Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chỉ Một Tình Yêu

Một tác phẩm của Johanna Lindsey Câu chuyện xoay quanh những thân phận giả mạo, bí mật gia đình và một tình yêu vượt qua mối thù truyền kiếp 50 năm tại vùng đất hùng vĩ Montana trong những năm 1880. “Nhiều quý cô trẻ tuổi kết hôn vì tiền và địa vị xã hội, chỉ một vài trong số họ may mắn kết hôn vì tình yêu – nhưng Tiffany Warren sẽ kết hôn để hoá giải một mối cừu thù. Phải thực hiện giao ước của mẹ, Tiffany miễn cưỡng đi về miền Tây để gặp người cha chưa từng gặp mặt và con trai kẻ thù của ông, Hunter Callahan. Khi nhà Warren và Callahan được hợp nhất bằng một cuộc hôn nhân, cả hai gia tộc sẽ dừng cuộc tranh chấp dải đất từ bao lâu nay. Sự hỗn loạn của cuộc cướp tàu đã trao cho Tiffany một cơ hội quý báu. Giả danh người quản gia mà cha nàng thuê, nàng có thể sống với người cha nàng chưa từng biết để hiểu về con người ông và cả gã cao bồi hàng xóm mà nàng đã được đính ước. Nhưng rồi nàng muộn màng nhận ra mối thù giữa hai gia tộc lại càng sâu sắc hơn khi nhà Callahan cướp người quản gia của nhà Warren ngay khi nàng bước xuống tàu! Và nàng, Tiffinay, dưới thân phận của Jennifer Fleming, phải sống trong ngôi nhà của kẻ thù, cùng với hôn phu của mình. Để rồi nàng biết được rằng, chàng là một người đẹp trai, quyến rũ và ngọt ngào, người khiến nàng luôn phải cưỡng lại vì không thể rời mắt – và rời tay – khỏi Jennifer. Khi bị lật tẩy, Tiffany từ chối cưới Hunter để  hàn gắn mối thù. Trong lúc Hunter đi đòi lại cô dâu chính thức của mình, chàng hiểu rằng mặc dù chàng yêu hai người phụ nữ – một Tiffany chuẩn mực, thanh nhã, hay một Jennifer sôi nổi, nồng nàn – chàng chỉ có duy nhất một trái tim để chinh phục.” *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), Ngôi Sao Lạc Loài Chỉ Một Lần Yêu Nơi Em Thuộc Về Trái Tim Hoang Dã Yêu Lầm Anh? Tình Yêu Tìm Thấy Chỉ Một Tình Yêu The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** Rose Warren đã ngừng khóc trước khi con gái bà, Tiffany, mở cửa chính ngôi nhà sơn màu nâu trong thành phố, nhưng vẫn không thể dứt ra khỏi đầu câu nói đã làm bà phải rơi lệ. Đi cùng con bé đi, Rose. Đã mười lăm năm rồi, em hành hạ chúng ta như vậy còn chưa đủ hay sao? Bà thường cho phép cô con gái mới bước sang tuổi mười tám tháng trước đọc những lá thư của Franklin Warren. Frank thường giữ cho nội dung thư không quá riêng tư, để bà có thể đọc cùng với con gái của họ. Nhưng lần này thì không, bà vò lá thư lại rồi nhét vội vào túi áo khi nghe tiếng Tiffany vang lên trong sảnh. Con bé không hề biết lý do thật sự khiến cha mẹ không sống cùng nhau. Đến cả Frank cũng không biết lý do thật sự bà bỏ đi. Sau chừng ấy năm, tốt nhất là cứ để nó như thế thôi. “Tiffany, vào phòng khách với mẹ đi con!” Rose gọi trước khi Tiffiny bước lên phòng bà. Nắng chiều làm ánh lên mái tóc nâu đỏ của Tiffany khi nàng cởi mũ. Nàng rũ chiếc áo khoác mỏng ngắn ra khỏi vai khi bước vào phòng khách. Trời quá ấm áp để phải mặc áo khoác, nhưng một tiểu thư ở thành phố New York thì phải ăn mặc đứng đắn khi đi ra ngoài. Khi Rose nhìn Tiffany, bà từng tự nhắc mình rằng con gái bé bỏng của bà đã không còn bé nữa. Ngay cả khi Tiffany