Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bướm Báo Thù (Điệp Tử)

Thể loại: Giả tưởng, tâm lý, trả thù giết người, có yếu tố tình cảm, HE Số chương: 11 chương full Bướm Tím trở về với dương gian, chỉ vì một mục đích duy nhất: trả thù kẻ đã tàn sát mình và cả gia đình. Bảy con người, bảy câu chuyện, họ không có mối quan hệ với nhau. Cứ tưởng đây là bảy mảnh ghép rời rạc, nhưng khi từng chi tiết hiện rõ, giữa họ lại có một điểm chung, liên quan đến một linh hồn oan khuất. Ai đúng ai sai, ai tốt ai xấu, nhân quả cùng nghiệp chướng đan xen, để rồi nàng gặp được hai người con trai ấy... Điều quan trọng cuối cùng nàng hiểu ra ở dương gian này sẽ là gì? "Con người hay bất kỳ sinh vật nào cũng có lúc rơi vào đau khổ, tuyệt vọng. Khi phải đối diện với bi kịch, có kẻ lựa chọn sự trả thù tàn khốc thế nhưng ngược lại, có những người lại lựa chọn tha thứ để tiếp tục hướng về phía trước đón lấy hi vọng." *** Tất cả bắt đầu tại một khu rừng hoang sơ chưa có dấu chân người. Mọi thứ nơi đây rất tuyệt vời, có thể nói là đẹp như bức tranh, và người vẽ nó không ai khác chính là Thượng Đế. Ngài dồn hết tình cảm vào đó, từ ngọn cỏ đến cành cây, cây cổ thụ ngàn năm tràn ngập lá cùng những cánh bướm rập rờn trong ánh nắng. Mọi vật, mọi cảnh thật tuyệt diệu, giống như thiên đường. Nhưng rồi mọi chuyện thay đổi vào một buổi chiều đầu xuân khi tiếng ồn của động cơ vang lên. Và đột ngột có chiếc thuyền cập bến… Cửa mở, lần lượt một nhóm người đi xuống, đưa mắt nhìn quanh. Quả thật nơi đây quá tuyệt. Cả thảy gồm bảy thành viên, năm người đàn ông và hai phụ nữ. Trẻ, trung niên đều có, dĩ nhiên không có người già. Sau vài giây ngắm cảnh, người đàn ông có bộ râu xồm xoàm nhất bảo: - Một nơi đẹp thế này tại sao không có ai đặt chân lên đây? Người phụ nữ đeo cặp kính cận dày cộm, quay qua: - Tại ông không biết đấy thôi, hòn đảo này cũng rất kỳ quái. Người ta đồn rằng ở đây các con vật, côn trùng, thậm chí cả cỏ cây đều khác lạ. Chúng có khẩu phần ăn không bình thường. Tiếng điếu thuốc phì phò, ông là người có mái tóc trắng và đen phân rõ nhìn như đường ranh giới, lý giải: - Giả sử, tôi ví dụ về loài bướm. Khi là sâu thì chúng ăn lá, lúc thành bướm thì chúng không ăn gì cả, chỉ việc đi tìm bạn đời, giao phối rồi chết. Nhưng nơi này thì khác, lũ bướm trưởng thành sẽ ăn hoa, các côn trùng nhỏ thậm chí là… đồng loại để duy trì sự sống, giúp kéo dài tuổi thọ. Thêm một người đàn ông mặc áo khoác dày, gương mặt khó chịu, vỗ tay: - Thôi, đừng nói nhiều nữa, chúng ta đến đây để xem xét tình hình khu rừng rồi thông báo cho đám thợ đến san bằng nơi này cho ngài giám đốc xây khu giải trí làm quà sinh nhật tặng con trai, chứ không phải để huyên thuyên đâu! - Ông quay ra sau gọi lớn - Anh kia! Nhanh tay lên một chút! Trên thuyền, vừa nghe quát, anh thanh niên vụng về đem nhanh mấy chiếc túi da to đến chỗ những người nọ, đặt xuống đất. Chẳng bao lâu, họ bắt đầu vào việc… Mọi vật trong khu rừng đều không hề hay biết sẽ có điều khủng khiếp sắp xảy ra, chẳng hạn như cô nàng Bướm Tím này. Nàng mới lớn, tràn trề sức sống với đôi cánh to màu tím biếc rực rỡ. Nàng đang đi kiếm mồi. Và kia, một bông hoa màu xanh ngắt mới nở, bữa ăn chiều tuyệt vời. Khi nàng vừa đáp lên, hoa khẽ rung rinh cùng lúc một giọng nói cất vang: - Ai đang đậu thế? - Ta, nàng Bướm Tím xinh đẹp! - Xin chào, tôi là chú bé hoa. Tôi mới nở, mà bạn cần gì? - Ta hả, dĩ nhiên ta muốn ăn ngươi. Bụng ta réo ầm ĩ rồi. - Đừng, xin đừng ăn tôi! Khó khăn lắm tôi mới nở ra được thế này. Bướm Tím khoanh tay, vẻ như chẳng mấy động lòng: - Mới nở hả? Vậy thì được rồi. Ngươi đã nở ra, đã hấp thụ ánh nắng mặt trời, ngửi hương gió rồi nghe những giọt sương thì thầm bên tai, như vậy là quá đủ cho kiếp hoa vô vị. Đừng nói nhiều, hãy yên đó để ta ăn! - Làm ơn đừng ăn tôi, tôi còn muốn mình sống lâu hơn nữa… Mặc cho cậu bé hoa nức nở van xin, nàng Bướm Tím vẫn tàn nhẫn nuốt trọn bông hoa mới nở ấy vào bụng. Khi đã khi đã đánh chén no nê, nàng quyết định bay về nhà. Về đến nơi, nàng thật sự kinh hoàng khi trông những con bướm tím trong gia đình đều bị giết hết. Chẳng kịp hiểu chuyện gì thì thình lình có tấm lưới tóm gọn lấy nàng. Bất ngờ, gương mặt một người phụ nữ có làn da mật, nhìn bướm với vẻ thích thú: - Xem này vẫn còn con bướm, làm gì với nó đây? Thì ra đây là con người! Nàng Bướm Tím nghĩ vậy. Bây giờ nàng thấy sợ hãi, phải tìm cách thoát khỏi đây. Loay hoay trong tấm lưới mấy phút, nàng vô cùng sửng sốt bởi hình ảnh những con bướm được ép khô, đặt