống, nhanh lên. Tôi không cần phải tăng thêm lực cho vòng quay, cú lấy đà từ ban đầu đã đủ lớn, nó xoay người tôi theo những bậc cầu thang. Những tiếng súng ngừng lại. Thêm vào đó là một âm thanh, nó không hẳn là tiếng gào, tiếng tru, tiếng la hét hay tiếng rên rỉ, mà là tất cả những âm thanh đó trộn lại, trở thành một tiếng hú rùng rợn của nỗi thất vọng vô biên. Tôi nghe thấy nó đập vào tai mình, trong lúc cơ thể tôi vẫn tiếp tục theo chuyến phiêu lưu rợn người xuống dưới. Khốn kiếp, tình huống bắt đầu trở thành nguy hiểm, mặc dầu tôi đã co người lại nhưng không khỏi cảm nhận thấy độ cứng trong những vết gờ cầu thang, và cũng không có cách gì để làm giảm độ cứng đó đi. .... Mời các bạn đón đọc Điệu Tango Bí Hiểm của tác giả Jason Dark.
Con Quỷ Đất - Jason Dark
Jason Dark khởi đầu sự nghiệp viết văn của mình vào năm 1966 với một tiểu thuyết giả tưởng. Sau đó, ông tiếp tục viết một vài tiểu thuyết hình sự và Western, cho tới khi sáng tác ra nhân vật John Singlair, một chàng thám tử tại London, nhân viên của Scotland Yard. Đối tượng theo dõi, diệt trừ của John không phải là những tội phạm bình thường. Cùng các bạn bè, cây thánh giá thần và khẩu Beretta bắn đạn bạc, John Singlair là một chuyên gia đuổi ma diệt quỷ. Thành công của những chuyến phiêu lưu mà John thực hiện đã đẩy sáng kiến thành một loạt truyện với số lượng độc giả không ngừng tăng.  Jason Dark sử dụng tất cả mọi “ngóc ngách” của thế giới bí hiểm, từ những huyền thoại cổ đại bao trùm châu lục như quỷ Medusa, ma cà rồng, cương thi... những câu chuyện của đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Hồi, các nhóm đạo Á, Mỹ, Âu, những truyền thuyết của từng địa phương cụ thể, trộn lẫn với những lý thuyết khoa học viễn tưởng hết sức hiện đại như trường thời gian, các trường vật chất, dòng điện sinh học cực mạnh... Chất huyền thoại được tác giả dùng để “xử lý” những vấn đề thời sự nóng bỏng theo một nhân sinh quan dương bản: bảo vệ môi trường, giữ gìn nền tảng gia đình, giữ gìn lòng tin vào cái thiện...  Trong mỗi một tiểu thuyết, tác giả cho người anh hùng của mình ra trận tại một địạ điểm cụ thể tại các nước châu Âu và kể cả các địa điểm tại châu Phi, châu Mỹ. Những yếu tố đặc thù trong những huyền thoại của địa phương được sử dụng làm nền tảng cho một cuộc đụng đầu quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu. Mạch chuyện nhanh gọn là sức thu hút chính. Những nét miêu tả tuy thoáng qua song sắc sảo về phong cảnh, tập tục của địa phương cũng tạo nên một khía cạnh hấp dẫn khác. Một điểm cần nhấn mạnh trong loạt truyện John Singlair là giới hạn tuân thủ Luật Bảo vệ Thanh Thiếu niên của nước Đức được tác giả Jason Dark luôn luôn giữ vững: rất hấp dẫn, song không quá đẫm máu, không quá căng thẳng, không quá nhiều xác chết. Cái tốt, cái dương bản luôn vượt lên, luôn chiến thắng bản thân mình, đạt tới những đỉnh cao mới. *** Một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt do NXB Thanh Niên phát hành trong Tủ sách Lâu đài xanh hầu hết nằm trong series Geisterjäger John Sinclair hơn 300 cuốn lận: - Hòn đảo bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #002 - Die Totenkopf-Insel) - Bàn tay gã đao phủ (Geisterjäger John Sinclair #248 - Gatanos Galgenhand) - Điệu nhảy thầy tu (Geisterjäger John Sinclair #270 - Geistertanz der Teufelsmönche) - Câu đố bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #640 - Das Blut-Rätsel) - Nhóm đạo Wyang (Geisterjäger John Sinclair #688: Der Kult) - Điệu Tango bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #718: Tango Fatal) - Con quái vật sau những nụ hoa (Geisterjäger John Sinclair #731 - Die Blüten-Bestie) - Lưỡi dao bị nguyền rủa (Geisterjäger John Sinclair #740: Todesgruß der Templer) - Bi kịch người sói (Geisterjäger John Sinclair #759 - Werwolf-Wahnsinn) - Thiên tài bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #791 - Diondra, einfach mörderisch) - Bức tường đá kinh hoàng (Geisterjäger John Sinclair #865 - Auf ewig verflucht) - Con quỷ đất (Geisterjäger John Sinclair #879 - Das Erdmonster) - Con gái quỷ Medusa (Geisterjäger John Sinclair #1778 - Das Wappen der Medusa) - Lạc vào cõi ma - Đội quân ánh sáng - Dàn máy tính quỷ ám Các bản dịch tiếng Việt thường ghi nhầm tên tác giả là Jarson Dark. *** Giữa nửa đêm, đốm sáng màu đỏ đó xuất hiện! Nó xuất hiện bất thình lình, không hiểu từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất mọc lên. Nhưng đó không phải là vấn đề nghiêm trọng. Điểm đáng nói duy nhất ở đây là chính bản thân đốm lửa đó, nó đứng lừng lững giữa không trung như một quả cầu đỏ có phần rìa hơi tua ra. Quả cầu nhìn trân trân như một con mắt. Nó chờ đợi. Không một dấu hiệu nào cho biết nó sẽ chuyển động hoặc sẽ biến đi. Nó dừng lại ngay trước mặt chúng tôi, nhấp nháy, như đang chuyển tới chúng tôi lời chào. Không phải những lời chào thân thiện, mà là những tín hiệu độc ác. Một kẻ tuyên bố thảm họa, được trang bị một quyền lực bất thường. Một thứ mà thiên nhiên đã tung ra để chứng minh sức mạnh với con người. Đột ngột, quả cầu lửa chuyển động. Nó bắt đầu nhảy múa, giật sang phải, rồi lại giật sang trái, lao vút lên cao, rồi nổ bùng ra, tạo thành vô vàn những mảnh lửa nhỏ. Những mảnh lửa này tản ra như một cơn mưa phủ xuống không trung, cháy lóe lên lần cuối để rồi rơi xuống đất. Trước khi chúng chạm tới mặt đất, một thế lực kỳ lạ lại thâu tóm chúng lại với nhau, tạo thành quả cầu đỏ như lúc trước. Từ phía xa vang lên những âm thanh kỳ lạ. Nghe gần giống tiếng la thét của con người, nhưng lại không hẳn như vậy. Những con chim đang kêu lên thảng thốt giữa không gian mênh mông của miền quê. Chúng là những thực thể đầu tiên tụ họp lại, bởi chúng là những thực thể đầu tiên nhìn thấy quả cầu lửa. Những con chim sợ hãi... ° ° ° Delphi ngồi trên một tảng đá lớn, giơ cả hai bàn tay ôm lấy mặt. Cô không nhìn thấy nỗi thống khố đó, nhưng cô biết nó tồn tại. Cũng vì thế mà cô ngồi đây và buồn thương. Cô đã tìm cách cảnh báo con người, nhưng người ta đã chỉ biết cười giễu cô. Kể ra thì cũng có người thú nhận rằng mảnh đất này hiện đang xảy ra một số sự kiện mà người ta chỉ biết đánh giá là thuộc loại bí hiểm. Nhưng không một ai vì thế mà đâm lo nghĩ hay hoảng sợ. Vậy là hết nơi này đến nơi khác, người ta xua đuổi Delphi như xua đuổi một đứa trẻ chưa biết gì. Người ta thậm chí không nói lời từ biệt với cô, chỉ nhìn bằng vẻ thương hại, bởi họ cho cô là người không hoàn toàn tỉnh táo. Mặc dù không khoác cho cô tội làm phù thủy, nhưng dân chúng vùng này thường nhìn cô bằng ánh mắt xa lạ. Delphi là một người phụ nữ hòa đồng hết mực với thiên nhiên, cỏ không sống trong một thị trấn hoặc một ngôi làng, mà sống xa mọi nền văn minh, sống đơn độc cùng với những con cừu của mình. Cô chỉ trà trộn vào xã hội loài người khi cần mua hoặc cần bán một vật gì đó, điều cũng rất hiếm khi xảy ra. Cũng có một số người rất biết cách tôn trọng và đánh giá đúng những sức mạnh của cô, bởi Delphi thuộc hiện tượng "người có đôi tay vàng". Cô có thể làm dịu những cơn đau, cô có thể khiến những vết thương không lan rộng ra, không cháy bỏng lên nữa, cô chữa bệnh cho cả người và vật. Lẽ ra phải có rất nhiều người bày tỏ lòng biết ơn với cô mới đúng. Nhưng họ không dám biểu lộ điều đó ra ngoài, họ mang nỗi hàm ơn đó câm lặng trong lòng. Delphi rất hiểu và thông cảm cho họ. Người dân ở đây không muốn nói đến những thảm họa đã ập tới. Bởi chuyện đó nếu lan ra sẽ rất có hại cho ngành du lịch, cái ngành hiện đang là nguồn thu chủ lực của Scotland. Nếu thông tin về những vụ thảm họa thậm chí lan ra đến nước ngoài thì khách du lịch sẽ chẳng còn kéo đến thám hiểm vùng đất này. Ngành du lịch sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng, dân bản xứ qua đó cũng bớt đi cơ hội kiếm tiền. Vậy nên người ta đồng lòng nhất trí coi như những sự kiện đó chưa hề xảy ra. Thật là một cách ứng xử không hay! Delphi hiểu rõ tình huống hơn họ. Cô tin rằng đó mới chỉ là một sự bắt đầu. Một sự bắt đầu của kết thúc. Cô biết, trái đất rồi sẽ đứng dậy, cái trái đất đã bị người ta hành hạ quá lâu rồi. Nhưng liệu cô có thể nói điều đó với những người khác không? Liệu cô có thể nói chuyện với những người có đủ quyền lực, đủ ảnh hưởng để thay đổi một số sự việc? Không, chắc chắn là không. Người ta sẽ không tin lời cô. Người ta sẽ chỉ cười giễu cô. Delphi ngưng suy nghĩ, lắc đầu. Tới lúc này, cô gái mới bỏ đôi bàn tay ra khỏi mặt, nhìn về hướng xa xa. Cô đang ở dưới một bầu trời đêm trong suốt, kế tiếp một ngày thu đẹp tuyệt vời. Cả nền trời quang như một mảnh vải sạch tinh khôi, phủ vô vàn những vì sao dịu dàng, bầu không khí trong lành đến tuyệt diệu, những cánh rừng, những lòng hồ đang thở. Chúng gửi lên không trung hơi thở của nước, hơi thở của những dãy thông, hơi thở của những cánh rừng tươi, và Delphi cảm nhận mùi hương đó là một lời chào, đang ve vuốt tâm hồn đau thương của cô như một bàn tay an ủi. Thiên nhiên thật tuyệt vời. Thiên nhiên là một sự kiện khổng lồ, mặc dù con người ta luôn tìm cách hủy hoại nó. Thỉnh thoảng, cô gái trẻ lại tự hỏi, liệu con người có ý thức về hành động của mình không. Cô không hiểu nổi. Cô đơn giản là không thể tưởng tượng nổi loài người lại ngu ngốc đến mức độ ra tay hủy diệt nguồn sống của chính mình. Không, không thể như thế được... Cô gái trẻ rên lên. ... Mời các bạn đón đọc Con Quỷ Đất của tác giả Jason Dark.
Con Quái Vật Sau Những Nụ Hoa - Jason Dark
Jason Dark khởi đầu sự nghiệp viết văn của mình vào năm 1966 với một tiểu thuyết giả tưởng. Sau đó, ông tiếp tục viết một vài tiểu thuyết hình sự và Western, cho tới khi sáng tác ra nhân vật John Singlair, một chàng thám tử tại London, nhân viên của Scotland Yard. Đối tượng theo dõi, diệt trừ của John không phải là những tội phạm bình thường. Cùng các bạn bè, cây thánh giá thần và khẩu Beretta bắn đạn bạc, John Singlair là một chuyên gia đuổi ma diệt quỷ. Thành công của những chuyến phiêu lưu mà John thực hiện đã đẩy sáng kiến thành một loạt truyện với số lượng độc giả không ngừng tăng.  