Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Truyền Kỳ Mạn Lục - Nguyễn Dữ

Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm văn xuôi duy nhất của Việt Nam từ xa xưa được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” (ngòi bút kỳ lạ của muôn đời), một cái mốc lớn của lịch sử văn học, sau này được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm gồm 20 truyện thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái nhằm gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, xã hội nhiễu nhương. Truyền kỳ mạn lục đã được dịch và giới thiệu ở một số nước như Pháp, Nga… *** Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A.176/1-2). Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ), hình như tác giả muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ. Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái. Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của người tiều phu trong núi Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến thế sự, vẫn không quên đời, vẫn nuôi hy vọng ở sự phục hồi của chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo "thuần vương", phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân. Nguyễn Dữ đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v.v. để lý giải một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi tình yêu lành mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn với lý lẽ bảo thủ trong lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người, tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân. Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian. BÙI DUY TÂN Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI. Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội). Truyện được viết bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng thương. Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp. Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận. Hà Thiện Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo Vũ Phương Đề cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau nhiều học giả tên tuổi Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều ghi chép về Nguyễn Dữ và định giá tác phẩm của ông. Nhìn chung các học giả thời Trung đại khẳng định giá trị nhân đạo và ý nghĩa giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại phát hiện thêm giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng túng" của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối đậm màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng lại đem đến chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan nghiệt. Về mặt thể loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn lục vẫn là "áng văn hay của bậc đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ cũng như của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam. TRẦN THỊ BĂNG THANH Lời tựa(1) Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu (2). Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền (3). Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra ngoài phên giậu của Tông Cát (4), nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu! Vĩnh Định năm đầu (1547), tháng Bảy, ngày tốt. Đại An Hà Thiện Hán kính ghi Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên. (1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản này hiện chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm 1987. Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa này nhưng không ghi tên Hà Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để làm bản gốc cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc". Chú thích (2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa chánh sứ. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong phúc thần. (3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. (4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân thoại. Mời các bạn đón đọc Truyền Kỳ Mạn Lục của tác giả Nguyễn Dữ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Mật Mã Thanh Minh Thượng Hà Tập 2 - Dã Văn Bưu
