Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Phía Sau Tội Ác

"Cuộc sống lúc tốt đẹp thì rất dễ để hưởng thụ, nhưng giá trị chân thật của một con người lại được đo đếm theo cách người ta hành động khi gặp phải điều bất hạnh trong đời". Trước hôm Hội Trinh Thám tổ chức minigame để thắng cuốn sách mới xuất bản trong loạt sách về Amos Decker, Biển đã bỏ cả ngày tìm hiểu rất kỹ về tác giả David Baldacci, nhờ vậy biết thêm rằng cuốn “Phía sau tội ác” của ông ấy được xuất bản đã rất lâu, giờ trở thành sách cũ hiếm. Với lòng ưa thích nồng nhiệt dành cho truyện của Baldacci, Biển tìm mượn bằng được để đọc. Nhưng sách hay cũng như món ăn ngon, phải dè sẻn, ăn lâu hết để từ từ thấm nhuần cái ngon của nó, nên Biển ngâm cuốn này khá lâu, chờ khi tâm thân không ổn mới lấy ra đọc. “Phía sau tội ác” mở đầu hấp dẫn với cảnh người tù Rufus Harms sau 25 năm bị giam oan uổng trong nhà tù quân đội Fort Jackson thì đã liên hệ với luật sư của mình là Samuel Rider để lén gửi một lá thư đến Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Tiếc thay, xung quanh Rufus Harms có cả mạng lưới kẻ xấu theo dõi, nên khi Michael Fiske – thư ký ở Tòa án Tối cao – tình cờ đọc được lá thư và lái xe vượt cả quãng đường xa đến nhà tù để gặp trực tiếp Rufus, thì đó cũng là chuyến đi cuối cùng trong đời Michael. Sau cái chết không minh bạch của Michael, bạn của anh là Sara Evans – cũng là thư ký Tòa án – cùng với anh trai của Michael là John Fiske và một số người khác thuộc lực lượng hành pháp tiến hành điều tra. Sara và John sớm phát hiện rằng họ đang bị gây rắc rối nghiêm trọng bởi một số kẻ giấu mặt nguy hiểm, và tình hình càng tồi tệ hơn khi viên luật sư Samuel Rider cùng vợ cũng bị sát hại. Sau những cuốn Baldacci mà Biển đã đọc thì Biển thấy cốt truyện của ông thường phức tạp, nhiều tình tiết đan xen, không thiếu bước ngoặt bất ngờ. Nói theo kiểu truyện Tàu thì nhân vật chính thường bị “ngược”, bị đẩy vào tình huống oan uổng, bị kết tội phản bội đồng đội, bị truy nã… Và suốt diễn biến truyện thì họ phải vừa tìm cách chứng minh sự trong sạch của bản thân vừa đối phó bọn xấu, có khi còn phải giải cứu cả một tổ chức hoặc một quốc gia khỏi bị tận diệt. Cuốn nào cốt truyện đơn giản (như cuốn True Blue) thì nhịp truyện lại chậm và buồn ngủ. Vừa đọc đến chương II của “Phía sau tội ác” thì Biển thầm nghĩ cuốn này khá giống truyện của John Grisham, vì bối cảnh là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, nhân vật chính cũng toàn những người làm trong tòa án như chánh án, thẩm phán, luật sư, thư ký cao cấp của thẩm phán… Tuy cũng có nhiều đoạn Biển đọc lướt (nhất là những đoạn hội thoại hơi dài dòng và không hữu ích lắm đối với việc hiểu cốt truyện) nhưng phải công nhận “Phía sau tội ác” không buồn ngủ như một số truyện của John Grisham (xin lỗi người hâm mộ của John Grisham vì Biển nói truyện của ông buồn ngủ). Ý tưởng của truyện có phần mới lạ, lẽ ra sẽ rất bốc nếu Badacci viết ngắn gọn và kịch tính hơn. Tuy vậy, sau khi lược bỏ những đoạn dài dòng không cần thiết, chỉ tập trung vào cốt truyện thì Biển phải tấm tắc thừa nhận rằng đây là một cuốn trinh thám hay, đáng đọc. Nói đến trinh thám pháp lý thì người đọc sẽ lập tức nghĩ truyện có những cảnh cãi nhau trên tòa. “Phía sau tội ác” không có nhiều cảnh cãi nhau trên tòa nhưng vì hầu hết nhân vật làm việc trong ngành luật nên