Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thiên Đường Tiền Xu Tập 2

Thiên đường Tiền xu vẫn vậy, luôn làm vui lòng khách đến , vừa lòng khách đi. Ngặt một nỗi đám bánh kẹo ở tiệm lạ làng quá, khiến họ mê mẩn hết rồi. Đến nỗi lần nào Beniko cũng phải cẩn thận dặn dò khách về những tai ương có thể ập đến nếu lỡ ăn bánh kẹo không đúng cách, vậy mà người thì quên béng, người thì nghe rồi bỏ đấy. Để rồi cuối cùng có thể bị cuốn vào một thế giới xa lạ... *** Hiroshima Reiko, sinh tại tỉnh Kanagawa, Nhật Bản và là một tác giả sách thiếu nhi lừng danh. Năm 2005, bà đoạt giải Juniorboukenshousetsu với tác phẩm Suiyou no mori. Bà cũng là tác giả của vô số các tác phẩm văn học thiếu nhi, kỳ ảo nổi tiếng khác. jyajya, sinh tại Fukuoka, từng làm nhân viên cho một công ty phát triển các ứng dụng trên điện thoại. Năm 2011, jyajya bắt đầu ra làm thiết kế tự do và hiện đã lấn sân sang cả lĩnh vực vẽ minh họa. *** Bánh cuộn siêu trộm Hidemoto vừa thở hổn hển vừa chạy vào một con hẻm tối. Hắn có cảm giác dù mình có chạy thế nào, chạy kiểu gì những kẻ phía sau vẫn sẽ đuổi kịp. Khỉ thật. Là đám cảnh sát đây mà. Cảnh sát gì mà lại đi rình bắt cả trộm vặt như mình chứ. Đúng là lũ rỗi hơi. Muốn bắt thì bắt bọn trộm tài sản kia kìa. Hidemoto bất giác chửi thầm trong bụng. Đúng vậy, Hidemoto là một tên trộm. Hơn thế nữa còn là một tên trộm vặt vãnh tầm thường. Hắn chẳng những vụng về mà còn nhát gan. Hắn chỉ dám đột nhập khi chủ nhà đi vắng hoặc lấy cắp đồ ở cửa hàng tiện lợi, ấy vậy mà toàn hỏng việc. Lần này cũng thế. Đói quá nên hắn định sẽ trộm cơm nắm ở cửa hàng tiện lợi, ai ngờ đúng lúc đó mấy người đàn ông rần rần từ đâu kéo tới. Thôi chết rồi! Cũng may hắn vẫn còn có trực giác của một tên trộm, nhận ra đám người đó chính là cảnh sát mặc thường phục, Hidemoto lập thức tháo chạy. Hắn lao ngay vào con hẻm bên cạnh, rồi chỉ biết phó mặc cho đôi chân chạy bán sống bán chết. Hắn còn chẳng rõ mình đang chạy đi đâu, chỉ biết phải chạy cho thật nhanh. Chạy được một lúc cuối cùng hắn cũng phải dừng lại vì không còn chút sức lực nào nữa. Hắn dỏng tai nghe ngóng nhưng không thấy động tĩnh gì. Xem ra thoát rồi. Trời tối đen như mực làm hắn lao phải con hẻm này nhưng hóa ra lại hay. Hidemoto thở dốc, ngồi thụp xuống nền đất bẩn thỉu. Đầu gối hắn vẫn run bần bật, hơi thở vẫn gấp gáp. Nói gì thì nói hắn đã bốn mươi sáu tuổi rồi. Hồi mười mấy, hai mươi chạy trốn kiểu này có thấm gì với hắn, nhưng giờ ở tuổi này âu cũng lực bất tòng tâm. Lần tới có khi hắn sẽ chạy không nổi, cứ ngồi đấy chờ bị tóm cũng nên. Cảm giác sợ hãi đó vẫn dai dẳng đeo bám tâm trí Hidemoto. Hắn muốn được thanh thản. Hắn muốn được giải thoát khỏi nỗi sợ khủng khiếp này. Đúng lúc thâm tâm hắn đang vang lên những suy nghĩ đó, Hidemoto chợt có linh cảm, hắn quay người lại. Ở ngay phía sau, sâu tận cùng con hẻm có một cửa hàng nhỏ. Cửa hàng trông có vẻ lâu đời với biển hiệu khang trang đề tên “Thiên đường tiền xu”. Gần nửa đêm rồi mà chừng như ở đây vẫn đang mở cửa. Tò mò không biết đó là cửa hàng gì, Hidemoto căng mắt ra nhìn. Thế rồi hắn ngạc nhiên khi thấy trong quầy bày vô số các loại bánh kẹo đủ sắc màu. Ra là một tiệm bánh kẹo à. Hồi nhỏ hắn cũng hay đến tiệm bánh kẹo lắm. Nhắc mới nhớ, lần đầu tiên hắn ăn trộm cũng là ở tiệm bánh kẹo. Hắn đã qua mắt được bà chủ tiệm, lén lút nhét một cục thạch màu đỏ vào túi, sau đó bước ra khỏi cửa trong khi trống ngực vẫn đập thình thịch. Kể từ đó, hắn bắt đầu rời xa con đường đúng đắn, sa chân vào trộm cắp. Hidemoto vừa hồi tưởng lại cảm giác hối hận pha chút hoài niệm, vừa tiến đến gần tiệm bánh kẹo như thể bị lôi cuốn bởi một sức hút lạ kỳ nào đó. Cảnh sát có thể đuổi kịp hắn bất cứ lúc nào. Hắn phải rời khỏi đây ngay lập tức. Bụng nghĩ vậy, nhưng đám bánh kẹo trong tiệm cứ níu chặt lấy trái tim hắn không rời. Bánh giầy mến mộ, Nước chanh giả bệnh, Hạnh nhân hải tặc, Kẹo thời tiết, Bánh xèo lộn xộn, Soda Tengu[1], Pinocchio Pick[2], Bánh đậu đỏ nửa đêm. Toàn những loại bánh kẹo hắn chưa thấy bao giờ, Hidemoto bỗng vui mừng khôn xiết. Hắn say sưa ngắm nghía hết loại này đến loại khác, cùng lúc đó một cái bóng to lớn chậm rãi trượt đến từ bóng tối sâu bên trong cửa tiệm. Hidemoto sửng sốt, cái bóng giờ đã biến thành một người phụ nữ cao to đứng trước mặt hắn. Người này có tạng người to con, cao hơn Hidemoto cả hai cái đầu. Chị ta mặc bộ kimono màu đỏ tím, mái tóc được tô điểm bởi vô số những trâm cài đầu. Mặt chị ta trông vẫn còn trẻ, thế nhưng tóc lại bạc trắng hết cả. Đôi môi tô son đỏ chót nở một nụ cười bí hiểm đầy ẩn ý. Người này không xoàng đâu. Hidemoto bắt đầu run lên, nhưng hắn không thể chạy trốn nổi. Toàn thân hắn không tài nào cử động, như thể nó đã bị khâu lại với cái bóng của chính mình vậy. Thế rồi, người phụ nữ lịch sự cúi đầu. “Chào mừng quý khách đến với Thiên đường tiền xu bán hàng cả ban đêm của chúng tôi. Mời quý khách cứ từ từ xem hàng.” “À, chẳng là, tôi...” “Tiệm bánh kẹo Thiên đường tiền xu của chúng tôi có thể biến điều ước của những khách hàng may mắn thành hiện thực. Chắc chắn quý khách sẽ tìm thấy món đồ mình đang cần. Nếu quý khách ngại tìm, ta sẽ tìm giúp. Nào, xin đừng khách sáo, hãy cho ta biết quý khách muốn gì.” Dứt lời, bà chủ tiệm lập tức tiến lại gần Hidemoto. Bị áp đảo bởi khí thế ấy, Hidemoto buột miệng nói ra suy nghĩ thật của mình. “Tôi muốn trở thành một tên trộm tài giỏi, một siêu trộm huyền thoại, xuất sắc hơn người, và không bao giờ bị tóm.” Nói xong, Hidemoto biết mình đã lỡ miệng. Nói vậy khác nào hắn vừa tự thú mình chính là một tên trộm. Hidemoto định chống chế rằng đó chỉ là lời nói đùa. Thế nhưng, mới đó mà bà chủ tiệm đã gật đầu mất rồi. “Nếu vậy, có một món lý tưởng cho quý khách đây. Xin quý khách đợi một lát nhé.” Nói rồi bà chủ tiệm lấy thứ gì đó từ giá đựng đồ tận trong cùng ra. Đó là một chiếc bánh mì ngọt. Mặt trên của bánh phủ lớp đường trắng trông như bánh mì chiên hoặc bánh rán vòng, nhưng hình dáng lại khác. Chiếc bánh này có hình giống cặp ria mép. Trên chiếc túi ni lông trong suốt bọc ngoài ghi dòng chữ “Bánh cuộn siêu trộm”. Trái tim Hidemoto đập rộn ràng trong lồng ngực. Chiếc bánh này là của mình! Định mệnh bảo nó phải là của mình! Trong đời hắn chưa bao giờ khao khát thứ gì đến vậy. Hắn thấy trân quý và coi trọng món bánh mì ngọt nhỏ bé này còn hơn cả vàng bạc lẫn đá quý. Bà chủ tiệm khẽ thì thầm những lời đường mật vào tai Hidemoto lúc này còn đang dán mắt vào món bánh đầy thèm thuồng. “Đây là Bánh cuộn siêu trộm. Tôi nghĩ nó chính là thứ quý khách đang tìm. Quý khách thấy sao? Chiếc bánh này có một trăm yên thôi?” Hidemoto vội vàng thọc tay vào túi tìm tiền lẻ. Không hiểu sao hắn không hề có ý định lấy cắp chiếc bánh. Đúng hơn là ý nghĩ trộm cắp thậm chí chưa từng xuất hiện trong đầu hắn. Bà chủ tiệm tươi cười nhận đồng một trăm yên từ Hidemoto. “Ồ. Quả nhiên. Đúng là đồng một trăm yên của năm Chiêu Hòa thứ năm mươi sáu rồi. Xin mời, bánh của quý khách đây.” Hidemoto giật lấy chiếc Bánh cuộn siêu trộm bà chủ tiệm đưa cho. Mình đã có nó! Mình đã có nó! Mình đã có nó rồi! Hidemoto vui mừng khôn tả, đầu óc hắn lâng lâng như thể vừa trúng vé số một trăm triệu yên. Đúng lúc đó, bà chủ tiệm lại thủ thỉ vào tai Hidemoto những lời vô cùng kỳ lạ. “Quý khách nên tiết chế vừa phải thôi. Trên đời này có những người còn may mắn hơn quý khách nhiều. Nếu quý khách quên mất điều đó thì...” Nhưng Hidemoto chẳng mảy may bận tâm tới lời cảnh báo đó. Mua được Bánh cuộn siêu trộm rồi, hắn cũng chẳng còn việc gì ở đây nữa. Hắn muốn được ở một mình nên lao như bay ra khỏi cửa hàng. Loáng một cái, Hidemoto đã đứng bên ngoài con hẻm khuất, tối tăm và yên tĩnh. Sau khi chắc chắn xung quanh không có người, Hidemoto mới nhìn ngắm chiếc bánh cuộn thật lung. Càng nhìn chiếc bánh, hắn càng bị lôi cuốn. Trên túi đựng có ghi những dòng chữ thế này: Ưu điểm của chiếc bánh này là việc có thể hành động ẩn danh dưới lớp cải trang tùy chọn. Nếu bạn khao khát được như siêu trộm Lupin tài hoa, người đã thực hiện thành công những phi vụ táo tợn và ngoạn mục mà không ai hay biết thì chiếc bánh cuộn siêu trộm này chính là dành cho bạn. Sau khi ăn bánh, ngay lập tức bạn sẽ sở hữu “năng lực trộm cắp”. Sẽ không người nào nhớ được khuôn mặt bạn và cũng sẽ chẳng ai phát hiện ra bạn được. Nào, cùng bước vào thế giới trộm cắp đẳng cấp thôi! Bước thì bước! Hidemoto xé túi ni lông, lấy chiếc bánh bên trong ra. Ở bên ngoài, Bánh cuộn siêu trộm lại càng hấp dẫn hơn. Lớp đường phủ trên mặt bánh sáng lấp lánh như những viên kim cương nhỏ xinh. Hidemoto cắn phập một miếng. Bánh ngon tuyệt vời. Vỏ ngoài giòn rụm, bên trong xốp mềm như bánh kếp. Lại thêm vị ngọt của lớp đường bọc ngoài không thể cưỡng lại được. Đang đói nên Hidemoto chỉ cắn bốn miếng đã hết bay chiếc bánh. Vừa ăn xong, hắn liền cảm thấy có gì đó rất khác thường. Dường như mọi thứ trên đời chẳng còn gì đáng sợ hết. Hidemoto đứng dậy, thong thả bước ra khỏi con hẻm. Hắn vừa ra tới mặt phố sáng đèn thì chạm trán ngay mấy