Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Phía Tây Không Có Gì Lạ

Erich Maria Remarque (1898-1970) đã phục vụ trong Thế chiến thứ nhất và đã bị thương tất cả năm lần. Những hình ảnh ghê rợn của cuộc chiến trong giao thông hào đã để lại những vết sẹo không phai mờ trong tâm trí Remarque nên ông cố xua đuổi những bóng ma đó qua các sáng tác văn học. “Phía Tây không có gì lạ” là tác phẩm hay nhất của ông dù chín tác phẩm khác ông cũng viết về những đau đớn, khổ cực trong chiến tranh. “Phía Tây không có gì lạ" là câu chuyện về Pôn Baomơ, một người lính Đức trẻ, xung phong vào quân đội vì Căntôrec, vị giáo sư của anh, đã thuyết phục cả lớp tham gia quân đội để làm cho nước Đức được vẻ vang. Sau một thời kỳ huấn luyện gian khổ dưới quyền của Himmenxtôt, một phu trạm, Baomơ và các bạn ra tiền tuyến. Dù được vẽ vời trong nhà trường với những hình ảnh huy hoàng của các anh hùng, Baomơ nhanh chóng nhận thức được rằng những chiến hào đầy máu của Mặt trận phía Tây là một sa lầy của những khổ đau và chết chóc. Ngay khi những quả đạn pháo đầu tiên nổ tung trong bùn lầy, Baomơ và các bạn thấy rằng tất cả những người ở lại nhà đều dối trá: chiến tranh không phải là một thay đổi vinh quang, chiến tranh không làm cho các cậu con trai trưởng thành mà nó hủy diệt một cách có hệ thống tất cả những ai khỏe mạnh và lịch sự. Tất cả các bạn của Baomơ đều chết, bị thương, hoặc đào ngũ. Pôn Baomơ bắt đầu tự vấn về cuộc đời mình và băn khoăn không biết mình có sống sót được sau cuộc chiến hay thậm chí có sống được trong một thế giới không có chiến tranh hay không. Xuyên suốt câu chuyện, Remarque thường dùng từ “chúng tôi” để nói lên tình đồng đội - cái quý nhất mà chiến tranh tạo nên. Những người lính ấy đã trải qua những giây phút cận kề cái chết cùng nhau nên họ gắn bó với nhau, chia sẻ với nhau tất cả những gì họ có. “Chúng tôi không nói nhiều nhưng chúng tôi để ý săn sóc nhau từng ly từng tí, thiết tưởng còn hơn cả những cặp tình nhân. Chúng tôi là hai con người, hai tàn lửa sống nhỏ bé, và ngoài kia, là đêm tối, là vòng vây của thần chết.” *** húng tôi nằm sau chiến tuyến chín cây số. Đại đội vừa được thay phiên hôm qua; lúc này cả bọn vừa ăn căng rốn món đậu trắng hầm thịt bò, no nê và hài lòng. Thậm chí mỗi thằng còn được thêm một cà mèn đầy dành cho bữa tối; đã vậy còn lĩnh cả khẩu phần kép xúc xích và bánh mì - thật là quá đã. Lâu lắm rồi chẳng có bữa nào thỏa thuê như thế này: gã đầu bếp với tấm thân bò mộng và cái đầu cà chua đỏ lựng đích thân đem đồ ăn ra mời anh em; ai đi ngang qua gã cũng vẫy vẫy cái muỗng gọi lại và úp cho một muỗng đầy tú hụ. Gã đang tuyệt vọng lắm, vì không biết làm cách nào trút cho hết cái nồi quân dụng to vật này. Tjaden và Müller lôi đâu đến mấy cái chậu và để gã múc cho đầy phè đến tận miệng chậu. Tjaden làm thế vì háu ăn, còn Müller vì lo xa. Mọi người chịu không hiểu Tjaden tọng rõ lắm mà chả biết thức ăn chui đằng nào hết. Trước nay lúc nào cậu ta cũng gầy đét như con cá mắm. Nhưng quan trọng nhất là có cả khẩu phần kép thuốc hút. Mỗi người được mười điếu xì gà, hai mươi điếu thuốc lá và hai miếng thuốc lá nhai, quả là rất đàng hoàng lịch sự! Tôi đổi chỗ thuốc nhai của mình lấy thuốc lá của Katczinsky, thế là tôi có bốn mươi điếu. Đủ xài cho cả ngày. Thật ra thì tất cả những món quà bất ngờ này không dành cho chúng tôi. Người Phổ đâu có hào phóng thế. Chúng tôi vớ bở chỉ nhờ một sự nhầm lẫn. Mười bốn ngày trước chúng tôi phải lên tuyến đầu vì đến phiên giữ chốt. Khu vực chúng tôi cắm quân khá yên tĩnh, và vì vậy để chuẩn bị cho ngày chúng tôi trở về viên quản lý đã lĩnh khẩu phần ăn thông thường đủ cho cả một trăm năm mươi lính toàn đại đội. Nhưng đúng vào ngày cuối cùng, với số lượng pháo nòng dài và pháo hạng nặng nhiều đến kinh ngạc, quân Anh đã liên tục nã đạn vào vị trí của chúng tôi, khiến chúng tôi chịu tổn thất nặng nề tới mức chỉ còn tám chục mống quay về. Chúng tôi rút quân vào ban