truyện nêu nhiều vấn đề liên quan đến luật pháp Hoa Kỳ. Biển nghĩ thông điệp mà tác giả David Baldacci muốn gửi gắm trong truyện là con người phải biết dùng luật pháp để đối xử công bằng và nhân văn đối với đồng loại, chứ không phải áp dụng luật khắc khe, cứng nhắc để dồn ép hãm hại người khác hoặc khư khư giữ cách làm sai trái của riêng mình. Truyện cũng đưa vào vấn đề phân biệt chủng tộc – màu da, tình thân và xung đột giữa các thành viên trong gia đình, những sự lựa chọn khó khăn để sống đúng với lương tâm của mình… “Phía sau tội ác” không phải một cuốn trinh thám mì ăn liền để đọc giải trí nhẹ nhàng mà phải đọc chậm rãi, nhớ kỹ tên + mối quan hệ giữa các nhân vật để đọc không bị loạn hoặc nhầm. Phần dịch thuật tốt, trình bày còn thô sơ nhưng rõ ràng dễ đọc. *** David Baldacci sinh ra và lớn lên tại Richmond, Virginia. Ông là người gốc Ý. Sau khi tốt nghiệp trường trung học Henrico, ông nhận bằng cử nhân Đại học Virginia Common Wealth và bằng luật của Đại học Virginia, sau đó ông hành nghề luật chín năm ở Washington, DC. Baldacci bắt đầu viết những câu chuyện khi còn là một đứa trẻ, ông sử dụng máy tính xách tay mà mẹ mua cho mình để ghi lại chúng. Ông đã viết hơn hai thập kỷ, chấp bút viết truyện ngắn và kịch bản phim nhưng không thành công lắm. Trong khi hành nghề luật sư, ông đã chuyển sang viết tiểu thuyết, tốn ba năm để viết Absolute Power, được xuất bản năm 1996, và đó là một cuốn bán chạy nhất lúc đó. Ông đã viết 25 cuốn tiểu thuyết best seller cho người lớn cũng như ba cuốn tiểu thuyết cho trẻ em. Baldacci và vợ ông, Michelle, là người đồng sáng lập của Wish You Well Foundation, trong đó hoạt động để chống nạn mù chữ ở Hoa Kỳ. Baldacci cũng đã tham gia National Multiple Sclerosis Society sau khi em gái của mình, tác giả Sharon Baldacci, được chẩn đoán mắc MS. [MS viết tắt của MULTIPLE SCLEROSIS: bệnh xơ cứng rải rác] Baldacci cư trú ở Vienna, Virginia với vợ và hai đứa con của họ. Tiểu thuyết của Baldacci đã được dịch ra hơn 45 thứ tiếng và bán ở hơn 80 quốc gia. Hơn 110 triệu bản của cuốn sách của ông được in trên toàn thế giới. Tác phẩm: Bộ Sưu Tập Tội Ác - David Baldacci Bí mật Núi sát nhân - David Baldacci Hoa Hồng Máu - David Baldacci Sát Thủ Lạnh Lùng - David Baldacci Truy Tìm Sự Thật - David Baldacci Tay Súng Cuối Cùng - David Baldacci Phía Sau Tội Ác ... *** Ở nhà tù này, cửa sắt thường dày tới hàng insơ(Đơn vị đo chiều dài Anh, bằng 2,54 cm - N.D). Khi mới ra lò ở nhà máy, chúng càng nhẵn nhụi bao nhiêu thì bây giờ càng mang trên mình nhiều những vết lõm ngang dọc bấy nhiêu. Dấu vết va đập của mặt người, của đầu gối, cùi tay, răng cùng những vệt máu khô in hằn khắp trên những bề mặt màu xám. Chúng giống như một hệ thống chữ tượng hình riêng của nhà tù, thể hiện nỗi đau đớn, sự sợ hãi và cái chết, tồn tại vĩnh cửu nơi đây, ít nhất cho tới khi những tấm sắt mới được mang tới thay thế. Mỗi cánh cửa đều có một ô vuông mở ra ngang tầm mắt. Trong những ca trực của mình, lính canh tù thường ghé mắt qua cái khoảng trống bé xíu đó rồi rọi đèn sáng chói vào những con vật hình người bên trong. Chẳng hề báo trước, những thanh dùi cui bất cứ lúc nào cũng có thể thình lình nện mạnh, kèm theo không bao giờ thiếu tiếng lách cách của súng lục. Giỏi chịu đựng là những tù nhân già đời, những kẻ dù có chú ý lắng nghe nhưng vẫn tiếp tục giả tảng nhìn xuống nền