Jason Dark sử dụng tất cả mọi “ngóc ngách” của thế giới bí hiểm, từ những huyền thoại cổ đại bao trùm châu lục như quỷ Medusa, ma cà rồng, cương thi... những câu chuyện của đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Hồi, các nhóm đạo Á, Mỹ, Âu, những truyền thuyết của từng địa phương cụ thể, trộn lẫn với những lý thuyết khoa học viễn tưởng hết sức hiện đại như trường thời gian, các trường vật chất, dòng điện sinh học cực mạnh... Chất huyền thoại được tác giả dùng để “xử lý” những vấn đề thời sự nóng bỏng theo một nhân sinh quan dương bản: bảo vệ môi trường, giữ gìn nền tảng gia đình, giữ gìn lòng tin vào cái thiện...  Trong mỗi một tiểu thuyết, tác giả cho người anh hùng của mình ra trận tại một địạ điểm cụ thể tại các nước châu Âu và kể cả các địa điểm tại châu Phi, châu Mỹ. Những yếu tố đặc thù trong những huyền thoại của địa phương được sử dụng làm nền tảng cho một cuộc đụng đầu quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu. Mạch chuyện nhanh gọn là sức thu hút chính. Những nét miêu tả tuy thoáng qua song sắc sảo về phong cảnh, tập tục của địa phương cũng tạo nên một khía cạnh hấp dẫn khác. Một điểm cần nhấn mạnh trong loạt truyện John Singlair là giới hạn tuân thủ Luật Bảo vệ Thanh Thiếu niên của nước Đức được tác giả Jason Dark luôn luôn giữ vững: rất hấp dẫn, song không quá đẫm máu, không quá căng thẳng, không quá nhiều xác chết. Cái tốt, cái dương bản luôn vượt lên, luôn chiến thắng bản thân mình, đạt tới những đỉnh cao mới. *** Một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt do NXB Thanh Niên phát hành trong Tủ sách Lâu đài xanh hầu hết nằm trong series Geisterjäger John Sinclair hơn 300 cuốn lận: - Hòn đảo bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #002 - Die Totenkopf-Insel) - Bàn tay gã đao phủ (Geisterjäger John Sinclair #248 - Gatanos Galgenhand) - Điệu nhảy thầy tu (Geisterjäger John Sinclair #270 - Geistertanz der Teufelsmönche) - Câu đố bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #640 - Das Blut-Rätsel) - Nhóm đạo Wyang (Geisterjäger John Sinclair #688: Der Kult) - Điệu Tango bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #718: Tango Fatal) - Con quái vật sau những nụ hoa (Geisterjäger John Sinclair #731 - Die Blüten-Bestie) - Lưỡi dao bị nguyền rủa (Geisterjäger John Sinclair #740: Todesgruß der Templer) - Bi kịch người sói (Geisterjäger John Sinclair #759 - Werwolf-Wahnsinn) - Thiên tài bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #791 - Diondra, einfach mörderisch) - Bức tường đá kinh hoàng (Geisterjäger John Sinclair #865 - Auf ewig verflucht) - Con quỷ đất (Geisterjäger John Sinclair #879 - Das Erdmonster) - Con gái quỷ Medusa (Geisterjäger John Sinclair #1778 - Das Wappen der Medusa) - Lạc vào cõi ma - Đội quân ánh sáng - Dàn máy tính quỷ ám Các bản dịch tiếng Việt thường ghi nhầm tên tác giả là Jarson Dark. *** Tiến sĩ Fairmont, tiến sĩ Fairmont! Cô ấy tỉnh lại rồi! Làm ơn đến cho, làm ơn đến ngay cho! - Cô y tá vừa la hét vừa nhảy bổ vào phòng. - Ai tỉnh dậy? - Dorothy Mainland, thưa bác sĩ. Lúc bấy giờ, cái đầu đang cúi xuống đống giấy tờ của vị bác sĩ mới ngẩng phắt dậy. Ông gạt cô y tá sang một bên rồi nhanh bước sang phòng bệnh. Dorothy Mainland đang ngồi trên giường. Hoàn toàn tỉnh táo! Cô đã nằm yên suốt hai mươi hai năm trời, vị bác sĩ thầm rên... Mười phút sau đó là mười phút hoảng hốt, hấp tấp. Tiến sĩ Fairmont, bác sĩ trưởng và đồng thời là chủ nhiệm khoa, ra lệnh cấm tất cả những người có mặt không được lộ bất kỳ một lời nào ra ngoài. Sự kiện y học kỳ lạ này phải được giữ kín trong những bức tường bệnh viện. Không được cung cấp bất cứ tin tức nào ra ngoài, không được lộ với cánh báo chí dù chỉ một lời. Đám phóng viên nhất định sẽ coi vụ Dorothy Mainland thức dậy là một quả bom giật gân giúp họ kiếm cả núi tiền. Ngày trước, đám báo lá cải cũng đã viết không ít về vụ việc này. Cuối cùng, hai bác sĩ và ba y tá đứng lại quanh giường Dorothy. Mặc dù toàn người trong ngành, nhưng gương mặt của họ cũng chỉ thể hiện duy nhất một sự ngạc nhiên đến hoang mang. Họ nhìn qua chiếc giường, nhìn về phía cửa sổ, nhìn qua làn kính cửa sổ ra một trời khoảng trời mùa đông nhợt nhạt, đang hắt xuống nền phòng một dải sáng nhờ nhờ. Dorothy Mainland ngồi trên giường. Cứng nhắc, nhìn xung quanh hơi có vẻ ngạc nhiên. Làn da nhợt nhạt, đôi môi mỉm cười nhẹ nhẹ. Cô ta vẫn chưa nói lời nào. Cả bây giờ cô ta cũng im lặng, chỉ có ánh nhìn từ đôi mắt màu xanh là từ từ bao quát khung cảnh xung quanh. Chính cô ta đã tự tay dứt cơ thể mình ra khỏi những dây dẫn, những bộ máy y học đã mang lại cho cô ta sự sống trong suốt hai thập kỷ qua. Không một ai trong số những người có mặt dám nghĩ đến chuyện ép cô gắn những chiếc máy trở lại. Chậm rãi, thật chậm rãi, bàn tay trái của cô gái vuốt lên mái tóc. Tóc của cô có màu vàng nhạt và phủ xuống im lìm như một lớp vải mỏng trên đầu. Suốt hai mươi năm qua, mái tóc của Dorothy đã được các y tá đều đặn cắt ngắn, nhưng thiếu bàn tay chăm sóc của một chuyên gia làm đầu. Đuôi tóc Dorothy vì vậy không đều, nhiều chỗ trông lởm chởm. Bàn tay từ trên trán vuốt xuống, rồi vuốt dọc hại con mắt, như thể cô ta đang muốn vén một tấm màn vô hình trước mặt sang bên. Cuối cùng, bàn tay dừng lại trên bức chăn phủ giường. Mười con mắt đổ dồn lại. Khuôn mặt của các bác sĩ và y tá vẫn còn nhợt nhạt. Không một ai hiểu nổi sự tỉnh dậy đột ngột này. Dorothy Mainland đã bất tỉnh, mê man suốt hai mươi hai năm trời, để rồi hôm nay cô ta ngồi đây như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Yếu tố khiến họ ngạc nhiên hơn cả là người phụ nữ này không hề già đi trong suốt khoảng thời gian đó. Tuổi của Dorothy bây giờ là trên bốn mươi, nhưng gương mặt cô vẫn là gương mặt của cô gái hai mươi hai tuổi. Một hiện tượng huyền bí, một câu hỏi chưa có câu trả lời y học. Cho tới giờ, vẫn chưa ai nói lời nào. Người ta dành cho Dorothy Mainland lên tiếng. Đôi làn môi cô thật mỏng, hầu như chìm vào da mặt. Dorothy mở miệng, lên tiếng. Với giọng nói vô cảm, cô ngỏ ý: - Tôi khát... Không một ai chuyển động. Ai cũng gắng sức lắng tai nghe những âm thanh đó. - Tôi khát. - Dorothy nhắc lại và đập nhẹ bàn tay xuống mặt chăn. Tiến sĩ Fairmont phản ứng. - Hãy lấy ngay cho bệnh nhân một cốc nước, Kathy. - Kathy là cô y tá đã gọi ông lại đây. - Thưa vâng, bác sĩ. Lập tức, Kathy biến ra phía sau tấm bình phong. Rồi tiếng nước chảy vang lên, làm át đi tiếng thở của những người có mặt. Dorothy Mainland hít thật sâu nhiều lần, cứ như thể cô phải