“Mật mã Thanh MinhThượng Hà - Vô số âm mưu và những cuộc tàn sát ẩn chứa trong hoạ phẩm kiệt tác ngàn năm”. Bộ tiểu thuyết Mật mã Thanh minh thượng hà được hư cấu từ bức tranh cổ “Thanh minh thượng hà đồ”, bản gốc thời Tống của Trương Trạch Đoan. Các câu chuyện trong đó được dựng lên từ chính các nhân vật được vẽ trong bức tranh cổ. Bức tranh có 824 nhân vật vô danh, giờ đây mỗi nhân vật đều có tên có họ. Họ cải trang, mai phục trong ghe thuyền xe kiệu cho tới quán rượu quán trà. Quang cảnh tưởng chừng như thái bình thịnh trị, kì thực nguy hiểm đang rình rập bốn bề. Trong tiếng rao của người bán hàng rong, những tên gián điệp, thích khách của các nước Kim, Liêu, Tây Hạ, Cao Ly đã dần dần nhập cuộc, 824 nhân vật sống dậy từng người từng người một, chỉ còn đợi chiếc thuyền chở khách trôi qua gầm cầu cong cong kia, thước phim về sự sụp đổ của vương triều Bắc Tống sẽ được mở màn. Đây chính là mỹ cảnh tuyệt đẹp nhất về sự thịnh trị của nhà Bắc Tống, hơi thở của sự diệt vong đang ẩn khuất trong khói sóng trên dòng Biện Hà: “Chính giữa bức tranh, giữa đám tàu thuyền tấp nập trên Biện Hà, một con thuyền trông bình thường như bao con thuyền khác đang từ từ trôi qua gầm cầu, thế nhưng vì không kịp hạ cọc buồm xuống, chiếc thuyền như sắp đâm vào cầu tới nơi. Trên thuyền mọi người tay chân cuống loại, bên bờ kêu hô ầm ĩ, trong cơn hỗn loạn, một bóng lạ lướt qua, một trận khói sương mù mịt ập tới, đến khi khói tan sương nhạt, trên thuyền chỉ còn lại 24 thi thể, tất cả mọi người đều chỉ biết há hốc miệng không tin vào mắt mình...” Một cục diện li kỳ chưa từng có dần dần hiện ra, tình tiết đan xem, các đầu mối gắn kết, 824 nhân vật từ từ bướcra, kể cho bạn nghe bí mật về một vương triều ẩn náu trong Thanh Minh Thượng Hà. *** “Giữa hương hoa đủ sắc màu, anh hùng đắm say mê mải; chàng phong lưu đệ nhất trên đời…“ Một giọng nữ đang hát. Giữa trưa ngày Thanh minh, trong gian đầu chái phía tây tầng ba của quán Tôn Dương ngã ba phố Hương Nhiễm và đại lộ Biện Hà, có hai người khách đang ngồi uống rượu, bên cạnh họ là một ca nữ. Cô là Trì Liễu Liễu, tuổi ngoài hai mươi, mặc áo choàng gấm thêu hoa văn lá sen viền mép, áo hơi cũ, bên trong là áo chẽn lụa tím, với áo lót lụa thêu hoa bách hợp và đai lụa hồng bó ngực, cô mặc váy lụa tím, cũng hơi cũ. Trì Liễu Liễu tuy là người miền Nam nhưng cô không được xinh lắm bởi khuôn mặt hơi vuông vuông, nước da rám nắng vì hay phải đi khắp các phố các ngõ kiếm sống. Riêng đôi mắt lá răm của cô thì long lanh rất có hồn. Phong trần gió bụi cũng khiến giọng ca của cô hơi thé không thật ngọt ngào nữa, kể cả hát những bài mà cô rất thích. Tuy nhiên Trì Liễu Liễu có trí nhớ rất tốt, cô nhớ được mười mấy bài trường ca, vài trăm bài hát dùng trong yến tiệc xã giao, cô gảy đàn tì bà cũng rất tuyệt. Trì Liễu Liễu cũng rất có bản lĩnh, không e dè, không bao giờ bị nhầm lẫn sai sót. Bài hát “Viên lý viên” hôm nay thì lại càng thuộc lòng vì cô đã hát đến vài trăm lần rồi, nhưng không hiểu sao cô lại vài lần quên lời và hát lạc giọng, tay đàn cũng bấm nhầm phím, thậm chí cô muốn ném đàn đi cho xong. Vất vả lắm cô mới hát xong đoạn cuối cùng của bài “Viên lý viên”. Trì Liễu Liễu không phải ca kỹ chính cống nên cô khó mà vào “làng nghề”, các kỹ viện hay ban ca kịch không nhận cô. Cô chỉ quen diễn một mình, và cũng dám đi một mình đến các yến tiệc tụ hội để diễn, để giúp vui cho thiên hạ, kinh thành gọi cô là “kỳ lộ nhân” hoặc “đả tửu tọa”[3]. Quán Tôn Dương là một trong bảy mươi hai chính điếm[4] trong hệ thống tửu lâu ở Biện Kinh, họ thuê vài chục ca kỹ chính cống, lẽ ra Trì Liễu Liễu không thể vào đây hát, nhưng vì mọi ngày cô có mối quan hệ tốt với vị chủ quản và các bác cao niên nên đôi khi vào ban ngày cô có thể vào diễn, nếu đông khách mà ca kỹ nội bộ không đủ để phục vụ. ... Mời các bạn đón đọc Mật Mã Thanh Minh Thượng Hà Tập 2 của tác giả Dã Văn Bưu.