bước sang tuổi mười tám, Rose cũng đã từng hơn một lần ước con gái bà đừng lớn lên. Con bé đã cao hơn một mét bảy và thường xuyên phàn nàn vì chuyện đó. Tiffany thừa hưởng chiều cao của cha, Franklin, và cả đôi mắt màu xanh lục bảo nữa. Chỉ là, con bé vẫn không biết điều đó. Con bé có dáng người thanh nhã của Rose, nên lại càng xinh đẹp, nhưng màu tóc đỏ thì chỉ giống phần nào thôi. Màu tóc Tiffany nghiêng về ánh đồng hơn. “Mẹ mới nhận được thư của cha con.” Lặng thinh. Trước đây Tiffany rất thích đọc thư của Frank, nhưng đã từ lâu lắm rồi, kể từ khi con bé không hỏi khi nào cha đến thăm con nữa. Trái tim Rose tan vỡ khi thấy sự thờ ơ trong tình cảm của con gái bà với cha nó. Bà biết Tiffany không có kỷ niệm nào với cha. Con bé còn quá nhỏ khi cùng Rose rời khỏi Nashart, Montana. Rose biết lẽ ra bà phải để cha con họ gặp nhau trong những năm qua. Frank đã rất cao thượng khi cho phép các con trai về thăm bà, mặc dù bà thừa biết ông làm vậy là để làm bà cảm thấy day dứt vì đã không tạo điều kiện hay cho phép con gái họ gặp cha. Bà đã luôn lo sợ Frank không cho con gái quay về với bà nữa. Đó không chỉ là nỗi sợ mơ hồ, mà là cơn ác mộng khủng khiếp nhất của bà. Ông đã từng giận dữ đe dọa sẽ giữ lại con gái của họ. Ông đã mang vô số thứ ra để uy hiếp bà, hòng giữ cho gia đình của ông được đoàn tụ. Và bà không thể oán trách ông! Nhưng cũng không thể ngăn được điều đó, không thể được. Giờ đây bà phải đối mặt với nỗi sợ lớn nhất trong đời: một khi Tiffany đến Montana, Rose sẽ không bao giờ được gặp lại con nữa. Đáng lẽ ra bà phải kiên quyết bắt hôn phu của Tiffany đến New York đón con bé. Nhưng đó sẽ là giọt nước tràn ly đối với Frank. Ông đã tôn trọng ý muốn của Rose và tránh mặt trong suốt mười lăm năm trời, nhưng đây là thời điểm bà đã hứa để Tiffany quay về với vòng tay của ông. Lương tâm của bà không cho phép hai cha con chia cắt lâu hơn nữa. Tiffany dừng lại trước bà và chìa tay ra để đòi thư. Rose chỉ về phía ghế sofa. “Ngồi xuống đây con.” Tiffany nhướng mày khi mẹ không đưa bức thư cho nàng, nhưng cũng ngồi xuống cạnh Rose. Căn phòng rất lớn. Thành phố cũng rất lớn. Cha mẹ Rose là một gia đình giàu có đến từ cựu thế giới, toàn bộ tài sản của họ hiện giờ là của bà. Khi Rose từ Montana quay trở về cùng với cô con gái ba tuổi, bà mới biết rằng trong năm năm vắng nhà, mẹ bà đã trải qua nhiều trận ốm liên tiếp và bị liệt. Mẹ Rose chỉ sống được thêm bốn năm nữa, nhưng ít ra Tiffany cũng được biết bà ngoại của mình. Đó là một quãng thời gian đau khổ trong cuộc đời Rose. Bà đã phải từ bỏ chồng và ba con trai, và rồi sau đó lại mất luôn người mẹ của mình. Nhưng ít nhất bà còn có Tiffany. Bà hẳn đã phát điên vì thống khổ nếu bà cũng từ bỏ Tiffany. Nhưng ngày đó rồi cũng đã đến... “Lại đến lúc Nói Phải Quấy rồi hả mẹ?” Tiffany chán chường hỏi. “Con bắt đầu xấc xược từ lúc sang tuổi mới rồi đấy,” Rose cảnh cáo. “Nếu đó là cách mẹ muốn nói về sự oán giận vẫn đang gặm nhấm con thì cũng được thôi. Đó là xấc xược đấy.” “Tiffany-“ “Con không đến Montana đâu, mẹ. Con không quan tâm điều đó dẫn đến một cuộc đổ máu đâu. Con không quan tâm chuyện con cũng sẽ không bao giờ được gặp lại anh em con nữa. Con từ chối