đêm và lập tức lăn ra đánh một giấc cho đã đời; vì Katczinsky nói đúng: chỉ cần lính tráng được ngủ nhiều hơn thì chiến tranh cũng chẳng đến nỗi nào. Thế nhưng ở tiền tuyến có bao giờ được ngủ cho ra giấc đâu, và mỗi phiên chốt mười lăm ngày lại quá là lâu. Khi những thằng đầu tiên trong chúng tôi bò ra khỏi các lán trú quân thì trời đã trưa. Nửa giờ sau, mọi người đều vớ lấy cà mèn, kéo nhau đến tụ trước nồi thịt hầm vừa chín tới đang tỏa mùi béo ngậy. Đứng đầu tiên cố nhiên là những thằng háu đói nhất: Albert Kropp nhỏ thó, suy nghĩ sáng suốt nhất bọn nên vừa mới được lên binh nhất; Müller V, vẫn tha theo những cuốn sách giáo khoa bên mình và mơ tới kỳ thi tranh thủ ngày về phép, dưới màn đạn lửa vẫn cày các định luật vật lý; Leer, râu quai nón, rất thích các cô gái trong nhà thổ dành cho sĩ quan thề sống thề chết rằng theo lệnh nhà binh thì các cô có nghĩa vụ phải mặc áo sơ mi lụa và phải tắm trước nếu tiếp khách từ cấp đại úy trở lên; và người thứ tư là tôi, Paul Bäumer. Cả bốn thằng cùng mười chín tuổi, cả bốn thằng cùng từ một lớp học đi thẳng vào cuộc chiến. Ngay sau lưng bọn tôi là đám bạn thân, Tjaden, một thợ khóa gầy gò, trạc tuổi bọn tôi, chén khỏe nhất đại đội. Cậu ta ngồi xuống bàn ăn người mảnh như que tăm, nhưng khi đứng dậy thì bụng kệnh như con rệp chửa; Haie Westhus, bằng tuổi, thợ than bùn, có thể dễ dàng nắm gọn một ổ bánh mì lính trong lòng bàn tay mà đố: “Đoán xem, trong tay tớ có gì?”; Detering, nông dân, chỉ nghĩ đến nông trại và vợ của mình; và cuối cùng là Stanislaus Katczinsky, thủ lĩnh của nhóm chúng tôi, gan lì, láu lỉnh, dày dạn, tuổi đã tứ tuần, mặt nâu như đất thó, mắt xanh lơ, vai xuôi thõng và có khứu giác kỳ diệu, ngửi ra ngay những mối nguy hiểm, những món ăn ngon, những chỗ nấp tốt. Nhóm chúng tôi đứng đầu đội quân xếp hàng rồng rắn trước quầy bếp lưu động. Chúng tôi bắt đầu sốt ruột, vì gã đầu bếp thẫn thờ vẫn còn đứng ì ra đấy mà đợi. Cuối cùng Katczinsky réo về phía gã: “Mở thùng súp của cậu ra đi chứ, Heinrich! Ai cũng thấy là đậu nhừ rồi kìa.” Gã kia lắc đầu như ngái ngủ. “Các cậu phải có mặt đông đủ đã.” Tjaden nhe răng cười. “Bọn tôi đến đủ rồi.” Gã hạ sĩ quan anh nuôi vẫn chưa mảy may biết gì. “Các cậu đừng có tưởng bở! Thế còn những người khác đâu cả?” “Hôm nay họ không xơi cơm của cậu! Họ đang nằm ở quân y viện và dưới mồ chung rồi.” Con bò nấu bếp như bị một đòn chí mạng khi biết được sự thật. Gã lảo đảo. “Thế mà tôi lại nấu cho những một trăm năm mươi người.” Kropp huých vào sườn gã. “Vậy thì bọn này cuối cùng cũng được một bữa no. Thôi, bắt đầu đi!” Nhưng trong đầu Tjaden chợt lóe lên một ý nghĩ. Cái mặt chuột nhọn hoắt của cậu ta sáng rỡ lên, cặp mắt nheo lại đầy vẻ láu cá, hai gò má giật giật, cậu ta sán đến gần gã đầu bếp hơn: “Này nhóc, vậy là cậu cũng đã lĩnh cả phần bánh mì cho một trăm năm mươi người, hả?” Gã kia gật đầu trong lúc còn chưa hết choáng váng và hồn vía vẫn ở trên mây. Tjaden túm lấy áo gã. “Cả xúc xích à?” Cái đầu cà chua lại gật. Xương quai hàm Tjaden run lên. “Cả thuốc lá nữa chứ?” “Phải, tất tần tật.” Tjaden mặt mày sáng rỡ ngó ra xung quanh. “Mẹ kiếp, thế này gọi là đỏ hơn son đây! Vậy là tất cả dành cho anh em ta! Mỗi thằng sẽ được… xem nào… đúng rồi, chính xác là gấp đôi khẩu phần!” Nhưng lúc này gã cà chua đã hoàn hồn, gã tuyên bố: “Thế không được.” Giờ thì cả bọn chúng tôi cũng phấn chấn hẳn lên, xô nhau sấn gần lại. “Sao lại không được, cái đồ óc bã đậu kia?” Katczinsky vặn. “Tiêu chuẩn cho một trăm năm mươi người, không thể chia cho tám mươi người được.” “Rồi chúng tao sẽ cho mày biết,” Müller gầm gừ. “Thức ăn thì còn được, chứ những thứ khác tôi chỉ có thể phát đủ tám mươi suất,” gã cà chua khăng khăng một mực. Katczinsky nổi cáu: “Xem chừng phải thuyên chuyển mày khỏi đây, hả? Mày đã lĩnh khẩu phần không phải cho tám mươi lính, mà cho đại đội hai, vậy thôi. Giờ bỏ cả ra đây! Đại đội hai là chúng tao đây này!” Chúng tôi áp sát gã đầu