Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Huyền Thoại Kim Quang Sứ (Thủy Liên Tử)

Đức Kim Quang Thiên Tử là một vị trong số Thập Nhị Khai Thiên thuở Khai Thiên Lập Địa. Ngài là vị Thiên Tử xuất hiện từ rất sớm trong Đại Vũ Trụ. Ngài có quyền năng đem ánh sáng thiên lương soi rọi những nơi tối tăm vô minh. Tôn danh của Ngài có nghĩa là Sứ giả lưu truyền ánh sáng rực rỡ.

Các tôn danh của Ngài được biết đến trong nhiều nền văn hóa là:

- Đức Kim Quang Thiên Tử

- Đức Kim Quang Sứ

- Tổng Lãnh Thiên Sứ Lucifer Tìm mua: Huyền Thoại Kim Quang Sứ TiKi Lazada Shopee

- Người lưu truyền ánh sáng

- Ánh sáng ban mai

- Chúa Quỷ Lucifer

- Lucifer phản nghịch

…..……..

* Hình dáng và các tính chất đặc trưng của Ngài

Ngài thường thị hiện thân ảnh là nam nhân dạng độ tuổi hơn ba mươi, gương mặt thanh tú rạng ngời. Mái tóc Ngài búi cao trên đỉnh đầu, có Liên Hoa Quan nơi búi tóc, phần còn lại thả dài phía sau, có màu bạch kim óng ánh như nắng ban mai soi rọi qua sương sớm đọng trên cành lá. Trên đầu Ngài đội một vòng nguyệt quế biểu trưng của trí tuệ diệt trừ vô minh phiền não trong sự tranh đấu giữa ánh sáng và bóng tối.

Bên trên đôi tai Ngài có một cặp cánh, biểu trưng của việc lắng nghe tiếng nguyện cầu, tiếng lòng, cũng như là tiếng gọi thiên lương trong tâm trí chúng sinh.

Thân trên Ngài để ngực trần, lộ ra ba cặp cánh sau lưng mình, biểu trưng của sự tự do tiêu dao, sự nỗ lực tinh tấn không ngừng nghỉ và quyền năng cai quản, thống lĩnh Thiên Sứ.

Ở hai bên chân Ngài là hai cặp cánh biểu trưng của việc vượt qua mọi chướng ngại, khổ đau để lưu truyền Đạo Quang, truy cầu tự do giải thoát.

Tay phải Ngài đưa lên không trung, phía trên bàn tay là Minh Triết Ấn phát ra ánh sáng của Đạo Pháp trường lưu, xua tan bức màn vô minh. Đạo quang này thông suốt quán triệt khắp Thiên Địa.

Tay trái Ngài nâng Pháp Luân Thường Chuyển, biểu trưng của Thiên Điều, quy luật vận hành vũ trụ.

Ngài đứng trên Bạch Tuyết Kim Liên mãn khai, đóa sen biểu trưng của vô ưu vô nhiễm, kim cang tâm bất thoái chuyển. Trên đài sen này có mười hai hạt sen, tượng trưng cho các hóa thân, chiết linh, chủng tử của Ngài rất nhiều, rải trồng khắp Tam Giới.

Ngài được tôn kính vì là vị Thiên Tử có nhiều điểm rất giống với tánh đức thiên lương toàn giác toàn năng của Đấng Tạo Hóa.

Nâng đỡ đóa sen của Ngài có vị Linh Thú là Trầm Ngư Chúa uốn lượn quanh Ngài. Đây là một vị linh thú có hình dạng của cá chình khổng lồ, trên đầu có một chỏm lông mào trông như vương miện biểu trưng cho sự tinh tấn siêu việt trong chủng loài Trầm Nê Ngư, cặp mang và vây lưng đã vũ hóa siêu phàm nên hiện hình là lông vũ.