nhà, trông như đang trầm tư suy ngẫm chẳng về bất cứ điều gì bằng một thái độ bất chấp đầy tế nhị. Lũ "lính mới" vẫn luôn căng thẳng mỗi khi tiếng động hoặc ánh sáng đột ngột ập tới, một số kẻ còn són nước tiểu xuống chiếc quần cotton và đứng đó nhìn dòng nước chầm chậm thấm tới đôi giày bè bè màu đen bên dưới. Nhưng rồi tất cả đều sẽ qua, tất cả đều phải dần quen với tiếng sập mạnh của những ô cửa đáng nguyền rủa, tất cả đều học được cách kìm nén những giọt nước mắt trẻ con cùng những cơn đau quặn ở bụng. Nếu như còn muốn sống sót. Khi đêm xuống, bóng tối bao trùm khắp các xà lim, không quên tạo nên những hình thù kỳ quặc nhảy nhót trên các bức tường. Đêm nay đang có một cơn bão với sấm sét kèm theo mưa lớn trong vùng. Qua những ô cửa sổ nhỏ làm bằng kính plêxi, mỗi tia chớp chói sáng nhào xuống từ bầu trời lại rạch vỡ màn đêm trong xà lim thành muôn vàn mảnh sáng. Đi cùng với mỗi tiếng sấm, trên những bức tường đối diện lại loé lên hình ảnh phản chiếu của mạng dây kim loại nhằng nhịt hình tổ ong giăng kín phía ngoài tất cả các ô cửasổ. Trong cái ánh sáng chập chờn ấy, khuôn mặt một người đàn ông nổi lên trên nền tối như một mũi thuyền đột ngột rẽ đôi bề mặt nước. Không giống tù nhân trong các xà lim khác, anh luôn ngồi một mình, suy ngẫm một mình và không nhìn đến một ai. Các tù nhân khác khiếp sợ anh. Cả lính gác ngục cũng vậy, cho dù họ được trang bị vũ khí tận răng, vì anh là một con người có vẻ ngoài đầy hăm doạ. Khi anh đi qua những tù nhân hung đữ và chai cứng lì lợm nhất, tất cả đều phải nhanh chóng cụp mắt nhìn đi nơi khác. Tên anh là Rufus Harms, nổi danh ở nhà tù quân đội Fort Jackson này như một kẻ huỷ diệt, sẵn sàng nghiền nát bất cứ kẻ nào tấn công mình. Harms không bao giờ tấn công trước, nhưng luôn luôn là người kết thúc. Hai mươi lăm năm giam cầm trong tù để lại nhiều dấu ấn trên cơ thể anh. Giống như những vòng tuổi trên thân cây, những vết cào rách trên da, những chỗ gãy xương còn chưa lành hẳn như một cuốn niên giám minh chứng cho thời gian bị cầm tù của Harms nơi đây. Nhưng những tổn thương tồi tệ hơn thế lại chính là những ký ức, suy nghĩ, tình yêu, lòng hận thù, nỗi sợ hãi nằm sâu trong tâm trí. Tất cả đều nhơ nhuốc và thù địch với anh. Mạnh hơn tất cả, ký ức chính là khối u nhọt đau đớn nhất ngày đêm thúc vào từng thớ thịt trong Harms. Mặc dù vậy, đôi cánh tay dài đầy sẹo cùng đôi vai đồ sộ trong cái thân hình to lớn của Harms vẫn chứng tỏ sự tồn tại thực sự của một sức mạnh vững chắc. Ngay chỗ thắt lưng to lớn cũng đã đủ hứa hẹn một năng lượng khác thường trong anh. Harms vẫn như một cây sồi đứng nghiêng một phía, vươn lên mạnh mẽ với những rễ cây mọc chồi lên khỏi mặt đất, bất chấp nhiều cành lá bên trên đã hoặc đang chết. Con người anh là tổng hợp của những đặc tính trái nghịch nhau: một người đàn ông lịch thiệp, biết tôn trọng người khác, biết trung thành với Chúa và một kẻ giết người nhẫn tâm. Cũng vì thế mà lính gác ngục cùng đám tù nhân không dám dính vào Harms và anh vẫn từng bằng lòng với điều đó. Cho tới ngày hôm nay ! Anh trai anh đã mang tới một điều gì đó cho anh. Một gói vàng, một làn sóng hy vọng. Một con đường thoát khỏi nơi này. Một luồng ánh sáng loé lên làm lộ ra cặp mắt đỏ ngầu như đang chảy máu nhưng cũng không che giấu nổi những giọt nước mắt đang chảy dài trên khuôn mặt nặng trĩu và u ám của anh. Harms vuốt