kết hôn với một người con chưa từng gặp.” Tiffany khoanh tay trước ngực và hất cằm thách thức. “Đó, con đã nói lời cuối cùng rồi và con sẽ không đổi ý đâu.” “Mẹ đồng ý với con.” Tiffany mở to mắt trước khi reo lên nhẹ nhõm. “Cảm ơn mẹ! Mẹ không biết được con đã đau khổ thế nào trước viễn cảnh –“ “Để mẹ nói hết đã. Mẹ đồng ý con sẽ không cưới một người không quen biết. Con sẽ đến Montana để gặp cậu ta. Con sẽ có vài tháng để hiểu về cậu ta. Nếu lúc đó con vẫn không thấy thích cậu ta, thì, mẹ đồng ý, con có thể hủy hôn và trở về New York trước khi thời tiết xấu đi. Mẹ hứa với con điều đó, Tiffany.” “Tại sao mẹ không hề cho con biết rằng con có quyền quyết định trong hôn ước mà cha mẹ sắp đặt cho con từ khi con còn là một đứa bé chứ?” “Vì mẹ đã hy vọng con sẽ thực hiện hôn ước đó một cách tự nguyện. Mẹ muốn con lớn lên và quen với ý nghĩ đó, mẹ hy vọng con có thể mong chờ điều đó.” “Nhưng Montana* thậm chí còn chưa phải là một nơi văn minh nữa kìa!” “Mình có thể nói chuyện mà không hét vào nhau không con?” Rose nói và khẽ cười, “Hạt Montana không hoang sơ như con nghĩ đâu. Mẹ cho là các anh con đã làm rõ điều đó cho con rồi chứ. Đó là một trong những nơi đẹp nhất mẹ đã từng thấy. Con chắc sẽ thích được ở đó mà.” “Con thích ở đây, nơi con lớn lên, nơi có bạn bè con, nơi con sống,” Tiffany lầm bầm, rồi cao giọng hơn, “nơi đàn ông không đeo súng ở hông bởi vì chẳng có gì, chẳng có người nào cần bắn cả. Sao mà mẹ có thể chấp nhận một thỏa thuận như thế chứ, mẹ?” “Mẹ là người đưa ra thỏa thuận đó.” Bà chưa bao giờ nói cho con gái biết điều đó, và thấy Tiffany mở to đôi mắt ngọc lục bảo, bà ước mình có thể giải thích bằng cách khác. Nhưng chẳng có cách nào cả. “Hóa ra mẹ là người ném con cho bầy sói à?” “Ôi trời ạ, Tiff, đừng thống thiết như thế chứ. Đó là điều duy nhất mẹ có thể nghĩ ra để chấm dứt mối thù giữa nhà Callahan và nhà Warren. Dải đất gần nguồn nước nằm giữa hai điền trang thậm chí cũng không phải nguyên nhân sâu xa, nhưng cả hai bên đều dùng nó để tiếp tục gây hấn với nhau, cả hai đều tranh giành nó về mình. Mẹ chưa bao giờ thấy cái gì ngu ngốc như thế, cả hai bên. Bất kỳ khi nào họ đến gần nguồn nước cùng lúc là có súng nổ. Nếu có con bò lạc nào đi đến gần, họ sẽ đuổi nó quay trở lại, chỉ để gây thêm nhiều vụ nổ súng hơn nữa. Hôn ước của con và Hunter Callahan sẽ chấm dứt sự tranh chấp đó.” “Vậy là mẹ gánh lấy trách nhiệm hóa giải mối thù mà mẹ không gây nên bằng cách hy sinh đứa con gái duy nhất của mình sao?” Rose cáu kỉnh. “Cho con biết, nhóc, Zachary Callahan là một trong những người đẹp trai nhất mẹ từng gặp. Và nhìn vào người vợ xinh xắn của ông ta, mẹ không nghi ngờ gì là những cậu con trai lớn lên cũng sẽ đẹp như thế. Mẹ không nghĩ con là vật hy sinh, mẹ chắc rằng con có thể e ngại vì lấy một người nhà Callahan làm chồng. Nhưng là người ngoài cuộc, mẹ nhìn nhận mọi việc theo cách khác. Những người cao bồi thường hiếu thắng, thậm chí độc đoán, đúng vậy, nhưng mẹ không nghĩ điều đó là lạ ở vùng đất ấy. Frank và Zachary chỉ là hai người đàn ông cứng đầu, mà không ai trong hai người muốn nhân nhượng nhau một inch nào. Mọi chuyện bắt nguồn từ một quá khứ đau buồn, và nguồn nước ở ranh giới hai miếng đất không giúp nó được kết thúc. Mẹ nhận định rằng gia đình Callahan không phải là những người xấu. Zachary có thể là một chủ trang trại hiếu thắng và bẳn tính, nhưng ông ta cũng nổi tiếng là một người chồng tận tụy và là một người cha tốt. Vậy đã là quá đủ cho một gia đình rồi.” “Mẹ không phải là người có thể kết thúc mối thù đó, mẹ. Tại sao mẹ còn thử chứ?” Mời các bạn đón đọc Chỉ Một Tình Yêu của tác giả Johanna Lindsey.