người đàn ông. Hắn nhớ mặt một người trong số đó. Chính là một trong những tay cảnh sát mặc thường phục đuổi theo hắn ban nãy. Bình thường hắn đã giật nẩy mình lên, bấn loạn rẽ vào một con ngõ nào đó rồi. Hoặc hắn sẽ đột ngột quay gót, bỏ chạy thục mạng. Nhưng hẳn là nhờ ăn Bánh cuộn siêu trộm nên Hidemoto mới bình tĩnh thế này. Hắn tiến thẳng tới trước mặt đám người nọ. Khuôn mặt mấy người đàn ông mỗi lúc một gần hơn. Khi ánh mắt hai bên giao nhau, hắn mới chột dạ “Kiểu này có khi toi rồi”. Thế nhưng đám cảnh sát nhanh chóng nhìn về hướng khác, đi lướt qua hắn. Hidemoto nở nụ cười thỏa mãn. Bánh cuộn siêu trộm có năng lực thật rồi. Bọn chúng không nhớ mặt mình. Giờ mình đã có năng lực cải trang của Lupin. Hay quá! Từ giờ không còn phải canh cánh nỗi lo bị bắt nữa. Mình thích trộm gì thì trộm ấy thôi! Hidemoto nhảy cẫng lên vui sướng, chạy biến vào màn đêm. Thế rồi từ đó Hidemoto cứ trộm rồi lại trộm. Hắn không thèm đột nhập vào nhà trống hay trộm vặt vớ vẩn nữa. Giữa ban ngày ban mặt hắn đường đường chính chính bước vào những cửa hàng đá quý lớn, ních đầy đá quý vào túi ngay trước mặt nhân viên cửa hàng rồi lại thản nhiên đi ra. Vậy mà chẳng ai nhận ra hành vi phạm tội của hắn cả. Giả như ai đó có nhận ra đồ đạc của mình bị mất và đuổi theo hắn đi chăng nữa, họ cũng sẽ chẳng nhớ ra khuôn mặt hắn và cuối cùng đành bỏ cuộc thôi. Dĩ nhiên hành tung của tên trộm bí ẩn đã trở thành đề tài gây xôn xao dư luận. Hidemoto còn hân hoan phấn khích vì mỗi ngày hắn đều được báo đài nhắc tới. Mọi người đều đang đổ dồn sự chú ý vào mình. Mình cũng ra trò đấy chứ. Được rồi. Đã vậy mình sẽ học siêu trộm Lupin, gửi thư thách đấu xem sao. Gửi thư rồi mà vẫn trộm được đồ ngon lành cành đào, tên tuổi của mình lại chẳng càng nổi như cồn ấy à. Nghĩ là làm, Hidemoto gửi thư thách đấu tới đồn cảnh sát dưới danh nghĩa “siêu trộm Lupin”. “Vào ngày... tháng...,... giờ... phút, chiếc vương miện của của hàng đá quý ... sẽ thuộc về ta. Các người muốn ngăn cản ta thì cứ thử xem. Siêu trộm Lupin.” Thế rồi giữa vòng vây bảo vệ nghiêm ngặt của cảnh sát, hắn vẫn dễ dàng lấy được thứ mình muốn. Thật thú vị làm sao. Hắn tận hưởng sự hưng phấn và ly kỳ mỗi khi qua mặt được cảnh sát. Rồi cả cảm giác chẳng ai bằng mình, lẫn sự khoái trá khi báo đài công kích đám cảnh sát thiếu năng lực. Dù đây là điều hắn không tài nào hiểu nổi. Hidemoto càng ngày càng không thể dừng lại. Ham muốn sở hữu những món đồ dần biến mất, thay vào đó hắn chỉ còn cảm giác thích trộm cắp. Chuyện xảy ra sau khi hắn trở thành siêu trộm Lupin khoảng một tháng rưỡi. Hidemoto hay tin Nhật Bản mới mượn được một chiếc vương miện tuyệt phẩm từ nước ngoài. Chiếc vương miện vốn thuộc về hoàng tộc Nga, trên đó khảm những viên ngọc lục bảo và ngọc trai cỡ lớn, lộng lẫy đến sững sờ. Hidemoto liếm môi thán phục vẻ đẹp của chiếc vương miện. Đây chẳng phải là món đồ rất xứng đáng với tên tuổi của “siêu trộm Lupin” hay sao? Ồ. Ra nó đang được trưng bày tại bảo tàng à. Thế này là mỡ dâng tới miệng mèo rồi chứ gì nữa. Như thường lệ, Hidemoto gửi thư thách đấu cho cảnh sát và báo đài trước rồi mới tới bảo tàng. Biết tin siêu trộm Lupin đang nhắm tới chiếc vương miện, cảnh sát đã cho tăng cường bảo vệ rất nghiêm ngặt. Họ lại làm việc chu đáo thế này thật cảm kích quá, Hidemoto cười thầm trong bụng. Tuy nhiên, xin chia buồn. Nỗ lực của các vị cũng đành vô dụng trước năng lực của Bánh cuộn siêu trộm mà Hidemoto này sở hữu thôi. Hidemoto vừa cười khẩy vừa len lỏi qua các cảnh vệ, thoắt cái đã đứng trước chiếc vương miện. Chiếc vương miện tỏa sáng lấp lánh bên trong một hộp kính đặc biệt. Nó lộng lẫy gấp bội lần những hình ảnh trên tivi và tạp chí. Mình sẽ bổ sung nó vào bộ sưu tập chứ không bán. Thi thoảng lấy ra đội cho giống vua chúa, nghe cũng được đấy chứ. Hidemoto nghĩ bụng, thế rồi hắn chạm tay vào hộp kính. Tức thì, khóa hộp bật mở đánh tách. Hidemoto nhàn nhã lấy chiếc vương miện từ trong hộp ra, cho vào túi. Xung quanh rất đông người nhưng không ai tri hô lên cả. Bởi vì họ đâu có nhìn thấy việc Hidemoto làm. Chắc phải một phút sau khi Hidemoto cao chạy xa bay họ mới nhận ra được. Hidemoto vừa cười đắc thắng vừa lướt qua đoàn người, đi về phía lối ra. Đột nhiên có tiếng lách cách, thế rồi cổ tay hắn truyền đến một cảm giác lạ thường. Đồng thời, một giọng nói vang lên sang sảng. “Siêu trộm Lupin! Anh bị bắt vì đã thực hiện hành vi trộm cắp!” Hidemoto sửng sốt ngoảnh lại. Đó là một người đàn ông trung niên lực lưỡng. Đôi mắt sắc sảo của người này đang nhìn Hidemoto chằm chằm. Theo phản xạ, Hidemoto định chạy trốn, nhưng hắn không thể. Tay hắn đã nằm gọn trong còng số tám. Tại sao! Tại sao hắn ta lại biết? Tại sao mình lại bị tóm cơ chứ! Lòng hắn rối như tơ vò tới nỗi cơ thể kiệt quệ sức lực. Giữa lúc đó, tiếng bàn tán xôn xao mỗi lúc một lớn. “Chiếc vương miện biến mất rồi!” “Này, nghe nói Lupin bị bắt rồi...” “Nhìn kìa, có phải đằng kia không? Có phải hắn không?” “Gì chứ. Chỉ là một ông chú thôi mà. Có đúng là Lupin không vậy?” Một nhóm cảnh sát đẩy những người xung quanh sang một bên, rầm rập ập tới. “Thanh tra Mikawa!” “Tôi đây. Như các cậu thấy, tên này là Lupin. Không phải nói nhiều, bằng chứng đây.” Người đàn ông được gọi là thanh tra Mikawa kia giật lấy túi của Hidemoto, lấy chiếc vương miện ra. Xung quanh trở nên náo loạn, những lời bàn tán xì xào mỗi lúc một lớn hơn. “Người đó là thanh tra trong truyền thuyết đấy.” “Tôi cũng biết ông ấy. Ông Mikawa này chính là người đã bắt được thủ phạm cướp ngân hàng Tokugawa.” “Cả vụ bắt cóc ở Kyoto nữa. Tôi vẫn nhớ vụ đó.” “Lần này lại bắt được Lupin nữa... Cảnh sát đúng là cừ quá.” Mọi người đổ dồn sự chú ý về phía thanh tra Mikawa. Chẳng ai buồn để ý tới tên siêu trộm Lupin, tức Hidemoto đang thất thểu kia. Điều này càng khiến Hidemoto thêm phần suy sụp. Hidemoto bị dẫn giải lên xe cảnh sát giữa những ánh đèn chớp không khoan nhượng của mấy tay phóng viên ảnh. Ngồi trong chiếc xe chật chội, cuối cùng Hidemoto mới định thần lại. Mình bị bắt rồi. Rõ ràng mình không thể bị bắt, vậy mà giờ bị tóm gọn rồi. “Tại... tại sao chứ!” Hidemoto bất giác ôm lấy đầu, hét lên. “Không thể thế này được. Tao là siêu trộm Lupin. Tao không thể nào bị bắt. Đây chỉ là mơ thôi! Giấc mơ thôi! Sao có thể thế này chứ.” “Không đâu, là thật đấy.” Chẳng biết từ lúc nào, thanh tra Mikawa đã ngồi cạnh Hidemoto, ném ánh nhìn sắc sảo về phía hắn. “Tao mới nằm viện vì tai nạn không lâu mà hình như mày đã làm loạn ghê quá nhỉ. Tên khốn này. Mày dám đem cảnh sát bọn tao ra làm trò đùa đấy à. Giờ thì vào tù mà ăn năn hối cải đi nhé.” Hidemoto run lẩy bẩy khi nghĩ đến chuyện mình sẽ bị tống vào phòng giam. Nhưng hắn vẫn không thể chấp nhận thực tế và kêu gào thảm thiết. “Đây là mơ! Không thể như vậy được! Tao không thể bị bắt...” “Sao mày có thể chắc chắn như thế?” “Bởi vì tao là Lupin. Tao đã ăn bánh ở tiệm bánh kẹo ấy. Lũ cảnh sát các ngươi làm sao bắt được siêu trộm Lupin...” “Tên kia!” Thanh tra Mikawa đột ngột túm lấy cổ áo Hidemoto. Vẻ mặt viên thanh tra hơi biến sắc. “Tiệm bánh kẹo mày nói có phải tiệm Thiên đường tiền xu không?” “Hả?” Hidemoto trợn tròn mắt. Tại sao gã thanh tra này lại biết về tiệm bánh kẹo đó? “Mày... mày... mày... tiệm bánh kẹo đó...” “Đúng vậy, tao biết tiệm bánh kẹo đó đấy.” Mặt Hidemoto mỗi lúc một tái nhợt. Tim hắn dội lên những tiếng thình thịch khó chịu. “Mày đã mua gì ở đó?” “... Bánh cuộn siêu trộm.” “Hừm, đúng là ở đó có thứ như vậy thật. Thế là mày đã mua nó à? Vậy thì chấp nhận đi thôi.” “Thôi đừng nói chuyện đó nữa. Nói đi. Sao mày lại biết tiệm bánh kẹo đó?” Thanh tra Mikawa đột nhiên phì cười, buông cổ áo Hidemoto ra. “Từ hồi còn là đứa trẻ ranh, tao đã muốn trở thành một người ra tay trừng trị kẻ xấu. Sau khi nhập học trường cảnh sát, có lần tao tình cờ bắt gặp tiệm bánh kẹo đó. Và tao đã mua món bánh Pudding thanh tra anh hùng, đồng minh của chính nghĩa. Có lẽ nhờ món bánh ấy mà cho đến giờ tao chưa hề bỏ sót một tội ác nào hết.” Thanh tra Mikawa nở nụ cười giễu cợt. “Chuyện là như vậy đấy, siêu trộm Lupin à. Mày đã bị đồng minh của chính nghĩa bắt rồi, bỏ cuộc đi thôi.” “Tao... tao vẫn không hiểu!” Hidemoto gào lên. “Chẳng... chẳng phải cùng một tiệm bánh kẹo sao? Vậy mà tại sao Bánh cuộn siêu trộm của tao lại yếu hơn Pudding thanh tra anh hùng của mày chứ. Không... thể chấp nhận được!” Vừa dứt lời, Hidemoto chợt nhớ lại. Những lời cuối cùng của người phụ nữ ở tiệm bánh kẹo đó... “Quý khách nên tiết chế vừa phải thôi. Trên đời này có những người còn may mắn hơn quý khách nhiều. Nếu quý khách quên mất điều đó thì...” Thanh tra Mikawa nói với viên cảnh sát ngồi sau tay lái, “Lái xe đi.” Chiếc xe cảnh sát lăn bánh, chở theo Hidemoto với khuôn mặt như người đã chết. * * * Eshiro Hidemoto. Bốn mươi sáu tuổi. Người đàn ông có đồng một trăm yên năm Chiêu Hòa thứ năm mươi sáu. Mời các bạn đón đọc Thiên Đường Tiền Xu Tập 2 của tác giả Hiroshima Reiko.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Di Chúc Pháp
Ký ức tuổi thơ trong một số tác phẩm được giải năm 1995 ở Pháp   (trích)      Đặng Thị Hạnh     Hầu hết các giải thưởng văn học lớn ở Pháp đều được trao vào cuối mùa thu hàng năm, còn được gọi là mùa khai diễn lại.   Năm nay, cuốn Di chúc Pháp của Andrei Makine, giải Goncourt, được giới báo chí khen ngợi nhiệt liệt: “Di chúc Pháp mùa thu năm nay sáng ngời lên với một ánh rạng rỡ đặc biệt. Một cuốn tiểu thuyết hay”. (Báo Le Figaro). “Một sự tráng lệ yên bình, chắc chắn đó là một trong những tiểu thuyết vào đời hay nhất của những năm gần đây. (Báo Le Croise). “Andrei Makine đã viết một kiệt tác. Một kỳ công về văn xuôi, một tiếng nhạc khiến ta sững sờ, như thể Tchékhov viết bằng tiếng Pháp” (Báo Elle).   *   Gần mười năm sau khi rời khỏi đất Nga sang Pháp, người kể chuyện hồi tưởng lại về thời thơ ấu và tuổi mới lớn của mình, sống chia sẻ giữa một thành phố lớn bên bờ sông Volga (nơi bố mẹ ở) và thị trấn Saranza ở vùng Ukraine là nơi người bà ngoại gốc Pháp ở.   Trong nhiều năm, theo một tập quán không thay đổi, trên một ban công giữa vườn, mỗi chiều hè, người bà lại kể cho hai chị em cậu bé những mẩu chuyện về nước Pháp, quê hương của bà, những mẩu chuyện rời rạc, có khi lặp đi lặp lại, điều mà cả người kể lẫn người nghe đều không mấy quan tâm, đối với đứa trẻ, mỗi chuyện kể hay đều có thể nghe đi nghe lại mà không biết chán. Cùng với an bom gia đình, những bài dân ca, thơ văn các nghệ sĩ nổi tiếng, rồi những kỷ vật, vài hòn cuội, một mẩu kim loại bí ẩn... các câu chuyện kể cứ làm hình thành dần trong đầu óc cậu bé, một hình ảnh về nước Pháp, giống như những mẩu trong một bức tranh ghép mảnh. Mở đầu của mọi chuyện, chắc chắn là chuyện kể về Paris vụ lụt mùa đông năm 1910: sông Seine biến thành biển, dân Paris lênh đênh trên những con đò, và nước Pháp của bà ngoại đi lên từ sóng nước như một hòn đảo Atlantide. Nhưng liền ngay sau đó lại là một Paris khác, rực rỡ ánh xuân, đang chờ đón Sa hoàng Nicolas đệ nhị và Hoàng hậu Alexandra. Cả hai xuất hiện trẻ măng, đẹp đẽ Nhiều năm sau, người kể chuyện (lúc ấy còn là người nghe chuyện) mới biết là sự kiện ngoại giao lớn, Paris đón Sa hoàng, là xảy ra vào năm 1896, trước vụ lụt hàng chục năm. Nhưng mọi sự sai niên đại đều chẳng quan trọng gì. Điều quan trọng là trên ban công ngôi nhà của Charlotte, tên người bà, mỗi chiều hè “giống như cái bình cầu cổ dài của một nhà luyện kim, trong đó diễn ra sự chuyển vi nguyên tố của quá khứ”: điện Elysée xuất hiện trong ánh lấp lánh những đèn chùm gương soi, nhà hát Opéra sáng rực vì những đôi vài trần phụ nữ, còn Nhà thờ Đức Bà lại khiến ta cảm thấy rợn người vì chất đá lạnh toát dưới bầu trời vẩn mây...   Cứ như vậy, cho dù các giấc mộng chiều hè đó mỗi năm một lần lại lùi ra xa, mờ đi sau đám sương thu và những cơn bão tuyết đầu tiên- cậu bé trở về với cuộc sống học sinh và thành phố - thì cái mà sau này cậu sẽ gọi là Francité (tính Pháp) vẫn cứ đọng lại như những “địa tầng” trong tâm hồn cậu, cùng với cái đó là những xung đột giữa hai bản ngã khó dung hòa. Cũng như chính tác giả, người kể chuyện cảm thấy “mình vừa là Pháp, lại vừa là Nga: và không ở đâu, tính đối nghịch đó lại biểu hiện rõ như trong ngôn ngữ: “Khi tôi đọc (từ Tsar) bằng tiếng ngan thì một tên bạo chúa tàn ác đứng sừng sững trước mặt tôi, trong khi đó từ “Tsar” trong tiếng Pháp lại tràn ngập ánh sáng, tiếng động, gió, ánh đèn chùm, những vai trần phụ nữ lấp lánh...” Ngôn ngữ, cái mầm ghép hoang đường… Rất lâu sau này, người kể chuyện mới có dịp thể nghiệm cái chất liệu bí ẩn này, nhưng chắc anh sẽ khó thành công nếu ngay từ thời thơ ấu, trong con người anh, trong ngôn ngữ anh, đã không mang tính kép, cái mà có lúc anh đã muốn rũ bỏ cho kì được. “Thói ủy mị Pháp đã ngăn trở không cho tôi sống”: lớn dần lên, cậu bé đã nhận ra như vậy, khi cảm thấy mình lạc lõng giữa cái xã hội mini là trường học, bạn và thầy. Vào một mùa hè, khi cậu đã 14 tuổi, cậu trở về Saranza với “ý định kết thúc với cái nước Pháp của Charlotte”, thì một lần nữa, cậu lại ra đi với bao nhiêu khám phá về bản thân mình, về ngôn ngữ, nhất là về người bà của mình, đơn giản chỉ vì bà xuất hiện dưới bầu trời Nga “như một con người- ngoài trái đất” nhưng lại đã “hội tụ được trong cuộc đời mình các thời điểm mấu chốt của lịch sử nước chúng tôi”.   *   Từ ngày ấy, gần hai mươi năm đã trôi qua. Bị cuốn theo những biến động xã hội người kể chuyện nay đã ở trên đất Pháp. Và điều gì đã xảy ra? Về những tháng dài nghèo khổ và lang thang trên đất Pháp, anh sẽ rất ít lời. Xuống đến tận cùng của tuyệt vọng, có lúc anh đã nghĩ đến cái chết, nhưng chính một hồi ức của tuổi thơ lại đã cứu anh. Vào một sáng tinh mơ, khi anh gần như quỵ xuống cạnh một bức tường: Lũ tháng giêng 1910, những dòng chữ trên xuất hiện như nhờ phép lạ trên một tấm kim loại đã gỉ, đen xì. Và ngay tức thì, cả một quá khứ ùa trở lại: “… Sức nóng của một thành cầu thang gỗ trên cái ban công treo giữa không trung vào một chiều hè. Những mùi hương cỏ, khô và cay cay. Tiếng kêu xa xôi và buồn bã của một đầu tàu… Tiếng giấy nhẹ sột soạt trên lòng người đàn bà đang ngồi giữa hoa. Mái tóc đã điểm bạc. Giọng nói của bà…”Đến đây điểm nhìn của người kể chuyện đã đảo ngược lại, thời ấy còn là nước Pháp nhìn từ nước Nga qua truyện kể của bà, bây giờ lại một hồi ức về đất Nga nhìn lại từ nước Pháp.   Cũng như vậy, trong hai mươi trang cuối chuyện, tình huống sẽ bị rạt lại. Trong hơn hai trăm chín mươi trên ba trăm linh bẩy trang của cuốn tiểu thuyết, người kể chuyện chỉ làm có một việc là vẽ lại cho chúng ta sự hình thành của tính Pháp trong con người anh. Vậy mà khi anh tưởng như đã có điều kiện để đưa người bà trở về thăm nước Pháp thì một bức thư của Charlotte viết trước khi và mất: Di chúc Pháp lại là để nói với anh về đời một người đàn bà Nga, mẹ của anh: bà đã đón từ tay của một phụ nữ Nga bị chết trong trại tập trung, và đã hứa với người đó chỉ báo cho anh biết điều này vào thời điểm chậm nhất. Vậy là tất cả những gì mà suốt thời gian qua anh coi như biểu hiện của tính Pháp di truyền trong anh đều không có, hoàn toàn không có.Nhưng đấy cũng là điều kiện để anh nghĩ tới sự hiện diện của người bà, “kín đáo và tự nhiên như chính cuộc sống vậy. Đối với tôi, duy nhất chỉ còn thiếu các từ để nói lên điều đó”.   Cũng giống như kiệt tác của Proust, khi chuyện kể đóng lại là lúc báo hiệu cuốn tiểu thuyết sẽ bắt đầu.   *   Trên đây chỉ là tóm tắt sơ lược của truyện kể và khó có thể hình dung một tác phẩm hay nếu không biết đến văn viết. Nhưng đấy là việc của người đọc, không ai có thể làm thay. “Mỗi độc giả trước tiên là độc giả của chính mình. Với văn phong trong sáng, dễ hiểu, với cốt truyện giản dị. Di chúc Pháp vẫn là một tác phẩm phức hợp, có thể được đọc ở nhiều tầng. Trong phạm vi bài này không thể nói tới các âm hưởng khác nhau có thể tìm thấy trong tác phẩm. Nhưng một điều có thể nhận thấy ngay, là người độc giả Việt Nam đã quen với tiểu thuyết Na và Xô viết trước đây (tuy bây giờ dường như chúng đã bị xếp xó) sẽ nhận thấy trong người đàn bà gốc Pháp nhiều nét gợi nhớ tới các nữ nhân vật trong tiểu thuyết cổ điển Nga, và cả trong các tác phẩm Xô viết họ đã đọc. Còn một số độc giả khác sẽ nhạy cảm với “tiếng nhạc nhỏ của các hồi ức Proustienm cứ đệm theo dòng chuyện kể, gợi nhớ “những giây lát không trôi qua”, cái sẽ còn lại mãi mãi phía trên dòng thời gian luôn chảy./.   “(…) tôi ghi lại đây tên thật những người ấy với một niềm thích thú trẻ nít cùng niềm xúc động sâu xa, trong khi không thể kể hết tên bao người khác nữa hẳn cũng đã từng hành động tương tự và nhờ họ mà nước Pháp vẫn tồn tại đến ngày nay (…)”      MARCEL PROUST      Thời gian tìm lại được     “Người dân Xibêri có bao giờ xin ông trời cây ôliu, hoặc người dân cứ Provence cây klukwa?”      JOSEPH DE MAISTRE     Những tối đàm luận ở Saint Petersbourg     “Tôi hỏi nhà văn Nga cách thức ông làm việc và lấy làm ngạc nhiên là ông không tự dịch bản viết, mặc dù ông nói một thức tiếng Pháp hết sức trong sáng, hơi chậm rãi tí chút do lối suy nghĩ tinh tế của ông.   Ông thú thật là Viện Hàn lâm với pho từ điển của nó khiến ông buốt cóng.      ALPHONSE DAUDET     Ba mươi băm ở Paris  *** Andreï Makine sinh ngày 10/9/1957 tại Krasnoyarsk, Xô Viết.   Năm 1987, ông sang Pháp là thành viên của chương trình trao đổi giáo viên và quyết định ở lại. Quyển tiểu thuyết đầu tiên của ông La fille d'un héros de l'Union soviétique (A Hero's Daughter) được xuất bản năm 1990, khi ông trình bày rằng nó đã được dịch từ tiếng Nga, vì không nhà xuất bản nào tin rằng ông có thể viết bằng tiếng Pháp. Với quyển tiểu thuyết thứ ba, Au temps du fleuve Amour (Once Upon Love River), ông mới được công nhận là một nhà văn Pháp. Và đến quyển tiểu thuyết thứ tư, Le Testament Français (Dreams of My Russian Summers), năm 1995, ông trở thành tác giả đầu tiên chiến thắng được cả hai giải thưởng văn học hàng đầu nước Pháp Prix Goncourt và Prix Médicis.   