phẳng mảnh giấy khi bóng tối bao trùm trở lại, cố gắng không gây ra tiếng động nào vì những tiếng sột soạt sẽ chẳng khác gì lời mời chào lính gác ngục tới dò la tìm kiếm. Trời đã tối được vài giờ. Harms không thể đảo ngược được điều đó nhưng anh cũng đã kịp vừa đọc hết bức thư vừa nuốt lấy từng âm tiết. Mỗi từ ngữ như một cơn ớn lạnh cắt vào da thịt khiến anh phải rùng mình. Huy hiệu của Quân đội Hoa Kỳ in đậm nét ngay góc trên của tờ giấy. Harms quá quen với biểu tượng này vì đó là người chủ, người cai quản trại tù đối với anh đã gần ba mươi năm nay. Mời các bạn đón đọc Phía Sau Tội Ác của tác giả David Baldacci.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Điệp Viên Yêu Chúng Ta: Chiến Tranh Việt Nam Và Trò Chơi Nguy Hiểm Của Phạm Xuân Ẩn - Thomas A. Bass
Cuốn này đã được Nhã Nam xuất bản với tựa đề Điệp Viên Z.21 Kẻ Thù Tuyệt Vời Của Nước Mỹ “Đây là câu chuyện xuất sắc về một con người và thời đại của ông. Nó càng củng cố thêm cho cảm giác của tôi khi gặp ông trong giai đoạn cuối đời của ông rằng Phạm Xuân Ẩn là một trong những người ấn tượng nhất mà tôi từng gặp. Ông là con người của trí tuệ, lòng can đảm và tình yêu đất nước nồng nàn. Ông cũng là - mặc dù có vẻ thật trớ trêu khi nói ra điều này trong hoàn cảnh hiện nay - một con người của sự chính trực phi thường. Ông yêu chúng ta ở khía cạnh tốt đẹp nhất trong khi lại đối đầu với chúng ta ở khía cạnh tồi tệ nhất.” - Daniel Ellsberg, tác giả của Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers (Những bí mật: hồi ức về Việt Nam và tài liệu mật của Lầu Năm Góc) “Thomas Bass kể một câu chuyện tuyệt vời về mưu mô[1], nghề gián điệp và tình bạn. Cuốn sách của ông được viết như thể nó đến từ những bến bờ xa xôi nhất của sự hư cấu, và hẳn tôi sẽ không bao giờ tin nổi lấy một từ nào nếu như chính tôi không gặp rất nhiều nhân vật trong đó và không biết câu chuyện để tin rằng nó có thực và không biết câu chuyện đó có thực hay không.” - H. D. S. Greenway, biên tập viên, The Boston Globe, và là phóng viên chiến tranh Việt Nam cho tạp chí Time và báo Washington Post “Mỗi cựu binh, mỗi học giả, mỗi sinh viên, bất kỳ ai từng sống qua cuộc chiến tranh Việt Nam đều được khuyên đọc cuốn sách này và suy ngẫm về thông điệp của nó. Trong cuốn tiểu sử rất sâu sắc và kích thích này về một trong những điệp viên thành công nhất trong lịch sử, Thomas Bass thách thức một vài giả định cơ bản nhất của chúng ta về những gì đã thực sự xảy ra ở Việt Nam và về ý nghĩa của nó đối với chúng ta trong hiện tại.” - John Laurence, phóng viên chiến tranh Việt Nam cho CBS News và là tác giả cuốn The Cat from Huế: A Vietnam War Story (Con mèo Huế: một câu chuyện chiến tranh Việt Nam). * Gã cảm thấy mình đang vĩnh viễn quay lưng lại với sự thanh thản. Mắt mở to, ý thức rõ hậu quả, gã đi vào lãnh địa của sự dối trá không mang theo tấm hộ chiếu cho ngày quay trở lại. GRAHAM GREENE Cốt lõi của vấn đề (The Heart of Matter) *** “Nước Mỹ chỉ giỏi tiến hành những cuộc thập tự chinh,” tướng David Petraeus viết trong luận án tiến sĩ của mình về đề tài “Quân đội Mỹ và những bài học từ chiến tranh Việt Nam”. Được đưa ra bảo vệ tại Đại học Princeton năm 1987, luận án của Petraeus công kích những gì đã trở thành quan niệm được giới nhà binh chấp nhận một cách rộng rãi về những bài học từ Việt Nam. Ông coi đây là một “lối suy nghĩ kiểu được ăn cả