bếp. Chẳng ai chịu nổi gã, đã nhiều phen do lỗi của gã mà ở ngoài chiến hào chúng tôi phải nhận bữa ăn vừa quá muộn vừa nguội ngắt, vì đạn pháo chỉ mới đùng đoàng một tí là gã đã không dám bê nồi thức ăn lại gần hơn, cho nên anh em đại đội chúng tôi đi lấy đồ ăn phải đánh đường xa hơn anh em các đại đội khác rất nhiều. Bulcke ở đại đội một chẳng hạn là một đầu bếp khá hơn hẳn. Tuy béo như con chuột đồng, nhưng khi cần, anh ta vẫn tự tay lễ mễ tha thức ăn lên tận tuyến đầu. Chúng tôi đang bức xúc ghê gớm, và nếu viên chỉ huy đại đội không xuất hiện đúng lúc thì thế nào cũng có thằng bị chẻ nhỏ như chẻ củi. Ông ta hỏi lý do cuộc cãi vã và chỉ nói: “Phải, ngày hôm qua chúng ta đã có những tổn thất nặng nề…” Rồi ông ta ngó vào chiếc nồi lớn. “Món đậu này trông có vẻ ngon đây.” Gã cà chua gật đầu. “Hầm với mỡ và thịt đấy ạ.” Viên trung úy nhìn chúng tôi. Ông ta biết chúng tôi đang nghĩ gì. Ông ta cũng biết nhiều chuyện khác nữa, vì ông ta đã trưởng thành giữa chúng tôi, khi đến đại đội ông ta mới chỉ là hạ sĩ quan. Ông ta lại nhấc vung nồi lên một lần nữa và hít hít. Trước khi bỏ đi, ông ta bảo: “Nhớ mang cả cho tôi một đĩa đầy nhé. Và chia tất cả các khẩu phần đi. Chúng ta có thể cần đến chúng.” Gã cà chua thộn mặt ra. Tjaden nhảy nhót quanh gã. “Cậu có thiệt gì đâu kia chứ! Cứ làm như cả kho lương thực là của mình không bằng… Nào thôi bắt đầu đi, đồ săn mỡ già đời, và đừng có đếm nhầm đấy…” “Treo cổ mày lên!” gã cà chua gầm gừ. Gã tức nổ mắt, chuyện như thế này đi ngược với lý trí của gã. Gã không còn hiểu cái thế giới này nữa. Và để tỏ ra giờ đây gã cũng bất cần tất cả, gã còn tự động chia thêm cho mỗi người hai lạng rưỡi mật ong nhân tạo. Hôm nay quả là một ngày đẹp. Lại có cả quà của quân bưu, hầu như ai cũng nhận được vài lá thư và báo. Lúc này chúng tôi thong thả đi về phía đồng cỏ sau lán trú quân. Kropp cắp dưới nách cái nắp tròn của thùng bơ thực vật. Người ta đã xây bên rìa phải đồng cỏ một chuồng xí công cộng to đoành - một ngôi nhà chắc chắn, lợp mái đàng hoàng. Nhưng chỗ ấy chỉ dành cho bọn lính mới tò te chưa học được cách rút tỉa những điều hay ho từ mỗi việc dù nhỏ nhất. Bọn tôi tìm cái gì khác thú vị hơn kia. Số là nơi đây rải rác những cái thùng nho nhỏ với cùng một mục đích sử dụng - hình vuông, sạch sẽ, đóng toàn bằng gỗ, bốn bề bịt kín, bên trên là bệ ngồi thuận tiện, không chê vào đâu được. Hai bên thùng gắn quai xách, nên có thể dịch chuyển thoải mái. Bọn tôi kê ba cái thùng châu vào nhau và khoan khoái ngồi xuống. Bét ra phải hai tiếng nữa cả bọn mới chịu đứng lên. Tôi vẫn nhớ hồi còn là tân binh vừa chân ướt chân ráo đến doanh trại, cả bọn đã xấu hổ như thế nào khi lần đầu tiên phải dùng chuồng xí công cộng. Chẳng có cửa nẻo gì cả, hai chục thằng ngồi kề bên nhau như trong toa tàu. Chỉ lướt mắt một phát là bao quát cả lũ… thì lính tráng cần được giám sát thường xuyên mà. Từ bấy đến nay chúng tôi đã học được cách vượt qua nhiều thứ hơn là vượt qua chỉ một nỗi xấu hổ cỏn con đó. Thời gian trôi đi, chúng tôi đã quen với những điều còn đáng xấu hổ hơn. Nhưng làm chuyện này giữa trời đất quả thật là quá sướng. Tôi không còn nhớ tại sao trước kia lúc nào bọn tôi cũng ngại ngùng khi đi ngang qua những cái thùng này, vì chúng cũng tự nhiên như ăn uống thôi mà. Và có lẽ cũng không cần phải nhiều lời về chúng, nếu như chúng không đóng một vai trò quan trọng với bọn tôi, và nếu chúng chẳng mới lạ ngay với chính bọn tôi như thế… vì thực ra từ lâu chúng đã quá đương nhiên. Tiêu hóa và bài tiết là những vấn đề thiết thân với người lính hơn với bất cứ người nào khác. Ba phần tư từ vựng của người lính từ đó mà ra, và khi thể hiện niềm vui sướng cực độ hay nỗi căm giận sâu sắc nhất thì từ ngữ anh ta dùng đều bắt nguồn từ chỗ này. Quả là không có cách nào khác để biểu lộ cảm xúc một cách ngắn gọn và rõ ràng đến thế. Cha mẹ và các thầy cô giáo hẳn sẽ lạ lùng lắm khi chúng tôi trở về nhà với lời ăn tiếng nói như