- Trong Thần Tích Adam và Eve sa ngã:

Adam và Eve bị Satan hiện thân thành rắn trên cây dụ ăn trái cấm để họ sa ngã khỏi Vườn Địa Đàng khi nhận thức ra các sự thật trần trụi và dục vọng của họ. Đó không phải rắn, mà là Trầm Nê Ngư. Các Trầm Nê Ngư tồn tại rất nhiều ở khắp nơi trong linh giới, thường thích ẩn náu trong các tán cây lùm cây lớn có nhiều bóng râm. Thường khơi gợi tâm tư tình cảm vi tế của người tiếp cận, nếu họ vượt qua được những rung động này, tự mình tịnh hóa, bình yên thân tân thì họ sẽ được tinh tấn. Nếu họ không vượt qua được các loạn động tâm tình thì tự nhiên họ dễ sa ngã đọa lạc.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Thủy Liên Tử":Tam Giới Toàn Thư - Quyển 1Tam Giới Toàn Thư - Quyển 2Tam Giới Toàn Thư - Quyển 3Tam Giới Toàn Thư - Quyển 4Tam Giới Toàn Thư - Quyển 5Tam Giới Toàn Thư - Quyển 6Tam Giới Toàn Thư - Quyển 7Tam Giới Toàn Thư - Quyển 8Tam Giới Toàn Thư - Quyển 9Tam Giới Toàn Thư - Quyển 10Huyền Thoại Kim Quang SứQuái Đàm Mạn LụcTam Độc Ký

