Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuốn Sách Tiên Tri

"Trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời này, một Erika Swyler đầy tài hoa  đã xuyên suốt qua nhiều thế hệ và nhiều thế kỷ, dịch chuyển một cách khéo léo và dệt các mạch truyện thành một tấm thảm tuyệt đẹp. Tôi ngay tức khắc hòa mình vào trong câu chuyện gia đình đầy thủ đoạn và bất hòa. Văn chương của Swyler hoa mỹ và thanh tao tới mức vô cùng dễ hiểu, tỏa sáng hệt như giọng nói đặc biệt của bà - cách miêu tả của bà về biển và vẻ hung hãn của nó có thể sánh ngang với Annie Proulx trong tác phẩm Shipping News. Tôi thực sự yêu thích cuốn sách này và đã ngấu nghiến đọc một mạch từ đầu đến cuối"  - Trích lời Sara Gruen, tác giả cuốn Water for Elephants; At the Water's Edge - *** Văn học giả tưởng, ma mị là một thể loại cực kỳ thu hút độc giả. Mời các bạn đón đọc review Cuốn sách tiên tri – một câu chuyện cực hot trong thể loại trên. “Trong khi Peabody vẽ và mơ ước, hàng xe vẫn đi theo con đường quanh co chạy theo chiều dài Catawba. Trục xe rên rỉ phản kháng, những cánh cửa xe đóng sập lại và bị kẹt, không khí ẩm ướt khác thường bao trùm lên cả gánh xiếc khi họ mù quáng đi vào trong sương mù.” Cuốn sách tiên tri có cái ma mị của ‘Rạp xiếc đêm’, cũng có chút bất cần tuổi trẻ của ‘Những thành phố giấy’. Cái ma mị bí ẩn trong hình ảnh ngôi nhà bên vách đá gắn với những kỉ niệm, hiệu sách cũ, lửa trại, những lá bài tarot, gánh xiếc, người cá, cuốn sách cổ, những cái chết.. tất cả góp phần tạo nên một không gian truyện bí ẩn và cuốn hút. Đan xen vào đó là những khao khát, ước mơ và cả tình yêu của những con người trẻ tuổi, những con người mang trong mình những đam mê nồng cháy và cảm xúc bùng nổ khi đối diện với người họ thương yêu. Bằng cách kể chuyện song song ở hai khoảng thời gian hiện tại và quá khứ, tác giả như đang thì thầm những bí mật về những con người xa lạ hóa ra lại có mối liên hệ gắn bó và bị thu hút về phía nhau vậy. Tớ rất thích cách viết gắn kết những con người tưởng chừng không chút liên quan, mà qua ngòi bút của tác giả, sợi dây liên kết giữa họ rõ ràng hơn và kì diệu hơn rất nhiều. Không chỉ có vậy, đây còn là câu chuyện về tình cảm gia đình gắn bó, những kỉ niệm đã qua vẫn còn lưu lại trong kí ức tuổi thơ của những kẻ trưởng thành cô đơn, hay những day dứt về sự bồng bột và những hành động trong quá khứ vẫn xuất hiện trong tâm trí họ. Liệu người thân hay chính bản thân họ có dám đối diện với những sai lầm ngày còn trẻ, có thể bằng lòng tha thứ hay không? Bên cạnh đó thì đôi lúc mạch truyện cũng hơi chậm, cảm giác như tác giả cũng đang băn khoăn tìm hướng đi cho nhân vật vậy. Tớ cũng không thích vài chi tiết tình cảm người lớn trong cuốn này, cứ thấy cái gì đó không hợp câu chuyện lắm đâu. Chung lại thì đây là một cuốn khá ổn, nếu anh em muốn thử một cuốn bí ẩn ma mị mà không thiếu đi sự sâu lắng của tình cảm con người thì tớ nghĩ đây sẽ là một câu chuyện phù hợp đó. Cuốn sách tiên tri xoay quanh Simon Watson, anh chàng thủ thư vừa mất việc, rơi vào chán chường vì mất việc đồng nghĩa với không có tiền sửa sang lại căn nhà thơ ấu với bao kỉ niệm cùng bố mẹ và em gái Enola. Một ngày, Simon nhận được cuốn sách cổ từ chủ hiệu sách Churchwarry&son mà trong đó, anh chợt nhận ra những mối liên hệ bất ngờ và một sự trùng hợp kì lạ về những con người đặc biệt từ nhiều năm về trước. Trích dẫn Cuốn sách tiên tri: “Trong khi Amos mơ những giấc mơ của một Cậu bé Rừng xanh – có những đầm lầy dồi dào muông thú, có những đám rong rêu mềm mại để anh ngủ ngon lành trên đó, có sự sảng khoái của những dòng sông mát lạnh áp vào da thịt, có một cô gái đáng yêu trong nước, mái tóc bồng bềnh xung quanh như thảm cỏ – thì những giấc mơ của Evangeline lại u ám hơn nhiều. Cô mơ đến việc bò ra khỏi ngôi nhà màu xám ở Kromeskill, đầu gối đẫm máu, bùn đóng cứng lại cùng với lá thông. Lúc nào bà cô cũng đi theo cô, khuôn mặt tím tái, cầu xin lòng nhân từ và sự cứu giúp. Tại sao? Tại sao? Bà rất yêu cháu. Gánh xiếc đang rời Philadelphia để đến những ngôi nhà gạch có đầu nhọn ở New Castle thì bầu trời nổi gió và mưa trút xuống đe doạ sẽ cuốn trôi cả bầy thú. Con ngựa nhỏ đá chân và lồng lên bên trong xe ngựa của mình, con lạc đà rít lên như một đứa trẻ bị thương. Lo sợ rằng việc cố gắng đi tiếp sẽ khiến chúng bị sa lầy, Peabody lệnh cho tất cả các cỗ xe dừng lại cho đến khi mưa tạnh. Màn đêm buông xuống với hơi nóng dày đặc buộc mọi người phải lên giường đi ngủ. Không khí nặng nề với những đám mây mưa, bầu trời như một quả cân kéo Evangeline xuống như bà của cô đã từng làm. Cô ngủ một giấc ngủ bồn chồn, không yên vì tội lỗi.” Với Cuốn sách tiên tri, tớ chấm 4/5 điểm. *** Ngôi nhà cheo leo bên rìa dốc thẳng đứng trông thật nguy hiểm. Cơn bão đêm qua đã cày tung đất, khuấy đảo vùng biển, khiến bãi biển đầy rẫy chai lọ, rong biển, mai cua hình móng ngựa. Mảnh đất tôi đã sống cả cuộc đời này không chắc có thể trụ qua được mùa bão. Eo biển Long Island rải rác tàn tích của những ngôi nhà và những mảnh đời, tất cả bị chôn vùi trong cái dạ dày tham lam của cát. Nó là một kẻ chết đói. Các biện pháp như xây vách ngăn, tôn nền cao đều không có. Sự thờ ơ của bố đã khiến tôi phải gánh chịu một vấn đề không thể giải quyết, một vấn đề quá tốn kém với một thủ thư ở Napawset. Nhưng, những thủ thư chúng tôi nổi tiếng là có tài xoay xở. Tôi đi về phía những bậc thang gỗ dẫn xuống vách đá. Chân tôi đau nhói ở nơi đá găm vào. Ở bờ biển Bắc này, có một vài thứ cần thiết hơn là bàn chân chai cứng. Vào mùa hè, tôi và em gái Enola thường chạy chân đất cho đến khi vỉa hè nóng ran đến nỗi ngón chân chúng tôi lún xuống nhựa đường. Người ngoài không thể đi bộ trên những bờ biển thế này. Frank McAvoy vẫy tay với tôi từ dưới chân bậc thang trước khi quay ra nhìn chằm chằm vào vách đá. Ông mang theo con thuyền nhỏ xinh xắn, trông như thể được đục đẽo từ một tấm gỗ duy nhất. Frank McAvoy là thợ đóng thuyền gỗ và là một người tốt bụng, đã quen biết gia đình tôi trước cả khi tôi chào đời. Khi cười, khuôn mặt ông hằn lên những nếp nhăn loang lổ của một người Ireland bao năm dãi dầm mưa nắng; cặp lông mày cong lên trên và mất hút dưới vành mũ cũ kỹ. Nếu bố tôi sống đến sáu mươi tuổi, có thể trông ông sẽ giống như Frank, với hàm răng vàng khè và những vết tàn nhang ửng đỏ. Nhìn vào Frank, tôi lại nhớ đến tôi hồi trẻ thơ, đang bò giữa những thanh củi được xếp để đốt lửa trại, bàn