Năm 2001, Andreï Makine bắt đầu bí mật xuất bản dưới bút danh Gabriel Osmonde với tổng cộng 4 quyển tiểu thuyết trong hơn 10 năm. Đây là một bí ẩn của nền văn học Pháp. Mãi đến năm 2011, một học giả nhận thấy quyển Les 20 000 Femmes de la vie d'un homme của Osmonde được lấy cảm hứng từ Le Testament Français (Dreams of My Russian Summers) của Makine, sau đó sự việc mới được sáng tỏ. Khi được hỏi tại sao lại sử dụng bút danh, ông đã trả lời rằng: “Tôi muốn tạo ra một người sống xa sự ồn ào náo nhiệt của thế giới”.   Các tác phẩm:   - La fille d'un héros de l'Union soviétique , 1990 (A Hero's Daughter , 1996)   - Confession d'un porte-drapeau déchu , 1992 (Confessions of a Fallen Standard-Bearer , 1996)   - Au temps du fleuve Amour , 1994 (Once Upon the River Love , 1996)   - Le Testament français , 1995 (Dreams of My Russian Summers , 1997)   - Le Crime d'Olga Arbelina , 1998 (Crime of Olga Arbyelina , 2000)   - Requiem pour l'Est , 2000 (Requiem for a Lost Empire , 2001)   - La Musique d'une vie , 2001 (A Life's Music , 2004; also published as Music of a Life)   - La Terre et le ciel de Jacques Dorme , 2003 (The Earth and Sky of Jacques Dorme , 2005)   - La femme qui attendait , 2004 (The Woman Who Waited , 2005)   - L'Amour humain , 2006 (Human Love , 2008)   - Le Monde selon Gabriel , 2007   - La Vie d'un homme inconnu , 2009 (The Life of an Unknown Man , 2010)   - Cette France qu'on oublie d'aimer , 2010   - Le Livre des brèves amours éternelles , 2011   Dưới bút danh Gabriel Osmonde:   - Le Voyage d'une femme qui n'avait plus peur de vieillir, 2001   - Les 20 000 Femmes de la vie d'un homme, 2004   - L'Œuvre de l'amour, 2006   - Alternaissance, 2011   Mời các bạn đón đọc Di Chúc Pháp của tác giả Andrei Makine.
Tuổi Trẻ Và Cô Đơn
Demian (Tuổi Trẻ Cô Đơn, Vũ Đình Lưu dịch tiếng Việt năm 1968) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Hermann Hesse (cùng với Siddartha, Narcissus and Goldmund, Steppenwolf, v.v.) Tác phẩm khắc họa một chân dung tâm lý (psychoanalysis portrait) (*) sống động nỗ lực thoát ly khỏi cái ước lệ của cuộc sống, vật lộn với tính nhị nguyên(**) thuộc bản chất con người, khai mở ý thức "sống" bên trong và cuộc hành trình tìm kiếm bản ngã và sự an bình nội tại. Người đọc sẽ luôn day dứt với nhân vật bí ẩn Max Demian (và mẹ anh ta, Frau Eva): đó là một con người bằng xương, bằng thịt (bạn/mentor của chàng thanh niên Emil Sinclair ngơ ngác) trong truyện hay là ẩn dụ của Hermann Hesse chỉ "cái bóng/cái siêu ngã" của mỗi con người chúng ta dẫn dắt chúng ta đi vào thế giới tội lỗi (**) để tự khám phá ra cái khả thể vô cùng? Ghi chú: (*) Tác giả đã từng qua trị liệu phân tâm học với môn đệ của Carl Jung và sử dụng nguyên mẫu cùng hình tượng của Jung trong tác phẩm này. (**) cái "thiện" và cái "ác", chỉ xã hội nước Đức sau Thế Chiến thứ I. *** Hermann Hesse đã từng viết: "Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này”. Cuộc đời ông đã trải qua vô vàn những thăng trầm đau đớn, nhưng ông vẫn miệt mài sáng tạo. Năm 1946 ông được tặng Giải Goethe và Giải Nobel Văn học. Hermann Hesse là tác gia hiện đại nổi tiếng của Đức, ông sinh ngày 2/7/1877 ở Calw vùng Wũrttemberg (Đức) và mất ngày 9/8/1962 ở Montagnola (Thụy Sĩ). Cha của ông đã sống ba năm ở Ấn Độ với tư cách là nhà truyền giáo, mẹ ông là con gái của nhà truyền giáo, nhà Ấn Độ học, tiến sĩ Hermann Gundert - một người có học vấn uyên thâm về Ấn Độ và có riêng một thư viện lớn. Cảnh gia đình trí thức ngoan đạo với sự pha trộn của nhiều nền văn hoá khác nhau ảnh hưởng rất sâu đậm trong con người nhà văn Hermann Hesse. Tâm hồn ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông - Tây để đi tìm một nhân loại thuần khiết, một nhân lọai sống trong cảnh bình yên. Hermann Hesse là một trong những nhà văn hiện đại viết tiếng Đức được đọc nhiều nhất trên thế giới. Ông được tặng giải Nobel vì những tác phẩm mang đậm truyền thống nhân đạo cổ điển, thể hiện bằng một văn phong sáng tỏ. Nhiều tác phẩm của ông được cả bạn đọc Phương Tây lẫn Phương Đông yêu thích.   Cha Hermann Hess là mục sư - nhà truyền giáo người Đức gốc Estonia, mẹ là con gái nhà truyền giáo gốc Schwaben (Thụy Sĩ); ông lớn lên ở Đông Ấn. Nền giáo dục tôn giáo và tính di truyền đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân sinh quan của nhà văn tương lai. Nhưng H. Hesse không theo nghiệp thần học, trốn khỏi chủng viện Maulbronn (1892); sau nhiều đợt khủng hoảng thần kinh lặp đi lặp lại, sau một lần toan tự tử và trải qua điều trị trong các bệnh viện, ông học nghề thợ cơ khí một thời gian ngắn, rồi buôn sách ở Kalva và Basel.   Năm 1899, H. Hesse phát hành tập thơ đầu tiên Những bài ca lãng mạn và viết nhiều bài phê bình, nhưng ít được chú ý. Tiểu thuyết tân lãng mạn giáo huấn Peter Camenzind (1904) là sự thành công mang tính nghề nghiệp đầu tiên; từ đó H. Hesse hoàn toàn cống hiến cho sự nghiệp sáng tác văn học, chủ yếu viết truyện vừa và truyện ngắn với những yếu tố mang tính tự thuật. Cũng trong năm 1904 H. Hesse kết hôn với cô Mari Bernoulli người Thụy Sĩ (có ba con trai) và chuyển đến Gaienhofen, một vùng hẻo lánh ở Bodensee.   Năm 1924, ông trở thành công dân Thụy Sĩ. Sau khi kết hôn lần thứ hai với ca sĩ Ruth Wenger người Thụy Sĩ, và sau một khóa tâm lí trị liệu, ông xuất bản tiểu thuyết Sói đồng hoang (1927), một cuốn sách thuộc hàng best-seller.   Tiểu thuyết Trò chơi với chuỗi hạt cườm (xuất bản năm 1943) như một bản tổng hợp toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông và nâng lên một tầm cao chưa từng thấy vấn đề sự dung hòa đời sống tinh thần và thế tục. Trong thời kì đảng Quốc xã cầm quyền ở Đức, nhà văn sống "lưu vong" ngay trên đất nước mình. Ông được trao giải Nobel Văn học năm 1946.   Kể từ sau khi nhận giải ông không viết thêm được tác phẩm nào lớn, ngoài các tiểu luận, thư từ. Năm 85 tuổi ông mất khi đang ngủ vì xuất huyết não. Nhiều tác phẩm của H. Hesse đã được dịch sang tiếng Việt; có cuốn có đến hai ba bản dịch khác nhau; có cuốn được tái bản đến năm sáu lần.     * Tác phẩm:     - Peter Camenzind (1904), tiểu thuyết.   - Dưới bánh xe lăn (Unterm Rad, 1906), tiểu thuyết.   - Gertrud (1910), tiểu thuyết.   - Rosshalde (1914), tiểu thuyết.   - Knulp (1915), truyện vừa.   - Demian (1917), tiểu thuyết.   - Mùa hạ cuối cùng của Klingsors (Klingsors letzter Sommer, 1918), truyện vừa [Klingsor's last summer].   - Siddhartha. Bản trường ca Ấn Độ (Siddhartha. Eine Indische Dichtung, 1920), tiểu thuyết.   - Thơ (Gedichte, 1922), tập thơ.   - Từ Ấn Độ (Aus Indien, 1923), kí, thơ.   - Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), tiểu thuyết.   - Narziss và Goldmund (Narziss und Goldmund, 1929), tiểu thuyết.   - Đêm an ủi (Trost der Nacht, 1929), thơ.   - Hành trình về Phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932), tiểu thuyết [The journey to the East].   - Trò chơi với chuỗi hạt cườm (Das Glasperlenspiel, 1943), tiểu thuyết.   - Chiến tranh và hòa bình (Krieg und Frieden, 1946), kí [War and peace].     * Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:     - Một kiếp giang hồ, Võ Toàn dịch, tập san Văn, 1966.   - Đôi bạn chân tình (nguyên tác: Narziss und Goldmund, tiểu thuyết), Vũ Đình Lưu dịch, NXB Ca Dao, 1967; NXB Hội Nhà văn, 2001.   - Tuổi trẻ và cô đơn (nguyên tác: Peter Camenzind, tiểu thuyết), Vũ Đình Lưu dịch, NXB Ca Dao, 1968; 1972.   - Sói đồng hoang (truyện vừa), Chơn Hạnh - Phùng Thăng dịch từ bản tiếng Pháp Le loup des steppes, NXB Ca Dao, 1969.   - Tuổi trẻ thần tiên (nguyên tác: Schön ist die Jugend), Bùi Quang Đông dịch, NXB Bông Hồng, 1972.   - Tuồng ảo hóa (nguyên tác: Das Glasperlenspiel), Nguyễn Ngọc Minh dịch, NXB Nguồn Sáng, 1972.   - Nhà khổ hạnh và gã lang thang (nguyên tác: Narziss und Goldmund, tiểu thuyết), Phùng Khánh dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1994; 1998 và 2001.   - Narcisse và Goldmuld (tiểu thuyết), Viễn Nguyên dịch, NXB Lao Động, 2001.   - Câu chuyện của dòng sông (nguyên tác: Siddhartha, tiểu thuyết), Phùng Khánh - Phùng Thăng dịch, NXB An Tiêm, 1967; NXB Lá Bối, 1965-1966; NXB Hội Nhà Văn, 1988-1996-1998-2001.   - Huệ tím và những chuyện khác (nguyên tác: Iris und andere Märchen), Thái Kim Lan tuyển dịch, NXB Đà Nẵng, 1998.   - Tuổi trẻ băn khoăn (nguyên tác: Demian, tiểu thuyết), Hoài Khanh dịch, NXB Ca Dao, 1968-1971-1974; NXB Hội Nhà Văn, 1998.   - Hành trình sang Đông Phương (nguyên tác: Die Morgenlandfahrt, bút kí), Hoài Khanh dịch, NXB Ca Dao, 1967; NXB Hội Nhà Văn, 2001.   - Mối tình của chàng nhạc sĩ (nguyên tác: Gertrud, tiểu thuyết), Vũ Đằng dịch, NXB Ca dao, 1972; NXB Hội Nhà Văn, 2001.   - Tuổi trẻ, tuổi trẻ vàng son, Trần Phong Giao - Hoàng Ưng dịch, in trong Truyện ngắn Đức, NXB Lao Động, 2002.   - Bài học tình yêu hay chuyện chàng Augustus, Iris - Huệ tím, Chuyện hóa thân của Bích Thảo (3 truyện cổ tích viết theo lối mới), Thái Kim Lan dịch, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 3 năm 1998.   Mời các bạn đón đọc Tuổi Trẻ Và Cô Đơn của tác giả Hermann Hesse.