thở bù. - Tôi không hiểu nổi! - Một bác sĩ trẻ mới đến khoa được một năm bật kêu lên - Tôi không hiểu nổi! Đầu óc tôi không thể nào chấp nhận! Tiến sĩ Fairmont nhún vai. Ông cũng đâu có khác gì anh bạn trẻ. Ông cũng không tìm được lời giải thích. Việc này cần phải được trao đổi với giám đốc bệnh viện. Kathy quay trở lại. Đó là một cô y tá da màu. Làn da của cô nâu sẫm. Cô phục vụ ở khoa này đã trên mười năm nay. Khó có gì có thể khiến người đàn bà dày dặn kinh nghiệm này hoảng sợ. Vậy mà bây giờ cái cốc đang run rẩy trong hai bàn tay cô, khi Kathy ngập ngừng tiến từng bước chân vụng về lại gần giường và đưa cốc về phía Dorothy. Dorothy chìa tay về phía Kathy. - Cám ơn! - Cô ta nói, rồi cầm lấy cốc. Không một ai phải giúp cô. Với một cử động tự tin và chính xác, cô gái đưa chiếc cốc lên miệng và uống một ngụm nhỏ. Vừa uống, mắt cô vừa nhìn ngước qua miệng cốc. Rồi cô ta uống ngụm thứ hai, cốc cạn. Y tá Kathy đón lấy cốc từ tay cô ta. - Nước ngon lắm! - Dorothy mỉm cười. Tiến sĩ Fairmont gật đầu. - Thế thì rất hay, cô thấy ngon là rất hay, Dorothy. Vẫn còn loay hoay tìm cách xử lý sự kiện giật gân này, ông hỏi tiếp: - Cô có đói không, Dorothy? Cô gái cười. Mắt sáng lên. - Có, thưa bác sĩ, tôi thấy đói. - Tốt, tốt lắm. - Tiến sĩ Fairmont ngạc nhiên - Thế thì... hừm... cô muốn ăn gì nào? Dorothy cân nhắc. Cô ta đưa lưỡi liêm bờ môi như một con mèo sau khi ăn. - Thế thì, - Cô ta nói sau một hồi suy nghĩ - tôi muốn ăn cá và chip tôm. Ngày trước tôi rất thích món này. ... Mời các bạn đón đọc Con Quái Vật Sau Những Nụ Hoa của tác giả Jason Dark.
Câu Đố Bí Hiểm - Jason Dark
Jason Dark khởi đầu sự nghiệp viết văn của mình vào năm 1966 với một tiểu thuyết giả tưởng. Sau đó, ông tiếp tục viết một vài tiểu thuyết hình sự và Western, cho tới khi sáng tác ra nhân vật John Singlair, một chàng thám tử tại London, nhân viên của Scotland Yard. Đối tượng theo dõi, diệt trừ của John không phải là những tội phạm bình thường. Cùng các bạn bè, cây thánh giá thần và khẩu Beretta bắn đạn bạc, John Singlair là một chuyên gia đuổi ma diệt quỷ. Thành công của những chuyến phiêu lưu mà John thực hiện đã đẩy sáng kiến thành một loạt truyện với số lượng độc giả không ngừng tăng.  Jason Dark sử dụng tất cả mọi “ngóc ngách” của thế giới bí hiểm, từ những huyền thoại cổ đại bao trùm châu lục như quỷ Medusa, ma cà rồng, cương thi... những câu chuyện của đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Hồi, các nhóm đạo Á, Mỹ, Âu, những truyền thuyết của từng địa phương cụ thể, trộn lẫn với những lý thuyết khoa học viễn tưởng hết sức hiện đại như trường thời gian, các trường vật chất, dòng điện sinh học cực mạnh... Chất huyền thoại được tác giả dùng để “xử lý” những vấn đề thời sự nóng bỏng theo một nhân sinh quan dương bản: bảo vệ môi trường, giữ gìn nền tảng gia đình, giữ gìn lòng tin vào cái thiện...  