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Huyền Thoại Kim Quang Sứ PDF của tác giả Thủy Liên Tử nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Tam Ngươn Giác Thế Kinh - Chiếu Minh Đàn (NXB An Hà 1932)
Trong Trời Đất có ba Ngươn: Thượng ngươn - Trung Ngươn - Hạ Ngươn. Ba Ngươn ấy là cái số cuối cùng của Trời Đất. Thượng Ngươn là: ngươn đã gây dựng CKVT. Nên còn gọi là Ngươn Tạo Hóa hay Ngươn Thượng Đức, con người lúc ấy tánh chất hiền lương chất phát. Thuận tùng Thiên Lý, trên hòa dưới hiệp bảo vệ thương yêu nâng đỡ nhau, cùng chung nhau hưởng đời an lạc, gọi là đời Thượng Lực. Đến đời trung Ngươn, thì con người bỏ mất tánh thiện lương, càng ngày càng học hỏi thu thập nhiều thói hư xấu, rồi nghĩ ra nhiều mưu lược tương tàn, tương sát giết hại lẫn nhau, mạnh đặng yếu thua, miễn sao mình vinh thân phì da, không kể gì đến tính đồng loại, nghĩa đồng bào, bởi vậy nên còn gọi là Ngươn tranh đấu. Hạ Ngươn còn gọi là đời mạt kiếp: sự đấu tranh càng ngày càng gay go hung tợn. Chế tạo ra nhiều vũ khí tối tân, giết người hàng loạt. Mưu quỉ kế là ác độc phi thường. Thậm chí còn bày ra hạt nhân nguyên tử. Nếu đấu tranh càng lắm, thì cũng phải tới thời kỳ tiêu diệt, bởi thế còn gọi là đời mạt kiếp hay ngươn điêu tàn. Tam Ngươn Giác Thế KinhNXB An Hà 1932Chiếu Minh Đàn213 TrangFile PDF-SCAN
Đập vỡ vỏ hồ đào - Thích Nhất Hạnh
Lời tựaĐập vỡ vỏ hồ đào – Thiền sư Nhất Hạnh giảng Trung Quán LuậnNếu trong khoa học có những khối óc như Einstein thì trong Phật học cũng có những trái tim như Long Thọ. Bộ óc là để thấy và để hiểu, trái tim cũng là để thấy và để hiểu. Không phải chỉ có bộ óc mới biết lý luận. Trái tim cũng biết lý luận, và có khi trái tim có thể đi xa hơn bộ óc, bởi vì trong trái tim có nhiều trực giác hơn. Biện chứng pháp của Long Thọ là một loại lý luận siêu tuyệt có công năng phá vỡ mọi phạm trù khái niệm để thực tại có cơ hội hiển bày. Ngôn ngữ của biện chứng pháp có khả năng phá tung được màng lưới khái niệm. Ngôn ngữ của toán học chưa làm được như thế. Bồ tát Long Thọ ra đời khi các cánh cửa của Phật giáo Đại thừa được bắt đầu mở rộng. Long Thọ thừa hưởng không gian khoáng đạt do các cánh cửa ấy cung cấp và vì vậy đã có khả năng khám phá trong kinh điển Phật giáo những viên bảo châu sáng ngời bị chôn lấp trong nền văn học Nikaya. Long Thọ nắm được cái tinh hoa của phương pháp học Phật giáo: loại bỏ được cái nhìn nhị nguyên để giúp tiếp xúc được với thực tại, một thứ thực tại bất khả đắc đối với những ai còn kẹt vào những phạm trù của khái niệm. Khoa học còn đang vùng vẫy để thoát ra khỏi cái nhìn nhị nguyên ấy: sinh-diệt, có-không, thành-hoại, tới-đi, trong-ngoài, chủ thể và đối tượng. Bụt Thích Ca nói: Có cái không sinh, không diệt, không có, không không, không thành, không hoại để làm chỗ quay về cho tất cả những cái có, không, sinh, diệt, thành, hoại. Mà cái không sinh không diệt ấy, cái không chủ thể không đối tượng ấy, mình chỉ có thể tiếp cận được khi mình vượt thoát màn lưới khái niệm nhị nguyên. Trung Quán là nhìn cho rõ để vượt ra được màn lưới nhị nguyên. Biện chứng pháp Trung Quán, theo Long Thọ, là chìa khóa của phương pháp học Phật giáo. Tác phẩm tiêu biểu nhất của bộ óc và trái tim Phật học này là Trung Quán Luận. Long Thọ không cần sử dụng tới bất cứ một kinh điển Đại thừa nào để thiết lập pháp môn của mình. Ông chỉ sử dụng các kinh điển truyền thống nguyên thỉ. Ông chỉ cần trích dẫn một vài kinh như kinh Kaccāyanagotta Sutta. Ông không cần viện dẫn bất cứ một kinh Đại thừa nào.Nếu Einstein có thuyết Tương Đối Luận thì Long Thọ có Tương Đãi Luận. Tương đãi có khác với tương đối. Trong tuệ giác của đạo Phật, cái này có mặt vì cái kia có mặt, cái kia không có mặt thì cái này cũng không. Vì ngắn cho nên mới có dài, vì có cho nên mới có không, vì sinh cho nên mới có diệt, vì nhơ cho nên mới có sạch, nhờ sáng cho nên mới có tối. Ta có thể vượt thoát cái thế tương đãi ấy để đi tới cái thấy bất nhị. Biện chứng pháp Trung Quán giúp ta làm việc ấy. Theo tuệ giác Trung Quán, nếu khoa học không đi mau được là vì khoa học gia còn kẹt vào cái thấy nhị nguyên, nhất là về mặt chủ thể và đối tượng, tâm thức và đối tượng tâm thức. Kinh