Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thương Lượng Không Nhân Nhượng

Cho dù thích hay không, bạn vẫn là một nhà đàm phán. Đàm phán là thực tế của cuộc sống. Bạn đàm phán việc tăng lương với sếp. Bạn cố gắng thỏa thuận với một người về giá cả ngôi nhà của anh ấy. Hai vị luật sư đã nỗ lực giải quyết vụ án phát sinh từ vụ tai nạn ô tô. Một nhóm các công ty dầu lửa lên kế hoạch thành lập công ty liên doanh khai thác dầu ngoài khơi. Một quan chức thành phố họp với lãnh đạo nghiệp đoàn để ngăn chặn cuộc bãi công. Ngoại trưởng Hoa Kỳ cùng ngồi với người đồng cấp Liên Xô để tìm cách thỏa thuận về hạn chế vũ khí hạt nhân. Tất cả những việc này đều là đàm phán. Hằng ngày, ai cũng đàm phán điều gì đó. Cũng giống như ngài Jourdain của Molière, người sung sướng nhận ra mình đã nói văn xuôi suốt cả cuộc đời, mọi người đàm phán ngay cả khi họ không nghĩ là mình đang làm vậy. Bạn đàm phán với vợ/chồng về việc đi đâu để ăn tối và thỏa thuận với con cái lúc nào thì tắt đèn đi ngủ. Đàm phán là phương tiện cơ bản để đạt được điều bạn muốn từ người khác. Đây là quá trình trao đổi qua lại nhằm tiến tới thỏa thuận khi bạn và đối phương có cùng lợi ích hay mâu thuẫn quyền lợi với nhau. Ngày càng có nhiều trường hợp đòi hỏi phải tiến hành đàm phán và tránh được xung đột là một kỹ nghệ phát triển. Mọi người đều muốn tham gia vào những quyết định có ảnh hưởng đến họ; chẳng mấy ai chịu chấp nhận quyết định do người khác đưa ra. Không ai giống ai và con người dùng đàm phán để giải quyết sự bất đồng. Dù trong doanh nghiệp, chính phủ hay gia đình thì hầu hết mọi người đều ra quyết định thông qua đàm phán. Ngay cả khi ở tòa án, gần như người ta luôn đàm phán cách giải quyết trước khi xét xử. Mặc dù đàm phán diễn ra hằng ngày, nhưng để làm tốt việc này thì lại thật không dễ. Các chiến lược đàm phán thường khiến mọi người thấy không hài lòng, kiệt sức, bị xa lánh – hoặc thường xuyên có cả ba cảm giác này. Con người thường thấy bản thân rơi vào những tình thế khó xử. Họ có hai cách để đàm phán: Mềm dẻo hoặc cứng rắn. Những nhà đàm phán mềm dẻo thường muốn tránh xung đột cá nhân, vì vậy, họ sẵn sàng nhân nhượng để đạt được thỏa thuận. Những người này muốn tiến tới hòa giải; tuy vậy, rốt cuộc họ thường bị lợi dụng nên cảm thấy rất cay đắng. Những nhà đàm phán cứng rắn lại cho rằng mọi tình huống là sự thử thách ý chí, ở đó, bên nào có lập trường cực đoan hơn và giữ miếng lâu hơn sẽ có chiếm ưu thế. Họ muốn giành thắng lợi; tuy vậy, họ thường kết thúc cuộc đàm phán bằng việc tạo ra sự phản ứng không kém phần cứng rắn, gây cạn kiệt sức lực và phương hại tới mối quan hệ với phía bên kia. Các chiến lược đàm phán phổ biến khác nằm giữa loại chiến lược mềm dẻo và loại cứng rắn, nhưng mỗi chiến lược này thường hướng tới sự thỏa hiệp giữa việc đạt được điều bạn muốn và giữ hòa khí với mọi người. Cách đàm phán thứ ba, không thiên về cứng rắn hay mềm dẻo, mà là vừa cứng rắn vừa mềm dẻo. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc được xây dựng trong Dự án Kỹ năng đàm phán của Harvard nhằm giải quyết vấn đề trên cơ sở giá trị chứ không thông qua việc tập trung vào những gì mỗi bên nói sẽ làm hay không làm. Phương pháp này khuyên bạn nên tìm kiếm lợi ích chung bất cứ lúc nào có thể và khi có xung đột về lợi ích thì bạn nên yêu cầu kết quả phải dựa trên cơ sở một số tiêu chuẩn bình đẳng nhất định độc lập với ý chí của hai bên. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc cứng rắn về giá trị nhưng mềm dẻo về vấn đề con người. Phương pháp này không dùng thủ đoạn và điệu bộ. Nó cho bạn biết cách đạt được điều bạn đáng được hưởng mà vẫn tỏ ra lịch thiệp. Nó cho phép bạn cư xử công bằng và bảo vệ bạn chống lại những kẻ nhăm nhe lợi dụng sự ngay thẳng của bạn. Cuốn sách này bàn về phương pháp đàm phán trên nguyên tắc. Chương thứ nhất mô tả những vấn đề phát sinh trong việc áp dụng các chiến lược tiêu chuẩn của kiểu đàm phán quan điểm lập trường. Bốn chương tiếp theo trình bày bốn nguyên tắc của phương pháp đàm phán theo nguyên tắc. Ba chương cuối giải đáp những câu hỏi thường được nêu lên: Điều gì sẽ xảy ra nếu phía bên kia mạnh hơn? Điều gì sẽ xảy ra nếu họ không tuân thủ luật chơi? Điều gì sẽ xảy ra nếu họ gian dối. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc có thể được nhà ngoại giao Hoa Kỳ sử dụng ở trong các cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí với Liên Xô, khi các luật sư Phố Wall đại diện cho 500 công ty trên Tạp chí Fortune tranh tụng trong các vụ kiện chống độc quyền; và được các cặp vợ chồng dùng để quyết định mọi việc, từ việc đi nghỉ ở đâu cho đến phân chia tài sản như thế nào nếu họ ly dị. Bất cứ ai cũng có thể sử dụng phương pháp này. Không có cuộc đàm phán nào giống nhau, nhưng những yếu tố cơ bản của nó thì không thay đổi. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc có thể được sử dụng để giải quyết một hay nhiều vấn đề; có hai hay nhiều bên tham gia; dù có trình tự được quy định như trường hợp đàm phán tập thể hay không được chuẩn bị trước trong đàm phán với không tặc. Phương pháp này được áp dụng cho dù phía bên kia có nhiều kinh nghiệm hơn hay ngược lại, dù họ là kẻ không khoan nhượng hay là người ôn hòa. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc là một chiến lược áp dụng được cho mọi mục đích. Không giống với phần lớn các chiến lược khác, nếu phía bên kia cũng lĩnh hội được phương pháp này, nó sẽ trở nên dễ sử dụng hơn. Và nếu họ cũng đọc cuốn sách này thì tất cả đều có lợi. *** Đừng bàn cãi về quan điểm Dù là cuộc đàm phán về hợp đồng, cuộc tranh cãi trong gia đình hay thỏa thuận hòa bình giữa các quốc gia, thông thường người ta vẫn hay bàn cãi về vấn đề quan điểm. Mỗi bên đều có lập trường riêng, lập luận để bảo vệ nó và nhân nhượng nhằm đạt được thỏa hiệp. Ví dụ cổ điển về kiểu đàm phán này là cuộc mặc cả diễn ra giữa khách hàng và chủ cửa hàng đồ cũ: Và cuộc mặc cả cứ thế tiếp tục. Có thể họ sẽ đạt được thỏa thuận nhưng cũng có thể không. Mọi phương pháp đàm phán đều có thể được đánh giá công bằng qua ba tiêu chí: Phương pháp này phải mang lại thỏa thuận khôn ngoan nếu có thể, nó phải hiệu quả và cải thiện được hay chí ít thì cũng không làm phương hại đến mối quan hệ giữa hai bên. (Thỏa thuận khôn ngoan được định nghĩa là thỏa thuận đáp ứng quyền lợi hợp pháp của mỗi bên tới mức có thể, giải quyết được xung đột lợi ích hợp lý, lâu bền và có cân nhắc đến lợi ích cộng đồng.) Hình thức đàm phán phổ biến nhất được minh họa bằng ví dụ trên, phụ thuộc vào việc thay phiên nhau đưa ra các lập trường – và sau đó lại từ bỏ các lập trường này. Việc đưa ra các quan điểm, như người khách và chủ cửa hiệu trên, có tác dụng phục vụ cho một số mục đích hữu ích nhất định trong đàm phán. Nó cho phía bên kia biết bạn muốn gì; tạo ra điểm bấu víu trong tình huống không chắc chắn và căng thẳng; và cuối cùng đi đến các điều khoản trong một thỏa thuận có thể chấp nhận được. Nhưng có nhiều cách khác để đạt được. Việc mặc cả về lập trường không thỏa mãn các tiêu chí cơ bản để mang lại thỏa thuận khôn ngoan, hiệu quả và thân thiện. TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM CHỈ MANG LẠI NHỮNG THỎA THUẬN THIẾU KHÔN NGOAN Khi các nhà đàm phán mặc cả về quan điểm, họ thường tự giam mình trong những quan điểm này. Bạn càng làm rõ quan điểm của mình và bảo vệ nó khỏi bị tấn công thì bạn càng dính chặt vào nó. Bạn càng cố gắng thuyết phục phía bên kia rằng quan điểm ban đầu của bạn không thể thay đổi thì việc này càng khó có thể thực hiện được. Cái tôi của bạn trở nên đồng nhất với quan điểm của bạn. Bạn hiện có mối quan tâm mới về việc “giữ thể diện” – trong việc thống nhất giữa hành động ở tương lai với lập trường trong quá khứ – khiến khả năng đạt được thỏa thuận nào đó hòa hợp với lợi ích ban đầu của các bên một cách khôn ngoan ngày càng khó thực hiện. Nguy cơ tranh cãi về vấn đề lập trường sẽ cản trở tiến trình đàm phán. Ví dụ điển hình là sự đổ vỡ cuộc đàm phán về việc cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện dưới thời Tổng thống John F. Kennedy. Vấn đề then chốt nảy sinh: Liên Xô và Hoa Kỳ nên được phép thực hiện bao nhiêu cuộc thanh tra tại hiện trường mỗi năm trên phạm vi lãnh thổ nước kia để điều tra những sự kiện chấn động đáng ngờ? Cuối cùng, Liên Xô đồng ý tiến hành ba cuộc điều tra. Hoa Kỳ lại khăng khăng yêu cầu không dưới mười cuộc. Do vậy, các cuộc đàm phán này đã thất bại – do tranh cãi về quan điểm – mặc dù không bên nào hiểu liệu một “cuộc điều tra” sẽ chỉ gồm có một người đi xem xét lòng vòng trong một ngày hay có một trăm người soi mói bừa bãi trong một tháng. Các bên hầu như không nỗ lực xây dựng quy trình điều tra có thể dung hòa được sự quan tâm