Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hơi Thở Cuối Cùng

Review godylevol: Điểm: 7/10 Thứ tự đọc các cuốn trinh thám của Robert Dugoni (đã dịch sang tiếng Việt) là Căn Hầm Tối, Hơi Thở Cuối Cùng, Trảng Đất Trống, Mắc Kẹt, nhưng Biển thì đọc lung tung tùy hứng, sau khi đọc hết mấy cuốn kia thì đến giờ mới đọc Hơi Thở Cuối Cùng. Trong quyển “Căn Hầm Tối” có đề cập một chút đến vụ án cô vũ công Nicole Hansen, vốn được phân công cho phòng ban của Tracy Crosswhite. Khi Tracy trở về Cedar Grove để điều tra lại vụ mất tích của cô em gái Sarah Crosswhite thì vụ án Nicole được xếp vào nhóm hồ sơ tồn đọng. Trong quyển “Hơi Thở Cuối Cùng”, tác giả đưa người đọc trở lại với vụ án sát hại Nicole Hansen cùng hàng loạt những vũ công khác. Tất cả họ đều bị tra tấn một cách tàn nhẫn trước khi chết: tay chân bị trói ngược ra sau và tròng một vòng dây thòng lọng quanh cổ, khi họ không chịu nổi nữa và duỗi chân ra thì thòng lọng sẽ siết chặt khiến họ nghẹt thở chết. Chưa hết, tên sát nhân – được nhóm điều tra đặt cho biệt danh Cao Bồi – còn dụi thuốc lá cháy đỏ vào lòng bàn chân các vũ công. Trong lúc toàn bộ phòng điều tra của Tracy làm việc cật lực và nghiêm túc để sớm bắt Cao Bồi, ngăn chặn các hành vi sát nhân tàn ác của hắn, thì ông sếp Johnny Nolassco vẫn là một kẻ tiểu nhân thảm hại như mọi khi, vừa cố dìm hàng Tracy vừa bán tin tức cho giới truyền thông để gây khó dễ cho công tác điều tra. Rất may, Tracy nhận được sự giúp đỡ đắc lực từ chàng luật sư Daniel O’Leary – là bạn thời thơ ấu và là người yêu hiện tại của cô. Do thiết kế bìa sách và tựa sách có vẻ không hấp dẫn lắm nên Biển để dành cuốn này khá lâu và đọc nó sau cùng trong loạt truyện của Robert Dugoni. Câu chuyện không có nhiều khoảnh khắc vỡ ra sự thật đau lòng như trong cuốn “Trảng Đất Trống”, không có những cảnh tranh cãi ấn tượng của Daniel O’Leary ở tòa án như trong cuốn “Căn Hầm Tối”, nhưng “Hơi Thở Cuối Cùng” vẫn là một truyện được tác giả viết khá chắc tay, tình tiết thống nhất với những quyển khác trong cùng loạt sách về Tracy Crosswhite. Có một điều chưa thỏa mãn là trong quyển này chàng luật sư Dan ít đất diễn, chỉ được khắc họa hình ảnh như một người đàn ông gần như hoàn hảo, vừa giúp đỡ Tracy trong việc điều tra vừa nấu cho cô ấy những bữa ăn ngon. Biển còn chủ quan cho rằng có một chi tiết tác giả đã dìm hàng anh Dan: nhập mã số mở khóa cửa nhà mà không che lại, khiến người khác quan sát được qua ống nhòm. Biển bỏ qua hoàn toàn những đoạn giữa ông sếp Johnny Nolassco và cô phóng viên Maria Vanpelt, vì không đọc cũng chẳng ảnh hưởng đến việc hiểu cốt truyện. Phần kết thúc truyện có chút vô lý nhưng có lẽ diễn biến như thế là sát với thực tế, không quá ảo, tuy nhiên kết như vậy khiến Biển không thỏa mãn chút nào. Cuộc đời là thế chăng, người vô tội thì chết còn những thể loại phản diện vẫn sống trơ trơ để làm khổ kẻ khác, có lẽ phải trải qua đau thương thì người ta mới biết giá trị của hạnh phúc, phải trải qua khó chịu thì mới biết giá trị của thoải mái! Cá nhân Biển cho rằng quyển “Hơi Thở Cuối Cùng” không xuất sắc lắm, đọc tạm được. Nghe đồn Đinh Tị sẽ xuất bản thêm một cuốn nữa của Robert Dugoni, hy vọng đó sẽ là một câu chuyện máu lửa bùng cháy, đem lại ấn tượng sâu đậm khó quên cho độc giả (khó tính như Biển). *** Review Binh Boog:   Tiếp theo Căn Hầm Tối, Hơi Thở Cuối Cùng nằm trong hành trình phá án tiếp theo của nữ cảnh sát xinh đẹp Tracy Crosswhite và đồng đội. Nạn nhân lần này là những vũ nữ thoát y ở các câu lạc bộ đêm. Họ bị sát hại một cách rất tinh vi và man rợ: bị siết cổ, tay chân bị trói quặt ra đằng sau như trói lợn. Những nạn nhân về sau còn thêm cả vết bỏng do thuốc lá châm vào. Một tên tội phạm nguy hiểm, tâm lý biến thái không được ổn định nhưng hết sức tinh vi khi không để lại bất cứ một dấu vết nào. Một tác phẩm trinh thám để lại rất nhiều suy nghĩ. Con đường mà những nạn nhân trở thành vũ nữ thoát y gây nhiều trăn trở. Có người thì do có quá nhiều các hoá đơn thanh toán phải trả trong khi công việc ban ngày là làm kế toán không đủ để chi trả thì tiền boa khi múa có thể đáp ứng được điều đó. Có người chỉ vì bị bố dượng lạm dụng đã phải bỏ nhà ra đi, lại gặp phải người bạn trai cặn bã nghiện ngập, đánh đập rồi vòi tiền mà đi vào con đường đó. Con đường trở thành tên tội phạm thần kinh điên khùng cũng là một điều đáng suy ngẫm. Bị ám ảnh tổn thương từ bé khi chứng kiến mẹ đưa đàn ông về nhà rồi nghe thấy những thứ không muốn nghe. Cộng thêm sự thất bại trong cuộc sống khi không thể vươn lên được do không biết đường luồn cúi, nịnh nọt. Có lẽ chính cái mặt trái của gia đình