ngã về không”, mà chung quy là xuất phát từ học thuyết cho rằng nước Mỹ chỉ nên tiến hành những cuộc chiến tranh thông thường với sự ủng hộ áp đảo của một công chúng mang tinh thần thập tự chinh. Petraeus bác bỏ quan điểm “làm ăn như lối suy nghĩ bình thường” này. Thay vào đó, ông lập luận rằng nước Mỹ có nhiều khả năng là thấy mình sa vào những cuộc chiến tranh phi chính quy khác, đôi khi phải chống trả hai, ba, hay nhiều trận chiến kiểu Việt Nam. Sau này Petraeus tiếp tục biên soạn cẩm nang tác chiến cho lục quân về chống nổi dậy được ban hành ấn hành năm 2006. Năm sau, được trao cơ hội tiến hành công tác thực địa về chuyên ngành học thuật của mình, ông được bổ nhiệm vào vị trí tư lệnh lực lượng Mỹ tại Iraq. Chiến tranh không chỉ là những cuộc thập tự chinh; chúng còn là những cuộc dan díu của con tim. Chiến tranh được phát động vì tình yêu, điều này thì chúng ta đã biết từ thời nàng Helen của thành Troy[2] khiến cho cả nghìn chiến thuyền chở đầy những chàng trai mê mẩn sẵn sàng chết vì nàng xung trận. Nhà văn hài hước người Mỹ P. J. O’Rourke đã nhận ra chân lý này trong một bài tiểu luận ông viết về Việt Nam năm 1992. “Ở Huế, cứ chiều đến, những nữ sinh trung học trở về nhà sau khi tan học, từng đoàn nữ sinh đạp xe trên con phố, tất cả đều tha thướt trong những tà áo dài trắng tinh, một kiểu trang phục gồm áo dài may ôm sát người mặc trùm lên quần rộng. Không phải vô cớ mà những nhà thờ Công giáo còn lại gióng lên hồi chuông cầu kinh Đức Bà vào thời điểm này trong ngày. Tôi không hiểu ở một nơi mà cái đẹp đã trở nên quá đỗi bình dị như thế có thể thay đổi được bản chất của một xã hội hay không.” Sau khi trầm trồ trước “tỷ lệ khổng lồ những mỹ nhân ngư và giai nhân tuyệt sắc” ở cái đất nước Địa đàng này, O’Rourke viết: “Giờ thì tôi hiểu tại sao chúng ta lại can dự vào Việt Nam. Chúng ta đã phải lòng… [Chúng ta] đã ngây ngất bởi nơi này. Tất cả mọi người, từ những cố vấn đầu tiên mà Ike3 gửi tới đây năm 1955 cho đến Henry Kissinger ở bàn đàm phán hòa bình Paris, thảy đều mê mệt đến phát cuồng vì Việt Nam. Nó làm tan vỡ trái tim họ. Họ cứ tiếp tục đến thăm và gửi hoa mãi không thôi. Họ không thể tin nổi rằng đây là lần chia tay cuối cùng.” Trước khi bắt đầu câu chuyện của mình về Việt Nam và nước Mỹ (với đôi nét điểm qua về nước Pháp và những khu vực khác trên thế giới), tôi xin phép được nói rằng cuốn sách này nói về chiến tranh và tình yêu, về những bài học Việt Nam, tác chiến chống nổi dậy và những cuộc xung đột khác bị gọi là phi chính quy. Nó cũng nói về những điệp viên và phóng viên cùng sự lẫn lộn giữa hai nghề này. Một số người sẽ cho rằng các phóng viên góp phần làm cuộc chiến (của chúng ta) tại Việt Nam thất bại. Trong trường hợp này, tôi xin khẳng định rằng có một phóng viên đã góp phần mang đến chiến thắng trong cuộc chiến - cho phía người Việt. Cuốn sách phiền muộn này nói về thông tin và hỏa mù cùng sự mơ hồ không thể tránh khỏi trong việc xác định ranh giới nơi hai yếu tố này hòa nhập vào nhau. Cuốn sách không đưa ra thêm chân lý nào có thể được đúc rút thành những bài học mới về chiến tranh Việt Nam. Nó nói về cuộc sống đơn giản của một con người phức tạp. Sự thật nằm trong các chi tiết. Chúng ta hãy bắt đầu. ... Mời các bạn đón đọc Điệp Viên Yêu Chúng Ta: Chiến Tranh Việt Nam Và Trò Chơi Nguy Hiểm Của Phạm Xuân Ẩn của tác giả Thomas A. Bass.