Chiến Trận
Chiến trận là tác phẩm mở đầu cho một loạt tiểu thuyết tiếp theo: Danh nhân (chân dung người cha), Thế giới rất gần (về đám tang người cha) và Quà tặng (chân dung người mẹ), kết thúc bằng Như ở trên trời (về cảnh chia li), tất cả hợp thành một bộ sách về gốc gác con người. Khi viết về chiến tranh người ta thường nhắc nhiều tới máu, súng đạn và nước mắt. Tác giả người Pháp nhìn chiến tranh từ một góc khác, không trực diện nhưng xuyên thấu nỗi đau. Giải Goncourt năm 1990 đã vinh danh tiểu thuyết Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) của Jean Rouaud để cổ vũ cho nỗ lực làm mới một đề tài tưởng như đã sáo mòn. Tác phẩm như một làn gió mới trong các sáng tác về đề tài chiến tranh của văn đàn Pháp lúc bấy giờ. Nỗi đau của cả nhân loại được cảm nhận từ khung cửa sổ của một gia đình trung lưu ở vùng ngoại ô theo cách riêng. Khi cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ nhất đang trong giai đoạn khốc liệt cho đến cuối những năm 80 của thế kỉ 20 đã có rất nhiều tác phẩm viết về cuộc binh lửa tàn khốc này. Với những tác giả là người lính từ chiến trường trở về, họ mang cái nhìn trực diện về chiến tranh vào trong tác phẩm. Đôi khi hiện thực được lột tả sát tới mức chúng ta tưởng chừng có thể ngửi thấy mùi thuốc súng trên trang giấy.   Là một nhà văn sinh ra khi cả hai cuộc Đại chiến Thế giới đã trở thành quá khứ, Jean Rouaud không cố tình đóng vai là “người trong cuộc” để viết về cuộc chiến như cách mà một số nhà văn ở thế hệ ông đã làm. Tác giả viết về chiến tranh bằng tâm thế và góc nhìn của một con người sinh ra sau chiến trận. Những trang văn không nồng nặc mùi thuốc súng nhưng vẫn khiến người ta day dứt. Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) là cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh, mang âm hưởng của một cuốn hồi ký gia đình. Từ chính câu chuyện của gia đình mình, tác giả đã khắc họa sâu sắc nỗi đau dai dẳng của chiến tranh. Hơn nửa thế kỷ trước, dưới mái nhà mà ông đang sống, đã diễn ra những cuộc tiễn đưa khiến người ta hoảng sợ. Những người đàn ông và có cả những chàng trai trẻ khoác lên mình bộ quân phục và đi về phía bom đạn. Sự khốc liệt của chiến tranh đã vĩnh viễn cướp họ khỏi vòng tay người thân. Nhưng những người lính ấy không bao giờ chết. Họ vẫn sống trong ký ức của người thân. Một thứ ký ức buồn và dai dẳng như màn mưa dai dẳng của vùng Loire-Inferieure. Đọc những trang đầu của Chiến Trận (Chiến trường vinh quang), nhiều độc giả đặt ra câu hỏi: “Liệu đây có phải là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh hay chỉ đơn thuần là một cuốn hồi ký về gia đình?”. Trong những chương đầu, tác giả tập trung miêu tả các thành viên trong gia đình với một bút pháp tỉ mỉ và tinh tế đến lạ lùng, làm cho người đọc có cảm giác như đang xem một cuốn phim tư liệu.   Nhà văn dành một tình cảm đặc biệt cho bà cô Marie, một con người sùng đạo, cả đời không kết hôn và nguyện phụng sự cho Chúa. Đây cũng chính là nhân vật mở nút cho cuốn tiểu thuyết tưởng chừng không có kịch tính này. Trước lúc lâm chung, bà Marie liên tục nhắc đến cái tên Joseph. Cái tên gợi cho tác giả nhớ đến người cha tội nghiệp của mình, người ra đi vì bệnh tật khi chỉ mới 40 tuổi. Nhưng không, ông đã nhầm, trong đại gia đình còn một thành viên khác cũng mang tên Joseph. Đó là người anh trai tội nghiệp của bà Marie, người đã tử trận năm 1914, khi mới 26 tuổi. Một chàng trai chưa nếm vị ngọt của hôn nhân và còn nhiều hoài bão.  Vì đau lòng, vì không muốn những người lính thoát chết trong trận can qua cảm thấy tội lỗi, mọi người tránh không nhắc tới ông. Nhưng ông vẫn tồn tại theo cách của riêng mình. Cả đại gia đình đã thực hiện một cuộc hành trình về lại chiến trường xưa để tìm di cốt những người đã ngã xuống. Những người chiến đấu vì đất nước nhưng giờ đây không còn một nắm xương tàn. Với Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) Jean Rouaud đã chọn một lối kể chậm rãi, chi tiết và tinh tế, tạo nên một văn phong không lẫn lộn. Nhà văn giống như một nhà điêu khắc đang tỉ mẩn đục đẽo từng con chữ. Càng về cuối tác phẩm, sự khốc liệt và tàn nhẫn của chiến tranh mới lộ rõ. Ở đó, không chỉ có súng đạn, máu và nước mắt. Bom hóa học và những quyết sách lạnh lùng của nhà cầm quyền còn khiến chúng ta ghê sợ hơn nhiều. Bằng một cách dẫn dắt rất riêng, nhà văn người Pháp không phơi bày tất cả hiện thực ra trước mắt người đọc. Ông kín đáo giấu nó vào sâu trong những câu chuyện tưởng chừng chẳng liên quan. Đó là cách Jean Rouaud định vị bản thân và làm mới những đề tài tưởng chừng đã cũ. Lịch sử của một quốc gia là một thứ rất vĩ đại, nhưng đôi khi nó được xây nên từ chính hồi ức của từng gia đình. *** Jean Rouaud sinh ngày 12/12/1952, ông nghiên cứu văn học hiện đại tại trường Đại học Nantes. Sau khi lấy bằng thạc sĩ, Jean Rouaud làm nhiều công việc khác nhau như bơm khí hay bán bách khoa thư y tế. Năm 1978, ông cộng tác với tòa soạn Presse – Océan. Sau khi chuyển đến Paris ông làm việc trong một hiệu sách rồi bán báo. Năm 1988, Jean Rouaud gặp Jérôme Lindon, giám đốc cũng là tổng biên tập của NXB Minuit, người đã phát hiện ra tài năng văn chương của ông. *** Tóm lại, đó là quy luật “Họa vô đơn chí” mà đột nhiên chúng tôi khám phá ra sự bí mật sắp đặt buồn thảm của nó – thực ra từ xưa điều bí mật này đã được phát hiện song mỗi lần bị che phủ lại được vén lên, vùi dập một cách phũ phàng, làm cho chúng tôi ngơ ngác, u mê vì buồn phiền. Chính ông ngoại đã bưng bít cái quy luật ấy theo phương cách chẳng mấy tác dụng: “Chúng mày hãy chôn nó vào góc sâu kín nhất trong đầu đi”. Nhưng sự việc thì tự nó cứ tiếp diễn, như học bài mãi mà chẳng thuộc. Và lời nói của ông như miếng đòn thừa chẳng ai để ý, song đối với ông thật cần thiết. Một buổi tối, chẳng có nguyên cớ gì, ông mắng chúng tôi một trận thậm tệ. Chuyện này có thể do tuổi tác, nhưng vào tuổi bảy mươi sáu, ai bắt ông phải nghe theo. Những dấu hiệu gần đây cho thấy ông đã lẩm cẩm so với vẻ ngoài ông cố tỏ ra. Một con người cổ lỗ, bí hiểm, khó gần và hay đãng trí. Sự lập dị cộng với vẻ cầu kỳ quá đáng trong cách ăn mặc cũng như phong thái khiến ông có gì đó giống người Tàu. Hình hài của ông cũng vậy, cặp mắt nhỏ nứt rạn, đôi lông mày dựng như góc các nóc chùa chiền, màu da vàng bợt không phải do gốc gác giòng giống Á châu mà vì hút quá nhiều thuốc lá, một loại thuốc cực hiếm chỉ còn thấy mỗi mình ông hút – gói thuốc xanh màu hạnh nhân, dòng chữ cũ rích, có lần chúng tôi hỏi thì ông trả lời là đã đem từ nước Nga xa xôi về, một lần khác, ông nói với một thái độ nghiêm túc là đã đưa về từ Pampelune[1]. Nhưng điều chắc chắn loại thuốc ấy không còn được sản xuất nữa vì sự độc hại chết người của nó. Song quả thực ông thích hút loại này, như chỉ dành cho riêng ông. Ông đốt hết điếu nọ đến điếu kia, cả khi đang lái chiếc 2 CV[2] chẳng khác nào một cuộc biểu diễn chế ngự dã thú ngẫu hứng. Cái đầu mẩu thuốc lá hút xong đang kẹp giữa hai ngón cái và trỏ thì điếu tiếp theo đã nằm ở khóe môi rồi.   