Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Robin Hood Chúa Trộm Oai Hùng

Alexandre Dumas - một tên tuổi rất thân thuộc với bạn đọc Việt Nam qua các tiểu thuyết : Bá tước Môngto Crixto , Hai mươi nǎm sau, Ba người lính ngự lâm  Robin Hood - Chúa trộm oai hùng, diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử nước Pháp vào những nǎm 1160.  Với ngòi bút linh hoạt và sức tưởng tượng hết sức phong phú, Alexandre Dumas đã hấp dẫn người đọc qua những tình tiết hết sức bất ngờ, hồi hộp, hấp dẫn, lý thú, pha chút châm biếm khi miêu tả nhân vật chính - người anh hùng Robin Hood.  *** Dưới triều đại vua Henry đệ nhị, vào năm Gia-tô kỷ nguyên 1162: một buổi chiều, hai khách du hành, quần áo vấy bẩn vì đường trường, vẻ mặt tiều tuỵ vì mệt mỏi, đi qua những lối nhỏ của khu rừng Sherwood, trong lãnh địa bá tước Nottingham. Không khí giá lạnh; cây cối mới bắt đầu trổ lá xanh phớt tháng Ba, rung nhẹ trong làn gió bấc cuối cùng của mùa đông, một lớp sương mù ảm đạm tràn lan khắp vùng trong lúc những tia nắng tà tắt lịm trong những đám mây đỏ tím ở chân trời. Chẳng bao lâu bầu trời mù mịt tối tăm, những cơn gió lạnh lướt qua khu rừng, báo trước một đêm dông tố. Người tuổi tác hơn trong hai khách du hành trùm kín mình trong chiếc áo choàng, nói: — Này Ritson, gió thổi dữ lắm, mi có sợ rằng ta sẽ gặp bão trước khi tới nơi không? Chúng ta có thực đi đúng đường không? Ritson đáp: — Thưa các hạ, chúng ta đang tiến thẳng tới đích: nếu tôi không nhớ sai, thì một tiếng nữa chúng ta sẽ gõ cổng nhà người gác rừng. Hai người khách lạ im lặng bước đi trong ba khắc đồng hồ. Người mà bạn đồng hành xưng là các hạ bồn chồn lớn tiếng hỏi: — Chúng ta sắp tới nơi chứ? — Thưa các hạ, mười phút nữa thôi. — Được, nhưng cái người gác rừng mà mi gọi là Head đó có đáng để ta tin cậy không? — Hoàn toàn đáng tin, thưa các hạ, Head, anh rể tôi, là người thô lỗ, thực thà, ngay thẳng; anh ta sẽ kính cẩn lắng nghe cái câu chuyện kỳ lạ do Đức Ông bày đặt ra, anh ta sẽ tin ngay; anh ta chẳng biết thế nào là nói dối, cũng chẳng biết ngay cả ngờ vực là gì nữa. Kìa, thưa các hạ, - Ritson ngừng khen ngợi người gác rừng vui vẻ kêu lên, - xin hãy trông phía dưới kia làn ánh sáng phản chiếu nhuộm màu cây cối, nó tỏa ra từ căn nhà của Gilbert Head đấy! Hồi còn trẻ, mỗi buổi chiều khi chúng tôi đi săn mệt mỏi trở về, biết bao lần tôi đã sung sướng vui chào vì tinh tú này của gia đình! Ritson đứng im lặng mơ màng, mắt đăm đăm cảm động nhìn làn ánh sáng chập chờn, nhắc nhở y những kỷ niệm dĩ vãng. Nhà quí tộc chẳng để ý gì đến nỗi xúc động của tên đầy tớ, cất tiếng hỏi: — Thằng bé ngủ à? Ritson, vẻ mặt tức thời trở lại hoàn toàn hờ hững, trả lời: — Dạ, thưa các hạ, nó ngủ say lắm. Tôi thực không hiểu sao Đức Ông lại phải nhọc lòng giữ gìn mạng sống của một đứa bé có hại cho quyền lợi của ngài đến thế. Nếu ngài muốn dứt bỏ hẳn thằng bé đó đi, thì tại sao ngài lại không đâm cho nó một nhát dao vào tim? Tôi xin tuân lệnh ngài, xin ngài cứ nói đi. Để thưởng tôi, xin ngài hãy hứa viết tên tôi vào tờ di chúc của ngài, và thế là thằng bé ngủ khì kia sẽ chẳng bao giờ thức dậy nữa. — Mi im đi, - nhà quí tộc bỗng nhiên nói tiếp, - ta không thích cái chết của thằng bé vô tội này. Ta có thể sợ sau này sẽ có ngày bị tiết lộ ra, nhưng ta thà phải lo âu về nỗi sợ hãi đó còn hơn là phải ăn năn cắn rứt vì tội ác. Vả chăng, ta có lý do để hy vọng và ngay cả tin tưởng rằng tấm màn bí mật bao trùm lên sự ra đời của đứa bé này sẽ chẳng bao giờ bị vén lên cả. Nếu như có sự xảy ra khác thế, thì đó chỉ có thể là công trình của mi thôi, Ritson ạ; ta đoán chắc với mi rằng suốt đời ta lúc nào cũng nghiêm ngặt canh chừng các hành vi, cử động của mi. Dù được nuôi nấng như một gã quê mùa, thằng bé này sẽ không phải chịu cảnh tầm thường của thân phận mình, trong thân phận này nó sẽ tự tạo cho mình một hạnh phúc hợp với các sở thích và thói quen của nó, và nó sẽ chẳng bao giờ phải tiếc cái tên họ và tài sản mà nay nó bị mất đi mà không hề biết. — Mong sao các hạ được toại nguyện! - Ritson lạnh lùng đáp; - nhưng thực ra thì mạng sống của một đứa bé oắt như thế này chẳng đáng để ta phải nhọc nhằn đi từ Huntingdonshire đến Nottinghamshire. Cuối cùng hai khách du hành đặt chân xuống đất trước một ngôi nhà xinh đẹp giống như một cái tổ chim ẩn náu trong đám rừng rậm. — Anh ơi! Anh Head ơi! - Ritson kêu to bằng một giọng vui vẻ, sang sảng, - anh ơi! Mở cửa mau lên; mưa dữ quá, đứng đây tôi trông thấy ánh lửa cháy hồng trong lò sưởi của anh. Mở cửa ra, có người bà con xin được tiếp đãi đây. Bầy chó sủa vang ở phía trong nhà, người gác rừng thận trọng thoạt tiên đáp: — Ai gõ đó? — Một người bạn. — Bạn nào? — Roland Ritson, em anh đây. Mở cửa ra, anh Gilbert. — Cậu đấy à, có phải Roland Ritson, ở Mansfeld không? — Phải, phải, chính em đây, em của chị Marguerite. Nào, anh mở ra chứ? - Ritson bồn chồn nói thêm; - anh em mình sẽ trò chuyện ở bàn ăn. Sau cùng cửa mở ra, hai người khách bước vào. Gilbert Head thân mật bắt tay em rể, rồi lễ phép chào nhà quí tộc: — Thưa ngài kỵ sĩ, tôi rất hân hạnh được tiếp đón ngài. Xin ngài thứ lỗi cho: vừa đây tôi đã thất lễ, để cho cửa đóng giữa ngài và gia đình tôi. Chỗ này hẻo lánh, lại thêm bọn đạo tặc lảng vảng trong rừng, bắt buộc tôi phải thận trọng, bởi vì muốn thoát khỏi hiểm nghèo mà chỉ có dũng cảm và sức mạnh thôi thì không đủ. Thưa quí khách, ngài hãy nhận cho lời tạ lỗi của tôi, và hãy xem nhà tôi đây như nhà của ngài vậy. Mời ngài đến ngồi bên lò sưởi cho khô quần áo, tôi bảo người đi chăm lo cho ngựa của ngài. Lincoln ơi! - Gilbert mở hé cửa phòng bên nói to, - hãy dắt ngựa của quí ngài đây đến nhà kho, vì chuồng nhỏ quá không đủ chỗ tiếp nhận, đừng để chúng thiếu gì cả nhé: bỏ cỏ khô cho đầy máng, chất rơm cho thật nhiều vào. Một gã quê bận y phục kiểm lâm tức thì xuất hiện, bước qua phòng, rồi đi ra ngoài chẳng hề tò mò đưa mắt nhìn các người mới tới; sau đó một phụ nữ xinh đẹp, trạc ba mươi tuổi, đến đưa tay và trán cho Ritson hôn. — Chi Marguerite! Chị thân yêu! - Ritson kêu to, vừa vuốt ve vừa trông ngắm người chị với một niềm thán phục hồn nhiên pha lẫn kinh ngạc; - chị chẳng có chi thay đổi cả, vẫn vầng trán thanh khiết, vẫn cặp mắt sáng chói, môi và má vẫn tươi hồng như độ nào anh Gilbert theo tán tỉnh vậy. — Đó là vì chị sung sướng