trong lồng kính, đập vào mắt…. Có tiếng xì xầm ở gần, nàng Bướm Tím xoay qua, thấy một người đàn ông nói gì đấy với người phụ nữ đeo cặp kính dày bên cạnh. Bà ta lấy từ túi áo khoác, thứ hộp hình vuông, chậc lưỡi: - Không có quẹt ga thì dùng quẹt diêm! Xoẹt! Lửa xuất hiện trên thanh que nhỏ. Bà ta buông tay, thanh que nhanh chóng rớt xuống đống rơm được xếp gọn bên dưới và bốc cháy. Nàng Bướm Tím hét lên: - Đừng! Làm ơn…! Đừng đốt gia đình tôi! Nhưng con người làm sao nghe được lời bướm chứ? Ngọn lửa bốc cao, cháy phừng phực, chỉ vài giây sau đã lan nhanh thiêu trụi hốc cây, nơi tổ ấm của nàng. Không dừng ở đó, lửa điên cuồng tiếp tục tàn phá mọi thứ xung quanh. Bướm Tím kinh hãi quá, nàng khóc. Bỗng, có bàn tay thò vào túm lấy bướm. Nàng vùng vẫy, kêu la: - Bỏ tôi ra! Đừng mà! Người đàn ông có bộ râu xồm xoàm khi nãy, nhìn chăm chú: - Đôi cánh đẹp quá, nhưng không thấy rõ các đường nét trên đó. Chàng thanh niên có chiếc cằm lởm chởm râu, mới cười nhạt: - Có gì là khó, đưa đây, tôi có cách để các vị nhìn rõ hơn. Dứt lời, anh ta vớ lấy chiếc búa cùng bốn cây đinh sắt rỉ. Bướm Tím không biết đấy là gì. Anh ta chụp lấy nàng từ tay người phụ nữ đeo kính, vứt bỏ điếu thuốc trên miệng, rồi dùng tay ép nàng lên thân cây. Xong anh ta xoay sang bên cạnh, ra dấu cho chàng thanh niên vụng về khi nãy: - Mày giữ cố định giúp tao con bướm. Nhanh lên! Lề mề quá! Chàng trai tội nghiệp nhanh chóng đến gần, đưa tay giữ lấy bướm. Còn anh chàng nọ, lấy đinh ghim lên đôi cánh rực rỡ, tiếp dùng búa đóng mạnh. - Đau quá! Tôi đau quá…! Nàng bướm la hét dữ dội, máu rỉ ra, từng dòng chảy dài thấm vào thân cây xù xì. Bốn cây đinh đã giữ cố định nàng. Mười mấy con mắt mở to trừng trừng, quan sát sự tuyệt diệu của đôi cánh rộng. Nếu hình ảnh ấy được phóng to lên sẽ không còn đẹp nữa mà trở thành khung cảnh ghê rợn, trông như cảnh Chúa bị đóng đinh trên cây thập giá, bởi máu đang chảy loang ra. Nàng Bướm Tím đáng thương kiệt sức do cơn đau khủng khiếp nhưng vẫn đưa mắt nhìn những con người kia với đôi mắt yếu ớt. Bảy tên quái vật…! Người đàn ông mặc áo khoác dày bỗng dưng la lối: - Coi chán rồi đốt quách đi! Chúng ta cần đi xem khu rừng này trước khi trời tối! Họ tản dần ra, chẳng còn ai nữa. Nàng Bướm Tím đưa mắt về phía xa, khung cảnh nhòe đi, mờ dần. Mặt trời đã xuống núi, màu cam vàng của buổi hoàng hôn sáng rực là hình ảnh cuối cùng đọng lại trong cái nhìn của Bướm Tím trước khi ngọn lửa kịp thiêu cháy nàng thành tro. Nhưng lòng nàng, dâng lên một điều gì đó rất ghê gớm lẫn mãnh liệt! *** Bướm Tím nghe văng vẳng bên tai tiếng chim hót. Nàng mở mắt, chậm rãi ngồi dậy, trước mặt là căn phòng gỗ nhỏ, xung quanh ngập tràn ánh sáng mờ nhạt như nắng chiều sắp tàn. Giọng nói của người phụ nữ vang lên, rất nhỏ, như đang thì thầm: - Tỉnh rồi sao? - Bà là ai và tôi đang ở đâu? - Bướm Tím hỏi. - Đây là một nơi hoàn toàn tách biệt, cô đã chết, có biết không? Nàng bướm liền nhớ lại khung cảnh buổi hoàng hôn cuối cùng của ba năm trước… Rất lâu nhưng rõ như in, thậm chí, lúc này nàng vẫn còn thấy sợ. - Ta chỉ là bà lão bình thường chẳng có gì đáng bận tâm, cứ gọi ta là Bà Bà. Ta vốn thích cỏ cây, côn trùng. Người đời chẳng biết được, chúng cũng có linh hồn, và nếu làm việc tốt chúng vẫn có thể luân hồi chuyển kiếp. Nàng Bướm Tím đảo mắt nhìn một lượt cốt để tìm người đang trò chuyện với mình. Ngay bên trái nàng, là cánh cửa giấy có khung bằng tre, bóng ai bên kia vách in lên trông liêu xiêu… Nàng lại Bà Bà cất tiếng: - Đáng thương cho Bướm Tím, chết trong đau đớn tận cùng. Ta đưa hồn cô về đây để giúp cô thực hiện mong ước của bản thân. Hãy bước ra ngoài rồi cô sẽ thấy… Bướm Tím nghe theo lời, đứng lên, bước nhẹ nhàng đến cửa. Bên ngoài có dãy hành lang gỗ để ngồi ngắm nhìn khung cảnh xung quanh. Nơi đây thật đẹp, một vườn hoa với đủ loại đang khoe sắc, những cánh bướm rập rờn hoặc con ốc sên bò chậm chạp. Hòa vào không gian tĩnh lặng, là tiếng róc rách của dòng suối tươi mát trải mình thật thong thả. Nổi bật nhất là cây cổ thụ to soi bóng dưới làn nước xanh. Cảnh vật đều được phủ lên màu ráng chiều của hoàng hôn. Tiếng Bà Bà lại cất lên, thật rõ: - Những thứ cô thấy chỉ là linh hồn. Ta hồi sinh, làm chúng sống lại lần nữa đồng thời cho chúng sự lựa chọn để quyết định cuộc đời mình. - Nghĩa là bây giờ tôi có thể làm điều gì tôi muốn? - Mắt Bướm Tím thẫn thờ. - Đúng, và ta sẽ không can thiệp vì đó là chọn lựa của cô! - Vậy thì… trả thù! Đó là điều tôi muốn! - Bướm Tím dõng dạc. - Tùy cô. Ta