và xã hội đã tạo nên một con quỷ, một thứ rác rưởi bệnh hoạn. Một vấn đề nữa đó là vấn đề án oan. Sự quan liêu, bệnh thành tích hay áp lực của xã hội cho ngành cảnh sát đã biến một số người trong ngành vì thành tích hay do áp lực đã vội vàng tìm ra một hung thủ trong khi không tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ vụ án. Điều đó đã đưa một người không phải là hung thủ vào khám ngồi trong khi hung thủ thực sự vẫn đang ở ngoài kia tiếp tục gây án. Sự bất cẩn, chèn ép nhau trong chính nội bộ của ngành cảnh sát. Cũng không biết đây đã là tác phẩm viết xuất sắc nhất của Robert Dugoni về mảng trinh thám pháp đình chưa nhưng vẫn mong Đinh Tỵ tiếp tục làm nốt các tác phẩm cùng series này. *** Bộ sách Tracy Crosswhite gồm có: Căn Hầm Tối Hơi Thở Cuối Cùng Trảng Đất Trống Mắc Kẹt Cận Kề Tổ Ấm *** Robert Vincent Dugoni là một tác giả người Mỹ hiện đang sống ở Seattle, Washington. Tiểu thuyết của ông đã giành được những vị trí trên New York Times, Wall Street Journal, BookSense và danh sách bán chạy nhất của Amazon. Chúng được bán trên toàn thế giới tại hơn 25 quốc gia. Tác giả Robert Dugoni khởi đầu trong mảng truyện trinh thám khá muộn (mãi 43 tuổi mới bắt đầu viết sách, còn trước đó ông làm phóng viên và luật sư thực tập), nhưng đã chứng minh cho độc giả thấy ‘gừng càng già càng cay’ là có thật. Tác phẩm ký sự đầu tay của ông viết về điều tra bất công, The Cyanide Canary, đã được bình chọn là cuốn sách phi hư cấu hay nhất năm 2004 của tờ Washington Post. 10 năm sau, ông trở lại với đề tài này một lần nữa thông qua nhân vật nữ cảnh sát Tracy Crosswhite trong cuốn Căn hầm tối. ***   Tracy Crosswhite dõi theo chiếc minivan lái vào bãi đỗ, để ý thấy có ghế trẻ em nằm ở băng ghế sau cùng tấm bảng màu vàng ‘Có Trẻ Nhỏ Trong Xe’ treo lủng lẳng trên cửa sổ. Người phụ nữ mặc chiếc áo chống đạn màu đen, quần bò xanh cùng chiếc mũ bóng chày của đội Seattle Mariners bước ra khỏi xe. “Điều tra viên Crosswhite?” Tracy bắt tay người phụ nữ và nhận ra bàn tay cô ta thật nhỏ nhắn và mềm mại. “Cứ gọi chị là Tracy. Em là cảnh sát viên Pryor?” “Katie thôi. Em thực sự đánh giá cao điều này. Em xin lỗi vì khiến chị mất thêm thời gian sau giờ làm việc.” “Không sao. Việc giảng dạy giúp chị mài giũa kĩ năng. Em có kính và chụp tai chưa?” “Em định đi mượn thôi.” Tracy không nghĩ Pryor là kiểu người sẽ trang bị những thứ đó cho mình. “Vậy thì đi kiếm cho em thôi nào.” Cô dẫn Pryor vào tòa nhà thấp kiên cố, văn phòng của Hiệp hội Thể thao Cảnh sát Seattle. Giống như phần lớn các trường bắn, nó nằm ở một vị trí biệt lập, cuối con đường nhỏ trong khu công nghiệp cách trung tâm thành phố Seattle khoảng hai mươi phút lái xe về phía nam. Người đàn ông đứng sau quầy chào Tracy bằng tên, và Tracy giới thiệu: “Virgil, đây là cảnh sát viên Pryor. Cô ấy sẽ cần kính và chụp tai. Chúng tôi cũng cần một tấm bia tập bắn, vài hộp đạn và một cuộn giấy dán.” “Đào tạo cho kỳ thi sát hạch à? Còn vài tuần nữa thôi nhỉ?” Virgil mỉm cười với Pryor. “Cô có một người thầy giỏi đấy!” Anh ta lôi mấy hộp đạn cùng kính bảo hộ khỏi giá để đồ và những cái móc phía sau quầy. “Chúng tôi đang cố gắng thuyết phục Tracy về đây hẳn để đào tạo người mới. Ý cô thế nào, Tracy?” “Vẫn như cũ thôi, Virgil. Khi nào người ta ngừng giết hại lẫn nhau thì tôi sẽ về.” “Phải rồi, khi mặt trời mọc ở đằng tây.” Virgil nhìn quanh quầy. “Tôi phải đi lấy giấy dán ở đằng sau.” Khi Virgil rời đi, Pryor hỏi: “Sao chúng ta lại cần đến giấy dán?” “Để che các lỗ hổng trên bia bắn của em.” “Em chưa bao giờ thấy chuyện đó.” “Em cũng chưa bao giờ bắn nhiều như em sắp bắn đâu.” Virgil quay trở lại và đưa Tracy một cuộn giấy dán màu xanh. Cô cảm ơn anh ta và đưa Pryor ra ngoài. “Theo chị nào.” Cô nói và ngồi vào buồng lái chiếc xe bán tải Ford F—150 đời 1973 của mình. Cô đã bán chiếc Subaru sau khi trở về từ Cedar Grove. Cô có đủ tiền để mua một chiếc xe mới, nhưng xe tải đời cũ hợp với cô hơn. Mất vài phút để làm nóng động cơ, đặc biệt là vào những buổi sáng trời lạnh, thân xe cũng có vài vết lõm và xước, nhưng tổng thể thì nó trông không tệ như số tuổi của mình. Bên cạnh đó, chiếc xe này làm Tracy nhớ đến chiếc xe tải mà bố cô từng lái đến các cuộc thi bắn súng khi cô cùng em gái Sarah vẫn còn là những đứa trẻ. Đi được gần hai trăm mét xuôi theo con đường đầy ổ gà, Tracy đỗ xe gần lối vào khu huấn luyện của cảnh sát Seattle. Cô nhận ra tiếng pốp pốp quen thuộc của những cú xả súng và tiếng sủa của những con chó to. Cô không biết tên ngốc nào ra quyết định đặt chuồng nuôi chó nghiệp vụ K-9 liền kề khu tập bắn, nhưng cô cảm thấy thương hại lũ chó và