Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tham Thiền Yếu Chỉ (Thích Thanh Từ)

ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TIÊN CỦA SỰ THAM THIỀN.

Mục đích tham thiền là cầu được minh tâm kiến tánh. Muốn thế, phải gạn lọc các thứ nhiễm ô của tự tâm, thấy rõ mặt thật của tự tánh. Nhiễm ô tức là vọng tưởng chấp trước. Tự tánh là đức tướng trí tuệ Như Lai. Đức tướng trí tuệ Như Lai, chư Phật và chúng sanh đồng có đủ, không hai không khác. Nếu rời vọng tưởng chấp trước là chứng được đức tướng trí tuệ Như Lai của mình; phải thế là Phật, không phải thế là chúng sanh. Chỉ vì chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay mê muội đắm chìm trong sanh tử, nhiễm ô đã lâu, không thể trong chốc lát thoát được vọng tưởng, thật thấy bản tánh, vì thế nên phải tham thiền. Điều kiện quyết định đầu tiên của sự tham thiền là trừ diệt vọng tưởng. Phương pháp trừ vọng tưởng như thế nào? Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nói phương pháp rất nhiều, nhưng rất giản lược chẳng qua một chữ hết, hết là Bồ-đề. Thiền tông do Tổ sư Đạt-ma truyền sang Trung Hoa, sau đến đức Lục Tổ, tông phong bủa khắp sáng chiếu cổ kim. Câu rất khẩn yếu mà đức Tổ sư Đạt-ma và Lục Tổ khai thị cho môn đồ là “Trừ sạch các duyên, một niệm không sanh”. Trừ sạch các duyên tức là vạn duyên buông hết.

Hai câu: “Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” chính là điều kiện quyết định đầu tiên của sự tham thiền. Hai câu ấy nếu thực hiện không được, tham thiền chẳng những nói không thành công mà vào cửa cũng không thể được. Bởi vì vạn duyên còn ràng buộc, niệm niệm mãi sanh diệt, ông làm sao tham thiền được?

“Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh” là điều kiện quyết định đầu tiên của sự tham thiền, dĩ nhiên chúng ta đã biết. Nhưng phải làm thế nào mới có thể thực hiện được? Có hai cách:

1- Bậc thượng, một niệm hằng dứt, thẳng đến vô sanh liền chứng Bồ-đề, không còn một mảy may ràng buộc. Tìm mua: Tham Thiền Yếu Chỉ TiKi Lazada Shopee

2- Bậc thứ, dùng lý trừ sự, biết rõ tự tánh xưa nay vẫn thanh tịnh, phiền não

Bồ-đề, sanh tử Niết-bàn đều là giả danh không can dự gì đến tự tánh của ta. Muôn sự muôn vật đều là việc chiêm bao, huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng. Sắc thân tứ đại của ta đây và sơn hà đại địa ở trong tự tánh như hòn bọt ngoài bể cả, mặc tình sanh diệt không ngại gì bản thể. Ta không nên theo sự sanh, trụ, dị, diệt của tất cả cái huyễn hóa ấy mà khởi ưa, chán, thủ, xả. Toàn thân buông hết như người chết không khác, tự nhiên căn, trần, thức, tâm tan biến; tham, sân, si, ái diệt sạch. Mọi việc đau nhức, khổ vui, đói lạnh, no ấm, vinh nhục, sanh tử, họa phước, kiết hung, chê khen, được mất, an nguy, khó dễ v.v… nơi thân một mực đẩy chúng ra ngoài.

Có thế mới mong buông hết. Một buông, tất cả đều buông, mãi mãi buông gọi là vạn duyên buông hết. Vạn duyên buông hết rồi, vọng tưởng tự tiêu, phân biệt không khởi, các chấp trước hằng xa lìa. Khi ấy, một niệm không sanh, tự tánh sáng suốt, toàn thể hiện bày. Được vậy là điều kiện tham thiền đã đầy đủ, lại dụng công chân thật tham cứu mới có thể được minh tâm kiến tánh.