Vượn Cáo - Benjamin Black
John Glass sống ở New York. Ông bỏ nghề báo để viết tiểu sử cho bố vợ mình là ngài Bill Mullholland, hay còn gọi là Bill lớn. Vốn là cựu nhân viên CIA, giờ Bill Lớn là trùm tư bản trong lĩnh vực truyền thông. Sáng sáng, John Glass đến làm việc tại văn phòng rộng lớn và sang trọng trong tòa nhà văn phòng Mullholland Tower; tối đến thì về nhà với người vợ giàu có và xuân sắc. Dù thỉnh thoảng có hoài nhớ về quãng đời trước, nhưng nói chung John Glass hài lòng với hiện tại.   Để hoàn thành cuốn tiểu sử, John Glass thuê một tay săn tin trẻ mà ông quen gọi là “Vượn Cáo” thu thập thông tin về người bố vợ. Từ lúc ấy cuộc sống dễ chịu của ông bị đe dọa. Sau đó, “Vượn Cáo” bị sát hại, ông quyết định đi tìm những gì hắn biết và thủ phạm giết hắn chỉ để đào xới thêm nhiều bí mật và cái chết bí ẩn khác. *** Người cung cấp thông tin là một chàng trai trẻ cao lêu đêu và gầy đét. Đầu hắn quá nhỏ so với khung xương, còn cục yết hầu to bằng trái banh gôn. Mắt kính hắn đeo không có gọng viền quanh và gần như vô hình, chỉ làm tăng thêm độ bóng cho đôi mắt đen, tròn, to tướng và hơi bị trố. Một túm râu màu vàng ngắn ngủn, cứng quèo mọc thẳng từ cằm hắn. Cặp lông mày cong, rất xa mắt lấm tấm sẹo mụn trứng cá cũ. Hắn có đôi bàn tay mảnh mai, trắng trẻo, các ngón dài búp măng hệt như tay con gái, hay ít nhất là giống những gì người ta ca ngợi về bàn tay của phụ nữ khuê các. Dù đang ngồi, đũng quần jeans thụng của hắn vẫn thõng xuống ngang đùi. Ngực áo phông màu cháo lòng không của ai ngoài hắn mang dòng chữ: “Đời bi đát tiễn ta về cõi âm”. Thoạt nhìn, hắn mới chỉ mười bảy nhưng John Glass đoán tên này chí ít cũng phải gần ba mươi, cổ dài, đầu nhỏ và cặp mắt tròn đen láy khiến hắn cực kỳ giống một loài gặm nhấm quý hiếm mà nhất thời Glass chưa nhớ ra là con gì. Tên hắn là Dylan Riley. Glass thầm mỉa mai: cái tên Dylan nghe quý phái gớm. Hắn nói: - Vậy ra ông là con rể của Bill Lớn? Hắn ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế xoay bọc da đen trong văn phòng mà bố vợ Glass cho mượn nằm ở mé phía bắc của tòa nhà Mulholland Tower. Sau lưng hắn, bên kia bức tường kính trong suốt là một Manhattan ẩm ướt, ảm đạm dưới màn mưa phùn tháng tư. - Sao? Cậu thấy ngộ nghĩnh lắm ư? Glass vặn vẹo. Ông đặc biệt ghét loại người thích mặc áo phông in đủ thứ triết lý lên đó. Dylan Riley cười khẩy: - Ngộ nghĩnh gì đâu. Tôi chỉ ngạc nhiên thôi. Tôi thấy ông không giống người nhà Bill Lớn chút nào. Glass vờ như không nghe thấy gì. Hơi thở của ông bắt đầu nặng nề, thậm chí phát ra tiếng phì phò. Đó luôn là dấu hiệu cảnh báo sự căng thẳng đang gia tăng. Glass nhấn mạnh như muốn nhắc Riley phải lễ phép hơn: - Ngài Mulholland muốn tôi thu thập mọi dữ liệu và dùng chúng một cách đúng đắn nhất. Riley cười toe toét, gật lia lịa, xoay xoay trên ghế vẻ khoái chí: - Phải, nhất định dữ liệu phải đầy đủ rồi. Glass lạnh lùng nhắc lại: - Điều tiên quyết là phải đủ thông tin chính xác. Chính vì thế tôi mới thuê cậu. Glass đến bên chiếc bàn làm việc vuông vức bằng kim loại cỡ lớn kê trong góc phòng và thận trọng ngồi xuống ghế phía sau nó. Tư thế ngồi luôn giúp Glass bớt bấn loạn. Phòng ông ở tầng ba mươi chín. Trông đợi ông làm ăn được gì ở độ cao như vậy quả là ngớ ngẩn. Hôm đầu tiên vào phòng này, Glass sợ sệt nhích từng chút đến sát tường kính ngó xuống. Dưới chân ông chừng hai tầng nhà, những cụm mây trắng xốp trông như tảng băng lững thững trôi ngang qua, che khuất thành phố phía dưới. Giờ ông bíu hai tay lên mặt bàn trước mặt như người sắp chết đuối cố bám mép chiếc bè nan. Glass thèm thuốc không thể tả. Dylan Riley xoay chiếc ghế quanh bàn. Chắc chắn hắn biết ông chóng mặt, buồn nôn cỡ nào khi ngồi trong cái lồng kính làm bằng thép và thủy tinh ngất ngưởng giữa lưng chừng trời như thế này. Bàn tay Glass vuốt thành hình vòng cung trên mặt bàn, như thể muốn gạt vật gì đó vô hình xuống đất. Động tác ấy khiến ông nhớ đến cái cảnh Tổng thống Richard Nixon khổ sở, toát mồ hôi hột trong một bản tin chiều phát mấy năm trước, cố phân bua rằng mình không phải kẻ dối trá. Trong thời kỳ dân chúng hoang mang vì chứng kiến quá nhiều cáo buộc lẫn nhau ấy, ánh sáng ở trường quay quá gắt khiến ai trông cũng giống nhân vật phản diện trong bộ phim dùng hệ màu Eastmancolor giai đoạn đầu. ... Mời các bạn đón đọc Vượn Cáo của tác giả Benjamin Black.