đấy, - Marguerite đưa mắt dịu dàng nhìn chồng đáp lời. — Em có thể nói: chúng tôi sung sướng, em Maggie ạ, - người gác rừng trung thực nói thêm. - Nhờ em vui tính, nên nhà ta chưa hề có dỗi hờn, cãi lộn. Nhưng về chuyện đó nói thế là đủ rồi, ta phải nghĩ đến khách chứ… Nào! Cậu em, hãy cởi áo choàng ra, còn ngài kỵ sĩ, xin hãy giữ hết nước mưa đầm đìa trên y phục giống như giũ hạt sương mai đọng trên lá cây. Rồi chúng ta dùng bữa tối. Lẹ lên, em Maggie, bỏ vào lò một hai bó củi, bày lên bàn những món ăn ngon, trải lên giường những tấm khăn trắng nhất; lẹ lên, em. Trong khi người thiếu phụ mau mắn làm theo lời chồng, Ritson hất áo choàng xuống phía sau, để lộ ra một đứa bé xinh đẹp bọc trong một chiếc áo lông xanh. Đứa bé mới mười lăm tháng, khuôn mặt tròn trăn, đỏ tươi, báo trước một sức khỏe hoàn toàn và một thể chất tráng kiện. Khi Ritson đã cẩn thận vuốt thẳng những nếp nhàu trên mũ của đứa bé, y đặt cái đầu nhỏ xinh của nó xuống dưới một tia ánh sáng, làm nổi bật lên tất cả vẻ đẹp, rồi nhẹ nhàng gọi chị. Marguerite chạy mau đến. — Chị Maggie, - Ritson nói, - em có một món quà tặng chị, để chị khỏi trách em là trở về với hai bàn tay trống không sau tám năm trời vắng mặt… Nào, chị hãy nhìn xem cái em đem tới cho chị đây. — Lạy thánh bà Marie! - Người thiếu phụ chắp tay lại kêu lên, - lạy thánh bà Marie, một thằng bé! Nhưng mà, cậu Roland, có phải chú thiên thần xinh đẹp này là của cậu không? Anh Gilbert, anh Gilbert, hãy lại đây mà xem một thằng bé đáng yêu quá.. — Một thằng bé! Một thằng bé trong tay Ritson à! - Không phấn khởi như vợ, Gilbert đưa mắt nghiêm khắc nhìn về phía em vợ, trầm giọng nói. - Này cậu, từ khi hết làm lính cậu đã thành người nuôi con nít ư? Sao mà kỳ cục vậy, chạy rông khắp đồng quê với đứa bé bọc trong tấm áo choàng! Thế là nghĩa lý gì kia chứ? Tại sao cậu lại đến đây? Thằng bé này là thế nào? Cậu hãy nói đi, hãy nói thực, tôi muốn biết tất cả mọi chuyện. — Thằng bé này không thuộc về tôi, anh Gilbert ạ; nó mồ côi, vị quí tộc đây mới là người bảo hộ nó. Đức Ông quen biết gia đình chú thiên thần này, ngài sẽ nói anh biết vì sao, chúng tôi tới đây. Này chị Maggie, trong lúc chờ đợi, xin chị hãy nhận cho cái của báu này, nó trĩu nặng trên cánh tay em từ hai ngày… tức là hai giờ. Em chán cái vai trò vú em này lắm rồi. Marguerite hăm hở giật lấy thằng bé đang ngủ, đem vào phòng mình, đặt lên giường, hôn tới tấp lên tay và cổ, bọc ấm trong tấm áo choàng đẹp mặc trong dịp lễ, rồi trở lại chỗ khách ngồi. Bữa ăn tối trôi qua vui vẻ; lúc cuối bữa, nhà quí tộc nói với người gác rừng: — Bà nhà rất khả ái, tỏ ra quan tâm tới thằng bé này, vì vậy tôi quyết định đưa ra với ông một đề nghị dính dáng với hạnh phúc tương lai của ông. Nhưng trước hết, xin cho phép tôi được trình bày ông rõ một số chi tiết đặc biệt về gia đình, sự sinh ra và thân phận hiện nay của đứa trẻ mồ côi khốn khổ mà tôi là người bảo hộ độc nhất. Cha nó là bạn đồng ngũ cũ của tôi trong thời niên thiếu, giữa nơi doanh trại; ông là bạn tốt và thân nhất của tôi. Khoảng đầu triều đại đức vua Henry đệ nhị, chúng tôi cùng đóng với nhau tại Pháp, khi thì ở Normandie, khi thì ở Aquitaine, khi thì ở Poiton; sau mấy năm cách biệt, chúng tôi gặp lại nhau trong xứ Galles. Anh bạn tôi, trước khi rời Pháp, có yêu say đắm một thiếu nữ, đã cưới rồi đem cô ta về Anh ở với gia đình mình. Chẳng may gia đình này lại thuộc một chi phái của một nhà vương giả, vốn tự hào, kiêu hãnh, đây óc thành kiến, không chịu thâu nhận người thiếu phụ đó, cô ta thì nghèo, chỉ có sự cao quí về tình cảm mà thôi. Sự sỉ nhục đó đập mạnh vào tim cô ta, cô ta chết tám ngày sau khi cho ra đời đứa bé mà tôi muốn cậy ông coi sóc; nó không còn cha nữa, vì anh bạn khốn khổ của tôi đã bị thương vong trong một trận chiến ở Normandie, nay đã mười tháng. Những ý nghĩ của bạn tôi lúc sắp chết là hướng về đứa con trai, anh ta kêu tôi đến, vội vàng cho tôi biết tên và địa chỉ của bà vú nuôi đứa bé, rồi yêu cầu tôi nhân danh tình thâm giao của chúng tôi mà nhận làm chỗ nương tựa, người bảo hộ cho đứa con côi. Tôi thề và tôi giữ lời thề, nhưng sứ mạng của tôi thực khó nhà làm trọn vẹn, thưa ông Gilbert, tôi còn là quân nhân, sống trong doanh trại hoặc ngoài chiến trường, không thể tự mình trông nom đứa bé yếu ớt này được. Về mặt khác, tôi không có bà con, bè bạn nào để có thể gửi gắm báu vật này mà không sợ cả. Tôi không còn biết khấn vái thần thánh nào nữa, thì một ý nghĩ chợt đến với tôi là nên hỏi Roland Ritson, là em vợ ông: anh ta tức thì nghĩ ngay đến ông, anh ta nói với tôi rằng, đã tám năm rồi xe duyên với một người vợ đức hạnh, đáng kính, ông vẫn chưa có được hạnh phúc làm cha, chắc chắn ông sẽ vui lòng đón nhận vào dưới mái nhà một trẻ mồ côi khốn khổ, con trai của một quân nhân dũng cảm. Nếu như Chúa ban cho đứa bé này mạng sống và sức khỏe, nó sẽ là người sống kề cận tôi trong lúc tuổi già; tôi sẽ kể lại cho nó nghe câu chuyện đau buồn và vẻ vang của đấng sinh thành ra nó; tôi sẽ dạy nó bước đi vững chắc trong cùng những nẻo đường mà chúng tôi, người cha oai dũng của nó và tôi, đã bước đi. Trong khi chờ đợi, xin ông nuôi nấng thằng bé giống như nó là con ông, mà ông sẽ chẳng phải nuôi nấng không công đâu, tôi xin đoan quyết với ông như vậy. Thưa ông Gilbert, xin ông hãy trả lời: ông có chấp nhận đề nghị của tôi không? Nhà quí tộc lo âu chờ đợi lời đáp của người gác rừng. Người gác, trước khi giao ước, đưa mắt nhìn vợ dò hỏi; nhưng bà Marguerite xinh đẹp ngoảnh đầu đi rồi, nghiêng cổ hướng về phía phòng bên, bà tươi cười lắng nghe tiếng đứa bé thở thì thào nhỏ nhẹ. Ritson, lén liếc mắt nhận xét về mặt của đôi vợ chồng, biết rằng chị mình đã sẵn lòng giữ đứa bé, mặc dầu Gilbert còn do dự, liền nói bằng giọng thuyết phục: — Tiếng cười của chú thiên thần này sẽ tạo nên niềm vui của gia đình chị, chị Maggie hiền hòa ạ. Lạy thánh Pierre! Tôi đoan chắc với chị như vậy, chị sẽ còn được nghe một thứ tiếng nữa cũng chẳng kém vui đâu, đó là tiếng những đồng ghi-nê mà Đức Ông đây hàng năm sẽ rót vào tay chị. Chà! Tôi trông thấy chị đã giàu có và luôn luôn sung sướng, dắt tay thằng bé xinh đẹp này trong các cuộc hội hè trong vùng, nó sẽ gọi chị là mẹ: nó sẽ ăn vận giống như một ông hoàng, sáng chói như vầng thái dương, còn chị thì rạng rỡ vì vui thú và kiêu hãnh. Marguerite không trả lời