Hằng ngày thường có các vị tu thiền đến hỏi câu thoại đầu. Phàm là pháp vốn không phải pháp, một khi rơi vào ngôn ngữ tức không phải thật nghĩa. Biết được một tâm này xưa nay là Phật, ngay đó vô sự muôn việc hiện thành, nói tu nói chứng đều là ma thuyết. Đức Đạt-ma sang Trung Hoa “Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Chỉ bày rành rõ tất cả chúng sanh đều là Phật. Thẳng đó nhận được tự tánh thanh tịnh này, tùy thuận không nhiễm ô, trong hai mươi bốn giờ đi đứng ngồi nằm tâm không khởi vọng, ấy là hiện thân thành Phật; chẳng cần dụng tâm dụng lực, cũng chẳng cần tạo tác thi vi, không nhọc một mảy may suy nghĩ nói năng. Do đó, nói thành Phật là việc rất dễ dàng, rất tự tại, đạt được là tại nơi ta, không phải cầu bên ngoài. Tất cả chúng sanh trên thế giới này, nếu thật không cam chịu trường kiếp trầm luân trong tứ sanh lục đạo, hằng đắm chìm nơi bể khổ, muốn thành Phật được thường, lạc, ngã, tịnh, phải tin lời chân thật của Phật Tổ “buông hết tất cả, không nghĩ nhớ thiện ác”, mỗi người khả dĩ liền đó thành Phật.

Chư Phật, Bồ-tát và lịch đại chư vị Tổ sư phát nguyện độ hết tất cả chúng sanh, không phải là không bằng cứ, đâu phải chỉ hứa nguyện suông.

Đã nói ở trên, pháp vốn như vậy, Phật Tổ lắm phen dạy rõ căn dặn kỹ càng, là chân ngữ thật ngữ, không một mảy hư dối. Phật do lòng đại từ bi không nệ tất cả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay mê muội chìm đắm trong biển khổ sanh tử, vừa ra lại vào, luân chuyển không dừng, mê lầm điên đảo, trái tánh giác hợp vọng trần. Ví như vàng ròng bỏ vào hầm phẩn, không những chẳng dùng được mà lại nhơ nhớp quá lắm. Ngài bất đắc dĩ nói ra tám muôn bốn ngàn pháp môn, tùy căn cơ chẳng đồng của chúng sanh dùng đối trị tham, sân, si, ái v.v… tám muôn bốn ngàn bệnh tập khí vi tế. Như vàng đã dính các thứ nhơ nhớp, mới dạy người dùng sạn, bàn chải, nước, vải v.v… để mài giũa, chùi rửa nó. Sở dĩ Phật nói pháp, mỗi môn đều là diệu pháp, đều có thể liễu thoát sanh tử, thành Phật đạo. Chỉ có vấn đề hợp cơ hay không hợp cơ, không cần phân biệt pháp môn cao hay thấp. Pháp môn lưu truyền ở Trung Hoa rất phổ thông là Tông, Giáo, Luật, Tịnh, Mật. Năm pháp môn này tùy căn tánh và chỗ hứng thú của mỗi người thực hành môn nào cũng tốt.

Quan trọng là trong một môn được thâm nhập, trải thời gian lâu không đổi thay, như vậy khả dĩ thành tựu.

Về Tông môn chủ trương tham thiền, tham thiền cốt “Minh tâm kiến tánh”, cần tham suốt được cái “bản lai diện mục của mình”, nên nói: “Giác ngộ tự tâm, thấy suốt bản tánh”. Pháp môn này phát nguyên từ hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa sen, ngài Ca Diếp cười chúm chím, đến Tổ sư Đạt-ma truyền sang Trung Hoa, về sau chỗ hạ thủ công phu đã từng thay đổi. Các bậc Thiền đức trước đời Đường, đời Tống phần nhiều nghe một lời, hoặc nửa câu được ngộ đạo. Thầy trò truyền nhau chẳng qua dùng tâm ấn tâm, không có một thật pháp. Ngày thường thưa hỏi, trả lời cũng chẳng qua tùy cách phá chấp, theo bệnh cho thuốc mà thôi. Từ đời Tống về sau, người học đạo căn tánh yếu ớt cạn hẹp, nói được mà làm không được.

Ví như nói “buông hết tất cả”, “không nghĩ thiện ác”, thảy đều buông mà không hết, không nghĩ thiện thì nghĩ ác. Đến thời đại này Tổ sư bất đắc dĩ dùng biện pháp lấy độc trừ độc, dạy người học tham công án hay khán thoại đầu. Thậm chí thiết tha cắn chặt một câu “Tử thoại đầu”, dạy phải nghiến ngầm cấp bách không một sát-na lơi lỏng, giống như con chuột khoét rương cắn mãi một chỗ, chưa thủng thì không dừng. Dạy như vậy, mục đích lấy một niệm trừ muôn niệm. Kỳ thật, đó cũng là một biện pháp bất đắc dĩ, như mụt nhọt độc trong thân, nếu không dùng dao mổ thì bệnh khó lành. Công án của cổ nhân rất nhiều, sau này chuyên dạy khán thoại đầu, khán “Mang thây thúi ấy là gì?”, khán “Trước khi cha mẹ chưa sanh, thế nào là mặt thật xưa nay của ta?”. Gần đây, các nơi phần nhiều dùng một câu thoại đầu khán “Niệm Phật là gì?”. Kỳ thật, những câu thoại đầu đều cùng một loại, đều rất bình thường không có gì kỳ lạ đặc biệt. Có thể ta nói: khán