Mật Mã Thanh Minh Thượng Hà Tập 1 - Dã Văn Bưu
“Mật mã Thanh MinhThượng Hà - Vô số âm mưu và những cuộc tàn sát ẩn chứa trong hoạ phẩm kiệt tác ngàn năm”. Bộ tiểu thuyết Mật mã Thanh minh thượng hà được hư cấu từ bức tranh cổ “Thanh minh thượng hà đồ”, bản gốc thời Tống của Trương Trạch Đoan. Các câu chuyện trong đó được dựng lên từ chính các nhân vật được vẽ trong bức tranh cổ. Bức tranh có 824 nhân vật vô danh, giờ đây mỗi nhân vật đều có tên có họ. Họ cải trang, mai phục trong ghe thuyền xe kiệu cho tới quán rượu quán trà. Quang cảnh tưởng chừng như thái bình thịnh trị, kì thực nguy hiểm đang rình rập bốn bề. Trong tiếng rao của người bán hàng rong, những tên gián điệp, thích khách của các nước Kim, Liêu, Tây Hạ, Cao Ly đã dần dần nhập cuộc, 824 nhân vật sống dậy từng người từng người một, chỉ còn đợi chiếc thuyền chở khách trôi qua gầm cầu cong cong kia, thước phim về sự sụp đổ của vương triều Bắc Tống sẽ được mở màn. Đây chính là mỹ cảnh tuyệt đẹp nhất về sự thịnh trị của nhà Bắc Tống, hơi thở của sự diệt vong đang ẩn khuất trong khói sóng trên dòng Biện Hà: “Chính giữa bức tranh, giữa đám tàu thuyền tấp nập trên Biện Hà, một con thuyền trông bình thường như bao con thuyền khác đang từ từ trôi qua gầm cầu, thế nhưng vì không kịp hạ cọc buồm xuống, chiếc thuyền như sắp đâm vào cầu tới nơi. Trên thuyền mọi người tay chân cuống loại, bên bờ kêu hô ầm ĩ, trong cơn hỗn loạn, một bóng lạ lướt qua, một trận khói sương mù mịt ập tới, đến khi khói tan sương nhạt, trên thuyền chỉ còn lại 24 thi thể, tất cả mọi người đều chỉ biết há hốc miệng không tin vào mắt mình...” Một cục diện li kỳ chưa từng có dần dần hiện ra, tình tiết đan xem, các đầu mối gắn kết, 824 nhân vật từ từ bướcra, kể cho bạn nghe bí mật về một vương triều ẩn náu trong Thanh Minh Thượng Hà. *** Muốn biết rõ nhà Đại Tống thịnh suy ra sao, nên tìm hiểu bắt đầu từ những con thuyền buồm trên sông Biện Hà[3]. Thời Tống, việc vận chuyển hàng hóa chủ yếu dựa vào đường thủy, nếu nói Biện Kinh[4] là đầu não của cả nước thì Biện Hà là yết hầu. Sông này chạy chếch qua kinh thành, phía tây giáp Hoàng Hà, phía đông cận kề vùng Hoài - Tứ, phía nam chảy xuôi đến Trường Giang. Năm sáu chục phần trăm hàng hóa của cả nước thông qua Biện Hà chuyển đến Biện Kinh. Vì thế mà Đại Tống lấy Biện Lương làm kinh đô. Thuyền chở hàng trên sông Biện Hà quanh năm không ngớt, vô số buồm trắng đang vươn lên tựa những cánh chim đang khiêu vũ cùng những mái chèo nhịp nhàng sinh động, cùng vận chuyển lượng khách và hàng hóa vô cùng lớn. Nhất là khi vừa sang xuân, nước sông bắt đầu dâng lên, lại được gió đông trợ lực thì tàu thuyền ngược xuôi chật kín mặt sông không dễ gì mà lách qua được. Tuy nhiên kể từ năm ngoái khi Phương Lạp[5] nổi loạn ở miền đông nam thì tàu thuyền đi Biện Kinh thưa thớt hẳn, mặt sông hôm nay khá vắng vẻ. Tuy kém nhộn nhịp, tuy đông nam có bạo loạn, thì người Biện Kinh vẫn hào hứng thưởng xuân, huống chi hôm nay là tiết thanh minh, già nửa dân chúng đều ra ngoại thành tảo mộ, du xuân, đôi bờ Biện Hà vẫn hết sức đông đúc, ồn ã lao xao. Dòng nước đang êm ả chảy về đông, sương khói bảng lảng quanh những cành liễu xanh mới nhú, cảnh sắc vẫn tươi mới sinh động như xưa. Trong quán rượu của Chương Thất Lang ở bờ bắc Biện Hà, ngồi trước lan can nhìn ra bờ sông là một nam trung niên đang lim dim mắt, ngón tay gõ nhịp trên lan can. Đó là Cổ Đức Tín - quan lệnh sứ của Viện Khu Mật[6], phụ trách miền nam. Ông ta đang chờ người, cũng bởi thế mà ông chẳng thiết ngắm cảnh sông. Lúc này mặt trời đã lên giữa đỉnh đầu, tức chính ngọ. Cổ Đức Tín ngoảnh nhìn, thấy gã tùy tùng thân tín của mình là Cam Lượng đang tán chuyện với chủ quán, bèn hỏi: “Thế nào rồi?” ... Mời các bạn đón đọc Mật Mã Thanh Minh Thượng Hà Tập 1 của tác giả Dã Văn Bưu.