tay to lớn của ông kéo tôi khỏi một khúc gỗ đang lung lay. Ông khiến tôi nhớ lại những kỷ niệm về bố, khi ông đang loanh quanh với món lợn quay, ngô nướng, mùi vỏ khô cháy thành than và mùi lụa cháy, trong khi Frank tiêu khiển cho chúng tôi bằng những câu chuyện đi câu. Frank có biệt tài nói dối như thần, đó là điều rất rõ ràng. Mẹ tôi và vợ ông ấy giục ông kể tiếp, tiếng cười của họ khiến cho lũ mòng biển cũng phải khiếp sợ. Hai người họ giờ đã không còn nữa. Tôi nhìn Frank và thấy bố mẹ tôi, tưởng tượng rằng ông không thể nhìn tôi mà không thấy những người bạn đã mất. - Có vẻ như cơn bão đã ảnh hưởng nhiều đến cháu đó. - Ông nói. - Cháu biết. Cháu mất một mét rưỡi. - Một mét rưỡi là đã nói giảm nói tránh rồi. - Bác đã bảo bố cháu phải dựng kè, trồng thêm cây. - Nhà ông McAvoy cách nhà tôi vài trăm mét về phía tây, nằm xa biển, với một cái dốc đứng có bậc thang và cây trồng, được thiết kế để bảo vệ ngôi nhà trong bất cứ hiểm nguy nào. - Bố cháu không bao giờ biết lắng nghe cả. - Đúng thế. Ngoài ra thì một hay hai miếng che trên kè có lẽ đã có thể cứu cháu khỏi một biển rắc rối. - Bác biết bố cháu thế nào mà. - Sau đó là một khoảng lặng đầy cam chịu. Frank hít không khí qua kẽ răng, tạo ra một tiếng huýt sáo khô khốc. - Bác cho rằng bố cháu nghĩ ông ấy có nhiều thời gian hơn thế để sửa chữa mọi thứ. - Có lẽ vậy. - Tôi nói. Ai mà biết được bố tôi đã nghĩ gì. - Dù vậy, mấy năm nay, nước đã lên cao. - Cháu biết, cháu không thể để việc này tiếp diễn lâu hơn được nữa. Nếu bác quen một ai đó mà bác tin tưởng, cháu sẽ rất cảm kích nếu được bác cho biết tên của một nhà thầu. - Chắc chắn rồi. Bác có thể gửi người đến chỗ cháu. - Ông gãi đầu - Nhưng bác không muốn nói dối, tiền công sẽ không rẻ đâu. - Không còn gì khác nữa phải không bác? - Không, bác nghĩ là không. - Cháu có thể xem xét bán một số thứ. - Thật buồn khi thấy cháu làm việc đó. - Vầng trán Frank nhăn lại, khiến chiếc mũ sụp xuống. - Đất đai còn có chút giá trị ngay cả khi ngôi nhà biến mất. - Hãy suy nghĩ thêm. Frank biết vấn đề tài chính eo hẹp của tôi. Cô con gái Alice của ông cũng làm việc tại thư viện. Tóc hoe đỏ và xinh xắn, Alice có nụ cười của bố và cô ấy rất biết cách lấy lòng bọn trẻ. Alice biết cách giao thiệp với mọi người hơn tôi, đó là lý do tại sao cô ấy làm nhiệm vụ thiết lập chương trình, còn tôi làm công việc tra cứu. Nhưng chúng tôi không ở đây để nói về Alice, hay tình trạng nguy hiểm của căn nhà. Chúng tôi ở đây để làm công việc chúng tôi đã làm suốt một thập kỷ qua, thả phao để cách ly một vùng ngập nước. Cơn bão đủ mạnh để kéo phao và mấu neo vào bờ, để lại một đống những dây xích han gỉ và dây thừng bện màu cam, san sát những hàu. Tôi thấy hơi ngạc nhiên khi bị mất đất. - Chúng ta đi chứ? - Tôi hỏi. - Tại sao không? Thời gian không còn dài nữa. Tôi cởi áo, nhấc dây xích và dây thừng lên một bên vai, rồi chầm chậm bước xuống nước. - Có chắc là cháu không cần giúp một tay không? - Frank hỏi. Con thuyền đã chạm mặt cát khi ông đẩy nó xuống nước. - Dạ không, cảm ơn bác, cháu làm được. - Tôi có thể tự mình làm việc này, nhưng có Frank đi theo vẫn an toàn hơn. Ông ở đây không phải vì tôi, mà là vì cái lý do đã khiến tôi làm việc này vào mỗi năm: để tưởng nhớ mẹ tôi, Paulina, bà đã chết đuối ở vùng nước này. Eo biển thật lạnh lẽo vào tháng 6, bước xuống tôi hòa mình vào nó, bàn chân tôi quắp vào nhũng hòn đá bám đầy tảo biển. Dây xích có móc neo khiến tôi chậm lại, nhưng Frank vẫn duy trì tốc độ, xoay tròn mái chèo. Tôi bước đi cho đến khi nước ngập đến ngực, rồi đến cổ. Ngay trước khi lặn xuống, tôi thở hết ra, rồi hít vào, như mẹ tôi đã hướng dẫn tôi trong một buổi sáng ấm áp vào cuối tháng 7, như tôi đã hướng dẫn em tôi. Mẹo để nín thở là chịu khát. “Thở một hơi thật nhanh và mạnh,” mẹ tôi nói, giọng bà êm ái bên tai. Ở vùng nước nông, mái tóc đen dài của mẹ trôi quanh chúng tôi tựa một dòng sông. Hồi đó tôi năm tuổi. Bà ấn bụng tôi cho đến khi các cơ thắt chặt vào, rốn gần chạm xương sống. Bà đẩy mạnh, móng tay sắc nhọn chọc vào tôi, “Bây giờ con hãy hít vào, nhanh. Nhanh, nhanh, nhanh. Xương sườn căng ra. Nghĩ rộng ra.” Bà hít vào, lồng ngực mở rộng, những chiếc xương mảnh như xương chim bành ra cho đến khi bụng bà tròn như cái thúng. Bộ áo tắm của bà là một ánh sáng trắng rạng rỡ trong nước. Tôi nheo mắt nhìn. Bà xỉa một ngón tay vào xương ức tôi. “Con đang thở ra đấy, Simon. Nếu con thở ra, con sẽ chết đuối.” Một cái chạm khẽ khàng. Một nụ cười mỉm. Mẹ bảo tôi hãy tưởng tượng rằng tôi đang khát, cổ họng khô khốc và trống rỗng, rồi uống không khí vào. “Hãy thư giãn xương cốt và uống vào thật nhiều, thật sâu.” Khi bụng tôi đã tròn như chiếc trống cái, bà thì thầm, “Tuyệt, tuyệt. Bây giờ chúng ta lặn xuống nào.” Lúc này tôi lặn xuống. Những tia nắng mềm mại xuyên xuống quanh bóng chiếc thuyền của Frank. Thỉnh thoảng, tôi nghe thấy tiếng mẹ tôi, đang trôi giạt trong làn nước, và thỉnh thoảng tôi thoáng thấy bà, phía sau lớp rong biển, mái tóc đen hòa lẫn với tảo bẹ. Hơi thở của tôi biến thành một màn sương đẹp đẽ bao phủ lên làn da. Mẹ tôi là một diễn viên ở rạp xiếc và lễ hội, người bói bài tarot, trợ lý ảo thuật gia, và người cá, chuyên sống bằng cách nín thở. Bà dạy tôi bơi như cá, và bà khiến bố tôi mỉm cười. Bà thường xuyên biến mất. Bà thường bỏ việc hoặc làm đồng thời hai hay ba việc một lúc. Bà ở khách sạn chỉ để thử những chiếc giường khác nhau xem chúng như thế nào. Bố tôi, Daniel, là một thợ máy và là một người chồng chung thủy. Ông ở nhà, mỉm cười, đợi vợ trở về, đợi bà gọi ông là anh yêu. Simon, con yêu. Bà cũng gọi tôi như vậy. Tôi lên bảy tuổi vào ngày bà gieo mình xuống nước. Tôi cố quên, nhưng nó đã trở thành kỷ niệm thân thương nhất của tôi về bà. Bà đã bỏ chúng tôi sau khi chuẩn bị xong bữa sáng. Trứng luộc chín phải được đập vào cạnh đĩa và phải dùng móng tay để bóc vỏ. Tôi đập và bóc trứng cho em gái, cắt chúng thành miếng cho vừa những ngón tay nhỏ xíu của đứa trẻ mới chập chững biết đi. Có bánh mì nướng khô và nước cam đi kèm. Những giờ đầu điên của mùa hè khiến bóng tối trở nên tối hơn, khuôn mặt trở nên sáng hơn và chỗ hõm trở nên góc cạnh hơn. Mẹ Paulina là một cảnh tượng đẹp trong sáng hôm đó, vô cùng duyên dáng, không ai sánh bằng. Bố tôi đang làm việc ở nhà máy. Chỉ có mẹ ở nhà với chúng tôi, quan sát, và gật đầu khi tôi cắt trứng cho Enola. - Con là một người anh tốt, Simon à. Con hãy trông chừng