“Niệm kinh là gì?”, khán “Trì chú là gì?”, khán “Lễ Phật là gì?”, khán “Đi đường là gì?”, khán “Ngủ mới thức là gì?”… đều cùng một loại như nhau. Sau chữ gì là đáp án, nó vốn là tâm. Thoại (lời nói) từ tâm khởi, tâm là đầu của thoại. Niệm từ tâm khởi, tâm là đầu của niệm. Muôn pháp đều từ tâm khởi, tâm là đầu của muôn pháp. Kỳ thật, thoại đầu tức là niệm đầu, trước niệm chính là tâm. Nói thẳng, trước khi một niệm chưa sanh là thoại đầu. Do đây, chúng ta biết khán thoại đầu tức là quán tâm. Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay tức là tâm. Khán trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt thật xưa nay là quán tâm. Tánh cũng tức là tâm. Câu “Phản văn văn tự tánh” (xoay cái nghe nghe tự tánh) là phản quán quán tự tâm.

Câu “Viên chiếu thanh tịnh giác tướng” (chiếu khắp tướng giác thanh tịnh), thanh tịnh giác tướng tức là tâm, chiếu tức là quán. Tâm tức là Phật, niệm Phật tức là quán Phật, quán Phật tức là quán tâm. Sở dĩ nói “khán thoại đầu” hoặc nói “khán niệm Phật là gì ”, đều là quán tâm, quán chiếu giác thể tự tâm thanh tịnh, là quán chiếu Phật tánh của mình. Tâm tức là tánh, tức là giác, tức là Phật, không có hình tướng chỗ nơi, trọn không thể được, sẵn vậy thanh tịnh, khắp cả pháp giới, không ra không vào, không qua không lại, chính là xưa nay hiện thành Pháp thân Phật thanh tịnh. Hành nhân thu nhiếp lục căn “khán từ chỗ một niệm mới sanh”, soi xét một câu thoại đầu này, khán đến chỗ tự tâm thanh tịnh ly niệm. Lại tiến lên, càng thầm kín dày dặc, lặng lẽ yên tịnh, tuy tịch mà chiếu, thẳng đó ngũ uẩn đều không, thân tâm đều vắng lặng, hoàn toàn không có một việc. Từ đây ngày đêm đi đứng ngồi nằm như như không động, càng lâu công phu càng dày liền được thấy tánh thành Phật, vượt qua mọi khổ ách. Xưa Tổ sư Cao Phong nói: “Người học đạo hay khán một câu thoại đầu, như gieo hòn gạch xuống hồ sâu muôn trượng, rơi thẳng tận đáy, được vậy trong bảy ngày, nếu không khai ngộ, Lão tăng xin dâng thủ cấp”.

Bạn đồng tham thiền! Câu nói của người xưa là chân ngữ, thật ngữ, không phải lời nói dối trá lừa đảo đâu!Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Thích Thanh Từ":Kinh Kim CangBát Nhã Tâm KinhĐốn Ngộ Nhập Đạo Yếu MônTham Thiền Yếu ChỉThiền Tông Trực ChỉThiền Tông Vĩnh Gia TậpThiền Tông Bản HạnhTọa Thiền Dụng Tâm KýTam Tổ Trúc LâmThiền Đốn NgộThiền Sư Trung HoaBước Đầu Học PhậtThiền Sư Việt Nam