bất cứ ai phải nghe tiếng chúng sủa nhiều hơn một phút. Khu tập bắn nằm phía trong cánh cổng bao quanh bởi dãy hàng rào mắt cáo cao gần hai mét rưỡi cùng một đường dây thép gai giăng ngang trên đỉnh. Tracy hà hơi vào hai lòng bàn tay cho ấm trong khi chờ Pryor. Đây là kiểu thời tiết điển hình của một buổi tối tháng Ba, lạnh và có mưa phùn. Hoàn hảo cho mục đích đào tạo. “Chúng ta nên bắt đầu thế nào đây?” Pryor hỏi. “Em bắn. Chị xem.” Tracy nói. Mười lăm tấm ván gỗ ép chi chít lỗ đạn, hay còn gọi là đích ngắm, treo trên một khung treo kim loại đặt dọc theo sườn đồi dốc. Tracy chọn đích ngắm xa nhất phía bên trái, gần khu chuồng chó nhưng cách xa hai người đàn ông đang tập bắn ở khu vực cánh phải của dãy. Cô nói to át tiếng chó sủa và tiếng đạn nổ dội lại từ chỗ các tay súng: “Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc ngắm bắn đã nhé, cách mục tiêu ba mét, bắn bốn phát trong ba giây. Hai viên trúng thân, hai viên vào đầu.” “Đã rõ!” Pryor nói. Mời các bạn đón đọc Hơi Thở Cuối Cùng của tác giả Robert Dugoni.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Kẻ Thù Bí Mật - Agatha Christie
Nữ nhà văn Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.  Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920).  Trong cuốn sách này, độc giả lần đầu tiên được làm quen với một thám tử lập dị người Bỉ tên là Hercle Poirot với bộ ria ngộ nghĩnh, mái tóc điểm bạc và một tính cách tỉ mỉ, sạch sẽ. Nhưng phải tới năm 1926, những cuốn sách của Agatha mới thu hút được sự chú ý của công chúng khi bà xuất bản cuốn Vụ ám sát Roger Ackroyd. Truyện này được đăng trên một tờ báo tiếng Ireland năm 1938 và được tái bản ba lần.  Nhân vật thám tử Poirot có khả năng phá những vụ án phức tạp và được coi là nhân vật xứng đáng kế vị thám tử lừng danh Sherlock Holmes của nhà văn Arthur Conan Doyle. Christie đã viết hơn 30 tiểu thuyết trinh thám về viên cảnh sát Poirot với những truyện nổi tiếng như The Murder of Roger Ackrovd (1926), Murder on the Orient ExPress (1934) và Death on the Nile (1937). Trong đó có nhiều truyện đã được chuyển thể thành phim.    Năm 1926, hai vợ chồng Agatha ly dị bởi ông chồng ngoại tình. Đã sẵn đau buồn vì mẹ mới mất, Agatha đột nhiên biến mất. Cả nước Anh trở nên sôi sục vì một nữ nhà văn nổi tiếng bị mất tích. Ba ngày sau người ta phát hiện bà tại một khách sạn nhỏ với lời giải thích rằng bà bị mất trí nhớ. Năm 1930, bà tái hôn với một nhà khảo cổ học trẻ tuổi tên là Max Mallowan.    Ngoài nhân vật thám tử Poirot, cô Jane Marple - một nhân vật nổi tiếng và được nhiều độc giả yêu thích - được nữ nhà văn sáng tạo và giới thiệu lần đầu tiên trong cuốn Murder at the Vicarage vào năm 1930. Đây là một phụ nữ trung niên độc thân sống trong một ngôi làng tại St. Mary Mead. Cô không phải là một thám tử nhưng chỉ bằng trực giác nhạy bén và sự tập trung cao độ, cô đã phá được tất cả các vụ án mà cảnh sát chịu bó tay. Nhân vật Jane Marple được Agatha sử dụng trong 12 tiểu thuyết và trở nên nổi tiếng trong Thời đại vàng của tiểu thuyết tại Anh thời kỳ những năm 1920 và 1930.    Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. *** Đấy là một lời chúc tụng rất hay, Jane, Julius Hersheimmer nói khi anh ta đưa cô em họ về Ritz trong chiếc Rolls - Royce. - Lời chúc tụng các nhà phiêu lưu trẻ à? - Không, lời chúc tụng em ấy chứ. Không một cô gái nào khác trên đời này có thể làm được những gì em đã làm. Em thật là tuyệt vời. - Em không cảm thấy tuyệt gì cả. Trong thâm tâm, em cảm thấy chán nản và cô đơn, và em nhớ tổ quốc. - Anh cũng đang định nói với em về điều đó. Anh đã nghe thấy ngài đại sứ chuyển tới em lời mời của vợ ông ta mời em đến chỗ họ. Đây không phải là một ý tồi, nhưng anh có một dự định khác. Jane, anh muốn em hãy trở thành vợ anh. Đừng nói "không" ngay và đừng lo sợ. Anh biết rằng em chưa thể yêu anh được. Nhưng anh, anh đã yêu em ngay từ khi anh nhìn thấy tấm ảnh của em. Và bây giờ khi đã biết em, đơn giản là anh phát điên lên vì em. Nếu em bằng lòng làm vợ anh, anh sẽ không làm cho em buồn. Anh sẽ để cho em thời gian cần thiết. Cũng có thể em sẽ chẳng bao giờ yêu anh. Nếu thế, anh sẽ trả lại tự do cho em. Nhưng anh muốn có quyền được bảo vệ và chăm sóc em. - Nhưng đấy lại chính là điều mà em mong ước - Cô gái trả lời buồn bã - Em muốn có ai đó bên cạnh em. Anh không thể tưởng tượng được em cảm thấy cô đơn đến thế nào đâu! - Ồ, có chứ! Vậy thì mọi chuyện đã xong. Và ngay ngày mai, anh sẽ đến gặp ngài Tổng giám mục để ông ấy cho chúng ta một ngoại lệ. - Ôi, Julius. - Anh không muốn thúc bách em, Jane. Nhưng hoãn đám cưới của chúng ta thì thật là vô nghĩa. Đừng lo. Anh không dám mong em yêu anh ngay tức khắc. Đúng lúc đó một bàn tay nhỏ luồn vào tay cậu: - Julius, em đã yêu anh rồi. Em đã yêu anh ngay tức khắc, trong xe ô tô, khi viên đạn bay sượt qua má anh. Vài phút sau cô gái trẻ thì thầm: - Em không biết Londres lắm, Julius, nhưng đường từ Savoy đến Ritz thật sự dài đến thế à? - Còn phụ thuộc vào đường đi mà người ta chọn. - Julius trả lời không chút bối rối - Chúng ta đã đi vòng qua công viên Regent’s Park. - Ôi, Julius, anh tài xế sẽ nghĩ gì? - Vì số tiền lương mà anh trả cho anh ta, anh ta thấy tốt nhất là không nghĩ gì cả! Em biết không Jane, anh đãi tiệc ở Sovoy chỉ có một mục đích là được đưa em về khách sạn. Anh không biết làm cách nào gặp riêng em để nói chuyện. Tuppence và em bám riết lấy nhau như hai con sam. Thêm một ngày nữa là Beresford và anh, bọn anh sẽ phát rồ mất! - Ồ, bởi vì anh ấy... - Phải rồi, như một thằng điên! - Em nghi ngờ điều đó, Jane nói thêm vẻ ưu tư. - Tại sao? - Bởi vì Tuppence không nói với em! - Thế thì em thắng anh rồi. - Julius kết luận. Jane chỉ cười. Trong khi đó, những nhà phiêu lưu trẻ, cứng nhắc như công lý, trịnh trọng quá đáng và rất không thoải mái đi về khách sạn Ritz trong một chiếc taxi, không hiểu tại sao cũng đi vòng qua công viên Regent’s Park. Một nụ cười ngượng ngùng khủng khiếp làm họ co người lại. Không nhận thấy điều gì đã xảy ra, tất cả có vẻ đã thay đổi. Họ câm lặng tê liệt. Tình bạn lâu năm dường như đã bay đi đâu mất. Tuppence mất công vô ích tìm điều gì để nói. Và Tommy cũng vậy. Căng thẳng và rụt rè, họ thậm chí tránh nhìn nhau. Cuối cùng, Tuppence cố gắng một cách tuyệt vọng. - Câu chuyện cũng khá hay phải không? - Cũng khá! Lại im lặng. - Tôi rất thích Julius. - Tuppence vô tình nói. Câu đó đã kích động Tommy: - Đừng có cưới cậu ta, cô nghe chưa? Tôi cấm cô đấy. - Ôi! - Tôi cấm tuyệt đối, rõ chưa? - Anh ấy có định cưới tôi đâu. Anh ấy chỉ đề nghị tôi vì lòng tốt thôi mà. - Tôi không dám chắc thế! - Tuy vậy, đấy là sự thật. Anh ấy phát điên lên vì Jane. Tôi chắc rằng vào lúc này, anh ấy cũng đang cầu hôn đấy. - Cô ấy rất hợp với cậu ta. - Tommy đáp lại giọng thấp xuống. - Cậu không thấy là cô ấy đẹp nhất trong số các cô gái ở Londres à? - Rõ ràng rồi. - Nhưng không gì có giá bằng tiền phải không, Tommy? - Tuppence nói vờ ngây thơ. - Ôi, Tuppence, thôi đi, cậu muốn... - Tôi rất thích ông bác cậu, Tommy ạ. Cô gái trẻ nói thêm để đánh lạc hướng. À này, cậu làm gì? Cậu chấp nhận lời mời của Carter làm công chức hay cậu chọn đề nghị của Julius, chỗ làm béo bở trong một trang trại ở Mỹ? - Lời đề nghị của Hersheimmer rất có lợi cho tớ. Thế nhưng tớ sẽ ở lại đất nước thân yêu, cổ kính của chúng ta. Vả lại, cậu sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi ở Londres. - Tớ chả biết tớ sẽ làm gì ở đó. - Tớ thì biết đấy. - Có cả tiền nữa đấy. - Tuppence nhận xét giọng ưu tư và liếc nhìn chàng trai. - Tiền nào? - Carter nói rằng mỗi đứa chúng ta sẽ được nhận một tấm séc. - Cậu đã hỏi ông ấy trị giá bao nhiêu chưa? - Tommy kêu lên. - Rồi. Nhưng tớ không nói cho cậu đâu. - Tuppence, cậu thật quá đáng! - Chuyện vừa rồi thật là vui, phải không? - Tớ hy vọng rằng chúng ta sẽ còn nhiều cuộc phiêu lưu, mạo hiểm nữa... - Tuppence, cậu thật tham lam. Lúc này, tớ thấy chán rồi. - Việc mua sắm cũng khá thú vị đây - Tuppence tư lự nói - Xem nào, mua đồ gỗ cổ này, những tấm thảm phương Đông này, màn cửa băng lụa, một cái bàn đánh véc-ni cho phòng ăn và một cái đi-văng với hàng đống gối dựa! - Khoan đã, một phút thôi! Để làm gì cơ chứ? - Để dùng cho một ngôi nhà... nhưng tớ thiên về một căn hộ hơn. - Căn hộ nào? - Cậu tưởng rằng tớ ngại không dám nói ra à? Không, điều đó không làm tớ thấy xấu hố chút nào. Cho căn hộ của chúng ta. - Ôi, em yêu quý! - Tommy thốt lên và ôm cô vào lòng - Anh đã quyết định bắt chính em phải nói ra điều đó! Anh thấy cần phải trả đũa cái cách mà em đã mắng anh mỗi lần anh muốn tỏ ra tình cảm một chút! Tuppence quay mặt về phía anh: - Tommy, anh vẫn chưa thật sự hỏi em. Cái mà bà nội của chúng ta gọi là "lời cầu hôn ấy mà". Nhưng sau khi nghe chàng ngốc Julius nói điều đó, em thấy nên miễn cho anh thì hơn. - Đằng nào thì em cũng chẳng có thể làm gì khác ngoài lấy anh, vậy thì cần gì nào? - Sẽ rất tuyệt! - Tuppence đáp lời - Hôn nhân được coi là một nơi trú ẩn, lánh thân, đỉnh cao của hạnh phúc hoặc của sự gò bó và còn nhiều điều khác nữa. Nhưng em, em biết rằng nó là... - Là gì? - Một cuộc phiêu lưu, mạo hiểm. - Và thậm chí là một cuộc phiêu lưu thiêng liêng! - Tommy kết luận. Mời các bạn đón đọc Kẻ Thù Bí Mật của tác giả Agatha Christie.