Nó - Stephen King
Tại thị trấn Derry - nơi một con quái vật độc ác đang ẩn mình trong những cống rãnh dơ bẩn. Được gọi tắt là " Nó" , không có một hình dạng nhất định và đặc biết rất thích ăn thịt trẻ em, dùng nỗi sợ hãi của những đứa trẻ làm chất dinh dưỡng để tồn tại và phát triển. Nhóm Loser -những đứa trẻ có hoàn cảnh đáng thương và luôn mang trong mình một nỗi sợ - đều gặp phải những cuộc chạm trán khủng khiếp với sinh vật có hình dạng giống với nỗi sợ hãi của họ. "Có đôi mắt màu vàng trong đó: đôi mắt mà cậu luôn tưởng tượng ra nhưng chưa bao giờ thực sự nhìn thấy." "Chúng có lơ lửng không?" "Lơ lửng?",  Nụ cười của thằng hề nở rộng hơn. " Ồ, có. Họ thực sự làm vậy. Họ lơ lửng!" *** Stephen King (sinh ngày 21 tháng 9 năm 1947) là nhà văn người Mỹ thiên về thể loại kinh dị hoặc giả tưởng rất được tán thưởng khắp thế giới, đặc biệt với mô-típ biến đổi những tình huống căng thẳng bình thường thành hiện tượng khiếp đảm. Những cốt truyện kinh dị và lối viết đa dạng của King đã giúp giới phê bình chấp nhận thể loại kinh dị giả tưởng là một thành phần của nền văn học trong thế kỷ 20. Cuối năm 2006, tổng số sách ông đã bán có khoảng 350 triệu cuốn. Stephen King là người đi tiên phong trong việc xuất bản "sách điện tử" (e-book) trên mạng internet. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn học, kể cả giải Hugo cho tác phẩm Danse Macabre (1980) và Giải thưởng Tưởng niệm O. Henry cho truyện ngắn The Man in the Black Suit (1994). Tác phẩm mới nhất của ông là Lisey's Story, đã đạt mức bán chạy nhất nhiều tuần liền. Hầu hết tất cả các tác phẩm của ông khi tung ra đều đạt mức bán chạy nhất, nhưng có người gọi ông chỉ là một kẻ "viết truyện rùng rợn", như một cách chê bai thể loại văn học bình dân. *** Nỗi kinh hoàng, thứ mà sẽ không bao giờ chấm dứt trong hai mươi tám năm tới-mà cho dù nếu nó có chấm dứt-thì nó sẽ cũng bắt đầu lại, theo những gì tôi biết hay có thể nói, với một con thuyền được làm từ một tờ giấy báo trôi lênh đênh trên rãnh nước mưa. Con thuyền trôi lảo đảo, dũng cảm bước qua một vòng xoáy nước vô cùng nguy hiểm rồi tiếp tục trôi tới đường Witcham hướng về phía cột đèn giao thông nằm ở ngay ngã tư của đường Jackson và Witcham. Cây đèn tín hiệu giao thông không hề phát sáng vào buổi chiều ngày hôm đó của mùa thu năm 1957, cũng như những ngôi nhà gần đây. Ta nói suốt cả một tuần liền, trời mưa rất lớn và không những vậy, hai ngày trước đó, gió thổi ở đây vô cùng mạnh. Và hầu như cả khu vực Derry đều đã bị mất điện, và cho đến tận bây giờ, điện vẫn chưa hề lên. Một cậu bé mặc một chiếc áo mưa màu vàng và mang một đôi boot cao su chống nước màu đỏ, vui vẻ mon men chạy theo con thuyền bằng giấy của mình. Cơn mưa tầm tã vẫn chưa hề dứt nhưng cuối cùng cũng đã bớt đi được một chút. Những giọt mưa rơi tí tách trên chiếc mũ trùm đầu của chiếc áo mưa, nghe như tiếng mưa rơi trên mái hiên vậy... một âm thanh nghe thật ấm áp và dễ chịu. Đứa trẻ trong chiếc áo mưa màu vàng đó tên là George Denbrough. Cậu sáu tuổi. Anh trai của George, tên là William, được rất nhiều học sinh của trường tiểu học Derry biết tới (và kể cả những giáo viên, những người không dám dùng biệt danh để gọi cậu ta) với cái tên là Bill Cà Lăm. Trong lúc George đang mải mê đùa vui với con thuyền của mình thì Bill phải nằm ở nhà vì bệnh cảm cúm. Vào mùa thu năm 1957, tám tháng trước khi những điều khủng khiếp bắt đầu và hai mươi tám năm trước khi cuộc chiến cuối cùng xảy ra, Bill Cà Lăm chỉ mới có mười tuổi thôi. Bill đã làm ra một con thuyền bằng giấy, cái mà George hiện đang chơi cùng dưới mưa. Cậu ta ngồi trên giường, tựa lưng vào chiếc gối êm ái và tập trung xếp thành chiếc thuyền cho George trong lúc mẹ cậu đang chơi bản nhạc Für Elise của Beethoven trên cây đàn piano trong phòng khách. Còn ngoài trời thì cứ mưa liên tục, những giọt mưa đó cứ thế rơi lã chã trên cửa sổ phòng Bill không ngừng nghỉ. .... Mời các bạn đón đọc IT - Nó của tác giả Stephen King.