không khuyên nhủ cũng không cổ vũ. Vì đơn giản, mọi việc làm trên thế gian đều có nhân quả báo ứng. Điều duy nhất ta có thể làm là khi nào cô đơn, cần người tâm sự, cô cứ về đây tìm ta. - Nhưng giờ đây tôi chỉ là linh hồn, tôi cần có hình dạng riêng của mình. Đúng, trong hình hài con người! - Nàng nghĩ ngợi. - Vậy chỉ còn cách, cô hãy tìm xác ai đó, nhập vào họ, nếu cần thiết, nên thay đổi gương mặt để đỡ rắc rối. - Bà Bà ra ý kiến - Cô có thấy cánh cửa gỗ bên cạnh giường tre không? Chỉ cần mở ra và bước qua, cô sẽ đến thế giới của loài người! Đi đi! Bướm Tím đến gần cánh cửa, tay đẩy nhẹ. Thật bất ngờ, phía bên kia vách gỗ là con đường nhỏ, vắng người, đầy bóng tối. Nhích từng bước, nàng đi hết con đường. Bên ngoài, ánh sáng chói gắt, cảnh người qua lại nhộn nhịp không ngớt. Họ cười nói rôm rả. Những tòa nhà cao tầng vuông vức như chiếc hộp chật chội khiến nàng bướm muốn ngợp thở. Đứng lặng chốc lát, Bướm Tím lại bước đi. Dù người người tất tả ngược xuôi nhưng chẳng ai nhìn thấy nàng. Được một đoạn, Bướm Tím dừng lại, khẽ nhìn qua phía bên kia đường. Hình ảnh cô gái xinh đẹp trong bộ váy hồng đang giận dỗi ai đấy qua điện thoại. Cô cúp máy, khóc rồi chạy băng qua đường. Trong khoảnh khắc ngủi, sự sống và cái chết cách nhau vài giây. Rầm! Chiếc taxi vô tình hoặc cố ý đã đụng trúng cô gái ấy. Máu phun trào, nhuộm đỏ. Sự việc diễn ra quá nhanh chóng, ai cũng đứng ngớ mặt, còn thủ phạm thì lập tức phóng xe bỏ chạy. Những người đi đường tụ tập lại, không biết để cứu người xấu số hay vì tò mò về sự việc lạ diễn ra trên đường phố? Vài giây sau cảnh sát ập đến, mọi thứ xung quanh vẫn nhốn nháo. Tiếng còi hú vang, cùng lúc chiếc xe cứu thương chạy đến, cô gái được đưa lên. Dưới đất có vũng máu to tướng nhưng rồi cũng sẽ biến mất, chỉ để lại vết chàm. Trong xe cứu thương, các nhân viên y tế đang lo lắng cho tính mạng nạn nhân. Nàng Bướm Tím đứng nhìn cô gái trong cơn nguy kịch bằng ánh mắt vô hồn, chẳng chút thương xót. Chỉ đang chờ đợi… Cánh tay mất hết sức lực rớt xuống, cô gái đã không qua khỏi. Liệu cô có thấy mình ra đi quá sớm? Biết đâu, cô đang vui mừng vì thoát khỏi kiếp người đầy khổ đau! Như chỉ chờ có thế, Bướm Tím liền nhập hồn vào cơ thể còn ấm ấy. Người nhân viên y tế ngỡ ngàng bởi cái mở mắt đột ngột của người chết. Không chỉ mình anh, những người trên xe cũng vô cùng bàng hoàng. Người tài xế như quẫn trí, lạc tay lái, khiến xe đâm sầm vào cái cây ven đường. Một tiếng nổ lớn vang lên. Những người đi đường giật mình quay lại, ngọn lửa lớn bốc cháy thiêu trụi chiếc xe. Và rồi từ bóng lửa điên cuồng, tất cả bỗng thấy bóng dáng cô gái trong bộ váy hồng, trên trán vài dòng máu vẫn còn chảy, bước ra. Ánh mắt vô hồn, cô cứ đi, mặc kệ tiếng la hét xung quanh… Tại ngôi nhà gỗ của Bà Bà, Bướm Tím đang soi mình trong gương. Làn da mịn màng như đứa trẻ, gương mặt trẻ đẹp thanh thoát. Đúng là một thể xác tuyệt hảo! Tự dưng, nàng khẽ cất giọng: “Cần thay đổi một chút…”. Nàng bướm đưa tay lên che đôi mắt đen tròn lấp lánh của cô gái. Vài giây sau bàn tay hạ xuống, phản chiếu trong tấm gương là một đôi mắt màu cam vàng, màu của buổi hoàng hôn đẫm máu. Bướm Tím đứng dậy ra bờ suối, tắm. Rồi bộ áo váy màu tím với những đường trang trí hình cánh bướm, dài qua đầu gối, khoác lên người nàng. Mái tóc đen được hất tung ra phía sau trải dài. Nàng nghe Bà Bà hỏi, cô chuẩn bị xong rồi ư, liền chậm rãi đáp: - Phải, từ nay bà hãy gọi tôi là Điệp Tử! Tôi sẽ trở về dương trần để đòi lại món nợ mà loài người gây ra với tôi! Dứt lời, Điệp Tử quay gót. Từ đó, cuộc báo thù của Điệp Tử bắt đầu. Nó trở thành cơn ác mộng chẳng ai mong muốn. Liệu cuối cùng mọi thứ sẽ ra sao? Ba năm sau, tất cả được tái hiện… Mời các bạn đón đọc Bướm Báo Thù (Điệp Tử) của tác giả Võ Anh Thơ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nhân Chứng Đã Chết - Harlan Coben