vậy, nhưng ở ngoài mặt trận thì nó quá là quen tai. Đối với chúng tôi, toàn bộ những tiến trình này đã lấy lại được đặc tính ngây thơ, vì chúng bắt buộc phải diễn ra giữa chốn công cộng. Hơn thế nữa: chúng tôi xem chúng đương nhiên đến nỗi việc hoàn thành chúng cũng khoan khoái ngang với thắng một ván bài ở mức đặt cược cao nhất. Không phải tự nhiên lại sinh ra cái từ “khẩu ngữ cầu tiêu” để chỉ đủ loại chuyện tán nhảm. Những chỗ giải quyết “nỗi buồn” là góc buôn chuyện, là nơi tụ bạ quen thuộc của lính. Khoảnh khắc này đây bọn tôi đang cảm thấy thoải mái hơn là ngồi trong buồng vệ sinh sang trọng lát gạch men trắng. Nơi đó chỉ có thể sạch sẽ, chứ ở đây mới khoan khoái dễ chịu. Đó là những thời khắc vô tư lự tuyệt vời. Bên trên chúng tôi bầu trời xanh biếc. Xa xa phía chân trời lơ lửng những quả khinh khí cầu màu vàng rực sáng trong nắng và những vệt khói nhỏ màu trắng của những viên đạn cao xạ. Đôi khi chúng vọt lên thành chùm để rượt theo một phi cơ. Tiếng gầm của đạn pháo vẳng về đây chỉ ì ầm tựa một cơn dông từ nơi xa lắm. Những con ong đất vo ve bay ngang cũng đủ át hết cả. Và bao quanh chúng tôi là cánh đồng cỏ đầy hoa. Những ngọn cỏ non đu đưa, những cánh bướm trắng rập rờn đến gần, chúng chao liệng trong làn gió êm ái, ấm áp cuối hạ; còn chúng tôi đọc thư, đọc báo và hút thuốc, chúng tôi bỏ mũ ca lô đặt xuống bên cạnh mình, làn gió đùa trên mái tóc chúng tôi, đùa với những lời nói, những ý nghĩ của chúng tôi. Ba cái thùng của ba thằng đứng giữa đám hoa anh túc đỏ rực… Mời các bạn đón đọc Phía Tây Không Có Gì Lạ của tác giả Erich Maria Remarque.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hoa Cúc Không Phải Màu Vàng - Lê Minh Quốc
Nguyên – cậu học sinh lớp 12 thích Kim – cô bạn lớp trưởng xinh xắn, dễ thương. Với sự giúp sức của Quân – cậu bạn thân nhất cùng với bao phen dở khóc dở cười, cuối cùng Nguyên đã tỏ lòng mình với Kim. Câu chuyện không chỉ có Nguyên mà còn có những người bạn mình, có băng nhóm “nhảy cửa sổ” gồm Dũng lé và Kỳ râu, có cô Hạnh Tần – cô giáo dạy văn với chất giọng Hà Nội ngọt ngào khiến bao đứa học trò say sưa, có chị Bí thư Hồng – người luôn nghiêm khắc với tụi học trò, có Bạch sư phụ - người văn võ song toàn được mệnh danh trong truyền thuyết. Tất cả những nhân vật và câu chuyện xoay quanh họ đã tạo nên khoảng không của tuổi học trò đầy hồn nhiên, ngây thơ và đáng yêu. *** Nguyên cứ đi qua rồi đi lại bằng tâm trạng của kẻ ngớ ngẩn nhất trần gian này. Hồi còn nhỏ, anh vốn là thằng mê đọc tiểu thuyết trinh thám. Những hành động của nhân vật chính bao giờ cũng làm anh say mê. Chỉ cần quan sát mẩu thuốc lá đang cháy dở, một dấu vết mơ hồ như vệt son trên áo là họ cũng truy tìm ra thủ phạm. Có nghĩa là họ rất tài ba. Và điều quan trọng là họ cũng rất... đẹp trai. Nguyên có đẹp trai hay không anh không tự biết được điều đó. Nhưng tại sao đêm nay anh không thể đóng vai một thám tử tài ba? Điều đó có gì là khó? Kim sẽ kinh ngạc. Sẽ sững sờ vì hành động táo bạo của anh. Và nàng sẽ... yêu anh. Chỉ cần suy nghĩ như vậy, Nguyên cũng sung sướng như vừa trúng số độc đắc. Điều đó có xảy ra hay không hỡi ông Tơ bà Nguyệt. Đứng nép vào cánh cổng nhà nàng. Nguyên rụt rè đọc lần nữa lá thư mà anh đã viết. Thư cho người tình thơm như hạnh phúc. Đọc là đọc vậy thôi, chứ thực sự là từng câu, tững chữ trong lá thư này anh đã thuộc lòng. Trong chiều chủ nhật, ngồi lục lọi lại những sách cũ từ ngày xửa ngày xưa của gia đình, anh đã tìm được lá thư này. Nói đúng hơn là anh tình cờ bắt gặp được lá thư của ba anh gửi cho má anh - ngày mà hai người mới quen nhau. Nguyên tò mò đọc luôn một lèo và bị văn chương trong lá thư ấy cuốn hút. Anh cất giữ lá thư ấy như một báu vật của riêng mình. Khi biết anh có ý định "tấn công" Kim thì thằng Quân - bạn học cùng lớp - đã hỏi anh một cách móc họng: - Tao hỏi thật là mày có biết viết thư không? ... Mời các bạn đón đọc Hoa Cúc Không Phải Màu Vàng của tác giả Lê Minh Quốc.