Điều Kỳ Diệu Của Tiệm Tạp Hóa Namiya - Higashino Keigo
Một đêm vội vã lẩn trốn sau phi vụ khoắng đồ nhà người, Atsuya, Shota và Kouhei đã rẽ vào lánh tạm trong một căn nhà hoang bên con dốc vắng người qua lại. Căn nhà có vẻ khi xưa là một tiệm tạp hóa với biển hiệu cũ kỹ bám đầy bồ hóng, khiến người ta khó lòng đọc được trên đó viết gì. Định bụng nghỉ tạm một đêm rồi sáng hôm sau chuồn sớm, cả ba không ngờ chờ đợi cả bọn sẽ là một đêm không ngủ, với bao điều kỳ bí bắt đầu từ một phong thư bất ngờ gửi đến…  Tài kể chuyện hơn người đã giúp Keigo khéo léo thay đổi các mốc dấu thời gian và không gian, chắp nối những câu chuyện tưởng chừng hoàn toàn riêng rẽ thành một kết cấu chặt chẽ, gây bất ngờ từ đầu tới cuối.  *** Tác phẩm của nhà văn trinh thám hàng đầu Nhật Bản hiện nay, Higashino Keigo, hứa hẹn lấy đi nhiều nước mắt của độc giả. Higashino Keigo sinh năm 1958 tại Osaka, là nhà văn trinh thám hàng đầu hiện nay tại Nhật Bản. Năm 1985, Higashino Keigo giành được giải Edogawa Rampo lần thứ 31 cho tác phẩm trinh thám hay nhất với tiểu thuyết Giờ tan học.   Các năm sau đó, Higashino Keigo liên tục được đề cử vô số giải thưởng văn học lớn. Năm 1999, ông đoạt giải Mystery Writers of Japan Inc với tiểu thuyết Bí mật của Naoko, và năm 2006, là giải Naoki lần thứ 134 cho Phía sau nghi can X. Năm 2012 tiểu thuyết Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya giành giải  thưởng Chuokoron lần thứ 7.   Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya đã bán được hơn 1 triệu bản ở Nhật, hơn 1,6 triệu bản tại Trung Quốc, được chuyển thể hai lần vào năm 2013 và 2016. Khác với những tác phẩm nổi tiếng trước đây của Higashino Keigo như Phía sau nghi can X, Bí mật của Naoko, Bạch dạ hành, Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya là một cuốn tiểu thuyết ấm áp, chan chứa tình yêu thương từ những điều nhỏ bé, bình dị nhất. Trong tác phẩm này, Highashino vẫn thể hiện được tài kể chuyện hơn người, ưu điểm đặc trưng từ các tiểu thuyết  trước đó của ông. Keigo khéo léo thay đổi các mốc thời gian và không gian, chắp nối những câu chuyện tưởng chừng hoàn toàn độc lập, không liên quan, thành một kết cấu chặt chẽ và gây bất ngờ cho người đọc từ đầu tới cuối.   Trong cái đêm vội vã lẩn trốn sau phi vụ khoắng đồ nhà người, Atsuya, Shota và Kouhei đã rẽ vào lánh tạm trong một căn nhà hoang bên con dốc vắng người qua lại. Khi xưa, căn nhà này có vẻ như là một tiệm tạp hóa. Chiếc biển hiệu cũ kỹ bám đầy bồ hóng khiến người ta khó mà đọc được trên đó viết gì càng khiến các cậu tò mò. Cả nhóm vốn chỉ định nghỉ tạm một đêm rồi sáng hôm sau chuồn sớm, nhưng chúng không thể ngờ ba đứa sẽ có một đêm không ngủ. Tất cả những sự kiện liên tiếp diễn ra với bao điều kỳ bí diễn ra, bắt đầu từ một phong thư bất ngờ được gửi đến…   Hóa ra, căn nhà bỏ hoang này vốn là tiệm tạp hóa Namiya ngày trước. Ngoài bán tạp hóa, chủ tiệm còn nhận tư vấn miễn phí cho tất cả phiền não của mọi người. 