Giết Người Trong Mộng - Agatha Christie
Giết Người Trong Mộng là tác phẩm về nhân vật Miss Marple hay nhất của Agatha Christie. Một câu chuyện lấy quá khứ làm điểm rơi trong tương lai ám ảnh nhân vật chính một cách kỳ lạ. Bắt đầu từ đấy, những dấu ấn chập chờn vén từng chút bức màn bí mật ẩn sâu nhằm đưa những uẩn khuất phơi mình trước sự thật. Một thiên tiểu thuyết gây kinh ngạc khi đã đi sâu vào lòng quá khứ bằng sự khắc khoải của logic.  Xứng đáng để người yêu truyện trinh thám cất công giấu nó vào mộng. *** Nữ nhà văn Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.  Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920).  Trong cuốn sách này, độc giả lần đầu tiên được làm quen với một thám tử lập dị người Bỉ tên là Hercle Poirot với bộ ria ngộ nghĩnh, mái tóc điểm bạc và một tính cách tỉ mỉ, sạch sẽ. Nhưng phải tới năm 1926, những cuốn sách của Agatha mới thu hút được sự chú ý của công chúng khi bà xuất bản cuốn Vụ ám sát Roger Ackroyd. Truyện này được đăng trên một tờ báo tiếng Ireland năm 1938 và được tái bản ba lần.  Nhân vật thám tử Poirot có khả năng phá những vụ án phức tạp và được coi là nhân vật xứng đáng kế vị thám tử lừng danh Sherlock Holmes của nhà văn Arthur Conan Doyle. Christie đã viết hơn 30 tiểu thuyết trinh thám về viên cảnh sát Poirot với những truyện nổi tiếng như The Murder of Roger Ackrovd (1926), Murder on the Orient ExPress (1934) và Death on the Nile (1937). Trong đó có nhiều truyện đã được chuyển thể thành phim.    Năm 1926, hai vợ chồng Agatha ly dị bởi ông chồng ngoại tình. Đã sẵn đau buồn vì mẹ mới mất, Agatha đột nhiên biến mất. Cả nước Anh trở nên sôi sục vì một nữ nhà văn nổi tiếng bị mất tích. Ba ngày sau người ta phát hiện bà tại một khách sạn nhỏ với lời giải thích rằng bà bị mất trí nhớ. Năm 1930, bà tái hôn với một nhà khảo cổ học trẻ tuổi tên là Max Mallowan.    Ngoài nhân vật thám tử Poirot, cô Jane Marple - một nhân vật nổi tiếng và được nhiều độc giả yêu thích - được nữ nhà văn sáng tạo và giới thiệu lần đầu tiên trong cuốn Murder at the Vicarage vào năm 1930. Đây là một phụ nữ trung niên độc thân sống trong một ngôi làng tại St. Mary Mead. Cô không phải là một thám tử nhưng chỉ bằng trực giác nhạy bén và sự tập trung cao độ, cô đã phá được tất cả các vụ án mà cảnh sát chịu bó tay. Nhân vật Jane Marple được Agatha sử dụng trong 12 tiểu thuyết và trở nên nổi tiếng trong Thời đại vàng của tiểu thuyết tại Anh thời kỳ những năm 1920 và 1930.    Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. *** “Nhưng nghĩ lại, Gwenda, tôi không thể bỏ đi để cô em ở lại đây một mình”. Marple vừa nói. “Tôi biết còn một tên đáng sợ nữa, dù đang ở sau vườn, tôi vẫn để mắt theo dõi”. “Vậy cô đã nhận dạng đích thị là hắn ngay từ lúc đầu? Gwenda hỏi. Cả ba người, Marple, Gwenda với Giles đang ở trên sân thượng khách sạn Imperial ở vùng Torquay. “Ta dời qua điểm mới nhé’’, Marple vừa nói. Nghe xong Giles gật đầu, Gwenda thấy thích thú. Ngài thanh tra Primer nghe chịu liền, mọi người lên xe đi về Torquay. Tới đây nàng Marple mới trả lời câu hỏi của Gwenda. ‘‘Ôi, có thể nói ta sắp nhận dạng ra hắn. Khổ cái ở chỗ ta chưa có đủ bằng chứng. Mới phát hiện có dấu hiệu cho biết’’. Chưa hiểu ra sao Giles nói: "Tôi thì chưa nhìn ra được một chút nào hết". "Ô, kìa Giles, nhớ lại thử coi. Mới đầu hắn có mặt tại hiện trường". "Đó là điều chắc chắn. Lúc Kelvin Halliday tới tìm hắn ngay trong đêm đó cũng vừa lúc hắn rời khỏi bệnh viện. Thời đó nghe dân địa phương kể lại địa điểm bệnh viện nằm sát bên ngôi nhà Hillside hay còn gọi là Sainte Catherine. Vậy là ông nhận ra chưa, ta đã xác định rõ đúng người đúng chỗ. Và hơn nữa ta còn nêu ra được một ngàn lẻ một hành vi lẻ tẻ. Đã có lần Helen Kennedy kể cho Richard Erskine nghe nàng phải bỏ đi xa để lấy anh chàng Walter Fane bởi nàng ở lại nhà không được bình yên. Không bình yên, tức là phải sống chung với người anh. Bởi anh nàng lo lắng cho nàng hết mình. Vậy nói sao nàng không được bình yên? Ông còn nhớ Afflick kể lại "ông thấy thương hại cho nàng". Tôi cho là ông nói thật. Ông thấy nàng tội nghiệp. Vì sao nàng phải lén lút gặp anh chàng Afflick? Rõ ràng nàng không yêu thuơng gì anh chàng. Hay bởi vì nàng không được hẹn hò yêu đương như bao cô nàng cùng trang lứa? Người anh nàng "nghiêm khắc" và "cổ hủ". Nghe sao mà mang máng chuyện tình của ngài Barrett ở phố Wimpole". Gwenda rùng mình. "Ông ta bị ma ám", nàng nói, "bị ma ám". "Đúng thế", Marple nói. "Không được bình thường. Ông ta say mê người em gái cùng cha khác mẹ. Một thứ tình yêu bệnh hoạn, tội lỗi. Cô em chưa biết đâu, ông ta cấm không cho con gái lấy chồng, cấm luôn cả chuyện hẹn hò dan díu. Y như chuyện ngài Barrett. Lúc nghe thuật lại câu chuyện chiếc lưới căng trên sân tennis, tôi sực nhớ câu chuyện thuở trước". "Lưới đánh quần vợt? "Đúng thế, nó khiến tôi phải lưu ý. Thử tưởng tượng nàng Helen lúc còn là một cô học sinh, sau buổi học thích được tung tăng bay nhảy như bạn bè, nao nức được hẹn hò bạn trai, để được ve vãn làm dáng ..." "Y như chuyện khát tình" "Không đâu", Marple muốn nói rõ hơn. "Đấy mới là chuyện còn ghê gớm hơn cả vụ hình sự. Bác sĩ Kennedy không giết nàng như thể là hủy diệt một thân xác. Cô em chịu khó nhớ lại, chứng cứ duy nhất có thể thấy được vì sao Helen Kennedy lại có thói mê trai hay ta có thể nói đúng nghĩa của nó là gì cưng nhỉ? À đúng thế thói cuồng dâm, là do bác sĩ Kennedy mà ra. Tôi biết nàng là một cô gái xinh đẹp, và như bao cô gái khác