Enola. Con bé sẽ muốn chạy trốn khỏi con. Hãy hứa với mẹ rằng con sẽ không để em đi. - Con hứa. - Con là một chàng trai tuyệt vời, phải không? Mẹ không bao giờ trông chờ điều đó. Mẹ không trông chờ điều đó ở con một chút nào. Quả lắc trên chiếc đồng hồ chim cu tích tắc qua lại. Bà gõ một gót giày lên tấm vải son lót sàn nhà, yên lặng. Enola bôi đầy trứng và mảnh bánh mì vụn lên người. Tôi vật lộn với việc vừa ăn sáng, vừa giữ cho em gái tôi sạch sẽ. Một lát sau, mẹ đứng dậy và vuốt thẳng vạt trước của chiếc váy mùa hè màu vàng bà đang mặc rồi nói: - Gặp lại con sau nhé, Simon! Tạm biệt Enola! Bà hôn lên má Enola và áp môi lên đỉnh đầu tôi. Bà vẫy tay tạm biệt, mỉm cười và đi làm, tôi đã nghĩ như vậy. Làm sao tôi có thể biết được lời tạm biệt đó lại chính là lời vĩnh biệt. Những suy nghĩ khó khăn chất chứa trong những lời nói nhỏ bé. Khi bà quan sát tôi trong buổi sáng hôm đó, bà biết rằng tôi sẽ chăm sóc cho Enola. Bà biết chúng tôi không thể theo bà. Đó là thời gian duy nhất bà có thể đi. Không lâu sau đó, khi tôi và Alice McAvoy đang đua xe trên chiếc thảm trải sàn phòng khách nhà cô ấy, mẹ tôi đã trẫm mình xuống eo biển. Tôi lao xuống nước, đẩy nước bằng ngực, thọc chân sâu xuống. Sau khi đã lặn thêm vài mét nữa, tôi thả một cái neo, nó rơi xuống với một tiếng vang nghẹt lại. Tôi nhìn vào bóng của chiếc thuyền. Frank đang lo lắng. Mái chèo đập xuống mặt nước. Hít thở dưới nước sẽ như thế nào nhỉ? Tôi tưởng tượng khuôn mặt méo mó của mẹ tôi, nhưng vẫn tiếp tục đi cho đến khi tôi có thể thả một cái neo khác, và rồi tôi đẩy hết không khí ra khỏi phổi và bước về phía bờ, cố gắng ở phía dưới lâu nhất có thể - đó là một trò chơi mà tôi và Enola đã thường chơi. Tôi chỉ bơi khi không thể giữ nổi thăng bằng để bước đi, sau đó cánh tay tôi di chuyển thành những sải bơi ổn định, cắt qua eo biển như một trong những chiếc thuyền của Frank. Khi nước vừa đủ sâu để ngập đầu, tôi lại chạm xuống dưới đáy. Điều tiếp theo tôi làm là vì Frank. “Chậm thôi, Simon. Hãy mở mắt ra, ngay cả khi con thấy cay mắt. Không được chớp mắt.” Mẹ bảo tôi. Muối làm cho mắt đau nhói nhưng mẹ không bao giờ chớp mắt, không chớp mắt trong nước, không chớp mắt khi không khí bắt đầu đập vào mắt mẹ. Bà đang di chuyển như một bức tượng. “Đừng có thở, ngay cả khi mũi con đã ở phía trên mặt nước. Nếu con hít thở quá nhanh, miệng con sẽ đầy muối. Hãy đợi,” Mẹ nói, kéo dài từ này như một lời hứa. “Đợi cho đến khi miệng con đã lên khỏi mặt nước, nhưng hãy hít thở bằng mũi, hay trông như con bị mệt. Con không bao giờ có thể bị mệt. Rồi con mỉm cười.” Dù miệng nhỏ và môi mỏng nhưng nụ cười của bà luôn căng rộng ra như làn nước. Mẹ chỉ cho tôi cách cúi chào đúng đắn: cánh tay giơ cao, ngực ưỡn ra, như một con sếu chuẩn bị bay. “Đám đông thích những người rất nhỏ và rất cao. Đừng gập cong người như một diễn viên, điều đó sẽ ảnh hưởng đến con. Hãy để họ nghĩ rằng con cao hơn thực chất của mình. Mẹ mỉm cười với tôi khi đang giơ cao cánh tay bà. “Và con sẽ rất cao, Simon à.” Một cái gật đầu căng hết cỡ tới những khán giả vô hình. “Và con hãy thật duyên dáng, Hãy luôn luôn duyên dáng.” Tôi không cúi chào, không phải vì Frank. Lần cuối cùng tôi cúi chào là khi tôi dạy Enola và muối đâm vào mắt chúng tôi đau đến nỗi trông chúng tôi như thể mới đánh nhau. Dù vậy, tôi vẫn mỉm cười và hít một hơi thật sâu qua mũi, để cho xương sườn giãn ra và lồng ngực căng đầy. - Bác nghĩ là bác sẽ phải theo sau cháu. - Frank gọi. - Cháu ở dưới bao lâu rồi bác? Ông nhìn vào chiếc đồng hồ đeo tay bằng dây da đã rạn và thở ra: - Chín phút. - Mẹ cháu có thể làm được mười một phút. - Tôi giũ nước khỏi tóc, đập đập hai lần để nước ra khỏi tai. - Không bao giờ hiểu được điều đó. - Frank thốt lên khi lôi mái chèo ra khỏi khóa. Chúng kêu loảng xoảng khi ông ném chúng vào thuyền. Có một câu hỏi mà cả hai chúng tôi đều không hỏi: mất bao lâu để một người nín thở bị chết đuối? Khi tôi mặc áo, nó đầy cát, đó là hậu quả của việc sống ở bờ biển, cát luôn có trong tóc, dưới móng chân, trong những nếp khăn trải giường. Frank đi đến sau tôi, thở hổn hển vì kéo thuyền. - Lẽ ra bác nên để cháu giúp việc đó. Ông vỗ lưng tôi: - Nếu thỉnh thoảng bác không vận động thì bác sẽ chỉ có già đi thôi. Chúng tôi nói chuyện phiếm về mọi thứ ở bến du thuyền. Ông phàn nàn về sự thịnh hành của những chiếc thuyền bằng sợi thủy tinh, cả hai chúng tôi đều lan man về Windmind, chiếc thuyền đua mà ông và bố tôi cùng sở hữu. Sau khi mẹ tôi chết đuối, bố tôi chẳng nói chẳng rằng đã bán luôn chiếc thuyền đó đi. Ông thật tàn nhẫn khi làm vậy với Frank, nhưng tôi cho rằng Frank đã có thể mua được nó ngay tức khắc nếu ông muốn vậy. Chúng tôi tránh không nói chuyện về ngôi nhà, dù rõ ràng là ông buồn rầu với ý tưởng bán nó đi. Tôi cũng không muốn bán nó. Thế nên chúng tôi cùng trao đổi những lời nhận xét hài hước về Alice. Tôi nói tôi đang để ý đến cô ấy, dù điều đó là không cần thiết. - Thế còn em gái cháu thì sao? Nó đã ổn định ở đâu chưa? - Cháu không rõ. Thật ra mà nói, cháu không biết liệu nó có từng muốn vậy không. Frank khẽ mỉm cười. Cả hai chúng tôi đều nghĩ về điều đó: Enola cũng hoạt bát như mẹ tôi. - Vẫn đang bói bài tarot à? -Nó đang xoay sở với công việc đó. - Em tôi đã bỏ đi cùng với một gánh xiếc. Khi nói ra điều này, chúng tôi đã kết thúc cuộc hội thoại tất yếu. Chúng tôi lau khô và nhấc chiếc thuyền nhẹ trở lại cái kè. - Bác sẽ lên chứ? Cháu sẽ đi bộ về với bác. - Tôi nói. - Hôm nay trời thật đẹp. Bác nghĩ là bác sẽ ở đây thêm một lát nữa. - Nghi thức đã xong. Chúng tôi đi theo hai hướng khác nhau khi chúng tôi đã dìm chết hồn ma của chính mình. Tôi bước lên những bậc thang trở lại, tránh cây thường xuân độc leo lên rào chắn và mọc dày đặc trên dốc đứng - không ai kéo nó xuống, bất cứ thứ gì bám chặt vào cát xứng đáng với bất cứ tội lỗi nào nó đem lại - Và cắt qua đám cỏ biển, hướng về nhà. Giống như rất nhiều ngôi nhà ở Napawset, nhà của tôi là một thuộc địa thực sự, được xây dựng vào cuối những năm 100. Có một tấm bảng từ xã hội lịch sử được treo cạnh cửa trước cho đến khi nó bị thổi bay mất trong một cơn gió đông bắc vài năm trước. Ngôi nhà Timothy Wabash. Với màu sơn trắng bong tróc, bốn cửa sổ vặn vẹo, và một bậc thang dốc, vẻ bề ngoài của ngôi nhà cho thấy nó đã bị lãng quên từ lâu và thiếu tiền tu bổ trầm trọng. Trên bậc thang trước màu xanh lá bạc màu (phải nói đến điều đó) là một gói đồ được dựng mở