Ông chú mục vào cái điểm đỏ đầu điếu thuốc hơn là bận tâm đến con đường, điều khiển xe phong thái nhẹ nhàng, từng lọn khói nhỏ ra, lan tỏa, hội tụ thành làn mỏng và chả mấy chốc trở nên đậm đặc, như một đám mây dày, đặc quánh bao quanh. Đầu hơi ngả ra phía sau, tránh lóa mắt, tay xua tan bớt khói thuốc, dương cùi chỏ nâng tấm kính cửa phía dưới, ném mạnh mẩu thuốc ra ngoài, mắt vẫn chẳng ngó ngàng tới lòng đường, ông tiếp tục điều khiển vô lăng một cách tùy tiện làm đám người đi đường chạy tán loạn: sự cẩn thận đã bị tuổi già làm cùn nhụt, hay sau một cuộc đời từng trải, đầy biến động, ông tự cho mình có cái quyền được miễn trừ nào đó. Rồi kết cục là chẳng mấy ai dám đi cùng xe với ông nữa. Mấy người anh em họ trẻ tuổi có lần đã bày trò (việc này đâu chỉ xảy ra vài lần) là cuốn quanh đầu một chiếc khăn phu-la hay chiếc cà-vạt mượn các ông bố và ngồi vào bên cạnh ông cụ, gào to lên rằng “Phi công cảm tử muôn năm”[3]. Dùng khăn vẫy cùng với những giọt nước mắt vờ vĩnh bày tỏ sự tử biệt có lẽ là tốt nhất. Mọi người nghĩ rằng xe chạy chậm thì chẳng có gì nguy hiểm cả, ấy thế mà mối nguy lại ở chỗ xe cứ liên tục chạy lấn vào vạch vàng, lảng sang tận phía đường bên trái, trườn cả lên bờ đường lở nham nhỏ. Chiếc 2 CV rung lên chuyển động một cách nặng nhọc qua ngã ba, ngã tư cực kỳ nguy hiểm để cuối cùng mọi người xuống xe mặt mũi tái xám như một lũ ma.   Những biện pháp tế nhị như dùng đèn chiếu ra hiệu cho ông phải đi cẩn thận chẳng có tác dụng gì sất. Vì cái vai trò ấy đã bị coi là không cần thiết, người ta thấy ở đây thái độ bất chấp mọi điều khiển - rồi điệu bộ quay chiếc vô lăng tưởng tượng trong không khí của người đi đường như nhắc ông thận trọng thật khôi hài. Chúng tôi biết ông có đủ mọi tính nết của một kẻ lăng xăng, nên chỉ mất thì giờ bắt ông phải cẩn thận. Chúng tôi kịp khoát tay ra hiệu cho ông rằng chướng ngại vật hiện chỉ còn cách vài centimét, ông chán nản nhìn qua làn khói thuốc, bình tĩnh chờ cái “pa-rơ-sốc” báo hiệu mối hiểm họa. Vì trò chơi ấy mà thùng xe bị bẹp dúm dó nhiều chỗ, méo mó cả cánh cửa. Chiếc xe mang biệt danh Bobosse đã từng chiến thắng vì thành tích méo mó. Dù luôn biết điều đó, ông vẫn tỏ ra hết sức thờ ơ lãnh đạm để không bị xúc động, trong suy nghĩ, ông đã coi chúng tôi chỉ là lũ trẻ ranh thò lò mũi xanh hay một cái gì đại loại như vậy. Có lẽ ông đã chế giễu thật sự.   Trời mưa như trút, một hiện tượng hiếm thấy ở vùng ven biển Đại Tây Dương,chiếc xe 2 CV nặng nhọc trườn lên trong gió thốc, lắc giật trong mưa gió tứ bề, như chiếc tàu buôn gặp nạn trên đại dương vì đã không tin vào dự báo thời tiết. Mưa xối ào ạt trên mui xe, tạo nên cảm giác chênh vênh, lo lắng. Sấm sét ầm ầm đe dọa, làm rung chuyển cái buồng lái nhỏ hẹp, như tiếng gọi từ đáy âm ty. Mới đầu là một giọt rồi đến hàng loạt giọt nhỏ li ti thấm qua trần xe, kết thành màng nước lớn dần lên nhanh chóng, dần dần, lung linh, rơi thẳng xuống đầu, tay, đầu gối chúng tôi. Và nếu như còn chỗ trống trên mặt ghế, nước mưa đọng lại, chảy thành rãnh, phải dùng khăn lâu khô mới ngồi được. Hệ thống đồng hồ cổ đo thời gian chạy bằng nước cứ loạn xị vì nước từ mọi phía chảy xuống tạo thành giọt không đều và rôi không đúng lúc. Nước mưa tóe ra từ các vết nứt nham nhỏ ở khe cửa. Cố gắng bắt chước ông, chúng tôi tỏ vẻ thờ ơ với cơn mưa bụi nhưng làm ướt đẫm chẳng khác một trận mưa rào, cùng ông điềm tĩnh xông pha trong bão táp như vượt qua một bức tường vô hình, xác minh “tất cả những cái ấy” (Thỉnh thoảng ông vẫn có lối diễn đạt nước đôi chán ngắt như vậy) thực ra xét cho cùng đó là một chuỗi định kiến, mà mưa gió chỉ là một lý do, đúng hơn là một nỗi gian truân, một tia sáng lấp lánh ảo ảnh toàn năng. Điều này chỉ phù hợp với những lúc tinh thần đạt đến độ hưng phấn tột đỉnh, thân xác nhẹ bềnh bồng lâng lâng - hay ít ra cũng ở trong những chiếc xe đầy đủ tiện nghi êm ru, không thấm nước mưa, tạo nên cảm giác như đang chu du trong một đám mây. Nhưng trong xe này, từ những cánh cửa hoen gỉ, rỉ sắt sùi lên, bắn vượn vãi những vết lấm ố vàng trên đệm ghế, phải thừa nhận trong suốt hàng chục kilômét thái độ của ông thật lì lợm và chỉ sau vài phút định thần theo lối ngồi thiền Yoga, ướt sũng, thấy thực tại quá tồi tệ, phũ phàng, ông mới chịu đựng những thứ quyền uy lễ giáo qua những việc đần độn đại loại như vậy tuổi thơ chúng tôi bị xô đẩy, mất thăng bằng trong sự phân rã mỏi mòn của cơ thể sống.   Những giọt nước nhỏ li ti thấm qua trần, bay xiên trong lòng xe làm tức tối khó chịu, kích thích trí tò mò và tạo nên không khí thật hài hước. Đợi chờ cái điều kỳ diệu là giọt nước bứt ra bay sướt qua người như trôi trên đầu vịt, kích động chúng tôi nghĩ ra trò đùa tinh nghịch với những giọt nước. Chúng bắn nhanh thẳng căng hoặc mềm mại, ngưng đọng thành giọt trước khi tham gia vào cuộc chơi. Những giọt nước rơi không chủ định vào khóe mắt, thái dương, gò má, hoặc nhằm thẳng vào lỗ tai, không thể tính được bao nhiêu giọt, một tham số cực kỳ phức tạp đến mức không có cách gì phòng ngừa trước được hay chí ít tìm cách chui đầu vào một chiếc túi. Cuộc chơi như trận thủy chiến thô sơ, đơn giản là khi một giọt nước mạnh hơn chạm vào làm chúng tôi giật bắn lên, mọi người chỉ cùng hét lên: “Chạm rồi”. Trận thủy chiến ấy tạo ra cảm giấc chúng tôi như những cái bia của một thiện xạ vô hình nào đó. Luật chơi duy nhất là trung thực, không được né tránh, phải tỏ rõ sức chịu đựng dày dạn trước những giọt nước vô hại. Và rồi một cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh trò chơi này, tất nhiên vẫn giữ thái độ trong một giới hạn nhất định, không được bốc cao giọng. Vì trong chiếc 2 CV của ông là một nơi rất quan trọng - cho dù vỏ xe đã rách mướp thảm hại, khoang thì như một xà lim.   Chỉ một lần duy nhất ông tham dự vào cuộc chơi của chúng tôi, ấy là lúc một giọt nước rơi xuống treo trên đầu mũi ông trông như tàn hoa nến, rồi từ trong im lặng bật ra một câu nói ẩn ý, pha lẫn tính cách đe nẹt, một thứ giọng hiếm khi dùng: “Cái mũi hỏng quá”[4]. Ngay lập tức, chúng tôi nín bặt, mới đầu cảm thấy khó chịu vì bị người lớn gây phiền nhiễu can thiệp vào cuộc chơi, nhưng rồi khi ngạc nhiên qua đi, như tin tốt lành mách bảo rằng cậu bé già nua hư hỏng trong ông đã trở về nhà: ông chẳng có gì xa lạ, cũng đã có những trò chơi như chúng tôi, chúng tôi tưởng tượng đến tuổi thơ của ông với những kỷ niệm cũ càng - thế là để giảm bớt không khí nặng nề và cũng có thể để biểu thị một thứ uy lực trong lúc ông đang lơ đễnh, chúng tôi cười phá lên, phải thoát, song cái cười ấy cũng là để giấu diếm sự chậm hiểu của chúng tôi đối với trò chơi chữ: cái mũi này đã chấm dứt một cách lý tưởng chiến trận của chúng tôi, rồi khi không lý giải được mục đích cuộc chơi, chúng tôi đành chịu bó buộc lặp đi lặp lại mãi cái quy tắc đáng thương ấy. Trò nghịch nước ngẫu hứng trong chớp mắt, lời nói của ông đã làm cho cạn kiệt, tỏ rõ dứt khoát là không được tiếp tục nữa. Từ lâu, những mệnh lệnh kiểu ấy là một thứ biên bản ghi nhận những điều tỉnh ngộ của chúng tôi nhân các tai họa xảy ra trong gia đình: sữa trào ra khỏi xoong, đèn không đủ sáng, xe tuột xích, đồng hồ không lên cót. Lời nói ấy còn nhằm ngay cả với những người có trách nhiệm: “Cái mũi hỏng quá” với cha là lúc xe còn cách thị trấn vài kilômét thì hết xăng. Trước khi đi, ông đã trù liệu chuyện xăng dầu phải đủ đi đến nơi về đến chốn dù có phải chạy ngoằn ngoèo. Nếu ông đã đi du lịch chứng kiến nhiều việc thì ngôn từ diễn đạt của ông chắc hẳn đơn giản thông dụng hơn. Có lẽ phải tài tình lắm may ra một trăm năm tôi mới phục hồi được nguồn gốc ý nghĩa của cái nhóm từ ấy.     Mời các bạn đón đọc Chiến Trận của tác giả Jean Rouaud & Phạm Văn Ba (dịch).