cũng thích đùa cợt trêu ghẹo, nếu gặp phải anh chàng nào hợp nhãn tính chuyện trăm năm luôn, chỉ có thế thôi. Ta thử quay lại từng bước hành vi của người anh nàng. Phải kể ra trước, tính ông ta nghiêm khắc, bảo thủ, ngăn cấm nàng đủ chuyện. Một bữa nọ nàng gặp gỡ bạn bè trên sân tennis, một trò giải trí lành mạnh nghiêm túc, ông ỡm ờ cho người em gái gặp gỡ bạn bè, để rồi một bữa tối ông lẻn vô sân cắt xẻo bộ lưới nát bét, phải gọi đấy là một trò chơi tàn ác y như bọn ác dâm. Mặc dù vẫn nói cô em được tự do đi lại nhảy nhót chơi tennis bình thường. Nhân nàng bị vấp té trầy da, lợi dụng ông ta để cho da làm độc lâu lành. À ra thế, tôi hiểu vì sao ông bày ra cái trò đó ... Thảo nào, tôi biết mà. "Cô em nên nhớ, Helen không hẳn nhận ra mấy chuyện đó đâu. Nàng biết ông anh say mê nàng. Nàng quyết bỏ nhà đi qua bên Ấn Độ lấy anh chàng Fane may ra được thoát ly. Thoát ly khỏi cái gì đây? Nàng chưa hiểu. Tuổi thanh niên còn non dạ. Nàng bỏ ra đi qua Ấn Độ trên chuyến tàu nàng gặp rồi chịu lấy anh chàng Richard Erskine. Và lần này không như một kẻ khát tình, nàng vẫn là một cô gái nề nếp. Nàng không buộc gã phải bỏ vợ. Không, nàng không muốn. Đến khi gặp lại Walter Fane nàng không muốn làm vợ, không còn cách xoay xở ra sao nàng đánh điện cho người anh biết để xin tiền về quê. "Trên chuyến tàu trở về nàng gặp cha cô em đây, lại một lần nữa nàng mong được giải thoát. lần này coi bộ nàng sẽ được nếm mùi hạnh phúc... "Nàng lấy ông không nhằm một ý đồ xấu xa. Bởi ông vừa mới mất vợ, còn nàng hãy còn nhức nhối vì cuộc hôn nhân dang dở. Hai người vừa tìm thấy một nơi nương tựa. Tôi thấy nàng lấy được Kelvin Halliday là tốt số, sau đó giã từ London trở lại Dillmouth rồi. "Kelvin Halliday với Kennedy là chỗ thân thiết với nhau từ trước. Nghe tin Kennedy rất vui mừng. Halliday và Kennedy tìm mua một ngôi nhà khang trang ở luôn tại đó. "Giờ ta mới nói tới điểm then chốt, giả sử Kelvin bị vợ đầu độc. Có thể nêu ra đây hai giả thiết, chỉ có thể nêu tên hai nghi can trong vụ này. Hay biết đâu Helen Kennedy, chính tay nàng đã đầu độc giết chồng, mà sao vậy nhỉ? hay là thuốc độc do bác sĩ Kennedy đưa cho. Bởi Kennedy là bác sĩ riêng của Halliday, mỗi khi có đau ốm phải nhờ đến ông. Như vậy thuốc độc do chính tay bác sĩ đưa ra cho Helen". "Hay biết đâu có món thuốc nào uống vào là tưởng đâu mình đưa tay ra siết cổ vợ?". Giles hỏi lại "Tôi thấy chả có món thuốc nào hết, phải không, món thuốc gây ra một phản ứng kỳ quặc?". "Này, Giles coi chừng không khéo ông lại sa bẫy, nhẹ dạ cả tin những chuyện người ta kể. Chỉ có ông bác sĩ Kennedy mới dám nói là Halliday mắc chứng hoang tưởng thôi. Trong tập nhật ký bỏ lại không thấy ông nói tới. Ông có hoang tưởng nhưng mà không thể xếp vô dạng nào. Tôi biết chính Kennedy đã kể cho ông nghe những ngưòi thắt cổ đều mắc chứng hoang tưởng như Kelvin Halliday". "Bác sĩ Kennedy một tên tội phạm nhan hiểm", Gwenda nói: "Theo tôi", Marple nói. "Lúc đó ông không còn nhận ra mình tỉnh hay điên. Tội nghiệp cho Helen chỉ có nàng biết việc đó. Chính nàng đã thốt ra câu nói ngày hôm đó Lily nghe thấy được. "Lúc nào tôi cũng cảm thấy lo sợ vì ông". Nàng vừa thốt ra câu đó là một manh mối quyết định, nàng muốn rời khỏi Dillmouth. Nàng giục chồng mua một ngôi nhà ở Norfolk, đừng nói cho ai biết. Đấy cô em thấy một dấu hiệu khác thường. Bức màn bí mật đã được vén lên. Phải nói nàng lo sợ người khác biết chuyện, ngẫm lại hoàn toàn không khớp với giả thiết có thể nghi can là Walter Fane hay Jackie Afflick, lại càng không khớp với nghi can Richard Erskine. Không, ta phải đi tìm một nơi gần quanh đâu đây. "Cuối cùng, bị dằn vặt bởi muộn phiền lo âu, Kelvin Halliday bộc bạch với người anh vợ. Mời các bạn đón đọc Giết Người Trong Mộng của tác giả Agatha Christie.
Giây Phút Lỡ Lầm - Agatha Christie
Giây Phút Lỡ Lầm là một cuốn tiểu thuyết trinh thám do Agatha Christie viết và xuất bản lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1951, Dodd Mead and Company.  Nó chứa các tác phẩm từ những ngày đầu tiên của sự nghiệp của Christie, tất cả đều viết về viên thanh tra người Bỉ, Hercule Poirot. Tất cả những câu chuyện được xuất bản trong các tạp chí Anh và Mỹ từ năm 1923 đến năm 1926.  *** Nữ nhà văn Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.  Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920).  Trong cuốn sách này, độc giả lần đầu tiên được làm quen với một thám tử lập dị người Bỉ tên là Hercle Poirot với bộ ria ngộ nghĩnh, mái tóc điểm bạc và một tính cách tỉ mỉ, sạch sẽ. Nhưng phải tới năm 1926, những cuốn sách của Agatha mới thu hút được sự chú ý của công chúng khi bà xuất bản cuốn Vụ ám sát Roger Ackroyd. Truyện này được đăng trên một tờ báo tiếng Ireland năm 1938 và được tái bản ba lần.  Nhân vật thám tử Poirot có khả năng phá những vụ án phức tạp và được coi là nhân vật xứng đáng kế vị thám tử lừng danh Sherlock Holmes của nhà văn Arthur Conan Doyle. Christie đã viết hơn 30 tiểu thuyết trinh thám về viên cảnh sát Poirot với những truyện nổi tiếng như The Murder of Roger Ackrovd (1926), Murder on the Orient ExPress (1934) và Death on the Nile (1937). Trong đó có nhiều truyện đã được chuyển thể thành phim.    Năm 1926, hai vợ chồng Agatha ly dị bởi ông chồng ngoại tình. Đã sẵn đau buồn vì mẹ mới mất, Agatha đột nhiên biến mất. Cả nước Anh trở nên sôi sục vì một nữ nhà văn nổi tiếng bị mất tích. Ba ngày sau người ta phát hiện bà tại một khách sạn nhỏ với lời giải thích rằng bà bị mất trí nhớ. Năm 1930, bà tái hôn với một nhà khảo cổ học trẻ tuổi tên là Max Mallowan.    