Trong mỗi một tiểu thuyết, tác giả cho người anh hùng của mình ra trận tại một địạ điểm cụ thể tại các nước châu Âu và kể cả các địa điểm tại châu Phi, châu Mỹ. Những yếu tố đặc thù trong những huyền thoại của địa phương được sử dụng làm nền tảng cho một cuộc đụng đầu quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu. Mạch chuyện nhanh gọn là sức thu hút chính. Những nét miêu tả tuy thoáng qua song sắc sảo về phong cảnh, tập tục của địa phương cũng tạo nên một khía cạnh hấp dẫn khác. Một điểm cần nhấn mạnh trong loạt truyện John Singlair là giới hạn tuân thủ Luật Bảo vệ Thanh Thiếu niên của nước Đức được tác giả Jason Dark luôn luôn giữ vững: rất hấp dẫn, song không quá đẫm máu, không quá căng thẳng, không quá nhiều xác chết. Cái tốt, cái dương bản luôn vượt lên, luôn chiến thắng bản thân mình, đạt tới những đỉnh cao mới. *** Một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt do NXB Thanh Niên phát hành trong Tủ sách Lâu đài xanh hầu hết nằm trong series Geisterjäger John Sinclair hơn 300 cuốn lận: - Hòn đảo bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #002 - Die Totenkopf-Insel) - Bàn tay gã đao phủ (Geisterjäger John Sinclair #248 - Gatanos Galgenhand) - Điệu nhảy thầy tu (Geisterjäger John Sinclair #270 - Geistertanz der Teufelsmönche) - Câu đố bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #640 - Das Blut-Rätsel) - Nhóm đạo Wyang (Geisterjäger John Sinclair #688: Der Kult) - Điệu Tango bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #718: Tango Fatal) - Con quái vật sau những nụ hoa (Geisterjäger John Sinclair #731 - Die Blüten-Bestie) - Lưỡi dao bị nguyền rủa (Geisterjäger John Sinclair #740: Todesgruß der Templer) - Bi kịch người sói (Geisterjäger John Sinclair #759 - Werwolf-Wahnsinn) - Thiên tài bí hiểm (Geisterjäger John Sinclair #791 - Diondra, einfach mörderisch) - Bức tường đá kinh hoàng (Geisterjäger John Sinclair #865 - Auf ewig verflucht) - Con quỷ đất (Geisterjäger John Sinclair #879 - Das Erdmonster) - Con gái quỷ Medusa (Geisterjäger John Sinclair #1778 - Das Wappen der Medusa) - Lạc vào cõi ma - Đội quân ánh sáng - Dàn máy tính quỷ ám Các bản dịch tiếng Việt thường ghi nhầm tên tác giả là Jarson Dark. *** Khi mở cánh cửa ra, tôi đột ngột biết ngay ai đang chờ mình tại căn phòng lạnh lùng kia: Tử Thần! Chẳng phải trong hình dạng một bộ xương người cầm lưỡi hái, cũng chẳng phải một tay giết thuê lăm lăm súng lục, đó là một người đàn bà có khuôn mặt trắng như vôi, một quầng phấn rộng màu xanh lá trên trán và mái tóc đỏ hoang dại, đâm thẳng từ da đầu lên cao, gây ấn tượng như một cánh tay lửa vừa chợt tê cứng lại. Người đàn bà mặc một chiếc váy dài màu trắng, kín cổ, ngồi trên một chiếc ghế có lưng tựa rất cao. Cô ta ngồi đó, nhìn về phía tôi, thỉnh thoảng lại gật đầu. Thế rồi cô ta thoáng mỉm cười khi thấy tôi thận trọng đóng cửa lại. Linh cảm ban đầu trong tôi còn nguyên vẹn. Hơi thở lạnh lùng của Tử Thần đang vô hình bay lượn trong phòng. Tôi gắng sức nghĩ tới một việc khác, nhưng cũng không làm nổi. Đơn giản bởi vì cảm giác đang nghiệm chứng cái chết một cách trực tiếp không chịu bay đi. - Chào mừng ông đến với ngôi nhà của tôi, ông John Singlair! - Cô ta lên tiếng - Tôi rất vui là ông đã nhận lời mời. Tôi lắng nghe âm thanh của giọng nói. Đó có phải là giọng phụ nữ không? Dĩ nhiên rồi, trước mặt tôi là một người đàn bà, giới tính biểu lộ qua những đường cong cơ thể đang hiện lên rất rõ ràng dưới làn vải màu sáng. Thế nhưng gương mặt khắc nghiệt với những đường nét cứng khô lại như muốn kêu lên rằng giọng nói kia dối trá. Tôi có cảm giác cô ta vừa nói một điều gì đó chỉ để nói mà thôi, giống như hoàn toàn vì nét lịch sự bề ngoài. Cảm giác bất an còn nguyên, những móng vuốt