Người Đàn Ông Mang Tên Ove - Fredrik Backman
Người đàn ông mang tên Ove năm nay năm mươi chín tuổi. Ông là kiểu người hay chỉ thẳng mặt những kẻ mà ông không ưa như thể họ là bọn ăn trộm và ngón trỏ của ông là cây đèn pin của cảnh sát. Ove tin tất cả những người ở nơi ông sống đều kém cỏi, ngu dốt và không đáng làm hàng xóm của ông. Ove nguyên tắc, cứng nhắc, cấm cảu và cay nghiệt. Người đàn ông mang tên Ove lên kế hoạch tự tử. Nhưng những nỗ lực của ông liên tiếp bị phá đám. Bắt đầu từ việc một buổi sáng, một cặp đôi trẻ trung hay chuyện với hai đứa con cũng hay chuyện không kém chuyển đến gần nhà Ove và vô tình lùi xe đâm sầm vào tường nhà ông. Rồi đến con mèo hoang nhếch nhác, tình bạn không ngờ… cuộc sống của ông già mang tên Ove thay đổi hoàn toàn. Mang chất trào lộng duyên dáng kiểu Bắc Âu nhưng cũng tràn đầy tính nhân văn, cuốn sách trở thành một hiện tượng toàn cầu với gần 3 triệu bản in được bán ra, và được dịch sang 40 ngôn ngữ. Bộ phim cùng tên chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết đã được đề cử ở hạng mục phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại Oscar 2017. *** Đông qua, xuân tới và Parvaneh thi đỗ bằng lái xe. Ông Ove dạy Adrian cách thay lốp xe. Cậu ta đúng là đã mua một chiếc Toyota, nhưng điều đó không đồng nghĩa cậu ta không thể cải tạo được, Ove đã giải thích như vậy với Sonja khi ông đi thăm bà vào một ngày Chủ nhật tháng Tư. Tiếp đó ông cho bà xem vài tấm ảnh chụp con trai của Parvaneh. Thằng bé bốn tháng tuổi nhanh như sóc. Patrick đã cố bắt ông dùng một chiếc điện thoại có chức năng chụp ảnh, nhưng Ove không tin chúng. Thay vào đó, ông đem theo trong ví một tập ảnh dày buộc bằng thun, và khoe với tất cả mọi người ông gặp. Kể cả những người làm việc ở cửa hiệu bán hoa. Xuân qua hè tới, khi mùa thu gõ cửa, nữ nhà báo phiền hà Lena dọn tới ở cùng anh chàng Anders đỏm dáng chạy xe Audi. Ove là người lái chiếc xe tải chở đồ cho chị ta. Ông không mấy tin tưởng vào những anh chàng kém cỏi trong việc lùi xe giữa hai dãy nhà sao cho không đụng vào thùng thư của ông. Tất nhiên, Lena không tin vào thiết chế hôn nhân, Ove kể với Sonja như vậy, kèm thêm một cái hừ mũi hàm ý rằng mấy người hàng xóm đã xì xầm không ít. Thế rồi mùa xuân tiếp theo, ông đến bên mộ bà và cho bà xem một tấm thiệp mời đám cưới. Mirsad mặc bộ com-lê đen và run lẩy bẩy vì căng thẳng. Parvaneh phải cho cậu ta uống một chầu tequila trước khi cậu ta bước vào tòa thị chính. Jimmy đã đợi sẵn trong đó. Ove đóng vai phụ rể, ông đã mua một bộ cánh mới để mặc trong dịp trọng đại. Họ mở tiệc tại quán cà phê của Amel. Ông già béo lùn cố gắng phát biểu những ba lần, nhưng lần nào cũng chỉ lắp bắp được vài chữ vì quá xúc động. Mặt khác, ông ta đã lấy tên Jimmy để đặt cho một loại sandwich. Cậu thanh niên mập mạp coi đó là món quà tuyệt vời nhất mà mình từng được nhận. Jimmy tiếp tục sống trong ngôi nhà của mẹ cùng với Mirsad. Năm sau đó, hai người nhận nuôi một bé gái. Chiều nào Jimmy cũng đưa con bé sang nhà bà Anita chơi vào lúc ba giờ đúng, đều như vắt chanh, khi hai vợ chồng bà uống cà phê. Tình trạng của ông Rune không có gì cải thiện. Có những lúc ông gần như không thể tiếp xúc được trong vài ngày liền. Nhưng mỗi khi cô bé con chạy vào nhà và vươn tay về phía bà Anita, một nụ cười mãn nguyện làm khuôn mặt ông bừng sáng. Lần nào cũng vậy. Thêm nhiều ngôi nhà khác được xây dựng trong khu vực. Chỉ sau vài năm, nó đã trở thành một quận nội thành. Dĩ nhiên chuyện đó không làm cho Patrick khéo léo hơn trong việc mở cửa sổ hoặc lắp ráp mấy cái tủ áo của IKEA. Một buổi sáng nọ, anh chàng xuất hiện trước cửa nhà ông Ove cùng với hai người đàn ông trạc tuổi mình. Cả hai người đều mua nhà ở cách đó vài con đường, theo lời họ giải thích. Họ đang sửa nhà và gặp một chút khó khăn với những thanh rầm trên các bức tường ngăn. Họ không biết phải làm thế nào. Tất nhiên ông Ove có giải pháp cho vấn đề. Ông lẩm bẩm gì đó trong miệng giống như hai chữ “dốt quá”, rồi sang tận nơi chỉ cho bọn họ. Ngày hôm sau, một người hàng xóm khác xuất hiện. Rồi một người nữa. Một người nữa. Chỉ trong vài tháng, ông đã đi đến gần như mọi ngôi nhà trong bán kính bốn con đường để vá chỗ nọ sửa chỗ kia. Tất nhiên ông luôn càu nhàu vì sự bất lực của mọi người, nhưng lúc đứng một mình trước mộ Sonja, ông lại thủ thỉ với bà: “Đôi khi có chuyện để làm trong ngày cũng hay bà ạ.” Các cô con gái của Parvaneh lần lượt ăn mừng sinh nhật, và trước khi mọi người kịp thắc mắc, cô bé ba tuổi dễ ghét đã trở thành một cô bé sáu tuổi. Ove đưa cô bé đến trường ngày đầu tiên. Cô bé dạy ông cách chèn biểu tượng mặt cười vào tin nhắn điện thoại, còn ông thì bắt cô bé hứa không được mách với bố là ông đã mua điện thoại di động. Cô bé tám tuổi dễ ghét không kém nay đã lên mười và tổ chức tiệc ngủ đầu tiên trong đời. Cậu em trai của chúng bày đồ chơi khắp căn bếp nhà ông Ove. Ông đã xây một cái bể nhỏ cho cậu bé nghịch nước trong