gì cả, nhưng nhìn Gilbert mà cười. Gilbert thì lặng lẽ, khiến cho nhà quí tộc hiểu lầm. Ông chau mày nói: — Thế nào, ông Gilbert, ông do dự sao? Đề nghị của tôi không vui lòng ông ư? — Xin lỗi ngài, đề nghị của ngài khiến tôi rất vui, chúng tôi sẽ giữ chú bé này, nếu như Maggie không thấy có chi trở ngại. Mình ơi, em nghĩ gì cứ nói ra, ý em sẽ là ý anh. — Vị quân nhân dũng cảm này có lý lắm, - thiếu phụ đáp; - ngài không thể nào nuôi nấng chú bé này được. — Thế thì sao? — Thì sao ư? Em sẽ là mẹ nó, chứ còn sao nữa. - Rồi hướng về phía nhà quí tộc, bà nói thêm: - Nếu một ngày nào đó ngài muốn lấy lại cậu con nuôi này, chúng tôi sẽ đau lòng mà trả lại ngài, nhưng chúng tôi sẽ tự an ủi dẫu rằng mất nó, vì nghĩ rằng từ đây được gần ngài, nó sẽ sung sướng hơn là ở dưới mái nhà tầm thường của một kẻ gác rừng nghèo khổ. — Lời của vợ tôi là một cam kết, - Gilbert nói tiếp, - còn về phần tôi, tôi thề coi sóc chú bé này và làm cha của nó. Thưa ngài kỵ sĩ, đây là bảo chứng cho lòng thành tín của tôi. Ông rút một chiếc bao tay ở thắt lưng ra, ném lên mặt bàn. Nhà quí tộc cũng ném một chiếc bao tay lên bàn, trả lời: — Thành tín đáp lại thành tín, bao tay đền lại bao tay. Bây giờ cần phải thỏa thuận về khoản tiền ăn ở của thằng bé. Nào, ông hãy cầm lấy số tiền này; hàng năm ông sẽ nhận được bằng ngần ấy. Rút từ phía dưới tấm áo ngắn ra một túi da nhỏ đựng đầy tiền vàng, nhà quí tộc cố gắng đặt túi đó vào tay người gác rừng. Nhưng ông ta từ chối không nhận. — Xin ngài hãy giữ lại số vàng này; bánh mì và những cái vuốt ve của Marguerite thì không bán đâu. Một lát lâu sau cái túi da nhỏ từ tay Gilbert được đưa trả lại nhà quí tộc. Cuối cùng người ta điều đình rồi đồng ý, theo đề nghị của Marguerite, là số tiền ăn ở được trả hàng năm cho đứa bé sẽ được để vào một nơi chắc chắn, để rồi sẽ trao lại cho nó khi đến tuổi trưởng thành. Sự việc đã được dàn xếp vừa lòng tất cả, mọi người chia tay nhau, đi ngủ. Rạng sáng hôm sau, Gilbert trở dậy, thèm thuồng ngắm những con ngựa của khách; Lincoln đang bận chải ngựa. Gilbert nói với người đầy tớ: — Con vật đẹp ơi là đẹp! Chẳng ai tin là chúng vừa mới rong ruổi suốt hai ngày trời, vì chúng tỏ ra còn mạnh mẽ lắm. Lạy Chúa! Chỉ có các ông hoàng mới được cưỡi những con tuấn mã như thế này, hẳn là chúng phải đáng giá cả khối bạc to sụ như hai con ngựa của ta. Nhưng mà ta đã quên khuấy mất chúng, những bạn đồng hành khốn khổ này! Máng cỏ của chúng chắc là trống không. Thế rồi Gilbert bước vào chuồng ngựa. Chuồng vắng tanh vắng ngắt. — Sao thế này, chúng không còn ở đây. Ôi! Lincoln ơi, mày đã dắt ngựa ra đồng cho ăn cỏ phải không? — Thưa ông chủ, không. — Thực lạ lùng quá, - Gilbert nói lẩm bẩm; rồi xúc động vì một dự cảm thầm kín, ông chạy xông vào phòng của Ritson. Ritson không có mặt tại đây. Nhưng có lẽ cậu ta đã đi đánh thức ngài quí tộc, Gilbert bụng bảo dạ như vậy trong khi bước sang phòng của vị kỵ sĩ. Phòng này vắng tanh. Marguerite bế thằng bé mồ côi xuất hiện. Gilbert , kêu lên: — Mình ơi, ngựa của ta biến mất rồi! — Làm sao lại có thể thế được! … — Họ đã cưỡi ngựa của ta đi, mà bỏ ngựa họ lại cho chúng ta. — Nhưng vì sao họ lại bỏ ta mà ra đi như vậy kia chứ? — Hãy đoán xem, Maggie ạ, anh chẳng biết gì cả về chuyện này. — Có lẽ họ muốn giấu không cho ai biết họ đi hướng nào. — Thế thì có lẽ họ đã làm điều chi xấu xa phải tự trách mình chăng? — Họ không muốn cho ta biết trước họ lấy ngựa ta thế cho ngựa mệt lử của họ. — Không phải thế đâu: không ai cho là ngựa của họ đã đi tám ngày, vì sáng nay chúng còn tỏ ra lanh lẹ, mạnh mẽ lắm. — Kỳ lạ quá! Thôi đừng nghĩ đến nữa! Nào, hãy ngắm xem thằng bé xinh đẹp biết bao, đang cười kia kìa. Hãy hôn nó đi. — Rất có thể là vị quí tộc không quen biết đó vì muốn đền ơn ta nên đã đổi hai con ngựa đáng giá của ông ta lấy hai con ngựa già khọm của mình. — Có lẽ thế; vì sợ mình từ chối, ông ta đã ra đi trong lúc mình còn ngủ. — Ừ! Nếu quả là như vậy, tôi xin hết lòng cảm tạ ông ta; nhưng tôi chẳng hài lòng về cậu Ritson chút nào, cậu ta phải chào mình mới phải. — Ồ! Thế ra anh không biết, từ khi cô Annette, em gái khốn khổ của anh, vợ chưa cưới của cậu ta, chết đi, Ritson xa lánh vùng này hay sao? Cái cảnh hạnh phúc của vợ chồng mình sẽ gợi lại nỗi khổ của cậu ta. Gilbert thở dài thườn thượt đáp: — Em nói đúng. Annette đáng thương! Marguerite nói tiếp: — Trong vụ này phiền nhất là chúng ta không có cả họ tên, lẫn địa chỉ của vị bảo hộ thằng bé đó. Nếu nó bệnh, thì ta biết báo cho ai? Còn nó nữa, chúng ta sẽ gọi làm sao đây? — Hãy chọn tên cho nó, Marguerite ạ. — Anh hãy tự mình chọn lấy đi, Gilbert; nó là con trai, thì việc này là thuộc phần anh. — Ừ! Nếu em thích, chúng ta sẽ cho nó tên của người anh mà anh đã rất yêu mến; anh không thể nghĩ đến Annette mà không tưởng nhớ đến anh Robin bất hạnh. — Được rồi, thế là nó được đặt tên, và đây là thằng Robin dễ thương của chúng mình! Marguerite vừa nói to vừa phủ đầy những nụ hôn lên mặt đứa bé, nó cười với bà ta như thể bà Marguerite hiền hòa kia là mẹ sinh ra nó. Như vậy là đứa trẻ mồ côi ấy được đặt tên là Robin Head. Sau này, không hiểu vì sao, tiếng Head được đổi thành Hood, và đứa bé xa lạ này lừng lẫy tiếng tăm dưới cái tên Robin Hood. Một thứ tiền tệ xưa của nước Anh. Mời các bạn đón đọc Robin Hood Chúa Trộm Oai Hùng của tác giả Alexandre Dumas & Cao Xuân Hạo (dịch) & Trần Hoàng Ly (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Cha Im Lặng