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Theo Đuổi - Phạm Thanh Thuý
Phạm Thanh Thúy là cây bút nữ có lối viết già dặn, không xa lạ với độc giả yêu văn chương. Tác phẩm của cô thường đăng trên các báo, tạp chí văn uy tín trong nước. Nhân vật chính của Theo đuổi là Hàm Yên - một nhà văn trẻ. Suốt thời thanh xuân, Hàm Yên ôm ấp mối tình từ thuở thơ bé với người bạn thiếu thời tên Phố. Tình cảm đó trở thành một nỗi nhức nhối, ám ảnh cô trên mỗi bước đường đời. Duyên phận đưa Hàm Yên và Phố đến những cuộc gặp gỡ tình cờ. Hết lần này đến lần khác, họ để lỡ nhau. Hàm Yên luôn muốn gợi cho Phố nhớ về những ký ức thời thơ bé, trong đó có cả ký ức đau buồn về cái chết của bố mẹ anh. Ngược lại, Phố tìm cách quên đi. Họ cứ thế đi tìm bóng hình nhau. Khi đã ở bên nhau, họ lại làm tổn thương nhau bằng ký ức. *** Tôi đến Cẩm Xuyên vào giữa mùa mưa. Mưa suốt ngày suốt đêm, mưa gối ngày này sang ngày khác. Bầu trời gần như lúc nào cũng sũng nước. Vào những khi mưa ngớt, từ trên cung đường quanh co uốn lượn theo dáng núi, thấy phía xa xa những thác nước huyền ảo như những áng tóc buông dài của nữ chúa thượng ngàn. Rồi thình lình, hàng trăm con thác ấy đột ngột băng qua đường, tuyệt đẹp và hung hãn, dường như muốn ngốn ngấu lấy tất cả những vật thể bé nhỏ đang trườn trên lằn chỉ vắt ngang núi kia. Con đường nhỏ chìm lút trong làn mưa trắng xóa. Vượt qua hàng trăm con thác trữ tình ấy thì đến Cẩm Xuyên. Cẩm Xuyên nằm trên độ cao 1500 mét so với mực nước biển. Cảm nhận đầu tiên chính là lạnh. Cái lạnh của gió, của hơi nước khi những đám mây trườn trên những ngọn núi, luồn sâu vào từng kẽ lá, băng qua những cây cầu treo chênh chao bắc ngang lòng những con suối mùa mưa sục sôi gầm gào bất tận. Ở xứ này, lúc nào người ta cũng có thể nghe thấy tiếng thác nước tuôn ở đâu đó. Khu nhà cũ, tường vôi trắng loang lổ tróc từng mảng thảm hại, rêu xanh phủ dày trên mái ngói. Và căn phòng, vì lâu không có người ở, toát lên một mùi đặc trưng ẩm mốc, sự cô đơn, lạnh lẽo và nỗi buồn. Nỗi buồn dường như trú ngụ ở đó từ rất lâu, thấm vào từng mi-li-mét không khí. Có hai cửa sổ, tất cả đều sơn xanh, có sẵn một số đồ đạc thiết yếu, hẳn nhiều người đã từng sống ở đó. Phía sau là một đồi thông. Tôi nhận lời viết tự truyện cho một cựu quan chức. Một người đàn bà quyền lực, nay đã nghỉ hưu và hưởng thụ cuộc sống nhàn nhã sau cả một đời lăn lộn với chính trường. Tài liệu đã thu thập đầy đủ từ một năm trước, giờ tôi chỉ cần tìm một nơi gợi cảm xúc để viết thành một cuốn sách. Một thời gian dài chìm trong nỗi buồn sâu thẳm, tôi muốn đến Cẩm Xuyên. Và tôi đã đến, giữa mùa mưa, sẽ ở lại một thời gian nào đó, tùy thuộc vào tôi quyết định. ... Mời các bạn đón đọc Theo Đuổi của tác giả Phạm Thanh Thuý.