33 năm sau khi chủ tiệm qua đời, điều kỳ diệu xảy ra khi ba người nhận được những lá thư xin tư vấn đến từ quá khứ.   Câu chuyện trong Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya  tuy không phức tạp, nhưng qua cách kể chuyện của bậc thầy Higashino Keigo, nó bỗng trở nên sống động lạ kỳ. Sự đan xen hài hòa giữa thời gian và không gian, quá khứ và hiện tại, đã biến một câu chuyện tưởng chừng bình thường trở thành điều kỳ diệu. Các nhân vật xa lạ, không liên quan đến nhau được kết nối một cách bất ngờ.  Những mẩu nội dung rời rạc hóa ra lại là chất keo dính kết tuyệt vời, khiến độc giả đi từ ngỡ ngàng này đến ngỡ ngàng khác. Tất cả đã chứng minh tài năng thiên bẩm của nhà văn đại tài Higashino Keigo.  *** Higashino Keigo, sinh năm 1958 tại Osaka, là nhà văn trinh thám hàng đầu hiện nay tại Nhật Bản. Năm 1985, Higashino Keigo giành được giải Edogawa Rampo lần thứ 31 cho tác phẩm trinh thám hay nhất với tiểu thuyết Giờ tan học. Các năm sau đó, Higashino Keigo liên tục được đề cử vô số giải thưởng văn học lớn. Năm 1999, ông đoạt giải Mystery Writers of Japan Inói chuyện với tiểu thuyết Bí mật của Naoko, và năm 2006, là giải Naoki lần 134 cho Phía sau nghi can X. Năm 2012 tiểu thuyết Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya giành giải thưởng Chuokoron lần thứ 7. Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya đã bán được hơn một triệu bản ở Nhật, hơn một,sáu triệu bản tại Trung Quốc, được dựng thành kịch hai lần vào năm 2013 và 2016. Một số tác phẩm của Higashino Keigo đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam:  Phía Sau Nghi Can X - Higashino Keigo Bạch Dạ Hành - Higashino Keigo Bí mật của Naoko - Higashino Keigo Thánh Giá Rỗng - Higashino Keigo Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya ... *** Thư hồi âm để trong hộp nhận sữa. Người đề xuất đến căn nhà hoang là Shota. Nó bảo có một căn nhà hoang cũng tàm tạm. "Cái gì cơ? Nhà hoang tàm tạm là sao?" Atsuya quay lại nhìn Shota, cái thằng người đã bé loắt choắt mà mặt còn như trẻ con. "Tao bảo tàm tạm thì nghĩa là tàm tạm chứ sao. Nghĩa là vừa đủ để náu thân. Lúc đi tiền trạm, tao tình cờ tìm được. Ai ngờ sẽ có lúc dùng đến thật." "Xin lỗi hai đứa mày nhé." Kouhei co rúm tấm thân kềnh càng. Nó nhìn chiếc Crown đời cũ đỗ bên cạnh với ánh mắt tiếc nuối. "Có nằm mơ tao cũng không tưởng tượng được chiếc xe lại hết ắc quy ở một nơi thế này." Atsuya thở dài. "Giờ nói thế cũng giải quyết được gì đâu." "Nhưng thế nghĩa là sao nhỉ? Trước lúc đến đây hoàn toàn không có vấn đề gì mà. Đèn cũng đâu có bật suốt." "Là tuổi thọ." Shota thủng thẳng nói. "Mày cứ nhìn đồng hồ cây số xem. Trên một trăm nghìn cây rồi. Giống như lão suy ấy. Nó có tuổi rồi, chạy được đến đây thì gục luôn. Vì thế tao mới bảo có ăn trộm thì nên chọn xe mới." Kouhei khoanh tay, lầm bầm nói: "Ừm. Xe mới thì lại có thiết bị chống trộm." Mời các bạn đón đọc Điều Kỳ Diệu Của Tiệm Tạp Hóa Namiya của tác giả Higashino Keigo.