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tham Thiền Yếu Chỉ PDF của tác giả Thích Thanh Từ nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Du Già Tây Tạng - Giáo Lý Và Tu Tập (Đỗ Đình Đồng)
Tập sách nhỏ “Du-già Tây Tạng, Giáo Lý và Tu Tập” này được dịch từ bản văn tiếng Anh có nhan đề là “Teachings of Tibetan Yoga” do Giáo sư Garma C. C. Chang - giảng sư của Tu viện Kong Ka ở miền Đông Tây Tạng khoảng trước năm 1950 - biên dịch từ Hoa ngữ, do nhà xuất bản Carol Publishing Group ấn hành năm 1993 tại New York, Hoa Kỳ. Tuyển tập này vốn từ các nguyên tác của Phật giáo Mật tông Tây Tạng theo Truyền thừa Kagyu (Khẩu truyền). Sách gồm những pháp môn mà Milarepa, Đại Hành Giả Du-già Tây Tạng, đã được mật truyền từ Đạo sư của Ngài, Dịch giả Marpa, tu tập nhiều năm trong cô tịch, thành tựu viên mãn, và cứu độ gia trì rất nhiều chúng sinh. Những pháp môn đó là Đại Thủ Ấn (Mahamudra) và Sáu Yoga của Naropa, phát nguồn từ các Tổ sư Mật giáo Ấn độ là Tilopa và Naropa. Ngày nay, hai pháp môn này được các Đạo sư Tây Tạng hành trì, chỉ dạy nhiều người học và tu tập, cũng như nhiều học giả và hành giả phương Tây nghiên cứu, tu tập, truyền bá nhiều nơi trên thế giới, tiêu biểu là Ấn độ, Anh quốc và Hoa kỳ, v.v… Những gì được ghi lại trong tập sách nhỏ này là những chỉ dẫn cốt lõi để thực hành nên rất trực tiếp, rõ ràng và cô đọng cho những ai muốn có một kiến thức căn bản vững chắc, một cẩm nang để tu tập từng bước một theo trình tự cần thiết như những chỉ dẫn ban cho. Tuy nhiên, như chính các tác giả của các chỉ dẫn trong sách này đã nói rõ, những ai muốn theo đó tu tập, trước hết, cần phải có một Đạo sư đầy đủ đạo hạnh khai thị và hướng dẫn. Điều này cực kỳ quan trọng vì nếu không có Đạo sư đích thực hướng dẫn, chắc chắn hành giả sơ cơ rất dễ bị lạc đường và nhất là có thể bị “tẩu hỏa nhập ma,” tức là khi chưa kiểm soát được luồng “hỏa hầu” trong khi luyện tập Yoga Dumo [Tumo] hay Yoga Nội Nhiệt - Yoga quan trọng nhất trong Sáu Yoga của Naropa. Đây là điều tối nguy hiểm nếu không có Đạo sư đủ tài năng và phẩm hạnh đi kèm. Ngay cả pháp môn Đại Thủ Ấn không hàm chứa nguy cơ như Sáu Yoga của Naropa, nhưng hành giả sơ cơ cũng rất cần có Đạo sư đầy đủ phẩm hạnh chỉ điểm và hướng dẫn, vì trong pháp môn này, hành giả bước đầu, ít nhất, phải thoáng thấy được Tâm-Yếu của mình để làm căn bản khởi tu và để tránh những sai lạc có thể xảy ra trên đường tu sau này. Vì vậy, nói chung, một Đạo sư đầy đủ phẩm hạnh là điều kiện tiên quyết trong tu tập Phật giáo Mật tông Tây Tạng. Ở đây người dịch tiếng Việt của tập sách này hoàn toàn đồng ý với Giáo sư Garma C. C. Chang, dịch giả của bản tiếng Anh, khi ông viết những lời sau đây trong “Lời Nói Đầu” của ông cho tập sách này: “Dịch giả từ chối tất cả mọi trách nhiệm đối với những độc giả có thể liều lĩnh thực nghiệm Sáu Yoga này. Chỉ đọc các bản văn này không bao giờ có thể thay thế một vị Đạo sư sống thực mà từ ông một người cầu tìm Bồ-đề trước tiên phải nhận sự khai thị và chỉ dẫn trước khi họ có thể bắt đầu tu tập thực sự. Đối với những học viên nghiêm túc, tập sách này phục vụ không gì khác hơn là một nguồn tài liệu tham khảo, một dấu hiệu chỉ hướng đến đường Đạo.” Tìm mua: Du Già Tây Tạng - Giáo Lý Và Tu Tập TiKi Lazada Shopee Đặc biệt cảm ơn dịch giả Vô Huệ Nguyên đã bỏ thời giờ, công sức và trí tuệ vào việc làm khó nhọc hiệu đính bản dịch này. Dù đã cố gắng nhiều nhưng chắc vẫn còn sai sót, mong các bậc cao minh rộng lượng, chỉ bảo cho. Đa tạ. Đỗ Đình Đồng Frederick, Xuân 2014Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Du Già Tây Tạng - Giáo Lý Và Tu Tập PDF của tác giả Đỗ Đình Đồng nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Lợi Ích Của Nước Tiểu Trị Liệu (Jagdish R. Bhurani)