Phúc Lành Của Đất
Phúc lành của đất đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Tác phẩm đồ sộ này viết về những người nông dân Na Uy gắn bó hàng đời với đất đai, trung thành với những truyền thống cổ xưa. Tác giả kêu gọi con người trở về với đất. Con người cá nhân chủ nghĩa kiêu hãnh trước kia tưởng có thể "làm rung chuyển thế giới bằng sự va chạm của vài tư tưởng phi lý" đã kết thúc đời mình trong chủ nghĩa bi quan và bị cái chết ám ảnh. Với văn phong trong sáng, cách diễn đạt gây bất ngờ, Knut Hamsun được coi là một trong những người cách tân văn xuôi Na Uy. Trong bài phát biểu tại lễ trao giải, đại diện Viện Hàn Lâm Thụy Điển nói: "Những ai muốn tìm trong văn học sự mô tả chân thật hiện thực đều tìm thấy trong Phúc lành của đất câu chuyện về cuộc đời của mỗi một con người, dù anh ta ở nơi đâu, lao động ở nơi đâu". *** Nhà văn Knut Hamsun (4/81859 – 19/2/1952) tên thật là Knud Pederson. Ông chào đời tại xã Lom, huyện Gudbrandsdalen, (nay thuộc tỉnh Oppland) miền Nam Na Uy; là con thứ tư trong một gia đình nghèo đông con (bảy người con). Năm ông lên bốn, cả gia đình chuyển tới sinh sống tại quận Hamarøy, tỉnh Nordland, miền Bắc Na Uy. Từ năm lên chín, ông phải tới giúp việc cho ông chú đang làm việc tại một bưu cục, thường xuyên bị đánh và bỏ đói. Những chấn thương tinh thần và thể xác này đã khắc sâu dấu ấn trong ông và là nguyên nhân của những di chứng thần kinh mãn tính về sau. Năm 1874, ông bỏ trốn trở về Lom, và từ đó bắt đầu một cuộc sống lang thang phiêu bạt khắp đó đây, hai lần sang Mỹ (1882-1884 và 1886-1888); nếm trải đủ mùi khổ ải, làm đủ mọi thứ nghề ngỗng trên đời: thư ký tiệm tạp hóa, bán hàng rong, phụ chữa giày, phụ tá cho quan chức hành chánh xã, giáo viên tiểu học, và hàng chục thứ nghề không tên khác. Từ năm mười bảy tuổi, ông cũng bắt đầu tập tành viết lách. Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Tổng cộng ông đã viết trên ba mươi cuốn tiểu thuyết và nhiều tác phẩm kịch, thơ… Trong đó nổi bật nhất là: Đói (Sult-1890); Những điều bí ẩn (Mysterier-1892); Pan (Pan-1894); Victoria (Victoria -1898); Dưới ánh sao thu (Under Høststjærnen -1906); Gã lang thang chơi đàn không dây (En Vandrer spiller med Sordin-1909) ; Niềm vui cuối cùng (Den sidste Glæde-1912); Phúc lành của đất (Markens Grøde-1917); Trên lối mòn hoang (Paa gjengrodde Stier-1949)… Năm 1917, ông mua một điền trang ở Nørholm, miền Nam Na Uy, lui về đó sống một cuộc đời ẩn dật, viết văn và làm việc nông điền. Năm 1920, ông đoạt giải Nobel văn chương nhờ bộ tiểu thuyết Phúc lành của đất . Xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, sự oán ghét chủ nghĩa tư bản hiện đại của bản thân và do hâm mộ truyền thống tư tưởng Nietzche trong chủ nghĩa Phát xít cũng như đã có sẵn cảm tình với Đức do chính nghĩa của nước này trong Thế chiến I, trong lúc đó công luận tại Na Uy lại nghiêng về Anh và Pháp, dần dần trong ông đã hình thành một cảm tình sai lệch với chủ nghĩa xấu xa này. Năm 1932, ông gặp Hitler và Joseph Goebbels – Bộ Trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc Xã. Dù không bao giờ gia nhập Đảng Phát xít, ông đã có những hành động và phát ngôn bày tỏ rõ rệt thái độ ủng hộ Đức của mình, chẳng hạn như tuyên bố với những người đồng bào rằng: “Tất cả chúng ta đều là người Đức” trong thời gian Đức chiếm đóng Na Uy, hoặc công khai viết lời ca tụng Hitler khi nghe tin ông này chết rằng: “Ông ấy là một chiến binh, một chiến binh của nhân loại, và một nhà tiên tri của nền công lý đối với mọi quốc gia.” Sau Thế chiến II, ông bị công chúng ghét bỏ; do được coi là bị bệnh tâm thần nên ông không phải ngồi tù mà chỉ bị phạt tiền 80.000 đô la Mỹ (1947). Kể từ đó cho tới khi lìa đời, ông sống trong cảnh lẻ loi nghèo khổ, bị mọi người xung quanh xa lánh. Ngày 19-2-1952, Knut Hamsun qua đời ở thị trấn Grimstad, miền Nam Na Uy, hưởng thọ 92 tuổi. Hồi đầu năm 2009, khi Na Uy phát hành đồng tiền mệnh giá 200 Kroner (khoảng 500.000 đồng VN) in hình ông và tiếp sau đó là những hoạt động trọng thể tưởng niệm 150 năm ngày sinh của Hamsun, đã có nhiều quan điểm gay gắt phản đối từ nhiều nước trên thế giới. Dĩ nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều ý kiến đồng tình, biện minh cho những hoạt động nói trên. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Sài Gòn, 3-2010 Nguyễn Thành Nhân Mời các bạn đón đọc Phúc Lành Của Đất của tác giả Knut Hamsun.