Ngoài nhân vật thám tử Poirot, cô Jane Marple - một nhân vật nổi tiếng và được nhiều độc giả yêu thích - được nữ nhà văn sáng tạo và giới thiệu lần đầu tiên trong cuốn Murder at the Vicarage vào năm 1930. Đây là một phụ nữ trung niên độc thân sống trong một ngôi làng tại St. Mary Mead. Cô không phải là một thám tử nhưng chỉ bằng trực giác nhạy bén và sự tập trung cao độ, cô đã phá được tất cả các vụ án mà cảnh sát chịu bó tay. Nhân vật Jane Marple được Agatha sử dụng trong 12 tiểu thuyết và trở nên nổi tiếng trong Thời đại vàng của tiểu thuyết tại Anh thời kỳ những năm 1920 và 1930.    Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. *** Sự có mặt thường xuyên của Poirot ở “Bến Nghỉ” có vẻ làm cho nhiều người lo ngại. Victor phản đối với chị dâu : - Tất cả những việc này thật đẹp! Chị không biết loại người như ông ta là thế nào đâu. Ông ta đã tìm thấy ở đây một chỗ ở dễ chịu, và ông ta sẽ vừa nghỉ thoải mái ở đây một tháng, vừa bắt chị phải trả nhiều đồng ghi-nê mỗi ngày. Phu nhân Reuben nhấn mạnh rằng bà đủ sức để tự mình chèo chống công việc. Lily cố gắng che giấu sự lo lắng của mình. Trước đó cô đã tin tưởng Poirot tin ở mình. Bây giờ thì cô không còn chắc chắn nữa. Thái độ của Poirot không thể làm cho mọi người yên tâm được. Năm ngày sau khi đến, ông bước xuống phòng khách để giải trí sau bữa ăn với một cuốn sổ dùng để in dấu tay. Ông ta lấy dấu tay của cả nhà một cách không tế nhị lắm. Không ai có thể từ chối việc in dấu tay của mình lên đó. Khi người đàn ông nhỏ bé ấy đã đi ngủ, Victor nói lên suy nghĩ của mình : - Chị có hiểu ý nghĩa của hành đỘng đó không, chị Reuben? Ông ta nghi ngờ một người trong chúng ta đấy. - Cậu thật ngốc, Victor ạ! - Thế thì ông ta có ý định gì với cuốn sách quỷ quái ấy? Phu nhân Reuben vừa nói vừa ném cho ông Owen một cái nhìn đấy ý nghĩa : - Ông Poirot biết rõ những gì mình làm. Một mặt khác, Poirot bày ra một trò chơi bằng cách lấy dấu giày trên một tờ giấy. Sáng hôm sau, theo như thói quen, ông rón rén bước vào phòng đọc sách làm cho Owen kinh hãi. Owen giật nẩy mình trong chiếc ghế bành cứ như phải lãnh một tràng đạn vào mông ấy. Anh ta nói với vẻ phật ý : - Xin lỗi, ông Poirot ạ, rốt cuộc thì ông sẽ làm cho tất cả chúng tôi bị đau tim mất thôi. - Sao vậy? - Ông ngây thơ hỏi. Viên thư ký nói : - Tôi phải thú nhận rằng tôi cứ ngỡ những chứng cớ buộc tỘi Leverson là rất vững chắc rồi. Nhưng hình như ông không nhất trí với ý kiến đó thì phải. Poirot đang nhìn qua cửa sổ vội quay lại ngay. - Ông Owen ạ, tôi sẽ tiết lộ với ông một điều. - Vâng. Poirot có vẻ như không định nói. Khi ông vừa lên tiếng thì có tiếng cửa ra vào mở rồi đóng mạnh. Ông nói to và rõ, mặc dù là đang tiết lộ bí mật. - Tôi muốn tiết lộ với ông điều này, ông Owen ạ, chúng tôi có một tình tiết mới cho thấy rằng khi Leverson bước vào phòng bên tháp lúc nửa đêm thì ngài Reuben đã chết rồi. Viên thư ký nhìn ông đăm đăm. - Nhưng... sự kiện nào chứ? Sao chúng tôi không được nghe nói đến? - Quý vị sắp được nghe nói đến rồi - Người đàn ông Bỉ bé nhỏ đáp với vẻ bí ẩn - Trong lúc chờ đợi chỉ có tôi và ông biết thôi nhé. Rồi ông vội vã bước ra khỏi phòng đọc sách suýt nữa thì va phải Victor : - Ông vừa về đến sao, ông Victor? - Vâng, thời tiết thật xấu, lạnh và gió nhiều. - Thế thì hôm nay tôi không đi dạo đâu. Tôi giống như một con mèo vậy, thích ngồi gần lò sưởi để sưởi ấm. Buổi tối, Poirot nói với người đầy tớ trung thành : - Mọi việc đều tốt đẹp, George ạ, họ đang ngồi trên than hồng cả đấy. Thật là khổ, anh George tốt bụng ạ, khi phải chờ đợi, nhưng các đó lại cho kết quả tuyệt vời. Ngày mai chúng ta thử nghiệm một lần nữa xem sao. Sáng hôm sau, Owen có việc buộc phải đi London. Anh ta đi cùng chuyến tàu với Victor. Họ vừa rời khỏi nhà là Poirot đã sôi nổi hẳn lên. - George ạ, hãy đến đây. Ta bắt tay vào việc đi. Nếu có cô hầu phòng nào đến gần thì hãy chặn cô ta lại. Hãy tán tỉnh cô ta bằng cách nào đó và thu xếp làm sao để cô ta đứng yên trong hành lang ấy. Thoạt tiên, ông vào phòng viên thư ký lục soát kỹ lương. Mọi ngăn kéo, mọi cái kệ đều không thoát khỏi tay ông. Rồi ông vội vàng sắp đặt mọi thứ lại chỗ cũ và tuyên bó rằng cuộc tìm kiếm của mình đã kết thúc. George, đang đứng ở cửa phòng, kính cẩn đằng hắng : - Xin lỗi, thưa ông. - Gì thế, anh George tốt bụng? - Những đôi giày, thưa ông. Hai đôi màu nâu trên kệ thứ hai còn những đôi giày da đen ở kệ dưới. Ông đã lầm, đổi vị trí của chúng khi sắp xếp lại. - Anh thật là tuyệt - Poirot nói - Nhưng đừng lo, điều đó không quan trọng, tôi cam đoan như vậy. Ông Owen sẽ không bao giờ nhận thấy những chi tiết như thế đâu. - Tùy ông, thưa ông. - Anh nhận thấy điều đó là do thói quen nghề nghiệp đấy thôi. Điều này thật đáng khen. Poirot nói với vẻ động viên. Người đầy tớ không trả lời. Vài phút sau, sự kiến đó lại tái diễn trong phòng Victor, George không nói gì nữa. Thế nhưng trong trường hợp thứ hai này, những sự việc xảy ra tiếp theo đã chứng tỏ sự sáng suốt của người đầy tớ. Thật vậy Victor lao vào phòng khách như một cơn lốc, ông ta hét lên : - Này, đồ nỡm! Đồ dân Bỉ dơ bẩn! Ai cho phép ông sục xạo vào đồ đạc của tôi? Thế là nghĩa lý gì chứ Tôi không thích vậy, ông có nghe thấy không? Chuyện xảy ra như thế đấy khi người ta chứa trong nhà mình một thứ gián điệp dơ bẩn cứ vọc mũi vào mọi chỗ! ... Mời các bạn đón đọc Giây Phút Lỡ Lầm của tác giả Agatha Christie.