trên cửa lưới. Người giao hàng luôn để cửa mở dù đã vô số lần tôi để lại lời nhắn là không được như vậy, tôi phải treo lại một cánh cửa vào một ngôi nhà đã không vuông vức kể từ ngày nó mới được xây. Tôi không đặt món hàng nào và không thể nghĩ được ai có thể gửi cho tôi món gì. Enola hiếm khi ở một nơi nào đủ lâu để gửi thư mà chỉ gửi một tấm bưu thiếp. Ngay cả nếu có vậy, chúng cũng thường trống trơn. Gói hàng nặng, kỳ cục, và được đề địa chỉ bằng những nét chữ nguệch ngoạc, khẳng khiu của một người lớn tuổi - một kiểu mà tôi đã quen thuộc, vì khách quen của thư viện chủ yếu là một nhóm những người lớn tuổi. Điều đó nhắc tôi rằng, cần phải nói chuyện với Janice về việc kiếm thêm một khoản trong ngân sách của thư viện. Mọi thứ sẽ không quá tồi nếu tôi có thể đắp kè. Không cần phải tăng lương, chỉ cần một khoản tiền thưởng vào một dịp nào đó, vì thâm niên làm việc. Người gửi là một ai đó tôi không biết, một người nào đó có tên là M. Churchwarry ở Iowa. Tôi dọn sạch một chồng giấy khỏi mặt bàn, đó là một vài bài báo về gánh xiếc và lễ hội, những thứ tôi đã sưu tầm trong những năm qua để bắt kịp cuộc sống của em gái tôi. Hộp đồ có chứa một cuốn sách khá lớn, được bọc cẩn thận. Dù chưa mở thì cái mùi mốc, hăng hăng cho thấy đó là mùi giấy, gỗ, da và keo dán cũ. Nó được gói trong tấm vải mỏng và giấy in báo, khi mở ra, nó là một bìa sách da màu tối trên đó có thể là những họa tiết xoắn phức tạp nếu nó không bị nước hủy hoại. Tôi cảm thấy hơi choáng váng. Nó rất cũ kĩ, không phải một cuốn sách có thể sờ mó bằng những ngón tay trần, mà nó như một thứ đã bị hư hỏng hoàn toàn, tôi hồi hộp chạm vào nó như chạm vào một cái gì đó của lịch sử. Mép trang giấy không bị hỏng mà còn thật mềm mại. Bộ sưu tập săn cá voi của thư viện đã khiến tôi lao mình vào công việc lưu trữ và phục chế, đủ để nói rằng quyển sách có cảm giác như đã tồn tại ít nhất từ những năm 1800. Đây là một sự sắp đặt, không phải một cuốn sách bạn chuyển đến mà không báo trước. Tôi xếp những tờ báo của mình thành hai chồng nhỏ để đỡ cuốn sách - sự thay thế đáng thương cho một cái giá sách nó đáng có được, nhưng như vậy cũng ổn. Có một lá thư được nhét bên trong bìa trước, được viết bằng mực nước cũng với nét chữ run rẩy đó. Cậu Watson thân mến, Tôi tình cờ thấy cuốn sách này tại một buổi đấu giá, nó nằm trong một mớ mà tôi đã mua để đầu cơ. Tình trạng hư hại của cuốn sách này cho thấy nó vô dụng với tôi, nhưng một cái tên bên trong nó - Verona Bonn - đã khiến tôi tin rằng nó có thể là mối quan tâm của cậu hay gia đình cậu. Đó là một cuốn sách thú vị và tôi hy vọng nó tìm được một ngôi nhà tuyệt vời với cậu. Làm ơn đừng do dự liên lạc với tôi nếu cậu có bất kỳ câu hỏi nào cậu cho rằng tôi có thể trả lời. Nó được ký bởi một ông Martin Churchwarry của Hiệu sách Churchwarry & Son nào đó, và có cả một số điện thoại đi kèm. Một người bán sách, chuyên về những cuốn sách cũ và sách cổ. Verona Bonn. Tên bà tôi xuất hiện trong cuốn sách này nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi. Là một người biểu diễn lưu động như mẹ tôi, bà sẽ không có thời gian cho một cuốn sách như thế này. Tôi khẽ lật một trang sách bằng mép ngón tay. Trang sách bên trong đầy những chữ viết phức tạp, một bản khắc đồng được trang trí với những nét cong bay bướm kì dị. Có vẻ như nó là một cuốn sách kế toán hay hành trình của một ông Hermelius Peabody nào đó, liên quan đến điều gì đó có chứa từ xách tay và phép màu. Bất cứ chi tiết nào khác để nhận dạng cũng rất khó đọc vì bị nước làm hư hại và vì sự cống hiến cho nghệ thuật viết chữ đẹp của ông Peabody. Tôi lướt qua thấy những bức phác họa về phụ nữ, nam giới, những tòa nhà, và những cỗ xe ngựa mái cong, tất cả đều màu nâu. Tôi chưa bao giờ biết mặt bà tồi. Bà mất khi mẹ tôi còn nhỏ, mà mẹ tôi thì chẳng bao giờ nói nhiều về bà. Tôi không rõ cuốn sách này có liên quan đến bà tôi không, tuy nhiên, điều đó cũng thật thú vị. Tôi quay số, lờ đi những âm thanh ám chỉ đó là một tin nhắn. Nó reo một hồi vô cùng lâu trước khi chuyển sang chế độ trả lời tự động và giọng nói già nua của một người đàn ông nói rằng tôi đã gọi đến Hiệu sách Churchwarry & Son, hướng dẫn tôi nhắn lại ngày và thời gian ngoài một lời nhắn chi tiết về bất kỳ cuốn sách cụ thể nào mà tôi đang tìm kiếm. Chữ viết tay không nói dối. Đây là một ông lão. Mời các bạn đón đọc Cuốn Sách Tiên Tri của tác giả Erika Swyler.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trứng Chim Cúc Cu Này Thuộc Về Ai
Siêu phẩm mới nhất đến từ bậc thầy trinh thám hàng đầu Nhật Bản Higashino Keigo Hơn 800.000 bản tiểu thuyết đã được bán ra đồng thời được chuyển thể thành bộ phim truyền hình đình đám phá đảo mọi kỉ lục về tỉ suất người xem năm 2016 trên kênh WOWOW. Đằng sau mỗi con người đều ẩn chứa một bí mật. Dù cố gắng che giấu đến mấy cũng sẽ có ngày những điều chôn sâu giấu kĩ đó bị phơi bày trước ánh sáng. Vậy thì sau cùng, ai mới là người chịu tổn thương sâu sắc nhất ? Là chúng ta hay người mà chúng ta tìm cách che giấu bí mật đó ? Nếu bạn đang băn khoăn và chưa tìm được ra câu trả lời cho những thắc mắc này, hãy tự đi tìm đáp án cho mình trong cuốn sách đặc biệt này. Hiromasa Hida từng là một trong những vận động viên trượt tuyết hàng đầu Nhật Bản, đại diện cho đất nước đi tham gia nhiều giải đấu quốc tế; con gái anh Kazami cũng là một vận động viên trượt tuyết. Lúc Kazami hai tuổi, vợ anh, mẹ của Kazami tự sát. Hida lúc đó đang trong giải đấu quốc tế khi Kazami trào đời, và chỉ khi anh vượt qua nỗi đau sau cái chết của người vợ anh mới biết rằng cô ấy có một bí mật cần che dấu: Kazami không phải là con gái ruột của họ. Bỏ qua nỗi đau của sự thật phũ phàng ấy, Hida tiếp tục nuôi dạy Kazami và con bé dần trở  thành một vận động viên tài giỏi hơn anh. Một thời gian sau, với khát vọng tìm ra được mối liên kết giữa gien di truyền và kĩ năng đạt được của những vận động viên trượt tuyết trong một cuộc huấn luyện, đội của Kazami mong muốn được nghiên cứu bộ gen của cả người cha lẫn con gái nên đã đưa ra lời đề nghị mời cặp bố con Hida. Không muốn tiết lộ bí mật về sự ra đời của con gái mình, Hida từ chối yêu cầu đó. Kazami nhận được một bức thư đe dọa khi cô ấy chuẩn bị tham gia một giải đấu, và rồi có một cuộc đánh bom xe buýt rõ ràng là nhằm vào cô. Bị thương nặng trong vụ đánh bom là Nobuyuki Kamijo, chủ tịch một công ty xây dựng đã đến gặp Kazami, người tuyên bố là một fan hâm mộ của cô. Ai là người đứng đằng sau vụ đe dọa và mục đích của họ là gì ? Ai là cha mẹ ruột thực sự của Kazami ? Hida tự tiến hành điều tra để trả lời những câu hỏi này, và anh đã tìm ra cha đẻ của Kazami. Nhưng việc tiết lộ sự thật kinh hoàng này với Kazami luôn là điều mà anh đắn đo. Giữa ranh giới của việc nói ra sự thật hoặc tiếp tục che dấu thân phận thực sự của Kazami. Đã đến lúc Hida phải đưa ra một quyết định quan trọng. Bằng giọng văn ma mị sắc bén, tiết tấu dồn dập như đang sống trong những thước phim trinh thám gay cấn, Higashino Keigo đã dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ này sang bất ngờ khác, từng bước gỡ bỏ những nút thắt quan trọng và đẩy tình tiết câu truyện lên đến đỉnh điểm. Lôi cuốn, ám ảnh, và đầy tính nhân văn, cuốn sách này xứng đáng là cuốn tiểu thuyết được tác giả Higashino Keigo dành nhiều tâm huyết nhất trong sự nghiệp văn chương của mình chắc chắn sẽ khiến các bạn độc giả hài lòng. Còn chần chừ gì nữa mà không sở hữu ngay cuốn sách đứng top đầu những cuốn sách trinh thám bán chạy nhất năm 2016. *** Cô gái xuất phát trong màn tuyết mỏng đang rơi lất phất. Cô cảm thấy chưa hài lòng vì phần thân trên hơi cao quá. Hễ dồn nhiều cảm xúc, cô thường có thói quen ngước mặt lên. Nhưng trong lúc băng qua mấy cọc chướng ngại vật, các cơ đang căng cứng cũng dần thả lỏng ra một chút. Cách sử dụng cạnh ván trượt cũng không dư thừa. Cô chẳng sợ hãi trước địa hình tuyết dốc, dựng đứng. Cô vốn mạnh mẽ, quả cảm. Ngay trước khi vào địa hình dốc nhẹ, cô đã mắc một lỗi nhỏ. Vẫn luôn như vậy, cô rất hay bị mất tập trung mỗi khi trượt qua đỉnh dốc. Cứ thế này, dù có chiến thắng ở các giải trong nước đi chăng nữa cũng không thấm gì so với các giải thế giới. Quả nhiên, vào tới địa hình dốc, cô không thể tăng tốc được. Cô cũng không thể mở to mắt để nhìn thời gian. Nhưng dù vậy, cô đã hoàn thành chặng đường với kết quả không đến nỗi nào. Xem hết đến cả đoạn cô gái cán đích, khẽ lắc đầu, Hida Hiromasa với lấy chiếc điều khiển đầu DVD. Ông tua lại tới đoạn địa hình tuyết dốc. Lần này, ông để cho video chạy ở chế độ chậm vì tư thế lao vào cọc chướng ngại của cô có một điểm khiến Hida chú ý. Chính tình huống đó. Hida ấn vào nút tạm dừng của chiếc điều khiển đang cầm trên tay để dừng đoạn video lại. Trên màn hình hiện lên hình ảnh của một nữ vận động viên với vai trái đang chuẩn bị lao về phía cọc chướng ngại. Ông rướn người, mặt gí sát vào màn hình. Đúng lúc ông đang lẩm nhẩm rằng “Thân trụ đổ xuống quá nhiều,” thì có tiếng gọi “Ông Hida.” Hida nhìn ra cửa. Cô nhân viên mặc áo thun có cổ màu xanh thẫm đang nhìn vào. “Ông Hida, có khách muốn gặp ông ạ.” “À!” ông gật đầu nói. “Tôi biết rồi. Cứ để họ vào.” “Vâng.” Cô nhân viên trả lời, rồi biến mất sau cánh cửa. Ngay sau đó, một người đàn ông bước vào phòng. Anh ta rất hợp với bộ vest xám đang mặc, cơ thể rắn chắc, vạm vỡ. Tuổi ước chừng chưa quá ba mươi lăm. “Xin lỗi đã làm phiền lúc ông đang bận.” Vừa nói anh ta vừa chia ra tấm danh thiếp, phía trên có đề dòng chữ Yuzuki Yousuke - Phó phòng Trung tâm nghiên cứu khoa học phát triển thể thao Shinsei. Đúng như lời giới thiệu từ trước. “Cậu ngồi đi. Xin lỗi cậu, phòng hơi chật.” Ông Hida mời khách ngồi xuống chiếc ghế gấp văn phòng. Văn phòng này thật sự khá chật chội bởi những chiếc thùng các tông và tủ đựng tài liệu. Nếu tất cả các nhân viên và huấn luyện viên cùng vào phòng một lúc thì không còn chỗ để ngồi. “Cảm ơn ông.” Yuzuki ngồi xuống ghế, ánh mắt anh ta không ngừng chú ý vào một điểm. Nhận ra Yuzuki đang chăm chú nhìn vào màn hình, Hida vội vàng với lấy chiếc điều khiển. “Khoan đã.” Yuzuki nói. “Vận động viên Hida Kazami phải không ạ?” “Hừm, đúng.” “Ông lấy đoạn phim này ở đâu vậy?” Hida đưa chiếc phong bì cạnh mình ra trước mặt Yuzuki. Tên người nhận là Hida Hiromasa. “Takakura đã gửi cho tôi. Hình như nó được ghi hình trong đợt huấn luyện tập trung dạo trước.” “Đợt huấn luyện ở Canada phải không? Thật tuyệt vời. Ông không phiền nếu tôi xem một chút chứ?” “Cái đó thì… cũng không vấn đề gì.” Hida trao cho Yuzuki chiếc điều khiển. Yuzuki đón lấy, tua lại đoạn video từ đầu. Khi video quay đến đoạn Kazami bắt đầu trượt, Hida lại dán mắt về phía màn hình như ban nãy. Yuzuki cho dừng đoạn video lại sau khi Kazami hoàn thành phần trượt tuyết của mình. “Ông nghĩ thế nào?” Yuzuki cất tiếng, tay vẫn cầm chiếc điều khiển. Ánh mắt ấy nhuốm màu hiếu kỳ xen lẫn tham vọng. “Nghĩ gì nhỉ?” Hida cố giữ cho giọng nói của mình không bị lạc đi. Thực sự ông thấy vui khi được nhìn thấy con gái mình trượt tuyết, nhưng không ngờ niềm vui sướng lại dâng trào đến vậy. “Tôi rất muốn nghe suy nghĩ của ông Hida. Suy nghĩ với tư cách của một người cha cũng được nhưng tôi sẽ rất biết ơn nếu những ý kiến đó là trên quan điểm của cựu tuyển thủ Olympic.” “Hừm.” Hida khịt khịt mũi. “Tôi thấy vận động viên thời nay quá sướng. Chẳng phải thi đấu chính thức gì mà cũng được quay phim thế này. Lại còn đi tu nghiệp ở nước ngoài về nữa. Công ty cũng đã đầu tư đáng kể cho thế hệ này đó.” Yuzuki cười gượng gạo. “Chắc chắn công ty cũng không tiếc gì mà đầu tư cho Kazami vì cô ấy là niềm hy vọng của chúng ta mà. Nhưng ông có lời khuyên nào mang tính chuyên môn, kỹ thuật trượt tuyết không ạ? Sắp tới tôi cũng có hẹn gặp huấn luyện viên Takakura. Lúc đó tôi sẽ truyền đạt lại lời khuyên của ông.” Hida xua tay như thể đuổi con ruồi bay trước mặt. “Cậu tha cho tôi. Cậu là chuyên gia về khoa học thể thao nên quá rõ rồi còn gì. Những kỹ thuật trượt tuyết của hai mươi năm về trước chẳng giúp ích được gì nữa rồi. Với lại chuyện của con gái tôi đã có Takakura lo. Tôi chẳng có điều gì cần nói cả. Cậu có gặp Takakura thì cho tôi gửi lời hỏi thăm ông ấy.” Hida vừa nói đến đây thì Yuzuki tỏ thái độ nghiêm nghị. “Đúng là do sự phát triển của dụng cụ thể thao và luật chơi đã thay đổi nên kỹ thuật trượt tuyết cũng thay đổi hàng năm. Có những lý thuyết của ngày xưa nay đã không còn đúng nữa. Nhưng không có nghĩa tất cả đều thay đổi. Người ta vẫn xỏ hai chân vào hai tấm ván trượt rồi trượt trên tuyết mà thôi. Nếu thử đưa ra lập luận về thể lực có thể đem lại hiệu quả cho những vận động nói trên như thế nào thì hai mươi năm trước cũng như bây giờ chắc chắn không có sự khác biệt gì quá lớn. Mà không, cũng có khi hoàn toàn chẳng có gì khác ấy chứ.” Mời các bạn đón đọc Trứng Chim Cúc Cu Này Thuộc Về Ai của tác giả Higashino Keigo & Nguyễn Hải Hà (dịch).