Cuốn Sổ Màu Xanh - James A. Levine
Tôi tên là Batuk. Năm nay 15 tuổi, tôi có một cái ổ tại Đường Chung ở Mumbai. Tôi đã ở đây 6 năm và được ban tặng một nhan sắc xinh đẹp cùng một cây bút chì. Cuốn Sổ Màu Xanh mở đầu bằng trang đầu tiên nhẹ nhàng như thế. Nhẹ nhàng, nhưng là để che giấu một câu chuyện tàn khốc và gây phẫn nộ khi nhân vật chính của nó, một cô bé, bị biến thành gái điếm khi em mới chỉ 9 tuổi. Một cuốn sách nhỏ, về một cô gái nhỏ sống trong cái ổ của mình cùng những đứa trẻ khác với công việc "làm bánh" đầy tủi hổ và nhục nhã. Cuộc đời Batuk cũng như cuộc đời hàng chục đứa trẻ khác, cả nam lẫn nữ, bị mua bán, bị lạm dụng, bị bóc lột cơ thể vì lợi ích của những người lớn nhẫn tâm chôn vùi các em xuống bùn. Lối thoát của em, cuốn nhật ký, không chỉ là một câu chuyện mà còn là một hiện thực được thể hiện bằng văn chương và những câu chuyện hư cấu. Ở đó em được sống với tâm hồn bay bổng, với bình yên và những hy vọng. Cuốn Sổ Màu Xanh không êm đềm như cái tên nó làm nhiều người lầm tưởng. Những trang sách dễ dàng khiến người đọc bị ám ảnh, vì số phận con người, vì ước vọng chan chứa của một cô bé 15 tuổi không thể thoát khỏi số phận mình, vì những giá trị lớn lao Batuk đã dùng cuộc đời mình trả giá và gửi thông điệp đến nhân loại. "Cuốn sổ màu xanh" là hình ảnh cô đọng về thân phận của những đứa trẻ hành nghề mãi dâm ở Ấn Độ, mà nhân vật chính là cô bé Batuk 15 tuổi bị người cha ruột của mình đem từ miền quê lên bán cho một ổ chứa ở thành phố Mumbai. Ở đó ngoài công việc tủi nhục, cô chỉ còn một cách duy nhất để giải trí, và cũng là để tìm thấy những khao khát sâu thẳm tâm hồn cô, đó là viết nhật ký. Một cách để cô duy trì cuộc sống. Chúng ta nhận được từ cô bé - không chỉ là những lời gởi gắm tuyệt vọng mà còn là sự thức tỉnh của lương tâm. Tác giả James A. Levine là bác sĩ người Anh. Trong chuyến đi thực tế ở thành phố Mumbai, ông đã nhìn thấy một bé gái mại dâm đang viết, và hình ảnh đó đeo đuổi tâm trí khiến ông viết nên tác phẩm này. *** "Cuốn sổ màu xanh là một câu chuyện gây xúc động sâu sắc và lời nhắc nhở đầy nhiệt huyết về tinh thần kiên cường của con người. Nó là một bằng chứng cho thấy việc ghi chép có thể mang đến ý nghĩa cuộc sống và giúp người ta vượt qua những hoàn cảnh đau khổ nhất. Tiếng nói của Batuk, cô bé bán dâm dũng cảm, sẽ lắng đọng mãi trong lòng người đọc." - Khaled Hosseini, tác giả của The Kite Runner và A Thousand Splendid Suns *** Tôi được nghỉ ngơi. Bà Mamaki Briila rất hài lòng. Tôi đã làm việc cật lực suốt buổi sáng nên khi tôi nói với bà là tôi mệt quá, bà mỉm cười: “Nghỉ ngơi đi, bé con Batuk. Hôm nay sẽ là một ngày phát đạt”. Thật ra, tôi không mệt mỏi gì lắm. Tôi tên là Batuk. Năm nay 15 