"Những giọt nước mắt mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy chảy trên má của cha mẹ tôi tạo nên hôm nay một chiếc cầu giữa hiện tại và quá khứ, giữa con người mà họ đang là hiện nay và con người mà họ đã từng là trước đây, giữa nước Pháp và nước Việt, hai quê hương của họ." Người cha im lặng - Doan Bui là quyển tự truyện phác họa lại hành trình đặc biệt của một gia đình người Việt sinh sống ở Pháp, sau khi người cha mất đi giọng nói vì một cơn tai biến mạch máu não. Chuyến hành trình này không chỉ giúp những người con lần tìm lại quá khứ của người cha, tìm về nguồn cội cũng như khám phá ra những bí mật "động trời" của gia đình, mà còn hòa giải được những xung đột rất đời thường, những bất đồng ngôn ngữ và văn hóa giữa các thế hệ trong cùng một gia đình người Việt xa xứ.​ *** Một đêm tôi mơ thấy giọng nói của cha tôi. Tôi đang cầm điện thoại. Ban đầu, tôi không nghe thấy gì cả. Chỉ thoáng một hơi thở, vài tiếng lạo xạo ở đường dây. “A lô, cha đấy phải không?”. Chính vào lúc ấy thì giọng nói xuất hiện chẳng rõ từ đâu, mơ hồ, xa xôi. Tôi đã lo là cuộc nói chuyện sẽ bị ngắt. Tôi dỏng tai về phía giọng nói ấy, nó thật nhỏ và rè rè như thể phát ra từ một sóng radio nghe trộm. Giọng của cha tôi, tôi biết, một thứ giọng phát âm từ trong họng được chuyển thành trầm mỗi khi nói tiếng Pháp, như kiểu một ca sĩ có giọng nam trung cố hát những nốt nhạc thấp nhất. Nó còn trở nên xa lạ hơn nữa khi bị làm méo đi bởi chiếc máy thu âm mà cha dùng để đọc những bản báo cáo trong phòng thí nghiệm phân tích y khoa nơi ông làm việc: Khối u trung mô, khối u trung biểu mô, nhiều tế bào bướu ác xuất phát từ tuyến có hạch nhân, có sẵn tế bào chất khoang nước. Lúc nói tiếng Việt, giọng cha tự nhiên hơn. Nhưng vẫn khiến tôi hoang mang. Cha nói giọng Bắc. Tôi thì lại quen với giọng của mẹ tôi, bà ngoại tôi, các dì tôi, với cách phát âm du dương và từ trong mũi của người Nam. Tôi có cảm giác ngôn từ phát ra từ miệng cha rơi xuống giống như những viên đá cuội có hình thù kỳ lạ và sắc nhọn. Cha ấy à, trong nhà chúng tôi nghe thấy cha từ xa. Tiếng ho suyễn và tiếng của chai xịt chống hen Ventoline thường đến để đệm vào ngôn từ của cha như mô-típ lặp đi lặp lại bướng bỉnh của một bản giao hưởng. Trong giấc mơ ấy của tôi, tôi nhận ra những âm thanh đó. Một thoáng giọng, hơi thở đè lên ngôn từ, tiếng phì phò. Chính cha tôi đấy. Thế là nỗi hoảng sợ của tôi tan biến. Niềm vui tràn ngập trong tôi. Tựa như trong một giấc mộng ta được gặp lại người cha đã qua đời: vui sướng, ta bảo, ồ cha vẫn đây cơ à, vậy là ác mộng qua rồi, sao con mơ thấy cha chết nhỉ, con nhớ cha quá đi thôi! Ðược nói chuyện với cha, tôi mừng khôn xiết. Bình thường mỗi khi tôi gọi điện về nhà và nếu cha là người cầm máy, tôi chỉ nói: “Chào cha, cha khỏe chứ?”, một cách hờ hững, rồi sau đó dường như luôn luôn là câu: “Cha chuyển máy cho mẹ được không?”. Cha tôi hay trả lời ngắn gọn: “Mẹ con không có nhà”, hoặc “Mẹ con một tiếng nữa mới về”. Trong giấc mơ ấy, tôi muốn vớt vát những cuộc nói chuyện thường xuyên bị thui chột của chúng tôi, tôi hỏi cha: “Ồ, mà bây giờ cha nói được rồi? Cuối cùng, cha lại có giọng rồi!”. Tôi không nhớ cha đã nói gì. Tôi chỉ lắng nghe giọng cha. Tôi thức dậy. Và bật khóc. Tôi lại cảm thấy một cục chì nặng đè lên ngực, và biết rằng sẽ không bao giờ nghe thấy giọng cha. Cha vẫn còn đây, nhưng giọng cha đã chết. Mời các bạn đón đọc Người Cha Im Lặng của tác giả Doan Bui.
Côn Trùng
Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của tác giả Lê Thị Hiệu (Hiệu Constant). Côn Trùng - một lối viết độc đáo về nhân tình cuộc sống và những mảng đời thực ngoài xã hội. Truyện giãi bày một cách xót xa và nuối tiếc, một cách dũng cảm và day dứt về một mối tình không bao giờ tàn lụi. Vẻ đẹp của mối tình không bao giờ được xã hội công nhận này vừa như ánh sáng lung linh soi rọi, vừa như loài côn trùng rỉ rả gặm nhấm; vừa làm hồi sinh cõi sống tinh thần, vừa làm héo úa vẻ đẹp của hạnh phúc. Truyện được chia làm 2 mảng: kể chuyện và tự sự. Tuy là tác phẩm đầu tay, nhưng tác giả đã chứng tỏ bút lực của mình tương đối rộng và hấp dẫn người đọc. Có lẽ có được bút lực này một phần là nhờ tác giả đã là một dịch giả trẻ, môi trường sống xê dịch từ Việt Nam sang Pháp và từ Pháp theo đường bay thường xuyên về quê nhà Việt Nam. Gia tài dịch của Lê Thị Hiệu với bút danh Hiệu Constant là chị đã dịch được một số những tác phẩm thời thượng, được bạn đọc trong nước đón nhận. (Nhà văn Võ Thị Xuân Hà giới thiệu) *** Tôi phải kể ra đây với bà, bởi câu chuyện mà tôi sắp kể thì không thể không kể ra được bà ạ. Từ lâu rồi nó cứ gậm nhấm tâm hồn tôi, nó cứ rỉ rả suốt đêm ngày. Tôi day dứt. Tôi bối rối. Đôi lúc tôi còn cảm thấy cả sự ân hận, hối lỗi đối với những người xung quanh. Nhất là đối với mẹ tôi giờ đang ở cõi vĩnh hằng, nhưng tôi biết, đêm đêm, bà vẫn về bên tôi, vẫn chăm sóc tôi như ngày xưa. Vì tôi vốn là đứa con cưng nhất của- bà. Thưa bác sĩ, nhưng tôi không biết bắt đầu câu chuyện này từ đâu? Nhìn ánh mắt khuyến khích của bà, tôi thấy an tâm hơn. Tôi chắc bà sẽ hiểu tôi, vì đây là nghề của bà. Tôi đã đọc rất nhiều sách và nghe rất nhiều những câu chuyện nói về ngành nghề của bà. Ngày xưa đôi lúc tôi còn chế giễu những người phải tìm đến các bác sĩ tâm lý, là vì dạo ấy tôi không bao giờ có ý nghĩ rằng một ngày nào đó tôi lại phải tìm đến những phòng mạch như của bà đây để điều trị. Đúng là ở đời, nói trước bước không qua. Trong đầu tôi hiện giờ đang bùng nhùng biết bao ý nghĩ. Những ý nghĩ đó cứ đan xen, hòa trộn lẫn nhau. Vâng, chuyện quan trọng nhất tôi sẽ kể cho bà nghe ngay đây. Đấy, bà lại có điện thoại rồi, và tiếng chuông điện thoại đã làm tôi hoảng loạn và câu dạo đầu đầu tiên mà tôi muốn bắt đầu đã lại tan biến đi mất. Tôi phải nói cho bà biết ngay rằng, chuyện tôi sắp kể là một câu chuyện tình. Bà làm ơn có thể tắt điện thoại đi được không, vì điện thoại sẽ làm ngắt mạch câu chuyện của tôi và tôi sẽ lại khó bắt đầu lại từ đầu. Vâng, đây là một câu chuyện tình chẳng giống như bất kỳ một câu chuyện tình nào khác. Và chính nó đã làm tôi trở nên trầm cảm từ bấy lâu nay. Chuyện của tôi đã bắt đầu từ nhiều năm rồi. Chuyện của tôi và người ấy ấy mà. Tôi có buộc phải nói tên người ta ra không? Có à? Có nói ra thì lòng tôi sẽ thanh thản hơn để giãi bày à? Đúng thế, đúng là nghề nghiệp của bà có khác. Mới bắt đầu thì đã thấy có hiệu nghiệm rồi, bởi tôi cứ lấy kinh nghiệm từ mình mà ra. Nếu một ngày tôi cố gắng gọi dù chỉ là gọi thầm tên của người ta thì cả ngày hôm đó tôi sẽ cảm thấy thanh thản và chịu hơn, còn nếu như tôi cứ bắt mình phải quên đi và sống trong sự kìm nén thì tôi sẽ cảm thấy rất ngột ngạt, khó thở. Vâng, anh ấy tên N.V . Nhưng chỉ có điều, bà biết không, khi gọi tên anh ấy ra như vậy thì tim tôi lại thổn thức, cả người tôi như có một luồng điện chạy qua vậy, các mạch máu dường như lưu thông nhanh hơn, hơi thở của tôi gấp gáp, các tế bào trên cơ thể tôi lại căng ra, chúng như muốn đón nhận nơi anh từng cử chỉ, vuốt ve, từng ánh mắt, thậm chí chúng còn muốn hít thở hơi thở của anh. Đã bao đêm tôi tập ngồi thiền. Tôi không dám nghĩ về anh bất kỳ lúc nào. Thì tôi đã nói với bà lúc nãy, khi bà