Kaccāyanagotta cho ta biết là người đời phần lớn đang bị kẹt vào hai ý niệm có và không. Kinh Bản Pháp (S.2, 149-150) và kinh tương đương Tạp A Hàm (Tạp 456) cho ta thấy cái sáng có là nhờ cái tối, cái sạch có là nhờ cái nhơ, cái không gian có là vì có cái vật thể, cái không có là nhờ cái có, cái diệt có là vì có cái sinh. Đó là những câu kinh làm nền tảng cho tuệ giác tương đãi. Niết bàn là cái thực tại không sinh, không diệt, không có, không không, không không gian cũng không vật thể… và Niết bàn có thể chứng đắc nhờ cái thấy bất nhị. Ban đầu ta có ý niệm tương duyên (pratītyasamutpāda), rồi ta có các ý niệm tương sinh, tương đãi. Sau đó ta lại có ý niệm tương tức và tương nhập. Tất cả cũng đều có một nội dung như nhau. Những ý niệm không, giả danh và trung đạo cũng đều có ý nghĩa đó.Hạt hồ đào (walnut) ăn rất ngon nhưng cái vỏ của nó rất cứng. Ở Tây phương người ta có chế ra một cái kẹp sắt, chỉ cần bóp mạnh cái kẹp thì vỏ hồ đào vỡ và ta có thể thưởng thức ngay hương vị thơm ngọt và bùi của hồ đào. Có những kẻ trong chúng ta đã từng bị lúng túng trong khi đọc những bài kệ Trung Quán Luận. Nhưng trong hai mùa Đông năm 2001-2002 và 2002-2003, thầy của chúng tôi là thiền sư Nhất Hạnh đã giảng giải cho chúng tôi nghe và hiểu được những bài kệ ấy một cách dễ dàng và thích thú. Sách này ghi lại những bài giảng của thầy về sáu phẩm căn bản của Trung Quán Luận, các phẩm Nhân Duyên, Khứ Lai, Tứ Đế, Hữu Vô, Nhiên Khả Nhiên và Niết Bàn. Những phẩm này đại diện được cho toàn bộ Trung Quán Luận.Thầy Long Thọ sinh vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai trước Thiên chúa giáng sinh(B.C.), trong một gia đình Ấn Độ giáo. Lớn lên thầy đã học Phật và theo Phật giáo. Thầy đã sáng tác bằng tiếng Phạn thuần túy, thay vì bằng tiếng Pali hay bằng tiếng Phạn lai Phật giáo.Tác phẩm Trung Quán Luận của thầy có mục đích xiển dương Đệ Nhất Nghĩa Đế (Paramartha) của đạo Bụt. Đệ nhất nghĩa đế là sự thật tuyệt đối. Ngoài sự thật tuyệt đối còn sự thật tương đối, tức là Thế tục đế (Saṃvrti). Sự thật tương đối tuy không phải là sự thật tuyệt đối nhưng cũng có khả năng chỉ bày, chuyển hóa và trị liệu, do đó không phải là cái gì chống đối lại với sự thật tuyệt đối. Mục đích của Long Thọ, như thế không phải là để bài bác chống đối sự thật tương đối mà chỉ là để diễn bày sự thật tuyệt đối. Nếu không có sự thật tuyệt đối thì thiếu phương tiện hướng dẫn thể nhập thực tại tuyệt đối, tức chân như hay Niết bàn. Vì vậy trong khi đọc Trung Quán Luận, ta thấy có khi như Long Thọ đang phê bình các bộ phái Phật giáo đương thời như Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) hay Độc Tử Bộ (Pudgalavāda) hay Kinh Lượng Bộ (Sautrāntika). Long Thọ không đứng về phía một bộ phái nào, không bênh vực một bộ phái nào, cũng không chỉ trích bài bác một bộ phái nào. Ông chỉ có ý nguyện trình bày Đệ Nhất Nghĩa Đế của đạo Bụt, thế thôi.
Biết Lối Quy Y - Thiều Chửu (NXB Đuốc Tuệ 1940)
Quy, nói đủ là quy-y. Quy-y nghĩa là minh tự biết minh say đắm cảnh đời, làm nhiều tội lỗi, cũng như người con cứng đầu cứng cổ, không ăn lời cha mẹ dạy, bỏ nhà ra đi đua đòi bạn xấu, làm càn làm bậy, đến nỗi tấm thân bơ vơ đất khác, đói khát giãi dầu, cảnh khổ ê trề, bây giờ mới nhớ đến cha mẹ mà quay đầu về ngay, thì lại được yên ổn xung xướng ngay. Lại như người đang bị ngã xuống bể, ngoi ngóp sắp chết, thấy có thuyền đến, liền ngoi lại ngay, khi lên được trên thuyền, thay áo khỏi rét, ăn cơm khỏi đói, hết sự sợ lại khốn khổ, được hưởng cái phúc no ấm xênh sang, thế là quy y. Biết Lối Quy YNXB Đuốc Tuệ 1940Thiều Chửu (Nguyễn Hữu Kha)22 TrangFile PDF-SCAN
Bát Quái Đạo số 12 (1938) - Hải Bằng
Bát-Quái-Đạo càng về sau càng ly kỳ, sẽ có nhiều cuộc thử tài của các phái võ, phái Đại Thiếu-Lâm sẽ phái người xuống giúp bạn Nam Thiếu-Lâm để đối trội với nhân vật phái Ngũ – Long bên Tây - Tạng. Nghĩa là trong pho chuyện này có đủ hết mặt các tay anh-hùng về đời nhà Thanh. Tự số 3 trở đi sẽ giảng vũ-thuật, nếu tiện sẽ có những hình vẽ rất rõ ràng, để các bạn dễ hiểu hơn, nhưng công việc ấy rất khó, gia cố hết sức để làm vừa lòng các bạn. Bát Quái Đạo Số 12NXB Đông Quang Văn Đoàn 1938Hải Bằng16 TrangFile PDF-SCAN