tuổi, tôi có một cái ổ tại Đường Chung ở Mumbai. Tôi đã ở đây 6 năm và được ban tặng một nhan sắc xinh đẹp cùng một cây bút chì. Nhan sắc của tôi là do trời cho, còn cây bút chì thì trước kia bà Mamaki Briila, bà chủ của tôi, thường giắt trên tai. Hai đêm trước, tôi thấy cây bút chì của bà Mamaki bị rơi xuống đất. Lúc đó tôi vừa mới “làm bánh” xong và bà ta lăng xăng đến cái ổ của tôi với một nụ cười rộng hoác. Bà cúi xuống, véo má tôi và hôn lên đầu tôi. Khi bà nghiêng người xuống, bộ ngực đồ sộ của bà như muốn đập vào mặt tôi và tôi có thể nhìn thấy những giọt mồ hôi lấp loáng trên đó. Bà cũng có mùi như chúng tôi, nhưng tệ hơn. Bà phải đưa tay chống lưng và lảo đảo một chút thì mới đứng dậy được. Bộ ngực của bà đung đưa như những con thú con đang bám vào cổ bà nhảy múa. Bà rút cây bút chì sau tai và kéo ra một cuốn sổ tay nhỏ màu vàng từ nếp áo trong của bộ áo sari (hoặc có thể từ nếp da của bà không chừng). Khi mở cuốn sổ ra, bà nhìn xuống tôi và nở một nụ cười làm giãn rộng gương mặt đỏ như một cục gạch khô nhúng nước. Bà ghi chép gì đó vào cuốn sổ với những cái vẫy bay bướm của bàn tay múp míp. Bà ngọt ngào nói: “Bé con Batuk, ta rất mến con. Ta tưởng tối nay con sẽ làm cho ta thất vọng nhưng con đã khiến ta yêu mến con chỉ trong một giờ”. Tôi nghĩ hẳn bà sắp sửa nhắc nhở tôi về sự tử tế ngàn lần của bà, nhưng bà bị cắt ngang bởi một tiếng thét của Puneet. Puneet là bạn thân nhất của tôi và có một cái ổ nằm cách tôi hai gian. Puneet hiếm khi kêu la, không như Công chúa Meera, cô nàng than khóc liên tục mỗi lần “làm bánh”. Puneet chỉ rên khi buộc phải rên và tiếng thét mà anh thốt ra vào lúc đó có thể khiến đá vỡ đôi. Đó là một tiếng thét chói tai và duy nhất, không phải của sự đau đớn thể xác, vì Puneet không cảm thấy đau đớn, mà là sự kinh hoàng. Bà Mamaki cũng biết điều đó. Puneet có giá trị hơn tất cả chúng tôi vì anh là con trai. Tiếng thét của Puneet xé toang màn đêm yên tĩnh của con đường và nụ cười biến mất khỏi gương mặt bà Mamaki như một đồng xu rơi xuống đất. Bà quay đôi mông to như mông bò vào mặt tôi và chạy vụt ra khỏi cái ổ của tôi. Thật ấn tượng khi một sinh vật như bà có thể di chuyển với tốc độ nhanh đến thế. Khi bà chạy đi, chiếc đuôi áo sari bay phần phật khiến tôi nhớ đến những tấm nhựa mà người ta dùng để che chắn cây trồng dưới ánh nắng mặt trời mùa hè. Đó là lúc cây bút chì rớt khỏi tai bà Mamaki, vành tai bóng nhẫy bởi một nhãn hiệu kem xoa người đặc biệt. Bà Mamaki không biết cây bút chì đã rớt xuống sàn cái ổ của tôi, nảy lên vài lần rồi nằm im. Tôi búng người khỏi giường và gieo mình lên nó. Cây bút chì là của tôi, trời ban cho tôi. ... Mời các bạn đón đọc Cuốn Sổ Màu Xanh của tác giả James A. Levine.