Vợ chưa cưới KATHY mất tích bí ẩn, sự nghiệp mới chớm nở tưởng như bị đe dọa, nhưng bằng cách nào đó, ngôi sao bóng bầu dục sinh viên CHRISTIAN STEELE vẫn nhẹ nhàng vượt qua được áp lực của dư luận. Mặc dù vậy, khi bức ảnh khỏa thân của KATHY bất ngờ xuất hiện trên một tạp chí khiêu dâm, mọi diễn biến đã đảo lộn đến chóng mặt. Quá nhiều kẻ tình nghi, quá nhiều động cơ, và quá nhiều bí ẩn. Với những lập luận chặt chẽ và hiểu biết sâu sắc của mình về thế giới thể thao Mỹ, HARLAN COBEN đã cùng nhân vật chính của mình, thám tử kiêm nhà đại diện thể thao MYRON, đưa người đọc qua những mặt trái của xã hội, của đời vận động viên để đến với một cái kết đầy bất ngờ và ám ảnh. *** Otto Burke, phù thủy thương thuyết, nâng tầm cuộc đấu lên một bậc. “Đi mà, Myron,” hắn thúc giục với vẻ hăng hái theo cung cách mộ đạo kiểu mới. “Tôi chắc chắn chúng ta có thể thấu hiểu nhau. Anh nhường một ít. Tôi nhường một ít. Titans là một đội. Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì tôi muốn tất cả chúng ta là một đội. Bao gồm cả anh nữa. Hãy làm một đội đích thực đi Myron. Anh thấy sao?” Myron Bolitar chụm đầu ngón tay vào nhau. Anh đọc được ở đâu đó rằng hành động đó làm ta trông có vẻ trầm tư. Nhưng bản thân anh thì lại thấy điều đó quả là ngớ ngẩn. “Otto à, tôi nào muốn gì hơn,” anh nhắc lại cái câu vô nghĩa mà suốt từ nãy đã được nhai đi nhai lại không biết bao nhiêu lần. “Thật đấy. Nhưng chúng tôi đã nhường hết mức rồi. Giờ đến lượt anh.” Otto gật đầu lia lịa, như thể hắn vừa nghe thấy một quan điểm triết học kỳ quái khiến ngay cả Socrates cũng phải hổ thẹn. Hắn nghiêng đầu, hướng nụ cười thớ lợ về phía huấn luyện viên đội bóng. “Larry, anh thấy sao?” Bắt lấy tín hiệu gợi ý, Larry Hanson vội gõ nắm tay lông lá to như con chuột nhảy lên chiếc bàn hội nghị. “Quỷ tha ma bắt cậu đi, Bolitar!” gã hét lên. “Nghe thấy không, Bolitar? Cậu có hiểu tôi đang nói gì với cậu không? Quỷ tha ma bắt cậu đi.” “Quỷ tha ma bắt,” Myron gật đầu nhắc lại. “Hiểu rồi.” “Cậu giở trò láu cá với tôi đấy hử? Trả lời tôi xem nào, bố khỉ! Láu tôm láu cá hử?” Myron nhìn gã, “Răng anh giắt hạt anh túc kìa.” “Mẹ kiếp đồ láu cá.” Larry Hanson trợn mắt. Gã liếc mắt về phía sếp rồi quay lại nhìn Myron. “Việc này không hợp với cậu đâu, Bolitar. Mà cậu biết mẹ nó rồi còn gì.” Myron làm thinh. Thực chất, Larry Hanson cũng có phần đúng. Myron không thích hợp. Anh mới làm đại diện thể thao hai năm nay. Phần lớn khách hàng của anh là những trường hợp còn non - những kẻ may mắn đạt đủ tiêu chuẩn và chạm mức tối thiểu của liên đoàn. Và bóng bầu dục chưa bao giờ là món tủ của anh. Anh chỉ có ba cầu thủ chơi ở giải bóng bầu dục nhà nghề Mỹ NPL, trong đó chỉ có một cầu thủ chính thức. Giờ Myron ngồi đối diện bậc tuổi trẻ tài cao - Otto Burke, ba mốt tuổi, người trẻ nhất sở hữu một đội bóng thuộc NFL, và Larry Hanson, một huyền thoại bóng bầu dục nay đã là giám đốc điều hành, đàm phán một hợp đồng mà dù chỉ do một tay non nớt như anh đảm nhận nhưng lại là bản hợp đồng khởi nghiệp bự nhất lịch sử NFL. Phải, anh - Myron Bolitar - đã giành được ‘Hàng nóng’, Christian Steele. Tiền vệ hai lần giành cúp Heisman*. Ba lần lọt vào thẳng bảng xếp hạng của hãng tin AP và UPI với tư cách quán quân. Nếu thế chưa đủ thì cậu nhóc này còn là chàng trai trong mộng của các cô gái. Một sinh viên ưu tú, sáng sủa, ăn nói lưu loát, lịch sự và là người da trắng (hầy, nếu điều này quan trọng). Trên hết, cậu ta thuộc về Myron. “Đề nghị được đưa ra rồi đấy, thưa các quý ông,” Myron nói tiếp. “Chúng tôi nghĩ thế là quá công bằng rồi.” Otto Burke lắc đầu. “Thật vãi cả phân!” Larry Hanson hét lên. “Cậu ngu bỏ mẹ, Bolitar ạ. Cậu sẽ làm sự nghiệp của thằng nhóc đi tong mất.” Myron dang tay ra. “Sao mọi người không cùng ôm nhau một cái cho nó tình cảm nhỉ?” Larry định buông thêm một câu chửi thề, nhưng Otto đã giơ tay lên ngăn lại. Hồi Larry còn thi đấu, những cú đòn chặn của Dick Butkus và Ray Nitzchke không thể cản bước gã. Giờ chỉ một cái khoát tay cũng có thể làm kẻ tốt nghiệp Harvard nặng ngót bảy mươi cân này ngậm miệng. Otto Burke nhoài người ra. Hắn vẫn chưa tắt nụ cười, chưa thôi khua khoắng tay, chưa thôi trao đổi ánh mắt - như một bộ phim quảng cáo sống động về Năng lực Cá nhân của diễn giả Anthony Robbins vậy. Làm người khác bối rối phát điên. Otto nhỏ thó, một gã đàn ông hom hem với những ngón tay bé nhất mà Myron từng thấy. Hắn có mái tóc dài sẫm màu kiểu dân Rock xõa xuống vai. Mặt hắn trông non tơ với chòm râu dê ngớ ngẩn nom như được phác họa bằng bút chì. Hắn hút một điếu thuốc dài ngoẵng, hay có lẽ nằm trên mấy ngón tay bé xíu của hắn nên nó thành ra vậy. “Nào, Myron,” Otto nói, “ta hãy nói chuyện có lý có tình, được chứ?” “Có lý có tình. Mời.” “Tuyệt, Myron, thế sẽ có ích đấy. Sự thật Christian Steele là kẻ vô danh, một tay ất ơ chưa được kiểm chứng. Cậu ta còn chưa từng được khoác đồng phục chuyên nghiệp. Biết đâu cậu ta lại là quả bom xịt của thế kỷ cũng nên.” Larry khịt mũi. “Cậu nên biết chút ít về điều này, Bolitar à, về những cầu thủ chẳng làm được trò trống gì. Những kẻ thất bại.” ... Mời các bạn đón đọc Nhân Chứng Đã Chết của tác giả Harlan Coben.