của một bàn tay băng giá vô hình tóm chặt lấy sống lưng tôi. Đại sảnh của ngôi nhà thôn quê này tương đối rộng. Bên dưới trần phòng có treo một chùm đèn tròn. Căn phòng này mà được trang hoàng đồ gỗ thì sẽ rất dễ ưa, nhưng ở đây người ta không có ý định đó. Trừ một đôi ghế có lưng dựa rất cao và một chiếc bàn bằng gỗ, đại sảnh hoàn toàn trống vắng. Người đàn bà trước mặt tôi là một câu đố bí hiểm. Tôi biết tên cô ta: Cynthia Manson. Cô ta đã gọi điện cho tôi, mời tôi tới đây. Chỉ có vậy thôi. Không hơn. Tại sao tôi lại nghe theo lời mời đó, bản thân tôi cũng không rõ. Có thể là tính tò mò. Cũng có thể đó là niềm vui nho nhỏ về một vụ án hình như sắp xảy ra tại chính mảnh đất của mình, ngay thành London. Bởi tất cả những vụ án của tôi trong thời gian gần đây đều có địa điểm là những miền đất lạ. Vậy là tôi có mặt trong ngôi nhà này và căng thẳng chờ xem cô ta nói gì với mình. Đầu tiên, cô ta cũng phải mời tôi ngồi đã chứ. Đúng thế, người đàn bà giơ tay chỉ dọc chiều dài chiếc bàn trước mặt. Phía đầu kia của mặt bàn cũng là một chiếc ghế có lưng tựa rất cao. - Ông được phép ngồi xuống đó, ông John Singlair. - Cám ơn! - Tôi chầm chậm đi tới sát mặt bàn, đến bên ghế, xê dịch nó về đúng hướng rồi vừa hắng giọng vừa ngồi xuống. Hai chúng tôi nhìn nhau qua chiều dài của chiếc bàn. Hai bàn tay tôi mở ra, đặt trên nền gỗ thẫm màu. Cái nóng đã ở lại với không gian ngoài kia. Tôi thấy dễ chịu với bầu không khí lành lạnh trong này, mặc dù cảm giác về hiểm họa hoàn toàn không biến mất. Nguyên nhân nằm ở chỗ người đàn bà, một người đàn bà hoàn toàn chẳng làm gì cả nhưng chẳng có một dấu hiệu nào lương thiện. Cô ta ngồi phía bên kia, sau một mặt bàn quá dài, lặng lẽ nhìn tôi. Bình tĩnh, bất động, với mi mắt được tô quá đậm và quá rộng bằng màu xanh, kéo lên tới tận trán. Vệt màu chỉ dừng lại khi chạm chân tóc. Vì cô ta chẳng lộ vẻ muốn bắt đầu câu chuyện nên tôi đành nhảy vào cuộc. - Bà đã mời tôi tới đây, thưa bà Manson. Cũng tốt thôi, tôi đã tới đây và rất mong được biết bà muốn điều gì ở tôi? Cô ta không trả lời ngay. Với thân hình thẳng như một cây nến, cô ta ngồi yên trên chiếc ghế. Giữa lưng cô ta và lưng ghế luôn có một khoảng trống. Ngược lại với ánh mắt và sóng mũi rất thẳng, gây ấn tượng khắc nghiệt, đôi làn môi cô ta đầy đặn và mềm mại, biểu cảm. Nó đang thấp thoáng biểu hiện một nụ cười, một nụ cười hoàn toàn trung tính. Thế rồi, bùng nổ thông tin nặng ký. - Ông phải cứu mạng tôi, ông Singlair! Tôi lắc đầu. - Sao kia? - Chẳng lẽ ông không hiểu ý tôi? - Có chứ, có hiểu, nhưng mà... - Tôi muốn ông cứu mạng tôi, ông Singlair. Không hơn và cũng không kém. - Chỉ có thế thôi sao? - Vâng. Tôi lại hắng giọng, lòng thầm nghĩ bây giờ mà được uống một ngụm nước thì hay biết mấy, nhưng tôi ngại hỏi người đàn bà chuyện đó. Nhăn trán thành những vệt rất sâu, tôi bắt đầu nói sau khi đã cân nhắc một hồi. Tôi nói rất chậm. - Nếu tôi cần phải cứu mạng bà, vậy là phải có một kẻ nào đó muốn lấy mạng bà. Tôi hiểu đúng chứ? - Tàm tạm. - Kẻ đó là ai, làm ơn nói rõ? - Chính tôi đây! Chính cô ta! Suýt nữa tôi đã bật cười, nhưng không khí hiện thời chẳng cho phép như thế. Câu trả lời của người đàn bà quá nghiêm trang, mặc dù tôi vẫn chưa hiểu rõ những gì ẩn đằng sau. ... Mời các bạn đón đọc Câu Đố Bí Hiểm của tác giả Jason Dark.