Xe Lên Xe Xuống - Nguyễn Bình Phương
Tác phẩm này đã được xuất bản ở Việt Nam do NXB Trẻ phát hành tên là Mình và Họ.  Xe Lên Xe Xuống là cuốn tiểu thuyết mới của Nguyễn Bình Phương, là câu chuyện kể về quá trình đi lên đi xuống của Hiếu – người em của một tù binh trong chiến tranh biên giới phía Bắc đi tìm lại quãng đường chiến trận mà anh mình đã trải qua năm 1979 thông qua những ghi chép rời rạc trong nhật ký để lại. Lồng trong câu chuyện là chuyện kể về biên giới hôm nay trong chuyến đi lên với những đổi thay nhưng vẫn đượm đầy không khí của quá khứ oanh liệt tháng 2-1979 và sự kiện năm 1984. Bên cạnh là câu chuyện đi xuống được dẫn dắt từ sự kiện thủ ác của Hiếu và người tình trên chuyến xe áp giải. Và nổi trội hơn cả là câu chuyện chiến đấu ngoan cường của quân và dân vùng biên Tuyên Quang trong sự kiện 1979-1989. Xe Lên Xe Xuống vì thế không là chuyện của quá khứ mà là của hôm nay với bao nhiêu trở trăn và bất cập, mà điểm xuyết là cảnh quan núi rừng biên giới với bao vẻ hoang sơ và trầm mặc. Xe Lên Xe Xuống là truyện trong truyện được cài cắm một cách thông minh dười ngòi bút của Nguyễn Bình Phương. *** Xe xuống chậm một cách thận trọng. Mặt trời chậm chậm lăn theo lưng núi. Ðám người mặt lạnh đanh này cũng thở chậm dần. Những chớp mắt của Trang trở nên lờ đờ hơn. Tất cả đều chậm lại sau cú bay thảng thốt tuyệt mỹ của mình. Lúc ấy mình không hình dung đó là cú bay qua nhiều ngọn cây và đá. Mình cũng không ngờ rồi mọi thứ lại nhẹ nhõm đến thế này. Mình chỉ nghĩ anh đã sơ sểnh chủ quan, anh không quyết định dứt khoát nên mới bị họ vồ được. Mình không muốn lặp lại sai lầm của anh, cả của mẹ nữa. Ðừng bao giờ để bị bắt, anh đã ghi câu ấy bằng nét bút dằn đậm. Vừa mới đây, mình còn đứng sát cột mốc, hình dung xem anh quay lại bằng cách nào... Có thể anh vác đại trưởng vòng từ bên trái, chỗ có hai gồ đá giống hai bậc lớn, cũng có thể anh theo cái lối mòn chếch đó một đoạn để lên. Nhưng dù đường nào trở về thì anh cũng không thể biết rằng bọn họ đã phục sẵn ở đó. Mình vừa hình dung vừa thấy chờn chợn, không rõ vì sự hình dung hay vì cái gì khác. Hắn cau có cúi xuống nhặt cỏ may bám đầy ống quần, miệng vẫn ngậm điếu thuốc và khói dờ dật uốn lên. Nhìn theo khói nên mình phát hiện ra cái đám mây lạ lùng ngay trên đầu. Ðám mây ngũ sắc, có những tia sáng chói bắn tóe ra, giống chiếc nơm đang úp thẳng xuống. Mình biết không thể chụp ảnh đám mây vì mặt trời ngự sau lưng nó. Ðó là đám mây cô đơn nhất mình từng thấy trong cả chuyến đi này. Chiếc máy ảnh trên tay mình thành vật vô dụng dù nó đang chứa rất nhiều những đám mây khác. Mình định chỉ cho Trang nhưng thấy Trang mải nghe bí thư huyện đoàn nói nên thôi. Ðiều khiến mình bất ổn là đám mây gần như không di động, cứ lì lù một chỗ. Mình thấy hơi bức bối, có lẽ vì độ cao. Lái xe đi tới đi lui, thi thoảng lại thục chân vào lốp xe để kiểm tra. Không có sự phân hai ngả như lời bí thư huyện đoàn giới thiệu lúc trước. Ở hai phía cột mốc, cây vẫn mọc thẳng và chúng chẳng mảy may hé lộ điều gì bên trong. Mình như đang đứng trước một chiếc gương lớn, chẳng phân biệt nổi bên này với bên kia. ... Mời các bạn đón đọc Xe Lên Xe Xuống của tác giả Nguyễn Bình Phương.