đang tra những bệnh án của tôi. Tôi yêu anh ấy, yêu say mê, cuồng nhiệt. Tôi yêu anh bằng con tim run rẩy trắng trong của mình. Khoảng cách xa xôi càng làm cho tình yêu của tôi tăng dần lên theo năm tháng. Mỗi mùa đến rồi lại qua. Mỗi năm đến rồi lại đi. Mỗi mùa đem đến cho tôi những thứ tình cảm khác nhau dành cho anh. Bản chất anh trầm ngâm, chắc anh thích mùa thu. Bây giờ Paris đang là mùa thu, bà thấy đó. Cảnh tượng đẹp thiên thần ngoài kia. Ban nãy, trước khi đến phòng khám của bà, tôi đã đạp xe trên kè sông Seine. Anh sáng vàng xộm, xiên qua những kẽ lá đâm thẳng xuống mặt dường nhựa, chiếu lên những chiếc lá rụng lao xao chạy dọc theo những ngọn gió. Tôi còn thấy những con tàu mousse chạy lờ lững trên dòng sông nổi tiếng toàn cầu, chạy xuyên qua thành phố trái tim của thế giới. Khách du lịch đến từ khắp nơi đều thích dạo dọc sông Seine trên những con tàu mang tầm lịch sử. Dạo sông Seine và ngắm những tòa nhà chọc trời đổ bóng xuống lòng sông! Còn gì đẹp và lãng mạn hơn. Khi đi qua công viên Luxembourg cũng thế, tôi nhìn vào và thấy rất nhiều người đi dạo. Đầu thu rồi nhưng những đám cỏ vẫn xinh xắn, vẫn xanh ngắt. Chúng mới đẹp làm sao khi điểm những chiếc lá vàng vừa rơi từ những cây dẻ xuống đậu là là trên bề mặt. Cuộc đời con người cũng vậy, cũng mong manh quá, cũng như chiếc lá đang rơi kia. Tôi giơ tay ra và bắt được một chiếc. Trên đó cũng có những đường gân chạy ngang dọc như những đường chỉ trong tay tôi đây, hay như trong tay bà vậy. Hai chiếc lá là hai bộ gân khác nhau, cũng như tay tôi khác tay bà. Chiếc lá tôi đang cầm là màu vàng nâu, và đã khô đi. Vậy là nó kết thúc cuộc đời một cách tốt đẹp. Nó đã sản sinh ra bao lượng ô-xi cho chúng ta và đã hút đi bao lượng các-bon-nic để cho trái đất xanh này bớt đi ô nhiễm? Và kia kìa, xa chỗ tôi đứng một chút, có một chiếc lá xanh vừa rụng xuống. Đúng thế, nó còn xanh lắm vậy mà đã phải lìa khỏi cành. Bà thấy cảm cảnh à? Tôi cũng vậy, nhưng trong cuộc đời này còn biết bao điều hệ trọng hơn như thế xảy ra mỗi ngày. Đối với chính loài người chúng ta. Nào tai nạn giao thông. Nào thiên tai. Nào bệnh tật... Và còn chiến tranh nữa. Nhiều vô cùng. Nhưng tôi lan man rồi. Không đi vào câu chuyện chính của mình. Không sao à? Bà ở đây là để nghe tôi nói sao? Và tôi có quyền được kể ra, được nói ra tất cả những gì ẩn chứa trong lòng? Ngay cả những điều mà tôi không dám thổ lộ với ai, kể cả những người thân của mình? Ngày xưa, nếu mẹ tôi còn sống, có lẽ bà sẽ cho tôi những lời khuyên bổ ích. Hay cả người anh trai lớn nhất của tôi nữa. Anh ấy đã ra đi khi còn quá trẻ và đã có những lúc tôi oán thán anh ấy. Rằng nếu anh còn sống, cuộc sống của tôi có lẽ sẽ thanh thản hơn. Anh cũng sẽ cho tôi rất nhiều lời khuyên. Anh ấy thông minh, kiên nhẫn và hình như chưa tạt tai tôi bao giờ. Bà thấy đấy, khi còn bé, dù là con gái đi nữa, nhưng ai mà chẳng có lúc làm những điều bậy bạ, nghịch ngợm, nhưng anh ấy đã ân cần giảng giải cho tôi. Tôi nhớ rất rõ những lần anh giúp tôi làm bài tập hóa. Trong tất cả các môn, tôi dốt môn này nhất. Khi phải cân bằng những phương trình hóa học là tôi chết tắp lự. Đấy là tôi nói những phương trình khó thôi, còn nếu không thì điểm trung bình môn hóa của tôi cũng đạt được trên trung bình khá kia đấy. Hôm đó, hồi tôi học lớp mười một bà ạ, anh đang say sưa giảng cho tôi về các hợp chất a-xit, hợp chất khí, hay các loại muối, kiềm thì tôi bất chợt hỏi tại sao con người lại cứ gây chiến tranh để tạo ra những cái chết vô nghĩa lý... Anh trai tôi nhìn xuống, lúc ấy tôi chắc phải kinh khủng lắm, như thoát thiền vậy. Ánh mắt tôi xa xăm, nhìn ra ngoài sân lúc ấy cũng đang là mùa thu, ánh nắng cũng lao xao, vài tia nắng len lỏi qua các kẽ ngói chiếu thẳng xuống mặt bàn tôi đang ngồi làm bài tập. Những hạt bụi nhỏ li ti chạy nhảy huyên náo trong đám nắng dệt lên tấm lưới vô hình giăng giăng. Ngày đó trong đầu tôi đã nảy sinh ý nghĩ về sống chết vô thường. Con người sinh ra để yêu thương nhau nhưng rồi cũng để chém giết lẫn nhau. Hồi đó, anh trai cả tôi vừa xuất ngũ. Anh đi làm nghĩa vụ quân sự đúng vào thời kỳ quân Tàu giở mặt tấn công vào biên giới phía bắc Việt Nam. Chắc anh hiểu được nỗi niềm của tôi, bởi những lần anh về phép, tôi hay bắt anh kể cho nghe chuyện binh đao, khói lửa. Anh toàn kể chuyện vui, nhưng có một lần tôi nghe lỏm được, khi đang ngồi học bài sau tấm liếp. Tôi vốn không tò mò, nhưng khi nghe anh đang nói chuyện với mẹ mà lại khóc ấm ức. Anh mà lại khóc ư, chuyện thật lạ! Giỏng tai nghe ngóng, tôi nghe thấy anh kể cho mẹ nghe về chuyện một người bạn thân của anh tháng trước đã tử trận. Anh ấy mới hai mươi tuổi. Chưa một lần có bạn gái, chưa được cầm tay người phụ nữ nào. Trong cuốn nhật ký của anh chỉ có những dòng anh gửi cho một người tên Liên, mà anh tôi vừa đi gặp chiều nay. Buồn quá phải không bà, khi chúng ta đang sổng trong thời đại Internet, hòa mạng chỉ trong giây lát là có thể nói chuyện với người ở bên nửa kia của trái đất. Con gái con trai mới mười hai, mười ba tuổi đầu đã có bạn khác giới xí xa xí xớn rồi đấy. Còn tôi, mấy ngày trước đó, trong giờ học, bọn tôi, hay đúng ra là mấy thằng Hùng, Tiến, Cần, Trường... chúng nó chẳng chịu học, sau đó lại còn vẽ bậy hết lên mặt, viết những câu không thể nghe nổi như mẹ ơi con muốn chết, hận đời và khát máu, khiến thầy giận quá. Chúng nó thì làm gì mà đã biết những dư vị đó, trẻ con, vớ vẩn, tự nhiên tôi thấy ghét chúng nó thế, mặc dù thằng Hùng vốn cũng rất tử tế và học giỏi. Hôm đó, thầy đã không dạy mà nói chuyện thâm tình với chúng tôi, như những người bạn, người em. Thầy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện cũng đại loại như của anh trai tôi. Ngày trước, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thầy cũng có một người bạn chết trận như vậy, rằng người con trai ấy tên là Tâm, chết ngay trên cánh tay của thầy tôi. Trước khi chết chỉ nói được mỗi câu “Cậu mang về cho mẹ tớ cái khăn có thêu con chim hòa bình nhé”. Tất cả những câu chuyện như vậy gieo rắc trong tâm hồn tôi những gì mong manh, dễ vỡ, nên tôi sợ bà ạ. Nhưng rồi những gì tôi sợ cũng xảy ra. Anh tôi mất đột ngột trong một tai nạn hết sức thông thường. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không tin đó là sự thật.   Mời các bạn đón đọc Côn Trùng của tác giả Hiệu Constant.