Những lợi ích tự nhiên của Liệu pháp nước tiểu, một trong “Những phần thuộc về giáo dục về Bí quyết để có Sức khỏe tuyệt vời” cho mọi người để duy trì sức khỏe và cuộc sống lành mạnh. Nó có năng lực chữa bệnh tự nhiên để kiểm soát và chữa trị mọi loại bệnh. Nó là một sự trị bệnh rất hiệu quả và là cách chữa trị tự nhiên hữu hiệu nhấtĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Lợi Ích Của Nước Tiểu Trị Liệu PDF của tác giả Jagdish R. Bhurani nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Sách Của Enoch (Enoch)
Cuốn sách của Hê-nóc thuộc về cái gọi là giả-epigraph. Nó được viết vào thế kỷ thứ nhất. BC. thay mặt cho tộc trưởng Hê-nóc trong Cựu ước. Về Hê-nóc, hậu duệ thứ bảy của A-đam, những điều sau đây được biết đến từ Kinh thánh: “Enoch đã sống 65 năm và sinh ra Mafusal. Và Hê-nóc đã đi trước mặt Đức Chúa Trời, sau khi sinh ra Methusal, ba trăm năm, và sinh ra các con trai và con gái. Tất cả những ngày của Hê-nóc là ba trăm sáu mươi lăm năm. Và Hê-nóc bước đi trước mặt Đức Chúa Trời; và anh ấy không còn nữa, bởi vì Chúa đã bắt anh ấy. " (Sáng thế ký 5: 21-24) Điều này đã làm nảy sinh các bình luận khẳng định rằng Hê-nóc (cũng như sau ông là nhà tiên tri Ê-li) đã được đưa lên thiên đàng khi còn sống, hoặc vì sự công bình đặc biệt, hoặc vì một số lý do. Cuốn sách của Hê-nóc, được viết bởi một tác giả (hoặc các tác giả) vô danh, kể về cuộc hành trình lên thiên đàng của Hê-nóc, nơi ông theo dõi cuộc nổi dậy của các Con Chúa, những bức tranh về ngày tận thế, hiểu được cơ chế trên trời và tương lai của các con trai của Y-sơ-ra-ên và nhiều điều bí mật khác. Những khải tượng và lời tiên tri của ông đã tạo thành cuốn sách này. Sách Hê-nóc được coi là trong thế giới Cơ đốc giáo sơ khai, mặc dù không phải là kinh điển, nhưng có thẩm quyền độc quyền. Nó được trích dẫn trực tiếp bởi tác giả của Thư tín Giuđa Giu-đe 1:14, những ám chỉ gián tiếp về nó là do Sứ đồ Phi-e-rơ, Clement thành Alexandria, Orgen và Tertyllian đề cập đến, cũng như tác giả của Thư tín không kinh điển. của Varnava (sau này thậm chí còn nói về nó như một phần của Kinh thánh). Sau khi quy định về Sách Thánh được thành lập, thẩm quyền của Sách Hê-nóc đã bị mất và văn bản của nó cũng bị mất. Tìm mua: Sách Của Enoch TiKi Lazada Shopee Nó chỉ được phát hiện một lần nữa vào năm 1773 bằng ngôn ngữ Ethiopia (Amhara), trong một bản dịch kép từ tiếng Aramaic hoặc tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp, nhưng hoàn toàn, đây là một điều rất hiếm. Sau đó, trong cuộc khai quật ở Ahmim (Ai Cập), người ta đã tìm thấy hai mảnh vỡ lớn của văn bản tiếng Hy Lạp, và ở Qimran (Palestine) - một số lượng lớn các mảnh vỡ ngắn của tiếng Aramaic. Sự so sánh của họ cho phép chúng tôi coi văn bản này, được dịch từ tiếng Ethiopia, là xác thực. Việc chia nhỏ nó thành các chương rất đơn giản, các nhà nghiên cứu (R. Charles) thấy trong đó có nhiều phần hỗn hợp, khác nhau, bao gồm sự kết hợp của các đoạn (được đánh dấu trong văn bản của chúng tôi bằng số trong dấu ngoặc vuông). Có một thần tích khác của Enoch trong Old Church Slavonic - cái gọi là. Cuốn sách thứ hai của Hê-nóc Để dễ đọc, chúng tôi đã chia nó thành năm phần lớn. 1. Cuộc hành trình thần bí của Hê-nóc 2. Three of Enoch's Pitch 3. Về các thiên thể 4. Hai khải tượng của Hê-nóc 5. Hướng dẫn cho trẻ emĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Sách Của Enoch PDF của tác giả Enoch nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Sách Của Enoch (Enoch)