Kẻ Sống Sót
Cuốn sách bắt đầu với với đoàn khách 13 người tham gia hành trình tham quan bằng khinh khí cầu tại Công viên Quốc gia Northumberland, nước Anh. Nhưng khung cảnh nên thơ chẳng mấy chốc đã nhường chỗ cho cảnh tượng hãi hùng khi các du khách vô tình chứng kiến một gã đàn ông xuống tay sát hại một cô gái trẻ. Bắt đầu từ đây, hung thủ bắt đầu thảm sát toàn bộ hành khách trên khinh khí cầu. Cơn khát máu của hắn chỉ được thỏa mãn đến khi loại bỏ được nhân chứng cuối cùng. "Người phụ nữ này, Jessica Lane, lẽ ra đã chết rồi. Mười một người đã thiệt mạng trong vụ tai nạn đó. Chỉ có Lane chẳng những vẫn sống sót, cô ta còn đang trốn chạy. Cô ta vẫn đang tiếp tục trốn chạy. Vậy nên, tôi muốn biết cô ta sẽ đi đâu; tại sao cô ta lại không liên lạc với ai; Tại sao cô ta không yêu cầu trợ giúp; tại sao cô ta lại cố tình né tránh cảnh sát. Tôi muốn biết cô ta đang trốn chạy khỏi ai; Và hơn tất cả, tôi muốn tìm thấy cô ta!" *** Truyện xảy ra khi Jessica Lane đưa chị gái, xơ – Isabel, đi du lịch bằng khinh khí cầu nhân dịp sinh nhật của xơ. Nhóm hành khách tình cờ chứng kiến một vụ giết người ở trên mặt đất. Kẻ giết người tìm cách giết hết tất cả nhân chứng, ngoại trừ Jessica vẫn sống sót và phải trốn chạy một mình, mang theo bằng chứng có thể buộc tội tên giết người. Liệu cuối cùng, Jessica có trốn thoát được kẻ giết người đó? KẺ SỐNG SÓT Câu chuyện được tác giả viết dưới dạng các chương ngắn chỉ khoảng vài trang tạo cho truyện nhịp điệu gay cấn. Xen kẽ những chương ở thời gian hiện tại là những chương kể chuyện quá khứ, thuật lại những cuộc gặp gỡ của Isabel và Jessica. Từ những chương đó cho thấy một tình cảm chị em gắn bó, sẵn sàng hi sinh mọi thứ vì nhau chỉ vì muốn người còn lại hạnh phúc. Về điên biến truyện có một lượng kha khá plot twist khiến mình đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác đến tận chương cuối cùng. Các nhân vật cũng được tác giả xây dựng tốt. Ngoài nữ chính Jessica -một cô gái can đảm, mạnh mẽ mình còn ấn tượng với Ajax Maldonado – viên cảnh sát với tình yêu dành cho người vợ của mình. Tuy nhiên ở cuốn này, bộ phận cảnh sát có vai trò khá mờ nhạt trong toàn bộ vụ án. Truyện đề cập đến vấn nạn buôn bán người người nghèo, dân di cư để lấy nội tạng bán cho những gia đình có điều kiện. Đáng giận là một số kẻ thực thi pháp luật lại tiếp tay cho những kẻ buôn người đó. Đối lập là tấm lòng của các xơ theo dòng Cát Minh. Nhờ có sự trợ giúp hết mình từ họ mà cuối cùng Jessica cũng hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Điểm: 7,75/10 Đen Đá Không Đường   KẺ SỐNG SÓT – Sharon Bolton Điểm: 4/5  Biết nói sao nhỉ… quyển này thực sự làm mình ngạc nhiên và xúc dộng. Ngoài việc đây là một cuốn sách trinh thám, có điều tra có đủ yếu tố giật gân, hành động, cuốn sách còn đề cập đến tình cảm anh chị em. Trong mỗi trang giấy mình đều cảm nhận được tình cảm này, giữa hai nhân vật Jessica và Isabel, thậm chí còn thể hiện qua hành động của nhân vật phản diện, và mấu chốt toàn bộ vụ án xảy ra cũng vì tình cảm anh chị em trong nhà, kết thúc vụ án được giải quyết cũng là nhờ tình cảm này. Toàn bộ cuốn sách làm mình vô cùng cảm động. Truyện xảy ra khi Jessica đưa chị gái, một bà xơ – Isabel, đi du lịch bằng khinh khí cầu nhân dịp sinh nhật của Isabel. Nhóm hành khách tình cờ chứng kiến một vụ giết người ở trên mặt đất. Kẻ giết người tìm cách giết hết tất cả nhân chứng, ngoại trừ Jessica vẫn sống sót và phải trốn chạy một mình, mang theo bằng chứng có thể buộc tội tên giết người. Đây chỉ là phần mở đầu cho một vụ án còn lớn hơn thế rất nhiều, liên quan đến một đường dây buôn bán nội tạng người bất hợp pháp, lợi dụng dân nhập cư. Cuộc điều tra về tai nạn khinh khí cầu được chỉ huy bởi thanh tra Ajax. Có rất nhiều tình tiết quan trọng được hé lộ trong quá trình điều tra của Ajax, ngoài việc người đọc theo dõi cuộc chạy trốn đầy nguy hiểm của Jessica khi cố gắng lẩn thoát khỏi tên giết người. Hắn có một thế lực khá lớn, và cảnh sát chắc chắn có liên quan. Vì vậy, Jessica đã phải rất cẩn thận để che giấu tung tích của mình. Cô thậm chí còn bị coi là một nghi phạm giết người bị truy nã. Tuy vậy, vì những bằng chứng quan trọng mà cô mạo hiểm mọi thứ để giữ gìn chúng, quyết giấu ở nơi mà cô tin tưởng nhất. Xen kẽ những chương truyện kể ở thời gian hiện tại là những chương kể chuyện quá khứ, thuật lại những cuộc gặp gỡ của Isabel và Jessica. Từ những chương đây, mình biết được mối quan hệ vô cùng thân thiết giữa hai chị em, cô chị Isabel có một quá khứ với người anh trai Ned của họ, và quyết định đi tu, còn Jessica, không đồng tình với quyết định của chị, trở thành một cảnh sát. Dù có những bất đồng nhưng hai người họ vẫn dính chặt vào nhau, thân thiết như hai người bạn vậy. Phải nói là truyện có rất nhiều cú twist bất ngờ mà mình không tài nào ngờ trước được. Mọi tình huống được đưa đẩy đến mức đỉnh điểm, căng thẳng tột cùng. Có những chi tiết mà sau khi đã biết được twist, mình dò lại mới thấy hợp lí đến mức nào. Không có thử thách tài suy luận gì cả, vì các đầu mối đưa ra cũng không quá rõ ràng để thử tài độc giả. Dĩ nhiên có những dấu hiệu báo trước, nhưng mình bị cuốn vào truyện quá, cũng chẳng để ý nó đóng vai trò gì, phải đến lúc đọc qua twist mới để ý những dấu hiệu đó, tại sao tác giả lại quá chú trọng vào chi tiết đó vậy. Đến cuối cùng truyện vẫn có bất ngờ, mà bất ngờ này thì mình chắc chắn là không ai đoán được đâu. Một khía cạnh nữa trong truyện mà mình cần nhắc đến đó là các nữ xơ trong tu viện mà Isabel thề nguyền ở đó. Mình không chỉ cảm động bởi tình cảm chị em ruột thịt mà còn là sự gắn bó chị em giữa các nữ tu. Họ cũng là những người phụ nữ nhỏ bé, im lặng trong tu viện nhưng cuộc sống cùng nhau đã khiến họ trở thành một cá thể độc nhất, không có ai tách ra. Sự đoàn kết của họ đã tạo sức mạnh cho Jessica và Isabel, đi theo Jessica đến cuối truyện và đóng một vai trò không hề nhỏ trong quá trình phá án của Jessica. Toàn bộ câu chuyện mang một màu sắc cảm xúc khó tả, mơ hồ, buồn buồn, lâng lâng, cho dù có những sự gay cấn căng thẳng đó, mình vẫn dễ dàng đọc hết quyển sách mà không phải cảm thấy thần kinh lúc nào căng như dây đàn vậy. Hương Spy *** Thứ Tư, ngày Hai mươi tháng Chín. Chiếc khinh khí cầu lơ lửng giữa không trung trông giống hệt một quả cầu Giáng sinh treo ngược, những đường cong mang theo sọc vằn sặc sỡ của nó phản chiếu vô cùng rõ nét trên mặt hồ. Khi những tia sáng đầu tiên của buổi sớm mai ló rạng, mặt nước ánh lên màu đào chín, một màu vàng nhạt phản chiếu lên các cạnh bên của khinh khí cầu, rồi đến màu hồng đậm chiếu sáng khắp bề mặt khinh khí cầu. Không gian im lìm, tĩnh lặng, không có lấy một ngọn gió nào. Hàng cây dọc theo bãi biển cũng ngừng xào xạc trước khi bình minh ghé đến, và cả mười ba hành khách trên chiếc khinh khí cầu kia đều đứng đó im lìm, không ai nói với ai lời nào. Cả thế giới dường như cũng đang nín thở. Ở phía dưới, đủ xa để các hành khách có thể quan sát được mọi thứ, là một vùng đất hoang vu rộng lớn mọc đầy những cây thạch nam, trực thuộc công viên quốc gia Northumberland. Những bãi cỏ gợn sóng rung rinh trông chẳng khác nào lớp lông của một con thú khổng lồ đang lắc lư tản bộ, những dòng suối tỏa sáng lấp lánh trông hệt như những con rắn bạc đang uốn mình, và mặt trời giống như quả cầu lửa rực cháy đang dần nhô lên trên các ngọn núi cao. Hàng trăm năm qua, khung cảnh nơi đây vẫn cứ bao la và hoang vu như vậy, và chiếc khinh khí cầu kia chính là một cỗ máy thời gian, mang theo mười ba vị khách trở về quá khứ, khi mà khu vực phía bắc xa xôi của nước Anh này vẫn còn rất ít người sinh sống. Ở đó không có những con đường tấp nập, không có những tuyến xe lửa, không có cả các thành trấn hay làng mạc. Cả thế giới dường như trống rỗng, ngoại trừ mười ba hành khách ấy. Như thường lệ, chuyến bay bắt đầu đầy hứng khởi. Giỏ hành khách vuông vắn, rộng rãi và được chia thành bốn khoang riêng biệt để hạn chế hành khách di chuyển quá nhiều trong suốt hành trình, ở trung tâm là vị trí của phi công điều khiển chuyến bay. Tại một trong số các khoang hành khách ấy, có hai người phụ nữ tuổi khoảng hơn ba mươi, một người khoác trên mình bộ trang phục màu đen, người còn lại mặc trang phục màu xanh lục. Tuy họ trông không giống nhau như hai giọt nước, nhưng chắc chắn phải là hai chị em. Người mặc đồ đen khẽ thở ra thành tiếng, nghe không hẳn là một tiếng thở dài, lại cũng không phải là một tiếng rên than. “Chuyến đi này là của chị.” Cô gái mặc trang phục màu xanh lá khẽ mỉm cười. Hai chị em họ chung khoang với một kế toán viên đến từ Dunstable. Vợ và hai con nhỏ của anh ta ở khoang bên cạnh. Phía bên kia khoang lái là ba người đàn ông đang đi nghỉ mát, họ ăn mặc trông chẳng khác nào những chiếc đèn tín hiệu giao thông với các màu đỏ, cam và xanh lá; cùng với một cặp đôi trung niên đến từ Scotland và một nhà báo đã nghỉ hưu. Giỏ hành khách tiếp tục xoay tròn chậm rãi, lững thững trôi qua mặt hồ. Các hành khách trên chuyến hành trình đã có được những trải nghiệm đầy kinh ngạc khi họ vừa cảm nhận được những chuyển động xoay tròn liên tục, lại vừa thưởng thức được bầu không khí ở độ cao này. Bằng cách nào đó mà bầu không khí trên đây có vẻ trong lành và thoáng đạt hơn nhiều so với trên mặt đất. Làn sương sớm lành lạnh nhưng lại không mang đến cho người ta bất kỳ cảm giác khó chịu nào. Không khí như mơn trớn làn da và cứ thế thấm dần vào trong từng lá phổi con người ta theo cách riêng của nó. Cô gái mặc trang phục màu xanh lục, Jessica, tiến đến bên cạnh chị gái mình là cô gái có gương mặt tái nhợt và đang bấu chặt tay vào thành giỏ. Đôi mắt cô chị mở to, nhìn chằm chằm xuống mặt hồ bên dưới như thể đang băn khoăn điều gì đó. Trong đầu Jessica đột nhiên xuất hiện một suy nghĩ đáng sợ nhất, rằng chị gái cô có thể lập tức nhảy ra ngoài. Chỉ trong nháy mắt sau đó, cô lại nghĩ rằng nếu cả hai người cùng nhảy ra có khi sẽ tốt hơn, hoặc giả cái cảm giác một vài giây vừa kinh ngạc lại vừa đau đớn khi va chạm với mặt nước ấy cũng không tệ chút nào. Cái bóng tối nghẹt thở và mát lạnh nơi đáy hồ có thể nhấn chìm họ, hoặc cũng có thể đẩy họ lên trên mặt nước và đưa họ dạt vào bờ. Nếu họ cùng nhảy ra ngay lúc đó, có thể cả hai đều đã còn sống sót rồi. “Thật khó tin, đúng không?” Jessica lên tiếng, vì rất lâu về trước cô đã học được rằng sự sao nhãng đôi khi lại có thể ngăn chị gái cô thực hiện một hành động liều lĩnh nào đó. “Chị có thích nó không? Em không thể hiểu được tại sao trước đây chúng ta lại không làm việc này cơ chứ.” Isabel khẽ mỉm cười, nhưng không lên tiếng, vì cô biết câu trả lời của cô lúc này cũng chẳng có ý nghĩa gì cả. “Thật sự tuyệt vời, phải không? Chị hãy nhìn những màu sắc đó mà xem.” Vẫn không có câu trả lời, nhưng Jessica cũng đã thấy hài lòng hơn khi chị gái mình ngẩng đầu lên nhìn về phía những bụi cây mọc sát cạnh bờ nước. Lúc này, họ chẳng khác nào những quý cô đang trong phòng vũ hội, xoay tròn giữa không gian, chiếc áo choàng của họ phồng lên rồi lại xẹp xuống, xoắn lại với nhau cho đến khi chẳng ai biết được đâu là điểm đầu và đâu là điểm cuối. Ở tít phía xa bên ngoài hàng dãy ngọn cây, những ngọn đồi rực nắng như những viên ngọc quý giá trải dài bất tận. “Chúng ta đang ở phía trên dinh thự Harcourt.” Từ lúc bắt đầu chuyển đi, người điều khiển chiếc khinh khí cầu này vẫn luôn nói chuyện nhẹ nhàng như thế. “Tòa nhà nguyên bản vốn nằm ngay phía trước kia thôi, nhưng nó đã bị cháy rụi vào cuối thế kỷ mười chín rồi.” “Chúng ta có cần lên cao thêm chút nữa không?” Nhà báo về hưu có cái đầu hói và cái bụng phệ cau có nhìn những ngọn cây đang càng lúc càng gần. “Đừng lo lắng, mọi người, tôi có kinh nghiệm rồi mà.” Viên phi công tên Sean có mái tóc đỏ, cao khoảng trên một mét tám mươi khuấy nhẹ không khí bên trên lò đốt và tất cả những ai ở gần anh ta đều cảm nhận được một luồng khí nóng bùng lên ngay trên đầu họ. “Ở khu vực này, tôi thích xuống thấp một chút bởi vì những khu rừng này chính là địa điểm tuyệt vời nhất để xem sóc đỏ tại Northumberland. Còn có cả chim ưng biển nữa, dù năm nay có vẻ chúng xuất hiện muộn hơn.” Mời các bạn đón đọc Kẻ Sống Sót của tác giả Sharon Bolton & Thùy Dương (dịch).