Nhân Chứng Câm - Agatha Christie
Cách đây không lâu Agatha Christie, nữ nhà văn Anh nổi tiếng, chuyên viết truyện trinh thám, đã qua đời, hưởng thọ trên chín mươi tuổi. Truyện đầu tay của bà xuất hiện năm 1920. Suốt trên sáu mươi năm cầm bút, bà đã viết hàng mấy trăm truyện về tiểu thuyết trinh thám. Nhiều nước trên thế giới đã dịch in tuyển tập của bà, hoặc dựng thành phim. Agatha Christie khác với một số khá đông các nhà văn viết truyện trinh thám phương Tây. Bà không lạm dụng những sự việc rắc rối bí ẩn hoặc bất ngờ để làm chốt dẫn truyện. Bà chú ý đi sâu vào tâm lý con người. Nhân vật các truyện của bà bao giờ cũng được đặt vào những tình huống tâm lý xã hội phức tạp. Câu chuyện phát triển theo sự diễn biến của tâm cảnh các nhân vật và được giải quyết qua cách nhìn nhận thấu đáo cơ sở tâm lý xã hội của những hành động phạm pháp. Ngôn từ các nhân vật trong các truyện của bà rất phong phú thể hiện được tính cách nguồn gốc xã hội của họ, từ giới thượng lưu đến bọn lưu manh đao búa, đồng thời vẫn giữ vẻ độc đáo, gọn gàng, chính xác của tiếng Anh hiện đại. Do đó, như nhà nữ phê bình người Mỹ Ruth Penison đã viết: "Những truyện của Agatha Christie đã phác họa cho các thế hệ mai sau một bức tranh sinh động và chính xác về xã hội nước Anh hiện tại mà bà am hiểu rất tường tận." *** Ngày 1 tháng 5, tiểu thư Arundell từ trần sau một cơn đau ngắn ngủi. Cái chết của tiểu thư không gây ra bất kỳ một chút kinh ngạc nào ở cái thị trấn thôn dã Market Basing nhỏ nhoi này, nơi tiểu thư đã sống từ năm mười sáu tuổi. Thực ra cô gái già này đã quá tuổi bảy mươi, và ai cũng biết là sức khỏe của bà khá mỏng manh. Mười tám tháng trước, bà đã bị một cơn đau gan giống hệt cơn vừa mới rước bà đi. Nếu cái chết của tiểu thư Arundell không làm ai ngạc nhiên thì tờ di chúc của bà lại không phải như vậy. Những ý nguyện cuối cùng của nữ chủ nhân biệt thự Littlegreen đã gây ra ở những người thân của bà biết bao cảm xúc rất khác biệt: kinh ngạc, vui mừng, chê bai, giận dữ và thất vọng. Trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng ở Market Basing người ta không nói đến chuyện gì khác cả. Mỗi người phát biểu một cách, từ ông John, bác hàng khô, nhà bảo vệ quyền gia đình đến bà Lampri, cô hàng thuốc lá, ai cũng lặp đi lặp lại cả ngày rằng: "Chắc có gì ám muội đây! Các vị cứ nhớ lấy lời tôi!". Chuyện tiểu thư Arundell viết tờ di chúc này, ngày 21 tháng 4 nghĩa là chỉ ít ngày trước khi chết, cũng đủ để khuấy động tâm trí người ta lên rồi. Hơn nữa, nếu ta biết rằng những người thân cận nhất của Emily Arundell đã đến Littlegreen nghỉ lễ Phục sinh thì sẽ dễ dàng hiểu rằng những giả thuyết tai tiếng nhất đã được phát ra, đem đến cho cuộc sống buồn tẻ của cư dân Market Basing một trò giải khuây thú vị. Người ta ngờ rằng bà Wilhelmina Lawson, tùy nữ của tiểu thư Emily Arundell đã biết nhiều về vụ rắc rối này mà không định nói ra. Tuy thế bà Lawson vẫn khẳng định là mình không biết gì hơn những người khác, và còn tỏ ra sững sờ khi đọc tờ di chúc. Nhiều người nghi ngờ tính thành thực của bà ta. Dù sao thì cũng có một người duy nhất biết đích xác bí mật này: Đó là người chết. Theo thói quen, tiểu thư Arundell chỉ hỏi ý kiến bản thân mình để soạn thảo những ý nguyện cuối cùng của mình và bà cũng tránh bộc lộ cho công chứng viên của bà biết những lý do đã buộc bà đổi ý vào giờ chót. Sự giữ kín này của tiểu thư Arundell là điểm nổi bật về tính cách của bà. Là sản phẩm điển hình của thời Nữ hoàng Victoria, bà có những ưu điểm cũng như những khuyết điểm của thời đại. Bề ngoài kiêu kỳ trong bà ẩn giấu một trái tim vàng. Lời nói của bà ngấn gọn, nhưng hành vi của bà biểu lộ một tâm hồn nhân hậu. Và trong thâm tâm bà bảo tồn nhiều điều tế nhị. Các tùy nữ không tồn tại được lâu ở Littlegreen: tiểu thư Arundell vừa hành hạ họ không thương tiếc, vừa đối đãi rộng lượng với họ. Hơn nữa còn bày tỏ công khai là bà hết sức tôn sùng gia đình dòng họ mình. Thứ Sáu trước ngày Chủ nhật Lễ Phục sinh, Emily Arundell ngồi ở tiền