thẩm tra của Hoa Kỳ với mong muốn của cả hai bên về sự xâm phạm tối thiểu. Khi càng chú ý nhiều đến quan điểm thì người ta lại càng ít quan tâm đến việc đáp ứng những lo ngại cơ bản của các bên. Vì vậy, khó có thể tiến tới thỏa thuận dễ dàng. Các thỏa thuận đạt được lúc này chỉ phản ánh sự phân chia máy móc khoảng chênh lệch giữa những lập trường cuối cùng được đưa ra, chứ chưa phải là giải pháp được tính toán kỹ càng nhằm đáp ứng lợi ích hợp pháp của các bên. Kết quả đạt được thường là thỏa thuận ở mức thấp hơn so với mong muốn của hai bên. TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM LÀ KHÔNG HIỆU QUẢ Phương pháp đàm phán thông thường có thể mang lại thỏa thuận, như với trường hợp trả giá cho chiếc đĩa bằng đồng thau hoặc đi đến thất bại, như với trường hợp thống nhất số lượng cuộc điều tra tại hiện trường. Trong cả hai trường hợp, quá trình này đều mất nhiều thời gian. Thương thuyết theo lập trường tạo ra động cơ trì hoãn giải quyết vấn đề. Trong khi tranh cãi về vấn đề quan điểm, bạn cố gắng cải thiện cơ hội đạt được thỏa thuận nào đó có lợi cho mình bằng việc bắt đầu đàm phán với lập trường cực đoan, giữ khư khư quan điểm này, lừa gạt đối phương rằng đó chính là quan điểm thực sự của bạn và chỉ nhân bộ chút ít để giữ cuộc đàm phán tiếp tục diễn ra. Và đối phương cũng làm điều tương tự. Mỗi yếu tố này đều có xu hướng cản trở việc nhanh chóng đạt được cách giải quyết. Các quan điểm ban đầu càng cực đoan và sự nhân nhượng càng ít đi thì mất càng nhiều thời gian và công sức để nhận ra thỏa thuận có thể đạt được hay không. Phương pháp đàm phán trên nguyên tắc cũng đòi hỏi phải có rất nhiều các quyết định riêng lẻ của từng cá nhân vì mỗi nhà thương thuyết quyết định đề nghị gì, bác bỏ gì và có thể nhân nhượng đến mức nào. Việc ra quyết định rất khó khăn và mất thời gian. Khi một quyết định không chỉ là việc phải nhượng bộ đối phương mà còn là sức ép buộc phải nhân nhượng hơn nữa, thì nhà thương thuyết hầu như không có động cơ để tiến nhanh hơn. Chậm chạp lề mề, đe dọa bỏ ra ngoài, cản trở và những chiến thuật khác tương tự đã trở nên cũ rích. Tất cả những chiến thuật này chỉ làm mất thêm thời gian và tiền bạc để tiến tới thỏa thuận cũng như tăng nguy cơ không đạt được thỏa thuận nào cả. TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM LÀM HỎNG MỐI QUAN HỆ ĐANG TỐT ĐẸP Việc tranh cãi về quan điểm sẽ trở thành cuộc đấu trí. Mỗi nhà thương thuyết xác nhận những gì anh ta sẽ làm và sẽ không làm. Nhiệm vụ cùng xây dựng giải pháp chung có xu hướng trở thành trận chiến. Mỗi bên đều cố gắng qua sức mạnh ý chí tuyệt đối để gây sức ép buộc phía bên kia phải thay đổi lập trường. “Tôi sẽ không chịu nhượng bộ đâu. Nếu anh muốn đi xem phim với tôi, thì đó phải là phim The Maltese Falcon (tạm dịch: Chim ưng Malta) hoặc chúng ta không xem gì hết.” Hậu quả thường là sự giận dữ và bực tức vì mỗi bên thấy mình phải