sân nhà mình, nhưng khi có người gọi nó như vậy Ove đáp trả ngay rằng: “Nó là một hồ bơi, không nói nhiều!” Anders được bầu làm tổ trưởng tổ dân phố một lần nữa, còn Parvaneh thì mua một cái máy cắt cỏ mới cho bãi cỏ phía sau dãy nhà. Hè chuyển sang thu, rồi thu qua đông tới. Vào một buổi sáng Chủ nhật tháng Mười một lạnh giá, gần tròn bốn năm sau cái ngày mà Parvaneh cùng Patrick lùi xe vào thùng thư của ông Ove, cô thức giấc với cảm giác như bị ai đó đặt một bàn tay lạnh ngắt trên trán mình. Cô nhỏm dậy, nhòm xuống qua cửa sổ phòng ngủ và xem giờ. Đã tám giờ mười lăm. Chỗ tuyết trước cửa nhà ông Ove vẫn nguyên xi không được dọn sạch. Lao qua con đường nhỏ với chiếc áo choàng ngủ trên người và đôi dép bông dưới chân, cô gọi to tên ông. Cô mở cửa nhà ông bằng chìa khóa dự phòng được ông đưa cho, rồi lao vào phòng khách, loạng choạng trèo lên cầu thang với đôi dép ướt và quả tim đập thình thịch trong ngực. Cô dò dẫm đi vào phòng ngủ của ông. Nom Ove như đang ngủ rất say. Cô chưa bao giờ thấy khuôn mặt ông thư thái đến thế. Con mèo nằm bên cạnh Ove, ngả đầu trên lòng bàn tay của ông. Khi trông thấy Parvaneh, nó chậm rãi đứng dậy, như thể chỉ đến lúc đó mới hiểu ra sự tình, và trèo lên lòng cô. Cả hai ngồi bên cạnh giường, Parvaneh vuốt ve mái tóc của ông cho đến khi đội cứu thương xuất hiện và nhẹ nhàng giải thích rằng họ cần phải đưa thi thể đi. Lúc đó cô mới chồm người tới trước và thì thào vào tai ông: “Hãy gửi tình yêu của cháu cho bác Sonja và cảm ơn bác ấy đã cho cháu mượn bác”. Rồi cô cầm cái phong bì to đề tên mình nằm trên chiếc bàn đầu giường và đi xuống cầu thang. Trong phong bì đựng các thứ tài liệu, giấy chứng nhận, bản vẽ gốc của ngôi nhà, sổ tay hướng dẫn sử dụng đầu máy, sổ bảo dưỡng của chiếc Saab. Số tài khoản ngân hàng và hợp đồng bảo hiểm. Số điện thoại của một luật sư mà ông Ove đã “giao phó mọi thứ”. Cả một cuộc đời được sắp xếp như một tập hồ sơ. Như một bản bút toán kết sổ. Trên cùng là một lá thư dành cho cô. Parvaneh ngồi vào bàn bếp và đọc thư. Nó không dài. Như thể ông Ove đã biết mắt cô sẽ nhòa lệ trước khi đọc tới dòng cuối cùng. Chiếc Saab được để lại cho Adrian. Mọi thứ khác được giao phó cho cô. Cô đã có chìa khóa ngôi nhà rồi. Con mèo ăn cá ngừ hai lần mỗi ngày và cần được cho ra ngoài để đi vệ sinh. Làm ơn tôn trọng chuyện đó. Một luật sư trong thành phố đang giữ các giấy tờ ngân hàng và những thứ khác. Có một tài khoản với số dư 11.563.013 krona 67 ore. Của bố bà Sonja để lại. Ông già có nhiều cổ phần. Ông ta keo kiệt kinh khủng. Tôi và Sonja không biết phải làm gì với khoản tiền đó. Các con cô sẽ nhận mỗi đứa một triệu khi chúng tròn mười tám tuổi, con gái của Jimmy cũng vậy. Phần còn lại là của cô. Nhưng đừng để cho Patrick đụng vào số tiền đó. Sonja sẽ thích cô. Đừng để cho những người hàng xóm mới của cô lái xe vào khu dân cư. Ove Phía dưới là một dòng chữ in hoa “CÔ CÓ PHẢI LOẠI NGU LÂU DỐT BỀN KHÓ ĐÀO TẠO ĐÂU!” cùng một cái biểu tượng mặt cười, giống như Nasanin đã bày cho Ove. Trong thư còn liệt kê các chỉ dẫn rành mạch về tang lễ, thứ “không được làm rùm beng trong mọi tình huống”. Ông Ove không muốn tổ chức lớn, ông chỉ muốn được nằm xuống bên cạnh bà Sonja, thế thôi. “Không khách khứa. Không ồn ào!” Ông đã căn dặn rõ ràng như thế. Hơn ba trăm người đã đến dự đám tang. Khi Patrick, Parvaneh và các cô bé bước vào nơi làm lễ, nhiều người thậm chí còn phải đứng dọc theo các bức tường và trên lối đi. Tất cả đều cầm những ngọn nến có khắc dòng chữ “Quỹ Sonja”. Bởi lẽ đó là điều mà Parvaneh đã quyết định làm với số tiền được ông Ove để lại: một quỹ từ thiện dành cho trẻ mồ côi. Đôi mắt cô sưng mọng vì khóc, cổ họng cô khô đến nỗi đã mấy ngày nay cô thở khò khè. Khi trông thấy những ánh nến, hơi thở cô nhẹ đi đôi chút. Và khi Patrick chứng kiến toàn bộ số người đến tiễn đưa ông Ove, anh huých nhẹ vào sườn cô, miệng mỉm cười hài lòng. — Ôi trời, bác Ove chắc sẽ ghét chuyện này lắm, em nhỉ? Cô bật cười. Chuyện đó là đương nhiên rồi. Tối hôm ấy, cô dẫn một đôi vợ chồng trẻ mới cưới đi xem ngôi nhà của ông Ove và bà Sonja. Cô vợ đang có mang. Đôi mắt cô vợ sáng lấp lánh khi đi qua các căn phòng, như thể đang mường tượng những ký ức tương lai của đứa trẻ sẽ diễn ra ngay trên sàn nhà này. Người chồng rõ ràng ít hào hứng hơn. Anh mặc một cái quần thợ mộc và chủ yếu đi loanh quanh, đá vào mấy cái len tường với bộ mặt khó đăm đăm. Parvaneh có thể thấy anh ta không thể làm gì được, vì ánh mắt cô vợ cho thấy cô đã quyết rồi. Nhưng khi anh chàng cất giọng cộc cằn nhắc đến cái “nhà để xe” được đề cập trong quảng cáo, Parvaneh nhìn anh ta từ đầu đến chân, gật đầu xác nhận rồi hỏi về hiệu xe anh lái. Anh chàng thẳng người lại, nở một nụ cười gần như không thể nhận thấy, và nhìn thẳng vào mắt cô với một niềm tự hào khôn tả mà chỉ có một cái tên duy nhất có thể khơi lên được. — Saab. Mời các bạn đón đọc Người Đàn Ông Mang Tên Ove của tác giả Fredrik Backman.