Chỉ Một Tình Yêu
Một tác phẩm của Johanna Lindsey Câu chuyện xoay quanh những thân phận giả mạo, bí mật gia đình và một tình yêu vượt qua mối thù truyền kiếp 50 năm tại vùng đất hùng vĩ Montana trong những năm 1880. “Nhiều quý cô trẻ tuổi kết hôn vì tiền và địa vị xã hội, chỉ một vài trong số họ may mắn kết hôn vì tình yêu – nhưng Tiffany Warren sẽ kết hôn để hoá giải một mối cừu thù. Phải thực hiện giao ước của mẹ, Tiffany miễn cưỡng đi về miền Tây để gặp người cha chưa từng gặp mặt và con trai kẻ thù của ông, Hunter Callahan. Khi nhà Warren và Callahan được hợp nhất bằng một cuộc hôn nhân, cả hai gia tộc sẽ dừng cuộc tranh chấp dải đất từ bao lâu nay. Sự hỗn loạn của cuộc cướp tàu đã trao cho Tiffany một cơ hội quý báu. Giả danh người quản gia mà cha nàng thuê, nàng có thể sống với người cha nàng chưa từng biết để hiểu về con người ông và cả gã cao bồi hàng xóm mà nàng đã được đính ước. Nhưng rồi nàng muộn màng nhận ra mối thù giữa hai gia tộc lại càng sâu sắc hơn khi nhà Callahan cướp người quản gia của nhà Warren ngay khi nàng bước xuống tàu! Và nàng, Tiffinay, dưới thân phận của Jennifer Fleming, phải sống trong ngôi nhà của kẻ thù, cùng với hôn phu của mình. Để rồi nàng biết được rằng, chàng là một người đẹp trai, quyến rũ và ngọt ngào, người khiến nàng luôn phải cưỡng lại vì không thể rời mắt – và rời tay – khỏi Jennifer. Khi bị lật tẩy, Tiffany từ chối cưới Hunter để  hàn gắn mối thù. Trong lúc Hunter đi đòi lại cô dâu chính thức của mình, chàng hiểu rằng mặc dù chàng yêu hai người phụ nữ – một Tiffany chuẩn mực, thanh nhã, hay một Jennifer sôi nổi, nồng nàn – chàng chỉ có duy nhất một trái tim để chinh phục.” *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), Ngôi Sao Lạc Loài Chỉ Một Lần Yêu Nơi Em Thuộc Về Trái Tim Hoang Dã Yêu Lầm Anh? Tình Yêu Tìm Thấy Chỉ Một Tình Yêu The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** Rose Warren đã ngừng khóc trước khi con gái bà, Tiffany, mở cửa chính ngôi nhà sơn màu nâu trong thành phố, nhưng vẫn không thể dứt ra khỏi đầu câu nói đã làm bà phải rơi lệ. Đi cùng con bé đi, Rose. Đã mười lăm năm rồi, em hành hạ chúng ta như vậy còn chưa đủ hay sao? Bà thường cho phép cô con gái mới bước sang tuổi mười tám tháng trước đọc những lá thư của Franklin Warren. Frank thường giữ cho nội dung thư không quá riêng tư, để bà có thể đọc cùng với con gái của họ. Nhưng lần này thì không, bà vò lá thư lại rồi nhét vội vào túi áo khi nghe tiếng Tiffany vang lên trong sảnh. Con bé không hề biết lý do thật sự khiến cha mẹ không sống cùng nhau. Đến cả Frank cũng không biết lý do thật sự bà bỏ đi. Sau chừng ấy năm, tốt nhất là cứ để nó như thế thôi. “Tiffany, vào phòng khách với mẹ đi con!” Rose gọi trước khi Tiffiny bước lên phòng bà. Nắng chiều làm ánh lên mái tóc nâu đỏ của Tiffany khi nàng cởi mũ. Nàng rũ chiếc áo khoác mỏng ngắn ra khỏi vai khi bước vào phòng khách. Trời quá ấm áp để phải mặc áo khoác, nhưng một tiểu thư ở thành phố New York thì phải ăn mặc đứng đắn khi đi ra ngoài. Khi Rose nhìn Tiffany, bà từng tự nhắc mình rằng con gái bé bỏng của bà đã không còn bé nữa. Ngay cả khi Tiffany bước sang tuổi mười tám, Rose cũng đã từng hơn một lần ước con gái bà đừng lớn lên. Con bé đã cao hơn một mét bảy và thường xuyên phàn nàn vì chuyện đó. Tiffany thừa hưởng chiều cao của cha, Franklin, và cả đôi mắt màu xanh lục bảo nữa. Chỉ là, con bé vẫn không biết điều đó. Con bé có dáng người thanh nhã của Rose, nên lại càng xinh đẹp, nhưng màu tóc đỏ thì chỉ giống phần nào thôi. Màu tóc Tiffany nghiêng về ánh đồng hơn. “Mẹ mới nhận được thư của cha con.” Lặng thinh. Trước đây Tiffany rất thích đọc thư của Frank, nhưng đã từ lâu lắm rồi, kể từ khi con bé không hỏi khi nào cha đến thăm con nữa. Trái tim Rose tan vỡ khi thấy sự thờ ơ trong tình cảm của con gái bà với cha nó. Bà biết Tiffany không có kỷ niệm nào với cha. Con bé còn quá nhỏ khi cùng Rose rời khỏi Nashart, Montana. Rose biết lẽ ra bà phải để cha con họ gặp nhau trong những năm qua. Frank đã rất cao thượng khi cho phép các con trai về thăm bà, mặc dù bà thừa biết ông làm vậy là để làm bà cảm thấy day dứt vì đã không tạo điều kiện hay cho phép con gái họ gặp cha. Bà đã luôn lo sợ Frank không cho con gái quay về với bà nữa. Đó không chỉ là nỗi sợ mơ hồ, mà là cơn ác mộng khủng khiếp nhất của bà. Ông đã từng giận dữ đe dọa sẽ giữ lại con gái của họ. Ông đã mang vô số thứ ra để uy hiếp bà, hòng giữ cho gia đình của ông được đoàn tụ. Và bà không thể oán trách ông! Nhưng cũng không thể ngăn được điều đó, không thể được. Giờ đây bà phải đối mặt với nỗi sợ lớn nhất trong đời: một khi Tiffany đến Montana, Rose sẽ không bao giờ được gặp lại con nữa. Đáng lẽ ra bà phải kiên quyết bắt hôn phu của Tiffany đến New York đón con bé. Nhưng đó sẽ là giọt nước tràn ly đối với Frank. Ông đã tôn trọng ý muốn của Rose và tránh mặt trong suốt mười lăm năm trời, nhưng đây là thời điểm bà đã hứa để Tiffany quay về với vòng tay của ông. Lương tâm của bà không cho phép hai cha con chia cắt lâu hơn nữa. Tiffany dừng lại trước bà và chìa tay ra để đòi thư. Rose chỉ về phía ghế sofa. “Ngồi xuống đây con.” Tiffany nhướng mày khi mẹ không đưa bức thư cho nàng, nhưng cũng ngồi xuống cạnh Rose. Căn phòng rất lớn. Thành phố cũng rất lớn. Cha mẹ Rose là một gia đình giàu có đến từ cựu thế giới, toàn bộ tài sản của họ hiện giờ là của bà. Khi Rose từ Montana quay trở về cùng với cô con gái ba tuổi, bà mới biết rằng trong năm năm vắng nhà, mẹ bà đã trải qua nhiều trận ốm liên tiếp và bị liệt. Mẹ Rose chỉ sống được thêm bốn năm nữa, nhưng ít ra Tiffany cũng được biết bà ngoại của mình. Đó là một quãng thời gian đau khổ trong cuộc đời Rose. Bà đã phải từ bỏ chồng và ba con trai, và rồi sau đó lại mất luôn người mẹ của mình. Nhưng ít nhất bà còn có Tiffany. Bà hẳn đã phát điên vì thống khổ nếu bà cũng từ bỏ Tiffany. Nhưng ngày đó rồi cũng đã đến... “Lại đến lúc Nói Phải Quấy rồi hả mẹ?” Tiffany chán chường hỏi. “Con bắt đầu xấc xược từ lúc sang tuổi mới rồi đấy,” Rose cảnh cáo. “Nếu đó là cách mẹ muốn nói về sự oán giận vẫn đang gặm nhấm con thì cũng được thôi. Đó là xấc xược đấy.” “Tiffany-“ “Con không đến Montana đâu, mẹ. Con không quan tâm điều đó dẫn đến một cuộc đổ máu đâu. Con không quan tâm chuyện con cũng sẽ không bao giờ được gặp lại anh em con nữa. Con từ chối kết hôn với một người con chưa từng gặp.” Tiffany khoanh tay trước ngực và hất cằm thách thức. “Đó, con đã nói lời cuối cùng rồi và con sẽ không đổi ý đâu.” “Mẹ đồng ý với con.” Tiffany mở to mắt trước khi reo lên nhẹ nhõm. “Cảm ơn mẹ! Mẹ không biết được con đã đau khổ thế nào trước viễn cảnh –“ “Để mẹ nói hết đã. Mẹ đồng ý con sẽ không cưới một người không quen biết. Con sẽ đến Montana để gặp cậu ta. Con sẽ có vài tháng để hiểu về cậu ta. Nếu lúc đó con vẫn không