sảnh nhà mình và ra chỉ thị cho bà Lawson. Thời con gái, Emily Arundell rất xinh đẹp. Hiện nay cô gái già này vẫn giữ được dáng dấp thanh nhã, cũng còn rất năng động. Nước da bà khá vàng, cho ta biết bà vẫn phải thực hiện chế độ ăn kiêng. Tiểu thư Arundell nói với bà tùy nữ: - Này u! U đã thu xếp cho họ chỗ nghỉ ở đâu rồi? - Quả là con tin... con hy vọng đã xếp sắp ổn rồi... Bác sĩ Tanios và phu nhân ở phòng gỗ sồi, Theresa ở phòng sơn xanh, còn cậu Charles ở phòng ngày xưa dành cho trẻ con... Tiểu thư Arundell ngắt lời bà ta: - Tốt hơn cho Theresa ở phòng trẻ con, còn phòng xanh để cho Charles. - Vâng, vâng... con xin lỗi... con tưởng phòng trẻ con là thích hợp hơn với... - Theresa ở đó sẽ rất tốt. Tiểu thư Arundell thuộc thế hệ coi phụ nữ là thứ yếu. Trong mắt bà, nam giới là bộ phận quan trọng trong xã hội. - Con tiếc rằng các con nhỏ của bà Tanios không đến. - Bà Lawson nói thì thào, giọng buồn buồn. Bà rất yêu trẻ nhưng lại tỏ ra kém khả năng cai quản chúng. - Bốn vị khách là vừa đủ cho chúng ta rồi. - Tiểu thư Arundell vặc lại, bà rất nuông chiều các cháu bà, còn họ chẳng chịu nghe lời bà chút nào. U Lawson thở dài nói: - Bella Tanios là một người mẹ hiền từ. - Phải, Bella, rất tốt. - Tiểu thư Arundell chấp nhận. ... Mời các bạn đón đọc Nhân Chứng Câm của tác giả Agatha Christie.
Tên Trộm Xác Người - James Bradley
Tên Trộm Xác Người là tác phẩm thứ ba của nhà văn người Úc James Bradley, sinh năm 1967. Ông được nhật báo Sydney Morning Herald hai lần phong tặng danh hiệu là một trong “Những tiểu thuyết gia trẻ người Úc tài ba nhất”. Hiện ông sinh sống ở Sydney. Câu chuyện kể về Gabriel Swift, một sinh viên y khoa ngành phẫu thuật. Anh tới London vào năm 1826 để theo học với Edwin Poll, một bác sĩ phẫu thuật lớn. Từ những giao dịch mua bán tử thi, Swift dần lún sâu vào con đường tội lỗi do sự dụ dỗ của Lucan, kẻ nhiều quyền lực nhất trong số những tên đào trộm xác chết của thành phố và cũng là tên trùm cai quản hoạt động này. Bị bác sĩ Poll đuổi học, Gabriel bị cuốn vào thế giới ngầm tàn ác và bí ẩn của thủ đô London thời kỳ Georgian, trở thành một tội phạm. Dù sao, sự cứu rỗi đã đến với Swift ở phần cuối sách. Quyển tiểu thuyết dựa một phần vào sự kiện có thật về hai tên giết người hàng loạt Burke và Hare hồi đầu thế kỷ 19 ở Anh và các hoạt động mua bán xác người của các bệnh viện hay trung tâm phẫu thuật lúc bấy giờ. Truyện không phân theo chương nên khó theo dõi nếu bạn đọc không đọc liền một mạch. Rất cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Sài Gòn, tháng 4/2015 ★★★ “Chúng ta chào đời cùng người chết Thấy chăng, họ quay về, và mang chúng ta theo.” — T.S. Eliot, Four Quartets ★★★ “Nhiều tháng sau khi bạn đã khép lại trang sách cuối, những câu chữ của James Bradley vẫn còn đọng trong tâm trí bạn: Đẹp, hấp dẫn và không thể nào quên.”  — Markus Zukas, tác giả quyển The Book Thief “Một thiên tiểu thuyết lãng mạn kinh dị đầy chất cổ điển.”  — Daily Telegraph “Một quyển truyện kinh dị trần trụi, khơi gợi suy tư… Khi bạo liệt, khi đầy triết lý, quyển truyện này đầy ắp không khí.”  — Big Issue ★★★ London, 1826-1827 Họ nằm trong những cái bao tời như nằm trong tử cung của mẹ; gối chạm cằm, đầu ép xuống, như thể chết chỉ đơn giản là quay về với nhục thể mà từ đó chúng ta sinh ra, và đây là sự thụ thai lần thứ hai. Một sợi thừng sau gối giữ họ trong tư thế đó, một sợi khác cột đôi tay họ, rồi miệng bao khép lại bên trên họ và được cột ràng lần nữa, toàn thể trông như một gói đồ nén chặt, đã được ngụy trang một cách dễ dàng, vì nếu bị người bên ngoài nhìn thấy, một thứ hàng hóa như thế sẽ thu hút cả một đám đông. Thế rồi một con dao cắt phăng sợi thừng cột bao, và người này nhấc lên, người nọ kéo, chúng tôi lôi những thứ bên trong bao ra, đặt họ duỗi dài lên mặt bàn, trần truồng và giá lạnh, như một con bê hoặc một em bé chuồi ra khỏi lòng của mẹ, sợi dây và cái bao được giữ lại, vì một lát sau chúng tôi sẽ dùng lại chúng, để thu dọn những mảnh xác bị cắt rời. Chúng