Khát Vọng Đổi Đời
Trong Khát vọng đổi đời, Stefan Zweig, bậc thầy về phân tích tâm lý con người, đã phơi bày ra những góc khuất của chủ nghĩa tư bản. Câu chuyện kể về cô gái tên là Christine, nhân viên tại một trạm bưu điện xa xôi thuộc nước Áo. Bố và anh trai đã mất trong chiến tranh, Christine sống với bà mẹ già nua bệnh tật trong một căn phòng ọp ẹp tồi tàn và ngày qua ngày làm công việc nhàm chán. Cho đến một hôm, người dì đã lưu lạc sang Mỹ 25 năm trước của Christine mời nàng đến nghỉ cùng vợ chồng họ trên dãy núi Alps thuộc Thụy Sĩ. Christine gói ghém đồ đạc tới chỗ dì Claire ở Pontresina và hoàn toàn choáng ngợp trước cảnh giàu sang phú quý nơi đây. Dì Claire đã đưa nàng bước chân vào thế giới thượng lưu hào nhoáng. Từ đây, cuộc đời nàng bước sang một trang mới với những mật ngọt cùng những giăng mắc mà nó bày ra. Khát vọng đổi đời được Stefan Zweig hoàn thành trong những năm 30 của thế kỷ XX nhưng chỉ được xuất bản 40 năm sau khi ông qua đời. *** Trong Khát vọng đổi đời, Stefan Zweig đã khám phá từng chi tiết của đời sống thường nhật với một văn phong làm rung động cả khối óc lẫn tâm hồn… Câu chuyện sầu thảm, và có lẽ là một trong những bản cáo trạng u tối nhất từng xuất hiện trong văn chương về việc sự nghèo đói hủy diệt hy vọng, niềm vui, sắc đẹp và tiếng cười như thế nào. - The Spectator (UK) Một tác phẩm vô cùng hấp dẫn cho thấy lịch sử có thể tác động lên đời sống mỗi con người như thế nào. - The Financial Times Khát vọng đổi đời táo bạo, buồn và cảm động… Với hình tượng nhân vật Christine và đặc biệt là Ferdinand, Zweig đã cho chúng ta thấy chân dung của một thế giới đang đến ngày tàn. - The Guardian … Không một tác phẩm nào của Zweig đòi đấu trực diện với di sản của Thế chiến thứ nhất với độ sâu sắc về xã hội lẫn sự chi tiết về con người như Khát vọng đổi đời… chúng ta may mắn có được cuốn sách này, không chỉ bởi nó là bức tranh đau buồn về đời sống nước Áo sau chiến tranh mà còn bởi nó rất khác các tác phẩm khác của Zweig. - William Deresiewicz, The Nationb *** Stefan Zweig sinh ra ở Viên (Áo). Cha ông lầ Moritz Zweig (1845–1926), nhà sản xuất dệt may giàu có người Do Thái; mẹ là Ida Brettauer (1854–1938), con gái một chủ ngân hàng người Do Thái. Ông là bà con của nhà văn Tiệp Khắc Egon Hostovský, người này mô tả Zweig là "một họ hàng xa"; có thuyết nói hai người là anh em họ. Không tìm thấy động lực rõ ràng, ông bỏ học sớm. Việc học của ông chỉ bắt đầu khi ông đi qua nhiều nước ở châu Âu và kết giao với nhiều nhân vật quan trọng vào thời đại của ông. Ông có nhiều chuyến đi đến Ấn Độ, châu Phi, Bắc và Trung Mỹ, cũng như Nga. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, vì lý do sức khỏe yếu, ông không phải ra mặt trận mà được làm thủ thư, phụ trách quản lý tư liệu chiến tranh. Nhưng chỉ đến khi sống một thời gian ngắn gần trận tuyến, ông mới nhận ra sự điên rồ của chiến tranh, và từ đó trở thành người cổ vũ mạnh mẽ cho hoà bình. Là một nhà văn có sức làm việc mạnh, ông đã viết nhiều tập tiểu sử (như quyển Ba bậc thầy bàn về Honoré de Balzac, Charles Dickens và Fyodor Dostoyevsky, xuất bản năm 1920), thêm truyện dài và truyện ngắn. Ông được ca ngợi là có óc phân tích tâm lý độc đáo, và có tài chắt lọc bỏ ra những tiểu tiết khiến cho những tập tiểu sử của ông đọc hấp dẫn như tiểu thuyết. Đến thập niên 1930, ông là một tác giả có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Năm 1934, Adolf Hitler lên nắm quyền tại Đức, Zweig rời Áo sang Anh, ban đầu sống ở Luân Đông, đến năm 1939 chuyển đến Bath. Năm 1939 Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đức Quốc xã nhanh chóng chinh phục Tây Âu, Zweig và người vợ thứ 2 phải vượt Đại Tây Dương sang Hoa Kỳ, định cư tại Thành phố New York năm 1940. Hai người có 2 tháng làm khách của Đại học Yale ở New Haven, Connecticut, về sau thuê 1 căn nhà tại Ossining, New York. Ngày 22 tháng 8 năm 1940, Zweig và vợ di cư tới Brasil, định cư ở Petrópolis, một thị trấn miền núi có đông đảo người Đức sinh sống, cách Rio de Janeiro 68 km về hướng bắc. Tháng 2 năm 1942, trong thời gian lễ hội ở Rio de Janeiro (Brasil), vì tâm trạng cô đơn và mệt mỏi, Stefan Zweig và vợ Lotte cùng nhau tự tử. Năm 1948, truyện Bức thư của người đàn bà không quen biết đã được dựng thành phim có tựa Letter from an unknown woman, với Joan Fontaine thủ vai cô gái nhân vật chính, Howard Koch viết kịch bản và John Houseman là nhà sản xuất. Howard Koch cũng đã viết kịch bản cho phim Casablanca (1942), và John Houseman là nhà đồng sản xuất của phim "Công dân Kane" (Citizen Kane) (1941) – cả hai phim này được xếp vào nhóm 10 phim hay nhất mọi thời đại. Phim Letter from an unknown woman lấy bối cảnh là thành phố Wien vào khoảng năm 1900. Phim làm rơi lệ nhiều khán giả này nằm trong nhóm 100 phim hay nhất mọi thời đại, được Thư viện Quốc hội Mỹ xếp hạng "có ý nghĩa về mặt văn hóa," và được tuyển chọn để lưu trữ tại Cơ quan Lưu trữ Phim ảnh Quốc gia của Hoa Kỳ.   Gần đây (2005), một phim khác được thực hiện ở Trung Quốc cũng dựa trên truyện này. Năm 1968, một truyện khác được chuyển thể thành phim "24 giờ làm phụ nữ" (24 hours in a woman's life), với nữ diễn viên chính là Ingrid Bergman, cũng khá thành công. Năm 2014, Bộ phim Khách sạn Đế vương, xây dựng dựa trên cảm hứng từ các công trình ghi chép của ông với nội dung tôn vinh những "tia sáng mong manh của nền văn minh sót lại trong chốn man rợ vốn từng được biết đến là nhân đạo", ra mắt trong sự ca ngợi của các nhà phê bình phim. Bộ phim dẫn đầu danh sách đề cử giải BAFTA với 11 đề cử, nhiều hơn bất kỳ bộ phim nào khác. Nó cũng giành được Giải Quả cầu vàng cho phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất và chín đề cử giải Oscar, bao gồm cả giải Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất. Bộ phim sau đó đã giành được 4 giải Oscar cho Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất, Nhạc phim hay nhất, Thiết kế trang phục và Hóa Trang. *** Ai đã có lần ghé vào phòng làm việc của một trạm bưu điện nông thôn nước Áo thì có thể coi như mình đã biết tất cả các trạm bưu điện khác, bởi lẽ chúng hầu như chẳng khác nhau là bao. Vẫn những đồ vật được sắp đặt, hay nói cho đúng hơn là được quy định sắp đặt theo một quy chế thống nhất, vẫn những dụng cụ có từ thời Franz Josef[1] và ở bất cứ đâu những vật dụng ấy đều mang dấu ấn của thói quan liêu nặng nề, ngay cả ở tận những xóm làng hẻo lánh vùng Tyrol băng giá cũng thế. Trong các trạm bưu điện ấy lúc nào cũng bốc lên mùi tù hãm của thuốc lá rẻ tiền và bụi giấy, những mùi vị đặc trưng cho các phòng giấy của nước Áo cổ. Các trạm bưu điện đó dù có ở nơi nào cũng đều được thiết kế giống nhau: từ tấm vách ngăn bằng gỗ với những ô cửa sổ nhỏ lắp kính chia căn phòng theo một tỷ lệ nhất định, như muốn ngăn đôi thế giới thành hai khu vực - khu vực dành cho khách hàng và cho nhân viên phục vụ. Trong khu vực dành cho mọi người chẳng có lấy một chiếc ghế hoặc những đồ dùng cần thiết dành cho khách hàng, điều ấy đã nói lên một cách rõ ràng rằng chính phủ rất ít quan tâm đến sự có mặt trong giây lát của mọi công dân trong khu vực ấy. Đồ gỗ duy nhất ở đây thường chỉ có một chiếc bàn viết phủ vải sơn dựng hờ hững vào tường. Tấm vải sơn nứt nẻ, loang lổ vết mực dù chẳng ai nhớ nổi trong cái lọ mực được bắt chặt trên mặt bàn đã bao giờ có một thứ gì, ngoài một chất lỏng lổn nhổn như cháo. Còn nếu tình cờ cạnh đấy có một chiếc bút thì chắc chắn là ngòi bút bị tòe, không thể viết được. Cơ quan ngân khố quốc gia chẳng những chỉ tiết kiệm trong các tiện nghi mà ngay cả trong hình thức cũng vậy. Kể từ khi nước Cộng hòa ra lệnh bãi bỏ các bức chân dung của Franz Josef đến nay thì vật trang trí duy nhất ở những nơi công cộng là những tấm quảng cáo lòe loẹt dán đầy trên các bức tường không quét vôi bẩn thỉu, kêu gọi mọi người đến xem các phòng triển lãm đã đóng cửa từ lâu hoặc mua vé xổ số. Còn trong một vài văn phòng khác, ít được ai ngó tới, vẫn treo những tấm áp phích hô hào mọi người mua công trái chiến tranh, với những thứ trang trí rẻ tiền như vậy lại còn kèm theo một lời yêu cầu không được hút thuốc lá và hầu như chẳng ai thèm chấp hành, sự hào phóng của quốc gia trong các văn phòng bưu điện chỉ được giới hạn có từng ấy. Tuy nhiên, ngăn của nhân viên phục vụ trông có vẻ đáng kể hơn nhiều. Tại đây, với một quy mô thích hợp, chính phủ muốn phô trương sự hùng cường của mình dưới mọi hình thức. Ở góc phòng thường đặt một chiếc két sắt chống cháy mà dựa vào những chấn song lắp trên cửa sổ ta có thể đoán được trong chiếc két ấy đôi khi có chứa những khoản tiền lớn. Trên bàn làm việc ngự trị chiếc máy điện báo bằng đồng thau sáng loáng, trông như một vật trang sức quý giá. Cạnh đấy là chiếc máy điện thoại đang yên nghỉ trên cái giá đỡ mạ kền. Hai thứ dụng cụ trên được cố tình để riêng ra trong một vị trí trang trọng như vậy bởi lẽ chúng đã nối liền cái thôn hẻo lánh này với mọi miền của đất nước bằng những dây dẫn bằng đồng. Những dụng cụ vặt vãnh còn lại của ngành bưu điện đành phải chịu cảnh lép vế: những chiếc cân và những chiếc túi đựng thư, các bảng tra cứu, những chiếc cặp giấy nhét đầy sổ sách, cuốn sổ thống kê, chiếc hộp tròn đựng tiền trả cước phí đầy tiền xu hễ cứ động vào là kêu lẻng xẻng, những quả cân, những chiếc bút chì xanh, đỏ, đen và bút chì hóa học, những chiếc kẹp giấy, cuộn giấy buộc hàng, hộp đựng xi, miếng bọt biển thấm nước, cái bàn thấm, con dao rọc giấy, lọ keo cùng với những chiếc kéo - tất cả những dụng cụ khác nhau đó đành phải chen chúc lộn xộn nơi mép bàn. Còn trong các ngăn kéo thì nhét đầy mọi thứ giấy