thấy thích cậu ta, thì, mẹ đồng ý, con có thể hủy hôn và trở về New York trước khi thời tiết xấu đi. Mẹ hứa với con điều đó, Tiffany.” “Tại sao mẹ không hề cho con biết rằng con có quyền quyết định trong hôn ước mà cha mẹ sắp đặt cho con từ khi con còn là một đứa bé chứ?” “Vì mẹ đã hy vọng con sẽ thực hiện hôn ước đó một cách tự nguyện. Mẹ muốn con lớn lên và quen với ý nghĩ đó, mẹ hy vọng con có thể mong chờ điều đó.” “Nhưng Montana* thậm chí còn chưa phải là một nơi văn minh nữa kìa!” “Mình có thể nói chuyện mà không hét vào nhau không con?” Rose nói và khẽ cười, “Hạt Montana không hoang sơ như con nghĩ đâu. Mẹ cho là các anh con đã làm rõ điều đó cho con rồi chứ. Đó là một trong những nơi đẹp nhất mẹ đã từng thấy. Con chắc sẽ thích được ở đó mà.” “Con thích ở đây, nơi con lớn lên, nơi có bạn bè con, nơi con sống,” Tiffany lầm bầm, rồi cao giọng hơn, “nơi đàn ông không đeo súng ở hông bởi vì chẳng có gì, chẳng có người nào cần bắn cả. Sao mà mẹ có thể chấp nhận một thỏa thuận như thế chứ, mẹ?” “Mẹ là người đưa ra thỏa thuận đó.” Bà chưa bao giờ nói cho con gái biết điều đó, và thấy Tiffany mở to đôi mắt ngọc lục bảo, bà ước mình có thể giải thích bằng cách khác. Nhưng chẳng có cách nào cả. “Hóa ra mẹ là người ném con cho bầy sói à?” “Ôi trời ạ, Tiff, đừng thống thiết như thế chứ. Đó là điều duy nhất mẹ có thể nghĩ ra để chấm dứt mối thù giữa nhà Callahan và nhà Warren. Dải đất gần nguồn nước nằm giữa hai điền trang thậm chí cũng không phải nguyên nhân sâu xa, nhưng cả hai bên đều dùng nó để tiếp tục gây hấn với nhau, cả hai đều tranh giành nó về mình. Mẹ chưa bao giờ thấy cái gì ngu ngốc như thế, cả hai bên. Bất kỳ khi nào họ đến gần nguồn nước cùng lúc là có súng nổ. Nếu có con bò lạc nào đi đến gần, họ sẽ đuổi nó quay trở lại, chỉ để gây thêm nhiều vụ nổ súng hơn nữa. Hôn ước của con và Hunter Callahan sẽ chấm dứt sự tranh chấp đó.” “Vậy là mẹ gánh lấy trách nhiệm hóa giải mối thù mà mẹ không gây nên bằng cách hy sinh đứa con gái duy nhất của mình sao?” Rose cáu kỉnh. “Cho con biết, nhóc, Zachary Callahan là một trong những người đẹp trai nhất mẹ từng gặp. Và nhìn vào người vợ xinh xắn của ông ta, mẹ không nghi ngờ gì là những cậu con trai lớn lên cũng sẽ đẹp như thế. Mẹ không nghĩ con là vật hy sinh, mẹ chắc rằng con có thể e ngại vì lấy một người nhà Callahan làm chồng. Nhưng là người ngoài cuộc, mẹ nhìn nhận mọi việc theo cách khác. Những người cao bồi thường hiếu thắng, thậm chí độc đoán, đúng vậy, nhưng mẹ không nghĩ điều đó là lạ ở vùng đất ấy. Frank và Zachary chỉ là hai người đàn ông cứng đầu, mà không ai trong hai người muốn nhân nhượng nhau một inch nào. Mọi chuyện bắt nguồn từ một quá khứ đau buồn, và nguồn nước ở ranh giới hai miếng đất không giúp nó được kết thúc. Mẹ nhận định rằng gia đình Callahan không phải là những người xấu. Zachary có thể là một chủ trang trại hiếu thắng và bẳn tính, nhưng ông ta cũng nổi tiếng là một người chồng tận tụy và là một người cha tốt. Vậy đã là quá đủ cho một gia đình rồi.” “Mẹ không phải là người có thể kết thúc mối thù đó, mẹ. Tại sao mẹ còn thử chứ?” Mời các bạn đón đọc Chỉ Một Tình Yêu của tác giả Johanna Lindsey.
Quy Luật Hấp Dẫn
Tên truyện: Quy Luật Hấp Dẫn Tựa gốc: Rules of Attraction Tác giả: Simone Elkeles Dịch: An, Dzungnguyen 1102, Lana Biên tập: Sa Bìa: Lynn Ebook: K “Quy luật hấp dẫn” là cuốn tiểu thuyết thứ 2 trong loạt truyện Perfect Chemistry gồm 3 quyển kể về 3 anh em Fuentes của nhà văn Simone Elkeles. Xúc tác hoàn hảo – Perfect Chemistry #1 Phản ứng dây chuyền – Perfect Chemistry #3 Giới thiệu:  Carlos Fuentes không muốn dựa dẫm vào người anh trai Alex của mình, và cậu đã nói điều đó với Alex khi ở Boulder, Colorado. Cậu ấy muốn sống một cuộc sống không tầm thường và tạo ra con đường riêng cho mình – giống như Alex đã từng làm. Thật không may, mối liên hệ của cậu với một băng đảng ở Mexico không dễ mất đi, và Carlos nhanh chóng nhận ra mình đang trong tầm ngắm của một ông trùm ma túy. Khi Alex thu xếp cho Carlos đến sống cùng với cựu giáo sư đại học và gia đình của ông để cậu không phải vào tù, Carlos cảm thấy lạc lõng tại nơi đây. Cậu thậm chí còn bị đè nén bởi những cảm xúc mạnh mẽ của mình đối với con gái của giáo sư – Kiara, người không giống những cô gái mà cậu thường bị thu hút. Nhưng Alex và Kiara sớm nhận ra những vấn đề của trái tim, những quy luật hấp dẫn vượt ra khỏi những khác biệt xã hội ngăn cách họ. Khi mà những mối đe dọa với Carlos ngày càng lớn hơn, cậu đã vô cùng kinh ngạc khi phát hiện rằng gia đình người Mỹ này dường như có thể cứu cậu. Nhưng liệu Carlos có dám mạo hiểm sự an toàn của họ để có được cơ hội sống một cuộc sống mà cậu thậm chí chưa từng dám mơ? 23 chương đầu là bản dịch của bạn Dzungnguyen 1102 đã đăng ở Kites và mình đã nhận được sự đồng ý của bạn ấy cũng như của Kites để đăng lên nhà (có chỉnh sửa so với bản bên Kites). Rainy sẽ dịch tiếp từ chương 24 trở đi. *** Bộ truyện Perfect Chemistry gồm 3 quyển kể về 3 anh em Fuentes của nhà văn Simone Elkeles. Quyển 1: Xúc Tác Hoàn Hảo – Perfect Chemistry #1 Quyển 2: Quy luật hấp dẫn – Perfect Chemistry #2 Quyển 3: Phản ứng dây chuyền – Perfect Chemistry #3  *** Tác giả    Simone Elkeles sinh ra và lớn lên tại Chicago, Hoa Kỳ. Bà là tác giả của những đầu sách cho teen bán chạy nhất theo xếp hạng của New York Times và USA Today.   Siome Elkeles cùng các tác phẩm hay nhất của bà, Xúc tác hoàn hảo, đã được vinh danh ở rất nhiều giải thưởng sách văn học khác nhau và đáng kể nhất là giải RITA 2010, giải thưởng hàng năm danh giá dành cho tác phẩm văn học lãng mạn xuất sắc nhất nước Mỹ. *** Tôi muốn sống theo cách của riêng mình. Tuy nhiên tôi là người Mexico, nên gia đình tôi luôn chỉ dẫn tôi làm mọi việc, dù tôi có muốn hay không đi chăng nữa. Thôi được rồi, chỉ dẫn thì chưa đúng, ra lệnh thì đúng hơn. Mẹ tôi đã không hỏi tôi xem là liệu tôi có muốn rời khỏi Mexico và chuyển đến Colorado để sống cùng với anh trai Alex trong năm cuối trung học phổ thông hay không. Bà đã quyết định gửi tôi về Mỹ, “vì muốn tốt con thôi” – theo ý của bà, chứ không phải tôi. Khi phần lớn các thành viên trong gia đình ủng hộ bà, quyết định được đưa ra. Họ thực sự nghĩ rằng gửi tôi về Mỹ sẽ làm cho cuộc đời tôi không kết thúc dưới những nấm mồ hoặc trong nhà tù sao? Kể từ khi tôi bị sa thải khỏi nhà máy đường hai tháng trước, tôi đã sống một cuộc sống điên rồ. Không có gì có thể thay đổi được điều này. Tôi nhìn ra ô cửa sổ bé bé khi chiếc máy bay bay qua ngọn Rockies phủ tuyết. Tôi chắc chắn rằng mình không ở Atencingo bao lâu nữa, và tôi cũng không ở ngoại ô Chicago, nơi mà tôi đã sống nhiều năm trước khi mẹ bắt chúng tôi thu dọn và chuyển đến Mexico trong năm hai trung học. Khi máy bay hạ cánh, nhìn những hành khách khác chen lấn để xuống máy bay, tôi ở lại và đợi cho