Truyện Ngắn Trinh Thám
Tập Truyện Ngắn Trinh Thám này gồm có: Kẻ đội lốt Hai chàng thợ săn và một cô gái Chiếc hộp bí mật Không có cánh bay Bà góa Ephese Nhân chứng có ba bộ mặt Cây cầu bằng thủy tinh Một vạn đô-la Được ăn cả, ngã về không Tiếng còi trong sương đêm Không thương tiếc Hai cái chết *** Bốn giờ sáng, hai viên cảnh sát mặc đồng phục áp giải hắn vào văn phòng của nhà giam trung tâm. Ở đây, người ta kiểm tra người hắn, tịch thu mọi đồ dùng cá nhân của hắn, trừ gói thuốc lá, chiếc khăn tay và đưa cho hắn một tờ giấy biên nhận. Sau đó người ta lấy dấu vân tay của hắn và dán vào khẩu súng lục mà người ta tìm thấy trong người hắn một mẩu giấy có chữ “vật chứng”. Viên đội trưởng hỏi tên họ và hắn trả lời mình là George Carter. Với những câu hỏi tiếp theo như tiền án, tiền sự... thì hắn trả lời là không. Cảnh sát còn hỏi trên một chục câu hỏi khác rồi ghi vào sổ nói rõ hắn bị bắt về tội ăn cướp trong tay có vũ khí. Cuối cùng người ta giam hắn trong một xà lim chưa có người. Khi còn lại một mình, việc làm đầu tiên của hắn là châm một điếu thuốc lá rồi nằm dài trên một trong bốn chiếc nệm. Rủi ro làm sao! Hắn cay đắng nghĩ. Số phận mới đen đủi làm sao! Hai tiếng đồng hồ trước đây, theo một kế hoạch đã lập ra một cách tỉ mỉ trong một tuần lễ liền, hắn đã đột nhập vào một quán rượu ở giữa thành phố trước giờ đóng cửa để ăn cướp. Hắn đợi cho chủ quán đóng cửa hàng trong khi hắn vẫn ở trong nơi ẩn nấp, sau đó hắn nhốt ông chủ khốn khổ vào trong toa-lét còn hắn thì đi lục lọi trong quán. Kết quả thật là bất ngờ: hai hoặc ba ngàn đô-la trong két sắt ở văn phòng. Trước khi tẩu thoát, hắn còn nhặt thêm bốn chai úych-ky hảo hạng thêm vào món chiến lợi phẩm ấy. Cho đến lúc ấy, mọi việc diễn ra êm đẹp. Hắn đã nghĩ đến những cuộc đi nghỉ thú vị mà hắn có thể thực hiện được bằng cách tính toán lưng vốn của mình: khoảng trên một ngàn năm trăm đô-la để dành đặt ở một nơi an toàn. Tổng cộng là năm ngàn đô-la đủ để nghỉ ở Mê-hi-cô ba hoặc bốn tháng, nếu hắn không hoang phí. Nhưng hắn sẽ không làm như vậy vì hắn không phải là kẻ không biết sử dụng tiền bạc. Một căn hộ khiêm tốn ở thành phố, một tủ quần áo hiện đại và về mặt giải trí, buổi chiều hắn sẽ đi dạo, nói chuyện về các cuộc chơi bóng pơ-lốt, các cuộc đua chó và đi uống một cốc vào buổi tối; dự những trận đầu bò tót vào ngày Chủ nhật ở Acapulco; thỉnh thoảng cho các cô thu tiền hoặc các cô phục vụ xinh đẹp một khoản tiền boa hào phóng... Đó là tất cả. Những nhu cầu của hắn rất đơn giản, không tốn kém, giống như những người làm công có thu nhập ở mức trung bình trong mỗi kỳ đi nghỉ. Tuy nhiên có sự khác nhau giữa hắn và người những ấy, vì người ăn lương phải tiết kiệm cả một năm trời để đi nghỉ, còn hắn, hắn chỉ cần ba hoặc bốn phi vụ trong một năm, mỗi phi vụ chỉ cần bốn năm phút đồng hồ thôi. Và hai ba năm nay mọi việc đều diễn ra một cách trôi chảy. Nhưng bây giờ tất cả đã kết thúc - hắn nghĩ. Chuyện đó diễn ra một cách khá bất ngờ: khi hắn ra khỏi kho rượu thì va phải người em trai chủ quán đánh xe đến để đón anh về. Nếu cuộc đụng độ ấy không quá đột ngột, nếu trong một hoàn cảnh khác, hắn chỉ cần hạ gục người đàn ông ấy rồi lủi cho nhanh. Nhưng tình hình lại không phải như vậy vì