tôi cùng giữ chặt họ, kéo thẳng thi thể họ ra lần nữa. Dù tứ chi của họ không mềm quặt mà cũng không cứng lại, bất chấp sự giá lạnh vẫn còn nấn ná bên trong, tình trạng cứng đờ của họ đã bị phá vỡ bên cạnh nấm mồ khi họ bị bẻ gập lại và cột ràng để nhét vào bao. Lúc này, họ duỗi ra dưới bàn tay nắm giữ của chúng tôi, di chuyển với sự dễ uốn nắn lạ lùng của một thân hình nằm giữa cái chết và tình trạng thối rữa. Đấy là một công việc ghê tởm, thế nhưng sự ghê tởm không nằm ở việc đứng gần người chết mà ở sự thân mật nó đòi hỏi từ chúng tôi, sự cận kề với xác thịt và vật chất của thi thể họ. Khi họ đã được uốn nắn xong, nằm tái nhợt và trần truồng trên bàn, chúng tôi bắt tay vào việc. Trước hết chúng tôi lật úp họ xuống, để lộ phần lưng và mông lốm đốm tím và xanh giống như những vết bầm do máu đã tụ lại suốt nhiều giờ sau khi chết. Nếu lớp thịt bắt đầu thối rữa, sẽ có những chỗ phồng dộp, mềm, nhũn nước và tái nhợt, có thể vỡ toang nếu bị chạm vào, nhưng khi đó, lớp da cũng ẩm ướt do thứ chất lỏng giống như mồ hôi rỉ ra từ chúng. Đôi khi, những người liệm xác sẽ nút kín những lỗ hậu môn, và nếu thế, những vật đó phải được lấy ra khỏi xác. Sau đó, với giẻ lau, nước và dấm, chúng tôi bắt đầu rửa ráy cho họ, đôi tay cẩn thận di chuyển qua lớp da của họ, mùi dấm lẫn vào những thứ mùi u ám hơn bám vào họ, chúng tôi tiết chế những cử động nhưng không phải không lau chùi một cách nhẹ nhàng. Khi đã làm xong phần lưng và hai cẳng chân, chúng tôi lật họ trở lại, lau từ bàn chân lên háng, từ háng lên ngực, hai cánh tay và hai bàn tay, cuối cùng tới bộ mặt. Ở đây chúng tôi làm việc cẩn trọng nhất, lau quanh những đầu xương và chỗ nhô lên với những tấm giẻ gấp gọn, quanh đôi gò má, quanh phần trũng quanh mắt. Đôi khi hai mí mắt vẫn còn hé mở, cứng đờ, đôi mắt bên dưới mờ đục và không màu sắc như mắt của những người rất già. Khi lau rửa xong xuôi, chúng tôi xuống sân lấy nước, xà bông và dao cạo. Nước lạnh, dùng cho thi thể lạnh. Thế rồi, kéo thẳng lớp da chùng, chúng tôi bắt đầu cạo; trước tiên là phần da đầu và mặt, tóc ướt được tách thành từng lọn để lộ ra phần u lên của cái sọ; sau đó là lồng ngực và hai nách; rồi cuối cùng là bộ phận sinh dục, lưỡi dao cạo soàn soạt lướt trên lớp da. Đôi khi chúng tôi cắt phạm vào họ, nhưng chẳng có chút máu nào chảy ra, vết đứt tái nhợt và trống rỗng. Tôi không thể nói do đâu chúng tôi biết rằng đây là công việc cần phải được tiến hành trong im lặng. Chỉ biết cách thức là thế, phải luôn là thế. Vào những lúc khác chúng tôi di chuyển quanh họ như thể họ không nằm đó, nói cười với nhau trong lúc lôi kéo, cắt và dọn dẹp những mảnh thịt, gạt chúng sang bên một cách ngẫu nhiên giống như gạt sang bên một cuốn sách hay cái áo khoác đang nằm ở nơi ta định ngồi xuống. Nhưng lúc này chúng tôi lặng lẽ làm việc, không nói nhiều hơn mức cần thiết. Như thể việc rửa ráy người chết này chính là một nghi lễ: giống như người ta rửa sạch những thứ nhớt nhau từ lòng mẹ trên thân hình một em bé, chúng tôi chùi sạch mùi âm ty địa ngục khỏi những xác chết bị đánh cắp đó, đưa chúng mới tinh khôi vào thế giới. Khi công việc đã hoàn tất, mấy cái bao đã được gấp lại gọn gàng, mấy cái xô đã trút sạch nước, những tấm giẻ đã được vắt và phơi, bắt đầu tới việc tính tiền. Thầy chúng tôi kỹ lưỡng nhất trong việc lưu giữ sổ sách tiền nong, và số tiền trả cho Caley và Walker phải được ghi lại: tám đồng tiền vàng cho một xác đàn ông hay phụ nữ đã trưởng thành, hay thứ chúng tôi gọi là một cái lớn; bốn đồng tiền vàng cho một đứa trẻ con, hay một cái nhỏ; một siling mỗi phân Anh cho thứ mà chúng tôi gọi là một bào thai, hay một em bé dài chưa tới một bộ Anh. Và cứ vậy, trong lúc tôi lau sàn, Robert lặng lẽ tính toán trên cuốn sổ cái, ghi lại những khoản thanh toán, kiểm lại số tiền còn tồn trong hộp đựng tiền, gương mặt giấu sau một tấm mặt nạ lặng buồn mà anh luôn khoác lên khi nghĩ rằng mình không bị ai quan sát. ... Mời các bạn đón đọc Tên Trộm Xác Người của tác giả James Bradley.