tờ đủ loại và những biểu mẫu. Thoạt nhìn, tất cả cái đống vật dụng ấy có vẻ như được sử dụng rất hoang phí, nhưng cảm giác ấy hoàn toàn sai lầm - Nhà nước thường xuyên kiểm tra rất nghiêm ngặt từng thứ vật dụng rẻ tiền mau hỏng đó. Từ mẩu bút chì cho đến con tem rách, từ tờ giấy thấm nhàu nát cho tới mẩu xà phòng ở chỗ rửa tay, từ chiếc bóng điện chiếu sáng văn phòng cho tới chìa khóa để khóa văn phòng lại - chính phủ yêu cầu các nhân viên phục vụ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tất cả những tài sản quốc gia đó, cho dù chúng đã hỏng hay đang sử dụng. Bên cạnh chiếc lò sưởi bằng gang có treo một bảng đánh máy liệt kê tất cả mọi thứ vật dụng, bên dưới có đóng dấu hẳn hoi và một chữ ký loằng ngoằng. Với một sự chính xác của toán học, tất cả mọi thứ dụng cụ, kể cả những thứ rẻ tiền và không đáng kể của trang thiết bị đã được tính toán, cân nhắc để cung cấp cho từng trạm bưu điện tương ứng. Không một thứ vật dụng nào không có tên ở trong bảng lại có quyền tồn tại trong phòng làm việc, và ngược lại mỗi một dụng cụ có tên trong bảng phải luôn luôn có mặt trong phòng để bất cứ lúc nào cũng có thể sử dụng được. Chính quyền, luật lệ và thể chế đã quy định như vậy. Nghiêm khắc mà nói thì trong cái bảng liệt kê được đánh máy cẩn thận ấy cần phải ghi thêm một nhân vật nữa - đó là người nhân viên cứ sáng sáng vào đúng bảy giờ lại nhấc tấm kính ở vách ngăn ra rồi đưa toàn bộ cái thế giới vô tri vô giác ấy vào hoạt động. Người đó sẽ mở các bao thư, đóng dấu vào các bức thư, thanh toán các giấy chuyển tiền, viết hóa đơn, cân các bưu kiện, ghi chép và đánh những cái dấu bí hiểm không ai hiểu nổi lên giấy tờ bằng bút chì xanh đỏ, nhấc ống nghe lên và quay điện thoại. Nhưng có lẽ vì tế nhị mà người ta không đưa cái nhân vật vẫn thường được khách hàng gọi là nhân viên bưu điện ấy vào trong bảng liệt kê vật dụng nói trên. Tên họ của người đó đã được đăng kí trong một bộ phận khác của ban giám đốc bưu điện. Tuy nhiên cũng giống như những thứ vật dụng khác, người đó cũng nằm trong diện được kiểm tra thường xuyên. Trong căn phòng làm việc đáng tôn kính ấy hầu như không bao giờ xảy ra một sự thay đổi đáng kể nào. Những quy luật vĩnh cửu về cuộc sống và cái chết đành phải lùi bước khi đụng vào bức tường chắn của quốc gia. Xung quanh bưu điện, cây cối đâm chồi nảy lộc rồi trút lá, trẻ con lớn lên còn người già lại chết đi, những ngôi nhà cũ kỹ ọp ẹp đổ sập xuống và người ta lại xây những ngôi nhà mới, chỉ riêng cái công sở của nhà nước ấy là vẫn khoa trương sức mạnh không hề bị khuất phục bởi bất cứ điều gì. Bởi lẽ, trong cái môi trường ấy, mỗi một vật dù bị mòn hay bị mất, bị hỏng hay bị gãy, liền được các nhà chức trách yêu cầu phải thay thế ngay bằng một tiêu bản khác giống y như vậy. Chính điều đó đã chứng minh sự hơn hẳn của cơ quan nhà nước với thế giới bên ngoài đang tàn rữa. Nội dung chứa đựng bên trong có thể chỉ nhất thời nhưng hình thức thì không bao giờ thay đổi. Trên bức tường có treo một tấm lịch. Cứ mỗi ngày trôi qua, một tờ lịch lại được bóc đi. Sau một tuần mất bảy tờ, sau một tháng - ba mươi tờ. Vào ngày ba mươi mốt tháng mười hai, khi lốc lịch đã hết, người ta làm đơn xin cái mới, cũng với kích thước y như vậy, hình thức ấn loát y như vậy. Và thế là một năm mới đã bước sang nhưng tấm lịch thì vẫn như cũ. Trên bàn có một cuốn sổ kế toán với những hàng số chi chít. Khi những dãy số ở hàng bên trái vừa cộng xong, kết quả liền được đưa sang hàng bên phải và công việc tính toán lại tiếp tục, hết trang này đến trang khác. Khi trang cuối cùng được viết kín cuốn sổ cũng coi như hết, lại bắt đầu một cuốn mới, vẫn hình dạng y như thế, chiều dày y như thế, không khác chút nào so với cuốn trước. Còn tất cả mọi công việc đã kết thúc trong ngày hôm ấy thì hôm sau sẽ bắt đầu lại, tẻ nhạt, đơn điệu như chính bản thân công việc. Trên mặt bàn sẽ lại xuất hiện chính những đồ vật ấy, vẫn những tập biểu mẫu in sẵn với những cây bút chì, vẫn những chiếc kẹp giấy và những tờ phiếu ghi, lần nào công việc cũng có vẻ như mới nhưng thực ra vẫn như cũ. Không có chuyện gì thay đổi hoặc thêm vào trong cái thế giới do nhà nước quản lý này. Cuộc sống cứ thế lặp đi lặp lại, không chút sinh khí, nói cho đúng hơn là sự chết dần chết mòn ấy không bao giờ chấm dứt. Điều duy nhất khác nhau giữa những đồ vật là nhịp độ hao mòn và khả năng phục hồi của chúng, nhưng điều đó hoàn toàn không phụ thuộc vào bản thân đồ vật. Chiếc bút chì chỉ tồn tại trong một tuần và sau đó được thay bằng chiếc khác giống y như chiếc cũ. Cuốn sổ bưu điện sống được một tháng, chiếc bóng điện - ba tháng, còn tấm lịch thì một năm. Chiếc ghế mây được quy định phải dùng trong ba năm mới được thay thế còn người ngồi trên đó thì phải ngồi suốt đời - khoảng ba mươi đến ba lăm năm. Sau đó trên chiếc ghế ấy người ta sẽ bổ nhiệm một người khác, song chiếc ghế vẫn như cũ, chẳng khác gì chiếc trước. Vào năm 1926, trong trạm bưu điện Klein-Reifling nằm ở một làng nhỏ bình thường cạnh thành phố Krems và cách thủ đô Vienna khoảng hai giờ xe lửa, thứ vật dụng có thể thay thế được mà ta vẫn thường gọi là “nhân viên phục vụ” lại là một người phụ nữ. Và bởi lẽ trạm bưu điện này được xếp vào loại nhỏ, do đó người nhân viên cũng chỉ được mang tước vị “trợ lý ngành bưu điện”. Qua tấm kính của vách ngăn ta không thể nhìn rõ cô gái được, nhưng có thể thấy một khuôn mặt thiếu nữ nhìn nghiêng không có gì đặc biệt song rất dễ thương: cặp môi nhỏ, đôi má hơi nhợt nhạt, phía dưới cặp mắt có một quầng tối. Vào buổi chiều, khi cô gái bật ngọn điện sáng gắt lên, người tinh mắt có thể nhận thấy một vài nếp nhăn nhỏ trên trán và hai bên thái dương. Mặc dù vậy, bên cạnh cành miên quỳ lấp ló sau khung cửa sổ và bó hoa cơm cháy sáng nay cô vừa cắm trong chiếc lọ bằng sắt tây, cô gái vẫn là một đối tượng sinh động hơn cả giữa những vật dụng của trạm bưu điện Klein - Reifling. Và cũng dễ dàng nhận thấy cô gái ấy còn có thể tiếp tục công việc của mình ít nhất là hai mươi lăm năm nữa. Bàn tay nhỏ nhắn với những ngón tay trắng xanh kia sẽ còn phải nhấc lên đặt xuống hàng nghìn lần nữa cái tấm kính ngăn. Và hàng trăm nghìn lần nữa, mà cũng có thể là hàng triệu lần nữa, bằng những động tác máy móc, cô sẽ còn phải đặt những bức thư lên miếng đệm cao su, rồi cũng hàng nghìn lần nữa có thể hàng triệu lần nữa, đóng cái dấu bằng đồng nhem nhuốc lên những con tem. Có lẽ cái thao tác thành thạo của cánh tay cô gái sẽ ngày càng trở nên chính xác hơn, nhanh nhẹn hơn nhưng đồng thời cũng trở nên vô ý thức hơn. Hàng trăm nghìn bức thư nữa sẽ qua tay cô gái, tất nhiên những bức thư khác nhau nhưng chúng luôn luôn chỉ là những bức thư, và những con tem dẫu có khác nhau, nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là những con tem. Những tháng ngày khác nhau sẽ trôi qua, nhưng ngày nào cũng bắt đầu từ tám giờ sáng, đến mười hai giờ trưa, từ hai giờ chiều đến sáu giờ tối, rồi năm tháng sẽ trôi qua, không chút hứng thú, không chút thay đổi vì vẫn chỉ là những công việc ấy, cứ lặp đi lặp lại mãi. Cũng có thể vào chính cái buổi trưa mùa hạ êm ả ấy, người thiếu nữ có mái tóc màu hung nhạt ngồi sau ô cửa kính đang nghĩ về tương lai của mình, mà cũng có thể nàng chỉ đang mơ mộng. Dù có thế nào thì cô gái vẫn ngồi đấy, hai cánh tay tuột khỏi mặt bàn nằm yên trên đầu gối, những ngón tay thon nhỏ, trắng xanh mệt mỏi đan vào nhau. Vào những buổi trưa tháng bảy oi nồng với bầu trời xanh nhạt như thế này, trong trạm bưu điện Klein - Reifling hầu như chẳng có việc gì làm. Công việc buổi sáng đã kết thúc, người đưa thư Hinterfellner, một người đàn ông gù lưng lúc nào cũng nhai thuốc lá đã chuyển xong những bức thư từ lâu. Từ giờ đến chiều tối sẽ chẳng có một cái công văn hoặc một mẫu hàng nào từ các nhà máy gửi đến nữa, còn người dân trong làng thì chẳng muốn hoặc chẳng có thời gian đâu mà viết thư. Những người nông dân đầu đội mũ rơm rộng vành đang vun gốc nho, đám trẻ con chân đất vẫn đang nghỉ hè thì dẫn nhau ra sông. Mảnh sân lát đá trước cửa vắng hoe bị ánh nắng mặt trời nung nóng. Giá bây giờ được ngồi ở nhà thì thật là tuyệt và cũng thật là tuyệt nếu được ngồi yên mà mơ mộng. Dưới bóng râm của cánh cửa chớp, những tờ biểu mẫu và những tấm bưu ảnh đang ngủ yên trên giá và trong hộp gỗ, chiếc máy điện báo uể oải lười biếng hắt ra ánh kim loại trong bóng tối nhờ nhờ vàng đục. Sự tĩnh lặng giống như một lớp bụi vàng dày đặc bao trùm lên tất cả mọi thứ dụng cụ trong phòng, chỉ còn lại dàn nhạc violon nhỏ xíu của đàn muỗi và của bầy ong đất là vẫn còn tiếp tục chương trình hòa nhạc buổi chiều của mình ngoài khung cửa. Vật duy nhất còn hoạt động trong căn phòng mát mẻ là quả lắc chiếc đồng hồ treo tường vỏ gỗ treo giữa hai khuôn cửa sổ. Mỗi một giây trôi qua, chiếc đồng hồ nuốt chửng một giọt thời gian. Tuy nhiên tiếng lắc đều đều yếu ớt của nó chỉ càng làm cho người ta dễ ngủ hơn là đánh thức người ta dậy. Cô gái trợ lý ngành bưu điện vẫn ngồi yên trong cái thế giới nhỏ bé của mình và uể oải thiếp đi với một cảm giác dễ chịu. Đúng ra mà nói, cô cũng định tranh thủ thêu thùa một chút. Cô đã chuẩn bị sẵn kim chỉ và một chiếc kéo nhỏ, nhưng tấm vải thêu tuột khỏi đầu gối rơi xuống đất, nhặt nó lên thì cô không đủ sức và cũng chẳng có ý định ấy. Ngửa người ra thành ghế, cô gái nhắm mắt lại thở nhè nhẹ, hoàn toàn đắm chìm trong cảm giác khoan khoái, dễ chịu vì được nghỉ ngơi. Những giây phút như vậy thật hiếm trong đời nàng. Chú thích [1] Franz Josef (1830 - 1916): hoàng đế Đế quốc Áo - Hung từ năm 1848 tới năm 1916.   Mời các bạn đón đọc Khát Vọng Đổi Đời của tác giả Stefan Zweig.