Quỷ Sứ Cũng Phải Dè Chừng
Một vụ hành quyết man rợ trong khu ngoại ô hoang vắng ở Paris đã mở đầu cho một chuỗi những tình tiết được sắp đặt để dẫn tới một thảm họa toàn cầu, khi trào lưu của thứ ma túy chết người đe dọa nhận chìm nước Anh những năm sáu mươi; một chiếc máy bay dân dụng của Anh bị mất tích trên vùng trời Iraq và tiếng sấm của cuộc chiến tranh đang vang rền khắp vùng Trung Đông... Bond đã tìm thấy kẻ đồng lõa tự nguyện trong dáng hình của một phụ nữ Paris xinh đẹp và quyến rũ tên là Scarlett Papava. Chàng sẽ phải cần tới mọi sự trợ giúp của nàng trong trận đấu sinh tử với kẻ thù nguy hiểm nhất - đó là kẻ luôn sẵn lòng nhảy múa với cả quỷ sứ. Bond đã trở lại. Cùng sự báo thù Phiên bản mới này là phần tiếp theo đầy uy lực của di sản James Bond - một chương mới rất giật gân trong cuộc đời của một điệp viên hình tượng nhất trong văn học và phim ảnh. "Việc một người viết tiểu thuyết tầm cỡ như Faulks, chứ không phải ai khác, mang vào mình chiếc áo khoác của Fleming là sự tôn kính phù hợp nhất đối với một trong những nhà văn vĩ đại nhất của nước Anh chuyên viết về đề tài li kì và giật gân." Ben Macintyre - The Times *** Loạt tác phẩm James Bond xoay quanh một nhân vật mật vụ người Anh hư cấu, được sáng tạo bởi nhà văn Ian Fleming vào năm 1953. Fleming đã khắc họa Bond trong 12 cuốn tiểu thuyết và 2 tuyển tập truyện ngắn. Sau khi ông qua đời vào năm 1964, đã có tám tác giả tiếp tục viết tiếp các tác phẩm tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết chuyển thể về James Bond, bao gồm: Kingsley Amis, Christopher Wood, John Gardner, Raymond Benson, Sebastian Faulks, Jeffery Deaver, William Boyd và Anthony Horowitz. Forever and a Day của Anthony Horowitz, xuất bản vào tháng 5 năm 2018, là cuốn tiểu thuyết James Bond mới nhất. Ngoài ra, có thể kể đến loạt truyện viết về Bond thời trẻ của Charlie Higson hay Kate Westbrook với bộ ba tiểu thuyết dựa trên cuốn nhật ký của Moneypenny, một nhân vật từng xuất hiện trong loạt truyện. Nhân vật James Bond còn được biết tới với mã tên 007, được chuyển thể rộng rãi thành các tác phẩm truyền hình, phát thanh, truyện tranh, trò chơi điện tử và phim ảnh. Loạt phim về James Bond hiện đang là loạt phim liên tục dài nhất mọi thời đại và thu về tổng doanh thu 7.04 tỉ đô la Mỹ, trở thành loạt phim có doanh thu cao thứ sáu lịch sử. Nó được khởi đầu vào năm 1962 bằng phần phim Dr. No với ngôi sao Sean Connery trong vai Bond. Tính tới năm 2020, loạt phim do Eon Productions sản xuất đã có 24 phần. Spectre (2015) là bộ phim James Bond gần nhất, có sự tham gia diễn xuất của Daniel Craig với lần thứ tư anh thủ vai mật vụ Bond trong loạt phim của Eon. Ngoài ra, còn có hai tác phẩm độc lập: Casino Royale (một phiên bản giễu nhại ra mắt năm 1967, với sự tham gia của David Niven) và Never Say Never Again (bản làm lại bộ phim do Eon sản xuất trước đó của Thunderball, ra mắt năm 1965, cả hai bản đều có sự tham gia của Connery). Năm 2015, với trị giá ước tính 19.9 tỷ đô la Mỹ, James Bond trở thành một trong những thương hiệu truyền thông có doanh thu cao nhất từ trước tới nay. Các bộ phim về Bond nổi tiếng bởi một số điểm đặc trưng, như phần nhạc đệm với các bài hát chủ đề đã nhiều lần được đề cử Oscar và chiến thắng hai lần. Vài yếu tố xuyên suốt quan trọng khác bao gồm những chiếc xe hơi của Bond, các khẩu súng của anh và những thiết bị mà anh được Q Branch cung cấp. Mỗi phần phim cũng chú ý khắc họa mối quan hệ của Bond với nhiều phụ nữ khác nhau, đôi khi được gọi là các "Bond girl". *** Đó là một buổi tối lạnh lẽo ở Paris. Mưa vẫn không ngừng rơi lộp độp trên mái ngói đá đen của những tòa nhà dọc theo những đại lộ và cả trên những căn nhà nhỏ hai mái ở khu Latin. Phía ngoài khách sạn Crillon và khách sạn George 5, nhân viên gác cửa đang huýt gọi những chiếc taxi đến từ trong màn đêm, rồi hối hả chạy tới giương dù che cho những người khách mặc áo lông thú khi họ bước lên xe. Cả một khoảng không bát ngát của quảng trường Concorde ẩn hiện lấp lánh mờ ảo trong cơn mưa ào ạt. Ở khu Sarselles, một vùng xa phía bắc ngoại ô, Yusuf Hashim đang trú mưa trên hè đường. Trên đầu hắn không phải là mái vòm duyên dáng của cây cầu số Chín, nơi các cặp tình nhân đang túm tụm trú mưa, mà là một mảng bê-tông dài của chiếc ban-công với những cánh cửa rẻ tiền gắn đầy then, mở vào những căn hộ ba phòng cáu bẩn của khu nhà mười tám tầng nhìn xuống một phần đông đúc của quốc lộ N1. Được kiến trúc sư đặt tên là Cầu vồng, song khu nhà được coi là một chốn đáng sợ, ngay cả khi nó tọa lạc trong cái quận khét tiếng này. Sau sáu năm trời chiến đấu chống lại quân Pháp ở Algeria, cuối cùng Yusuf Hashim cũng bỏ chạy. Hắn trốn đến Paris và tìm được một chỗ ở Arc en Ciel, nơi ba người anh em của hắn sẽ cùng tụ họp vào một lúc thích hợp. Người ta nói rằng chỉ những kẻ sinh ra ở những khu nhà gớm ghiếc mới có thể không do dự khi du thủ du thực, ấy thế mà Hashim lại chẳng sợ ai. Hắn đã bắt đầu chuyến liều mạng đầu tiên khi làm việc cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria (FLN), lúc mới mười lăm tuổi đầu, bằng vụ đánh bom lửa một trạm bưu điện. Suốt thời gian ở Bắc Phi hoặc ở Paris, hắn chưa hề gặp một ai lại coi cuộc đời độc thân quá giá trị cả. Cuộc đua luôn dành cho kẻ mạnh, và thời gian đã chứng tỏ Hashim cũng mạnh mẽ như ai. Hắn bước ra ngoài trời mưa, mau lẹ liếc trước liếc sau. Dưới ánh đèn trắng nhạt, khuôn mặt rỗ màu xám nâu với chiếc mũi khoằm to tổ bố nhô ra giữa hai hàng lông mày đen của hắn trông đầy thận trọng. Hắn vỗ nhẹ vào túi sau của chiếc quần lao động màu xanh, nơi có 25.000 đồng franc mới, gói kĩ trong bao xốp. Từ trước đến giờ, đây là món tiền lớn nhất hắn từng giao dịch, do vậy tuy đã từng trải, hắn cũng thấy phải cẩn trọng. Giấu mình trong bóng tối, hắn liếc nhìn năm sáu lượt xuống chiếc đồng hồ đeo tay. Hắn không bao giờ biết mặt người mà hắn đang đợi vì chẳng bao giờ hắn gặp lại họ lần thứ hai. Đó là một phần xuất sắc của mưu đồ: sau mỗi phi vụ phải dứt điểm ngay với nguồn cung cấp vô tận của đám buôn lậu. Hashim cố gắng giữ an toàn đều đặn trong khi chuyển hàng. Hắn luôn nài nỉ phải thay đổi địa điểm và yêu cầu gặp người giao dịch mới, thế nhưng không phải lúc nào cũng được như ý. Các biện pháp thận trọng thì tốn tiền, và mặc dù đám bạn hàng của Hashim khá liều mạng, song chúng lại hiểu rõ giá trị đường phố về những gì chúng giao dịch. Chẳng kẻ nào trong đường dây lại có thể kiếm đủ tiền để hoạt động một cách tuyệt đối an toàn, chắc chắn chẳng có ai, ngoại trừ một vài gã gộc nhất, đầy quyền lực kiểm soát, đang ở cách xa hàng ngàn dặm cái chỗ hôi thối trong lòng cầu thang, nơi hắn đang đứng. Mời các bạn đón đọc Quỷ Sứ Cũng Phải Dè Chừng của tác giả Sebastian Faulks & Nguyễn Việt Hải (dịch).