tình cảnh này kết thúc. Tôi sắp gặp lại anh trai của mình lần đầu tiên trong vòng gần hai năm. Chết tiệt, tôi thậm chí còn không biết là liệu tôi có muốn gặp lại anh ấy hay không nữa. Hầu hết mọi người đã xuống máy bay nên tôi không thể trì hoãn thêm nữa. Tôi lấy ba lô của mình và làm theo các biển chỉ dẫn ở khu vực nhận hành lý. Khi vừa ra khỏi cửa an ninh, tôi trông thấy ông anh Alex đang đợi bên ngoài các thanh rào chắn. Tôi nghĩ tôi có thể không nhận ra anh ấy, hoặc cảm thấy như chúng tôi là những người xa lạ chứ không phải một gia đình. Tuy nhiên, không có bất kỳ sự nhầm lẫn nào xảy ra cả bởi khuôn mặt chúng tôi giống y như nhau. Tôi hơi hài lòng rằng bây giờ tôi đã cao hơn anh ấy, và tôi không còn là đứa trẻ gầy gò bị anh ấy bỏ lại phía sau nữa. “Chào mừng đến với Colorado.” Anh ấy vừa nói vừa ôm lấy tôi. Khi anh ấy thả tôi ra, tôi nhìn thấy những vết sẹo mờ trên lông mày và bên tai. Tôi đã không nhìn thấy nó vào lần cuối chúng tôi gặp nhau. Anh ấy trông có vẻ chững chạc hơn, nhưng anh không còn giữ ánh mắt đề phòng mà anh luôn mang bên mình như chiếc khiên che chắn nữa. Tôi nghĩ là sự đề phòng của tôi được thừa hưởng từ anh. “Cảm ơn.” Tôi nói dứt khoát. Anh ấy biết rằng tôi không muốn đến đây. Chú Julio đứng cạnh tôi cho đến lúc chú ấy tống khứ tôi lên máy bay. Và sau đó chú còn đe dọa rằng sẽ ngồi ở sân bay cho đến khi chú ấy biết chắc rằng tôi đã cất cánh. “Còn nói được tiếng Anh chứ?” Anh trai tôi hỏi khi chúng tôi đi lấy hành lý. Tôi trợn tròn mắt: “Chúng ta chỉ sống ở Mexico có hai năm thôi, Alex. Nói đúng hơn là chỉ có mẹ, em và Luis chuyển đến Mexico. Anh đã bỏ rơi mọi người.” “Anh không bỏ rơi mọi người. Anh chỉ sắp học đại học và bởi vậy anh có thể làm điều gì đó thiết thực với cuộc sống của mình. Em cũng nên thỉnh thoảng thử làm điều gì đó thiết thực đi.” “Thôi khỏi, cảm ơn anh. Em cảm thấy ổn với cuộc sống không mấy thiết thực của mình.” Tôi lấy chiếc túi vải len của mình ra khỏi băng chuyền và theo Alex rời khỏi sân bay. “Em đang đeo cái gì ở cổ đấy?” Anh ấy hỏi tôi. “Nó là cái chuỗi hạt.” Tôi trả lời, chỉ tay vào dấu chữ thập đính cườm trắng đen “Em đã chuyển sang tôn giáo khác từ lần cuối chúng ta gặp nhau.” “Tôn giáo gì chứ, anh không tin. Anh biết nó là biểu tượng của một băng đảng,” anh nói khi chúng tôi tiến đến chiếc xe Beemer mui trần màu bạc. Anh trai tôi không thể nào mua nổi chiếc xe đó, chắc hẳn là anh ấy mượn từ cô bạn gái Brittany. “Vậy thì sao chứ ?” Alex đang ở trong một băng đảng ở Chicago. Trước đây bố tôi cũng là thành viên của một băng đảng. Cho dù Alex có muốn thừa nhận điều đó hay không thì tôi cũng kế thừa sự xấu xa đó. Tôi đã cố gắng sống theo luật pháp. Tôi chưa bao giờ than phiền khi tôi làm ra ít hơn 50 peso mỗi ngày và làm việc liên tục sau giờ học ở trường. Sau khi bị sa thải và bắt đầu làm việc với băng Guerreros del barrio, tôi kiếm được hơn 1000 peso mỗi ngày. Nó có thể bị xem là thứ tiền dơ bẩn, nhưng nó giúp tôi đủ ăn. “Em có học được gì từ sai lầm của anh không đấy?” Anh ấy hỏi. Khỉ thật, khi Alex ở trong băng Latino Blood ở Chicago, tôi đã từng tôn thờ anh ấy. “Anh hẳn không muốn nghe câu trả lời đâu.” Lắc đầu thất vọng, Alex lấy chiếc tủi vải ra khỏi tay tôi và quăng nó vào sau xe. Vậy nếu anh ấy rời khỏi Latino Blood thì chuyện gì sẽ xảy ra nhỉ? Anh ấy sẽ phải mang những hình xăm ấy trong suốt quãng đời còn lại. Dù sao đi nữa thì anh ấy sẽ luôn dính líu đến Latino Blood cho dù có hoạt động hay không hoạt động trong băng đảng ấy. Tôi nhìn anh trai của mình hồi lâu. Anh ấy chắc chắn đã thay đổi. Tôi đã cảm nhận được điều này ngay từ phút đầu tiên tôi trông thấy anh. Anh ấy có lẽ trông giống như Alex Fuentes, nhưng tôi có thể nói rằng anh ấy đã mất đi tinh thần chiến đấu mà Alex Fuentes từng có. Giờ anh ấy học đại học và suy nghĩ rằng anh ấy có thể tuân  theo luật pháp và biến thế giới trở thành một nơi tươi đẹp hơn để sống. Thật ngạc nhiên khi anh ấy nhanh chóng quên đi rằng chúng tôi đã từng sống trong khu ổ chuột ở vùng Ngoại ô Chicago một thời gian cách đây không lâu lắm. Có một số thứ trong thế giới này không thể tươi sáng, dù bạn có cố đánh bóng nó thế nào đi chăng nữa. “Mẹ thế nào rồi?” Anh ấy hỏi. “Mẹ ổn.” “Thế còn Luis?” “Cũng vậy. Cậu em trai nhỏ của chúng ta thông minh gần bằng anh rồi, Alex. Nó nghĩ rằng nó sẽ trở thành một phi hành gia như Hernández.” Alex gật đầu như một người cha đầy tự hào, và tôi nghĩ anh ấy thực sự tin rằng Luis có thể đạt được ước mơ của mình. Cả hai người họ đều hoang tưởng… Cả hai người anh em của tôi đều là những kẻ mộng mơ. Alex nghĩ rằng anh ấy có thể cứu thế giới bằng cách tạo ra các loại thuốc chữa bệnh, còn Luis thì lại nghĩ rằng nó có thể rời khỏi thế giới này và thám hiểm một thế giới khác. Khi chúng tôi đi lên đường cao tốc, tôi trông thấy những dãy núi ở xa xa. Nó làm tôi nhớ về địa hình hiểm trở ở Mexico. “Nó được gọi là Front Range.” Alex nói với tôi. “Trường đại học nằm ở chân núi.” Anh ấy chỉ sang trái. “Chúng được gọi là Flatirons bởi những tảng đá ở đây phẳng như những tấm bảng bằng sắt vậy. Thỉnh thoảng anh sẽ đưa em tới đó. Brit và anh thường đi dạo ở đó khi rời khỏi ký túc xá.” Anh ấy liếc nhìn tôi và bắt gặp tôi đang nhìn anh ấy với vẻ không thể tin nổi. “Sao nào?” Anh ấy đang nói chơi đúng không? “Anh đang đùa em à?”? Tôi chỉ đang tự hỏi anh là ai và anh đã làm chuyện quái quỷ gì với anh trai của tôi. Anh trai Alex của tôi đã từng là một kẻ nổi loạn, và giờ thì anh ấy lại đang nói về những ngọn núi, bảng sắt và đi dạo với bạn gái. “Thế em thích anh nói về chuyện say xỉn và gây rắc rối chắc?” “Đúng vậy!” Tôi nói và hành động như thể là tôi đang cực kì hứng thú. “Rồi sau đó anh có thể nói cho em biết nơi mà em có thể say xỉn và gây rắc rối, bởi em sẽ không thể sống nếu không dùng một vài loại chất cấm.” Tôi nói dối. Có thể mẹ tôi đã nói với anh ấy rằng bà nghi ngờ tôi sử dụng thuốc nên tôi cứ làm như thể là tôi dùng chúng vậy. “Được thôi. Thế cứ nói với mẹ về những thứ điên rồ đó đi, Carlos. Anh không còn làm những thứ mà em làm đâu.” Tôi gác chân mình lên bộ phận điều khiển xe. “Anh còn không có bằng chứng.” Alex đẩy chân tôi xuống. “Không phiền chứ? Xe của Brittany đấy.” “Anh thực sự bị mê hoặc rồi. Đến lúc nào thì anh mới bỏ quách cái loại con gái rẻ tiền đó đi và bắt đầu trở thành một anh chàng sinh viên đại học bình thường – ngủ với hàng tá cô gái?” Tôi hỏi anh ấy. “Britany và anh không hẹn hò với người khác.” “Tại sao lại không?” “Người ta gọi đó là bạn trai và bạn gái.” “Có mà hèn nhát ấy. Một chàng trai chỉ ở cùng với một cô gái thì không bình thường chút nào cả, Alex. Em là một người tự do và em sẽ sống độc thân mãi mãi”. “Vậy là đã rõ, Quý ngài tự do, ngài sẽ không ngủ với bất kỳ ai trong căn nhà của tôi.”   Mời các bạn đón đọc Quy Luật Hấp Dẫn của tác giả Simone Elkeles.