Cuốn sách của Hê-nóc thuộc về cái gọi là giả-epigraph. Nó được viết vào thế kỷ thứ nhất. BC. thay mặt cho tộc trưởng Hê-nóc trong Cựu ước. Về Hê-nóc, hậu duệ thứ bảy của A-đam, những điều sau đây được biết đến từ Kinh thánh: “Enoch đã sống 65 năm và sinh ra Mafusal. Và Hê-nóc đã đi trước mặt Đức Chúa Trời, sau khi sinh ra Methusal, ba trăm năm, và sinh ra các con trai và con gái. Tất cả những ngày của Hê-nóc là ba trăm sáu mươi lăm năm. Và Hê-nóc bước đi trước mặt Đức Chúa Trời; và anh ấy không còn nữa, bởi vì Chúa đã bắt anh ấy. " (Sáng thế ký 5: 21-24) Điều này đã làm nảy sinh các bình luận khẳng định rằng Hê-nóc (cũng như sau ông là nhà tiên tri Ê-li) đã được đưa lên thiên đàng khi còn sống, hoặc vì sự công bình đặc biệt, hoặc vì một số lý do. Cuốn sách của Hê-nóc, được viết bởi một tác giả (hoặc các tác giả) vô danh, kể về cuộc hành trình lên thiên đàng của Hê-nóc, nơi ông theo dõi cuộc nổi dậy của các Con Chúa, những bức tranh về ngày tận thế, hiểu được cơ chế trên trời và tương lai của các con trai của Y-sơ-ra-ên và nhiều điều bí mật khác. Những khải tượng và lời tiên tri của ông đã tạo thành cuốn sách này. Sách Hê-nóc được coi là trong thế giới Cơ đốc giáo sơ khai, mặc dù không phải là kinh điển, nhưng có thẩm quyền độc quyền. Nó được trích dẫn trực tiếp bởi tác giả của Thư tín Giuđa Giu-đe 1:14, những ám chỉ gián tiếp về nó là do Sứ đồ Phi-e-rơ, Clement thành Alexandria, Orgen và Tertyllian đề cập đến, cũng như tác giả của Thư tín không kinh điển. của Varnava (sau này thậm chí còn nói về nó như một phần của Kinh thánh). Sau khi quy định về Sách Thánh được thành lập, thẩm quyền của Sách Hê-nóc đã bị mất và văn bản của nó cũng bị mất. Tìm mua: Sách Của Enoch TiKi Lazada Shopee Nó chỉ được phát hiện một lần nữa vào năm 1773 bằng ngôn ngữ Ethiopia (Amhara), trong một bản dịch kép từ tiếng Aramaic hoặc tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp, nhưng hoàn toàn, đây là một điều rất hiếm. Sau đó, trong cuộc khai quật ở Ahmim (Ai Cập), người ta đã tìm thấy hai mảnh vỡ lớn của văn bản tiếng Hy Lạp, và ở Qimran (Palestine) - một số lượng lớn các mảnh vỡ ngắn của tiếng Aramaic. Sự so sánh của họ cho phép chúng tôi coi văn bản này, được dịch từ tiếng Ethiopia, là xác thực. Việc chia nhỏ nó thành các chương rất đơn giản, các nhà nghiên cứu (R. Charles) thấy trong đó có nhiều phần hỗn hợp, khác nhau, bao gồm sự kết hợp của các đoạn (được đánh dấu trong văn bản của chúng tôi bằng số trong dấu ngoặc vuông). Có một thần tích khác của Enoch trong Old Church Slavonic - cái gọi là. Cuốn sách thứ hai của Hê-nóc Để dễ đọc, chúng tôi đã chia nó thành năm phần lớn. 1. Cuộc hành trình thần bí của Hê-nóc 2. Three of Enoch's Pitch 3. Về các thiên thể 4. Hai khải tượng của Hê-nóc 5. Hướng dẫn cho trẻ emĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Sách Của Enoch PDF của tác giả Enoch nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.