thuận theo ý muốn cứng nhắc của đối phương trong khi mối quan tâm thích đáng của mình lại bị bỏ qua. Do vậy, việc tranh cãi về quan điểm gây căng thẳng và có khi còn làm tan vỡ mối quan hệ giữa các bên. Các doanh nghiệp thương mại đã từng làm việc với nhau trong nhiều năm có thể cắt đứt quan hệ. Hàng xóm láng giềng có thể không qua lại với nhau. Cảm giác cay đắng từ sự việc này gây ra có thể kéo dài cả đời người. TRONG ĐÀM PHÁN ĐA PHƯƠNG, TRANH CÃI VỀ QUAN ĐIỂM ĐEM LẠI KẾT QUẢ XẤU Nếu xét một cuộc đàm phán chỉ có hai bên, chỉ có bạn và “phía bên kia”, thì dễ thảo luận hơn, nhưng thực tế, hầu hết mọi cuộc đàm phán đều liên quan đến nhiều bên. Các bên có thể cùng ngồi vào bàn, hoặc mỗi bên ủy quyền cho một người như chóp bu, ban giám đốc hay các ủy ban liên quan. Càng đông người tham gia vào đàm phán, những trở lực do thương thuyết theo lập trường lại càng nghiêm trọng. Nếu khoảng 150 quốc gia cùng đàm phán trong các hội nghị của Liên Hiệp Quốc, thương thuyết theo lập trường gần như không thể thực hiện được. Kiểu thương thuyết có thể làm cho tất cả đều nói “đồng ý”, nhưng chỉ một bên nói “không” thì sự nhượng bộ có đi có lại khó có thể thực hiện: Bạn nhượng bộ ai? Kể cả hàng nghìn cuộc đàm phán song phương cũng không phức tạp bằng một thỏa thuận đa phương. Trong những tình huống như vậy, thương thuyết theo lập trường thường dẫn tới việc hình thành liên minh giữa các bên mà lợi ích chung của họ mang tính tượng trưng hơn là thực chất. Tại Liên Hiệp Quốc, những liên minh này thường tạo ra các cuộc đàm phán giữa “Bắc” và “Nam” hay giữa “Đông” và “Tây”. Do có nhiều thành viên trong một nhóm nên việc xây dựng quan điểm chung lại càng trở nên khó khăn hơn. Tồi tệ hơn, khi họ đã vất vả thiết lập và nhất trí một lập trường thì việc thay đổi lập trường đó lại càng trở nên gian nan hơn nhiều. Việc thay đổi một quan điểm cũng không dễ dàng gì khi các thành viên mới tham gia có quyền hạn cao hơn. Ngay cả khi họ không có mặt tại bàn đàm phán thì những người khác vẫn cần phải có sự chấp thuận của họ.   Mời các bạn đón đọc Thương Lượng Không Nhân Nhượng của tác giả William Ury.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Dạy Con Làm Giàu Tập 7 - Ai Đã Lấy Tiền Của Tôi
Dạy Con Làm Giàu Tập 7 – Ai Đã Lấy Tiền Của Tôilà quyển sách sẽ giúp hiểu rõ được như thế nào là kiếm tiền, như thế nào để làm giàu, và trả lời câu hỏi: Làm thế nào để biến 10.000 đôla thành 10 triệu đôla trong 10 năm?Dù không chỉ cho bạn chính xác phải làm gì, bởi vì mọi thứ tùy thuộc vào bạn, nhưng quyển sách này sẽ cung cấp cho bạn kiến thức và những kinh nghiệm để kiểm soát tiền bạc, tương lai tài chính của mình và còn làm ra nhiều tiền hơn nữa.Giúp bạn hiểu: Tại sao một số nhà đầu tư thu được nhiều lợi nhuận nhanh hơn những nhà đầu tư trung bình với ít nguy cơ, tiền bạc và thời gian và đưa ra nhiều chiến lược đầu tư để bạn có thể xem xét và chọn lựa.