Trang Trại Tình Yêu - Carole Mortimer
Tập đoàn Marshall do Jude Marshall đứng đầu muốn mua một vùng đất để xây dựng khu giải trí nhưng khi mà tất cả những gia đình trong vùng đất đã đồng ý bán lại đất của mình thì chỉ duy nhất trang trại nho nhỏ nhà Calendar nằm chính giữa vùng đất lại chưa chịu bán. Đó chính là trang trại của ba chị em nhà Calendar. May, Match và January Calender không hề có ý định bán đi trang trại yêu thương mang đầy ký ức của người cha mới mất gần một năm rưỡi trước của họ, chính vì thế mà ba cô gái kiên quyết từ chối tất cả những thương lượng từ tập đoàn Marshall. Nhưng Jude Marshall cũng không phải là một người dễ dàng từ bỏ. Đầu tiên, anh cử luật sư đại diện của tập đoàn Marshall - Max, một người đàn ông điển trai nhưng lại đặc biệt lạnh lùng và xa cách. Có lẽ Max sẽ có thể hoàn thành sứ mệnh của mình nếu như anh không vô tình rơi vào vòng xoáy tình yêu với cô "Lọ lem bướng bình" January - cô em út của nhà Calender. Thế là hiệp đầu tiên trong cuộc chiến với chị em nhà Calender đã thất bại. Người thứ hai xuất hiện tại vùng đất đang tranh chấp chính là Will Davenport - kiến trúc sư hàng đầu cho những công trình của Jude, ngang tàng và bướng bỉnh nhưng cũng được coi là hiền lành nhất trong bộ ba độc thân. Và lần này, kết quả Jude Marshall nhận được cũng không có khả quan hơn: Will Davenport cũng tình nguyện bước sang hàng ngũ của địch dưới sức hấp dẫn của một Match Calender xinh đẹp cá tính. Và cuối cùng Jude Marshall không thể kiên nhẫn hơn được nữa, chính anh sẽ đối mặt với ba chị em nhà Calender. Nhưng không biết là may mắn hay bất hạnh cho Jude khi mà người anh phải đối mặt chỉ có mình cô chị cả May Calendar mà thôi. May Calendar - một người điềm tĩnh và có lý trí nhất trong cả ba chị em, đấy là chưa kể đến khả năng che dấu hoàn hảo - khả năng diễn xuất của cô. Chính điều đó đã khiến May trở thành một bí ẩn đầy cuốn hút, góp phần tạo nên một cái mạng nhện dính chắc khiến cho con ruồi Jude Marshall dù đã thề sẽ không bị bắt mất hồn vía như hai anh chàng tội nghiệp trên kia vẫn bị dính bẫy. Jude Marshall, anh chàng tội nghiệp, có hai ông bạn thân chí cốt, hai vị đồng nghiệp đầy quyết đoán và bản thân lại là một trong những người đàn ông kiên định nhất trước cánh cửa hôn nhân, ấy vậy mà... Cử luật sư đi thì luật sư đào ngũ vô trại địch. Cử kiến trúc đi thì kiến trúc sư cũng... đầu hàng vô điều kiện nốt. Đến bản thân tự mình xuất trận thì... cũng đầu hàng vô điều kiện. Bộ sách Calendar Mistress gồm có: Lọ Lem Bướng Bỉnh Lắng Nghe Tiếng Yêu Trang Trại Tình Yêu Carole Mortimer sinh năm 1960, là nhà văn người Anh được biết đến rộng rãi với hơn 150 tiểu thuyết lãng mãn. Bà là một trong những tác giả trẻ tuổi nhất của NXB Mills & Boon đồng thời cũng là một trong những người viết nhiều nhất của hãng này. *** May ngước lên nhìn Jude, cảm thấy hơi bẽn lẽn khi hai người gần gũi đến vậy trong phòng ngủ khách sạn của anh. “Anh đang rời đi mà”, cô nhắc. “Đúng”, anh nặng nề thừa nhận. “Nhưng anh đang trở lại.” Anh muốn nói rằng mình rõ ràng vẫn đang giữ phòng khách sạn, một vài đồ đạc vẫn đang ở trong phòng, một hai cuốn sách vẫn đặt trên chiếc bàn cạnh giường, vài chiếc áo vẫn treo trong tủ áo. “Ồ.” Cô gật đầu, liếm cặp môi khô. “Anh vẫn sẽ đi chứ?” Anh thở khó nhọc. “Không, nếu như có thể thuyết phục em biến lễ đính hôn của chúng ta thành sự thực, không...” May nhìn anh chăm chú, ánh nhìn dò hỏi, tìm kiếm dấu hiệu của sự chế giễu trên mặt anh. Không hề có, cô chỉ thấy ánh mắt xám bạc nói điều gì đó, nhưng không phải là sự giễu cợt... “Jude...?”, cô ngập ngừng thì thầm. Hai bàn tay anh siết chặt lại như nắm đấm. “May, trước đây anh thật là ngu ngốc, kiêu căng, cứng đầu cứng cổ”, anh ngừng bặt vì cô phá lên cười. “Chẳng có gì buồn cười cả”, anh cau có nói. “Xem này, anh đang cố gắng xin lỗi và em thì cười anh!” “Em không cười anh, Jude.” Cô lắc đầu, tiếng cười ngừng bặt nhanh như khi nó xuất hiện. “Em cười toàn bộ câu chuyện ngớ ngẩn và đau đớn này.” Cô hít một hơi quyết định. “Jude, em yêu anh. Anh có yêu em không?” Hơi thở ngừng lại trong cổ khi cô chờ anh trả lời; nếu cô đã hiểu nhầm những điều anh nói vào phút trước về “việc đính hôn” giữa họ, cô sẽ cảm thấy mình ngu xuẩn biết nhường nào. “Làm sao anh có thể không yêu em được?” Jude xúc động kêu lên. “Em thật tuyệt vời, tốt bụng và thẳng thắn.” Mời các bạn đón đọc Trang Trại Tình Yêu của tác giả Carole Mortimer.