người em chủ quán lại là một cảnh sát trong đội chống nạn mại dâm, tuy không phải đang trong giờ làm việc nhưng anh ta vẫn còn đeo súng bên người. Rất vô ích mà nói rằng viên cảnh sát không nghi ngờ gì khi thấy hắn với hai chiếc túi căng phồng và bốn chai rượu trên tay tuy đèn lúc này chỉ lờ mờ sáng. Anh ta chỉ giơ súng lên và thế là George bị tóm gọn. Đúng hai tiếng đồng hồ sau đó, George bị kết tội ăn cướp có vũ khí và bị tống giam. Việc khai tên giả của hắn cũng sẽ chẳng kết quả gì vì sau đây bốn mươi tám tiếng nữa, với những dấu vân tay, FBI sẽ biết rõ cái tên George Carter mà hắn đã khai là giả mạo mà chính George Maxwell mới là tên thật của hắn. Mà George Maxwell đã bị ngồi tù hai lần vì tội trộm cướp: lần đầu, hai năm vì tội ăn cắp, thời ấy hắn mới vào nghề, và lần thứ hai, năm năm vì tội ăn cướp có vũ khí, việc này xảy ra cách đây ba năm. Như vậy hắn được tự do mới có ba mươi sáu tháng. Lần này, với những tiền án ấy, chắc chắn án hai mươi năm tù sẽ treo trước mũi hắn. Năm nay ba mươi nhăm tuổi... Hai mươi năm ngồi bóc lịch, thế là kết thúc cuộc đời... Thật là đen đủi - hắn lại nghĩ với tiếng thở dài não nề khi thấy giấc mộng đi nghỉ ở Mê-hi-cô đã tan thành mây khói. Hắn ném điếu thuốc đi để mặc nó tiếp tục cháy. Sau đó, quay mặt vào tường, nghĩ đến tương lai ảm đạm của mình. ... Mời các bạn đón đọc Truyện Ngắn Trinh Thám.
Phái Viên Mật - Graham Greene
Đây không phải là cuốn trinh thám dạng "giải trí", không gay cấn, hồi hộp...mà nặng nề, ám ảnh, day dứt, phiền muộn. *** Graham Henry Greene (2 tháng 10, 1904 - 3 tháng 4, 1991) là tiểu thuyết gia người Anh. Ông sinh tại Berkhamsted, Hertfordshire, Anh quốc, là con của một hiệu trưởng, và theo học Đại học Oxford. Ông làm việc cho tờ báo London Times trong giai đoạn 1926-1929 (từng làm tổng biên tập) rồi hành nghề ký giả tự do. Năm 1935, ông nhận chân điểm phim cho tờ Spectator, và đến 1940 nhận chân chủ bút văn học. Trong thời gian 1942-1943, ông phục vụ Bộ Ngoại giao Anh ở miền đông châu Phi. Sau Thế chiến thứ Hai (1939-1945), ông đi đến nhiều nơi. Ông viết nhiều, là một trong các tác giả tiêu biểu của văn học Anh thế kỷ XX. Tác phẩm đầu của ông được xuất bản năm 1925. Graham Greene khởi đầu sự nghiệp văn chương với những sách thuộc loại “giải trí” vì thuộc thể loại hành động, như truyện gián điệp. Dần dà, ông mới chuyển qua thể loại “tiểu thuyết,” nổi tiếng nhất là The quiet American (Người Mỹ trầm lặng - 1955), gần đây được dựng thành phim hợp tác với điện ảnh Việt Nam (15 tiểu thuyết của ông đã được dựng thành phim). Ông cũng viết một kịch bản dành riêng cho phim truyện, và một số tác phẩm cho trẻ em. Graham Greene có xu hướng viết về những đấu tranh tâm linh trong một thế giới đang mục rữa. Tác phẩm của ông có đặc tính đi vào chi tiết sống động, và lấy bối cảnh đa dạng ở nhiều nơi (Mexico, châu Phi, Haiti, Việt Nam), miêu tả nhiều nhân vật sống dưới những áp lực khác nhau về xã hội, chính trị hoặc tâm lý. Tác phẩm cuối cùng, A world of my own: A dream diary (1994), được viết trong những tháng cuối cùng trong cuộc đời của tác giả, có tính nửa hư cấu nửa tự thuật dựa trên 800 trang tác giả ghi lại qua 24 năm.   Mời các bạn đón đọc Phái Viên Mật của tác giả Graham Greene.