Dạy Con Làm Giàu Tập 6 - Những câu chuyện thành công
Dạy Con Làm Giàu Tập 6 – Những câu chuyện thành côngTrong những cuốn Dạy con làm giàu trước, các bạn đã được làm quen với Kim tứ đồ miêu tả bốn loại người trong thế giới tài chính. Nhóm L và T ở cột bên trái của Kim tứ đồ tượng trưng cho nhóm người làm công lĩnh lương và nhóm làm tư hay chủ kinh doanh nhỏ. Nhóm C và Đ bên phải của Kim tứ đồ tượng trưng cho chủ doanh nghiệp hay công ty và nhà đầu tư.Những người chia sẻ các câu chuyện thành công của họ trong cuốn sách này đều muốn giành được một mục tiêu tương tự như nhau: sự tự do về tài chính. Tất cả họ đều phấn đấu để di chuyển sang cột bên phải của Kim tứ đồ.Những câu chuyện của họ nói lên sự khác nhau giữa việc hoàn toàn phụ thuộc vào người khác để có thu nhập với việc kiểm soát cuộc sống tài chính của bản thân. Họ chia sẻ những vấn đề tài chính mà họ sợ phải đối mặt cũng như cách họ chinh phục nỗi sợ đó. Như người bố giàu khuyên bảo, họ phát triển con đường riêng thích hợp cho mình.Họ có những bước đi đạt được sự an toàn về tài chính bằng cách mua những dự án kinh doanh hay đầu tư vào bất động sản hoặc cả hai. Những người đã sở hữu những dự án kinh doanh sử dụng các bài học của Người bố giàu để giúp họ điều hành doanh nghiệp tốt hơn và theo định hướng người chủ thân thiện hơn.Qua những câu chuyện thành công của những người đã đón nhận lời khuyên của Người bố giàu và đạt được sự thành công tài chính của riêng họ, bạn sẽ biết được:
Bánh Răng Khởi Nghiệp - Đường Đến Thành Công
Bánh Răng Khởi Nghiệp – Đường Đến Thành CôngKhởi nghiệp không phải là một điều quá lạ lẫm với người Việt nhưng những năm gần đây khởi nghiệp đã mang một luồn sinh khí mới đến với các bạn trẻ Việt Nam, cũng như tạo nên một ngọn gió mới, tươi trẻ và đầy năng lượng hơn đến với nền kinh tế Việt.Thế nhưng khởi nghiệp không phải là một con đường đầy màu hồng và dễ đi. Đó là con đường vừa có hoa hồng, vừa có gai của hoa hồng. Thế nên, có rất nhiều bạn, đã phải dừng chân dù con đường ấy vẫn trải dài và rộng mở. Nhưng nó chỉ dành cho những bạn đủ bản lĩnh cũng như sự kiên định trên con đường mà mình đã chọn.Việt Nam là một môi trường khởi nghiệp mới nổi ở thị trường Đông Nam Á, ẩn chứa nhiều tiềm năng và đang thú hút nhiều sự đầu tư và tham gia của những tổ chức đầu tư lớn và cả chính phủ. Ngày càng có nhiều câu chuyện khởi nghiệp thành công ở Việt Nam, tuy nhiên chỉ mới là số ít. Ở giai đoạn hiện tại, môi trường khởi nghiệp của chúng ta chỉ mới ở giai đoạn hình thành, mặt bằng chung cộng đồng vẫn còn thiếu kiến thức và phương pháp để biến những ý tưởng thành những kế hoạch kinh doanh thực sự.Nếu bạn đang lên kế hoạch theo đuổi một ý tưởng kinh doanh mới hoặc phát triển một mô hình kinh doanh đã có, bạn sẽ muốn tìm ra một vài lời khuyên. “Bánh răng khởi nghiệp” sẽ giúp bạn. Hãy dùng các mô thức trong “Bánh răng khởi nghiệp” để quyết định xem ý tưởng nào trong vô vàn ý tưởng mình đang tìm hiểu chứa nhiều tiềm năng nhất. Bạn cũng có thể dùng nó để quyết định thúc đẩy việc kinh doanh hiện tại hay chuyển hướng phát triển một dự án khác thậm chí còn lớn hơn và tốt hơn những gì bạn trình phát triển của mình. tiến hành những kiểm  đượct chẽ với nhau. hình dung trước đây.