Giả Thuyết Thứ 7 - Paul Halter
Một ngày nọ ở Luân Đôn, có hai người đàn ông tài ba danh giá quá chẳng để làm gì, đã chơi tung đồng xu để thách thức tài trí nhau. Theo đó người thắng phải gây ra một vụ án mạng kiểu gì cũng được, sao cho bản thân mình có đầy đủ chứng cứ ngoại phạm, còn các manh mối phạm tội sẽ đổ dồn vào người thua. Một âm mưu thoạt nhìn chỉ để cho vui, cuối cùng như hơi độc thổi bung ra trong không khí, xé toang lồng ngực bao nhiêu người khác, lại cũng làm ngạt thở chính mình. Bởi vì mạng người chưa và không bao giờ là thứ nên đem ra làm trò đùa cợt. Paul Halter, nhà văn trinh thám người Pháp, sở hữu gia tài gồm hơn 30 tiểu thuyết cùng các giải thưởng trong nước và quốc tế. Ông được ưu ái mệnh danh là “Bậc thầy của những căn phòng khóa kín”. Truyện của ông độc đáo vì đã xây dựng được những câu đố và âm mưu tội ác gần như không tưởng. Dùng tiểu thuyết “chuyên chở thông điệp xã hội, khám phá các vấn đề nhân đạo và triết học” cũng trở thành một điểm nhấn khó phai khi nói về Paul Halter. *** Khoảng 10 giờ tối, cảnh sát Edward Watkins đi ngang cung điện St. James như ông vẫn làm nửa tiếng một lần vào những buổi tối phải trực thế này. Nhiều năm qua, ông đã đều đặn thực hiện đúng lộ trình đó mà không gặp sự cố gì. Thi thoảng chạm trán một tay say xỉn có phần ngỗ ngược không thể bỏ qua, nhưng đám đó cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khu vực này rất yên bình, yên bình như cuộc đời cảnh sát viên của ông, khi ông đã đi mòn gót, tâm trí chỉ nghĩ về thời khắc nghỉ hưu sắp tới bên người vợ yêu quý của mình. Một cuộc đời chẳng có biến cố gì, thực vậy - cho tới đêm 31 tháng Tám năm 1938. Hai bàn tay đan chéo sau lưng, chiếc mũ cát kéo sụp xuống đầu, thứ âm thanh duy nhất ông nghe được là tiếng bước chân của chính mình trong cái khu vực đang say ngủ, chìm trong bóng đổ của những tòa nhà gớm ghiếc cao ngất bao quanh. Đêm khá lạnh và màn sương nhẹ lững lờ buông xuống phần mặt tiền đầy vẻ hăm dọa. Ông rẽ xuống phố King, đi được nửa chừng thì dừng lại ngó qua vai, như một việc rất bình thường. Đúng lúc ấy, ông nghe tiếng bước chân ở đâu kia phố King, ngay chỗ ngã tư với phố Bury. Nhưng khi vòng trở lại, ông chỉ thấy cái bóng của một kẻ qua đường, hắt lên bức tường cách đó hơn chín mét nhờ một ngọn đèn đường năm ở góc ngã tư. Cảnh sát Watkins đứng yên vài giây, miệng há hốc. Mặc dù chỉ thấy cái bóng trong một thoáng, ông cũng đủ nhận ra một điểm dị thường: Nó có cái mũi dài lạ lùng. Không phải dài hơn mức bình thường vài phân, mà dài một cách quái đản, dễ chừng bằng cả vành mũ rộng mà kẻ đó đang đội. Quỷ quái gì vậy? Một gã cải trang thành chim chăng? Edward Watkins đứng yên thêm vài giây nữa, tâm trí quay cuồng. Khi trấn tĩnh lại, ông rảo bước tới góc phố Bury và nhìn dọc xuống lối đi, vừa kịp thấy nhân vật kia sắp rẽ phải vào một hẻm ở quãng giữa phố, nơi hình như có thêm nhân vật khác đã đến từ trước. Watkins chưa xác định được nhân dạng của kẻ thứ hai, nhưng thoáng thấy thứ gì đó rất giống áo choàng. Diễn biến tiếp theo khá nhanh. Nhân vật kia, có lẽ bị đánh động bởi tiếng chân bước của viên cảnh sát, quay phắt lại đối diện với ông và, lộ rõ vè ngạc nhiên, nó vọt nhanh vào ngõ hẹp. Trong những tình huống bình thường, viên cảnh sát sẽ lập tức bám theo. Nhưng những gì ông vừa thấy - và đặc biệt là vào thời điểm đó - lạ lùng đến mức phải mất vài phút quý giá tâm trí ông mới phục hồi được. Nhưng các giác quan thì không hề phản bội ông và hình ảnh dị thường kia vẫn rõ rệt trong tâm trí: áo choàng dài đến mắt cá chân, đôi tay đeo găng, chiếc mũ rộng vành, và thay vì khuôn mặt, lại chình ình một chiếc mặt nạ trắng ởn mà ở chính giữa là cái mũi dài ít nhất cũng hơn ba mươi phân. Mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy hình ảnh ấy bằng xương bằng thịt, nhưng ông đã xem đủ minh họa để hiểu ra: Ông vừa nhìn thấy một bác sĩ dịch hạch. Một bác sĩ dịch hạch. Đã từng có dịch hạch ở Luân Đôn. Những câu chuyện về bệnh dịch khủng khiếp vụt qua tâm trí ông: Người chết nhiều như ruồi trên đường phố, quằn quại trong đau đớn, thân thể đầy mụn mủ, mí mắt thâm đen, gương mặt teo tóp. Xác chất đống lên xe đẩy, rồi trút xuống hào sâu bên ngoài thành phố, nơi một sự hoảng loạn không tên ngự trị, nơi gần như không thể trốn chạy, và nơi người sống trong những ngôi nhà bị nhiễm bệnh chết vì đói hơn là vì dịch hạch. Viên cảnh sát xua dòng ý nghĩ hắc ám ấy đi và định thần lại. Ba trăm năm nay không còn dịch hạch ở Luân Đôn, đã có nhiều hiện pháp hiện đại để kiểm soát nó. Hơn nữa, các bác sĩ không còn lang thang trên đường phố trong bộ trang phục kỳ dị này nữa. Người ông vừa nhìn thấy hoặc là một người đi dự tiệc hoặc một dạng tội phạm nào đó đang chuẩn bị ra tay. Không, như thế thật vô nghĩa. Có nhiều cách kín đáo hơn để che giấu nhân dạng. Vậy thì là gì chứ? ... Mời các bạn đón đọc Giả Thuyết Thứ 7 (Dr. Twist #6) của tác giả Paul Halter.