Lắng Nghe Tiếng Yêu - Carole Mortimer
Jude Marshall, Max và Will Davenport là ba người bạn thân từ còn đại học. Jude Marshall đứng đầu tập đoàn Marshall, lạnh lùng và tàn nhẫn, không hề nương tay trên thương trường. Max trở thành luật sư của Jude, kiểu người lạnh lùng và xa cách. Will Davenport là kiến trúc sư hàng đầu cho những công trình của Jude, ngang tàng và bướng bỉnh nhưng cũng được coi là hiền lành nhất trong bộ ba độc thân. Ba người đàn ông đẹp trai, giàu có và thành đạt, đã từng làm tan nát bao trái tim các thiếu nữ. Vậy mà họ lại bị hạ "knock out" một cách không khoan nhượng khi đối đầu với những người phụ nữ nhà Calendar: May, March, và January. Câu chuyện bắt đầu khi Tập đoàn Marshall muốn mua một vùng đất để xây dựng khu giải trí nhưng chỉ còn mỗi trang trại nho nhỏ nhà Calendar nằm chính giữa vùng đất là chưa chịu bán, và tất nhiên cả ba chị em nhà Calendar không hề có ý định bán đi trang trại yêu thương mang đầy ký ức của người cha mới mất gần một năm rưỡi trước của họ. Ở "Lọ Lem Bướng Bỉnh", chàng luật sư Max lạnh lùng đã đầu hàng vô điều kiện trước sự hấp dẫn và nhiệt tình của January xinh đẹp - cô em út của nhà Calendar. Và đến "Lắng nghe tiếng yêu", Will Davenport, anh chàng kiến trúc sư được coi là hiền lành nhất ba người cũng bị đánh bại bởi cô nàng March, người được coi là nóng tính và hung dữ nhất trong cả ba chị em nhà Calendar. Thật là một sự kết hợp hay ho. Họ gặp nhau lần đầu đã không hề thân thiện, (tất nhiên không hề biết danh tính của nhau) - nhất là từ phía March, khi mà anh chàng đột nhiên ở đâu xuất hiện lấy mất chỗ để xe mọi khi của cô, làm cô đi làm muộn. Một ngày mở đầu tồi tệ! Thế mà còn chưa đủ khi vô duyên lại phải chạm chán một lần nữa, lần này là trong văn phòng của cô khi anh muốn thuê nhà, và cô thì làm cho một văn phòng bất động sản. Thế là câu chuyện của cặp đôi "oan gia" bắt đầu. Bộ sách Calendar Mistress gồm có: Lọ Lem Bướng Bỉnh Lắng Nghe Tiếng Yêu Trang Trại Tình Yêu Carole Mortimer sinh năm 1960, là nhà văn người Anh được biết đến rộng rãi với hơn 150 tiểu thuyết lãng mãn. Bà là một trong những tác giả trẻ tuổi nhất của NXB Mills & Boon đồng thời cũng là một trong những người viết nhiều nhất của hãng này. *** Có lẽ cô say thật, bởi Will thật sự không thể vừa ngỏ lời cầu hôn cô. Anh có thể...? Cô trân trân nhìn anh, không thể đọc được bất cứ điều gì từ nét mặt kín như bưng ấy. Ngoại trừ... Lúc này, cô nhìn anh gần hơn, Will trông không tốt hơn cô, quầng thâm ngay bên dưới đôi mắt màu xanh rực rỡ, gương mặt cũng gầy hẳn, vẻ xanh xao mệt mỏi hiện trên hai má hốc hác. Có lẽ anh cũng khổ sở như cô suốt ba ngày qua? Có lẽ bởi cùng một nguyên nhân - bởi vì anh cũng yêu cô! Cô thấm ướt đôi môi khô khốc trước khi cẩn thận đặt cái ly rỗng xuống mặt bàn, đứng lên đến gần anh rồi ngước lên không chút ngần ngại, nhìn vào mặt anh. Vẻ mặt phòng bị của anh lung lay và biến mất, được thay bởi - Bởi cái gì? Không nắm chắc? Thận trọng? Hy vọng? Tất cả ba điều đó đang trao cho March sự tự tin đưa tay lên nhẹ nhàng vuốt ve một bên gò má thô ráp trước khi nhón chân và dịu dàng hôn vào môi anh. ... Mời các bạn đón đọc Lắng Nghe Tiếng Yêu của tác giả Carole Mortimer.