“Bánh răng khởi nghiệp” không cung cấp các giải pháp cho những vấn đề cụ thể. Thay vào đó, cuốn sách là khung sườn để đánh giá thực trạng cho một tình huống bạn đang có. Phần trả lời cho các câu hỏi được đặt ra trong từng chương sẽ tạo nên kết quả và chiến lược dành riêng cho bạn. Hãy xem giáo trình này như một huấn luyện viên cá nhân – người sẽ giúp bạn xác định chương trình đào tạo dựa trên mục tiêu của bản thân. Việc áp dụng các bài học sẽ giúp bạn biết cách tận dụng những lợi thế và tài sản quý giá nhất của mình như: các mối quan hệ, danh tiếng, tài năng, thời gian và tiền bạc.Về thực tiễn, “Bánh răng khởi nghiệp” được biên soạn cho những doanh nhân trẻ, nhà lãnh đạo các tập đoàn to và nhỏ trên toàn cầu. Cuốn sách giúp họ xác định ý tưởng mới lạ nào xứng đáng để theo đuổi. Khi họ có cơ hội, “Bánh răng khởi nghiệp” sẽ giúp gầy dựng một thị trường mới hoặc làm nên những đột phá khác biệt tại thị trường đã có sẵn. Có thể nói, tác phẩm này là kết quả của quá trình nỗ lực cộng tác giữa các doanh nhân và học giả. Mỗi đề xuất trong cuốn sách đã được kiểm định bởi các giám đốc điều hành khắp thế giới.“Bánh răng khởi nghiệp” là một quyển sách có thể giúp các bạn hình dung được những chặng đường mình phải đi trên con đường khởi nghiệp. Không một bánh răng nào có giá trị nếu đứng một mình, cũng như trong chuỗi bánh răng ấy, nếu thiếu một yếu tố thì chuỗi bánh răng đó cũng không hoàn hảo.Để giúp cho bạn trẻ Việt có một cái nhìn thực tế hơn từ các thương hiệu khởi nghiệp hàng đầu của Việt Nam, “Bánh răng khởi nghiệp” có thêm mục Câu chuyện minh họa là chính câu chuyện thực tế được chia sẻ từ các Tổng giám đốc, giám đốc hay của người sáng lập như câu chuyện của Adayroi, Nhommua, Ticketbox, Triip.me… sẽ giúp các bạn có được những kinh nghiệm sát thực trong thị trường Việt Nam.“Bánh răng khởi nghiệp” còn là nguồn thông tin hữu ích cho sinh viên đại học và cao học. Nguyên lý học thuật của giáo trình này bắt nguồn từ Khoa Kinh Tế của Đại Học Harvard và Đại Học Stanford, Hoa Kỳ. Hơn nữa, “Bánh răng khởi nghiệp” cũng đang được áp dụng giảng dạy tại Đại Học Stanford và trường Kinh Tế Stockholm.Từ năm 2011, tổ chức Viet Youth Entrepreneur (VYE) đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm truyền cảm hứng, lan tỏa tinh thần cũng những kiến thức nền tảng khởi nghiệp đến với giới trẻ Việt Nam, tập trung vào đối tượng sinh viên. Với sự đỡ đầu của Giáo sư Tom Kosnik cùng sự hỗ trợ mạnh mẽ của những công ty đầu ngành trong lĩnh vực đầ tư và khởi nghiệp, VYE đã lan tỏa được sức ảnh hưởng và mang lại giá trị đến hang nghìn bạn trẻ thông qua hoạt động “boot camp” và những hoạt động cho cộng đồng khởi nghiệp khác. Trong thời gian ấy, kiến thức trong cuốn sách “Gear Up” mà Giáo sư Tom Kosnik đồng tác giả được Ban điều hành của VYE sử dụng làm giáo trình và định hướng cho các hoạt động của mình. Việc chính thức dịch và phát hành cuốn sách này ở Việt Nam không chỉ giúp VYE lan tỏa mạnh mẽ hơn trong các hoạt động của mình mà còn giúp cho các bạn trẻ Việt Nam có thể tiếp cận với kiến thức nền tảng về khởi nghiệp dễ dàng hơn.