Chết Trong Đêm Noel - Agatha Christie
Chết trong đêm Noel (tiếng Anh: Hercule Poirot's Christmas, dịch nghĩa: Giáng sinh của Hercule Poirot) là một tiểu thuyết hình sự của nhà văn Agatha Christie được nhà sách Collins Crime Club xuất bản lần đầu tại Anh ngày 19 tháng 12 năm 1938 và được đăng ký bản quyền năm 1939. Thuộc dạng vụ án phòng kín, tiểu thuyết nói về vụ giết hại đẫm máu nhà triệu phú Simeon Lee vào đúng đêm Giáng Sinh. Nhân vật chính của tiểu thuyết là thám tử Hercule Poirot. Tiểu thuyết được chia làm 7 phần ứng với 7 ngày cuối năm từ 22 cho tới 28 tháng 12. Simeon Lee là một triệu phú làm giàu nhờ kim cương ở Nam Phi giờ sống tuổi già tàn tật tại dinh thự riêng Gorston Hall ở Longdale, Addlesfield cùng con trai cả Alfred cùng vợ của ông là Lydia. Nhân lễ Giáng Sinh, ông quyết định mời tất cả các con trai của mình cùng gia đình về đoàn tụ tại Gorston Hall. Đó là George Lee, một nghị sĩ keo kiệt sống dựa vào bố có cô vợ Magdalene kém tới 20 tuổi và David Lee, một nghệ sĩ vốn từ mặt ông Simeon đã lâu do thù ghét cách đối xử của bố với mẹ mình, David chỉ quyết định về đoàn tụ ở Gorston Hall sau khi được vợ anh là Hilda thuyết phục. Bữa tiệc Giáng Sinh nhà Lee còn có ba người khách đặc biệt là Pilar Estravados, cô bé có nửa dòng máu Tây Ban Nha, con của Jennifer, con gái duy nhất của ông Simeon, Harry Lee, đứa con hoang đàng của ông Simeon đã bỏ nhà đi từ lâu và Stephen Farr, con người bạn làm ăn của ông Simeon ở Nam Phi là Ebenezer Farr. *** Nữ nhà văn Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.  Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920).  Trong cuốn sách này, độc giả lần đầu tiên được làm quen với một thám tử lập dị người Bỉ tên là Hercle Poirot với bộ ria ngộ nghĩnh, mái tóc điểm bạc và một tính cách tỉ mỉ, sạch sẽ. Nhưng phải tới năm 1926, những cuốn sách của Agatha mới thu hút được sự chú ý của công chúng khi bà xuất bản cuốn Vụ ám sát Roger Ackroyd. Truyện này được đăng trên một tờ báo tiếng Ireland năm 1938 và được tái bản ba lần.  Nhân vật thám tử Poirot có khả năng phá những vụ án phức tạp và được coi là nhân vật xứng đáng kế vị thám tử lừng danh Sherlock Holmes của nhà văn Arthur Conan Doyle. Christie đã viết hơn 30 tiểu thuyết trinh thám về viên cảnh sát Poirot với những truyện nổi tiếng như The Murder of Roger Ackrovd (1926), Murder on the Orient ExPress (1934) và Death on the Nile (1937). Trong đó có nhiều truyện đã được chuyển thể thành phim.    Năm 1926, hai vợ chồng Agatha ly dị bởi ông chồng ngoại tình. Đã sẵn đau buồn vì mẹ mới mất, Agatha đột nhiên biến mất. Cả nước Anh trở nên sôi sục vì một nữ nhà văn nổi tiếng bị mất tích. Ba ngày sau người ta phát hiện bà tại một khách sạn nhỏ với lời giải thích rằng bà bị mất trí nhớ. Năm 1930, bà tái hôn với một nhà khảo cổ học trẻ tuổi tên là Max Mallowan.    Ngoài nhân vật thám tử Poirot, cô Jane Marple - một nhân vật nổi tiếng và được nhiều độc giả yêu thích - được nữ nhà văn sáng tạo và giới thiệu lần đầu tiên trong cuốn Murder at the Vicarage vào năm 1930. Đây là một phụ nữ trung niên độc thân sống trong một ngôi làng tại St. Mary Mead. Cô không phải là một thám tử nhưng chỉ bằng trực giác nhạy bén và sự tập trung cao độ, cô đã phá được tất cả các vụ án mà cảnh sát chịu bó tay. Nhân vật Jane Marple được Agatha sử dụng trong 12 tiểu thuyết và trở nên nổi tiếng trong Thời đại vàng của tiểu thuyết tại Anh thời kỳ những năm 1920 và 1930.    Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. *** Ngày 28 , Tháng Chạp Lydia Lee bảo Pilar: - Cháu có thể ở lại đây cho đến khi chúng ta thu xếp mọi việc cho cháu . Cô gái thân mật trả lời: - Lydia, bác rất đáng mến . Bác đã nhanh chóng tha thứ cho cháu, không để xảy ra chuyện gì đáng tiếng cả . Lydia cười: - Ta vẫn gọi cháu là Pilar tuy đó không phải là tên thật của cháu . - Thật vậy, cháu là Conchita Lopez . - Cái tên rất đẹp , Conchita . - Bác rất tốt, bác Lydia . Nhưng không nên băn khoăn về cháu . Cháu sẽ lấy anh Stephen và chúng cháu sẽ về Nam Phi . - Ta mừng cho cháu, Conchita . Cháu thu xếp mọi việc rất tốt . Ngập ngừng, cô nói với Lydia: - Vì bác có lòng tốt, bác Lydia . Sau này chúng cháu có tới thăm bác, dự lễ Noel với gia đình được không ? Lúc ấy chúng ta sẽ đốt pháo, có nến sáng và những chú lùn trên bàn ăn! - Chắc chắn là như vậy, cháu và chồng cháu sẽ trở về và chúng ta sẽ có một lễ Noel linh đình . - Thật là tốt, bác Lyida . Lễ Noel năm nay không thành công rồi . - Đối với chúng ta, đây không phải là lễ Noel thực sự - Lydia thở dài . - Tạm biệt anh Alfred - Harry nói - Không nên cho rằng em về chuyến này để quấy phá anh . Em sẽ đi Hawaii . Em vẫn tự nhủ là mình sẽ trở về sống ở đất nước tươi đẹp của chúng ta khi em có ít tiền . - Tạm biệt chú Harry . Anh cầu chúc cho chú sống hạnh phúc ụ Có vẻ khó chịu, Harry lẩm bẩm: - Em lấy làm tiếc nhiều khi em đã làm anh tức giận, anh thân mến . Tinh thần em không vững và thường trêu chọc mọi người . Alfred cố gắng để nói: - Anh cũng cần làm quen với sự bông đùa . Yên tâm, Harry ra đi . - Tạm biệt anh ... hẹn gặp lại! ... Mời các bạn đón Chết Trong Đêm Noel của tác giả Agatha Christie.