Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vụ Án Lerouge

Vào ngày thứ 5, 6 tháng 3 năm 1862, một vụ án mạng đã làm ngôi làng La Jonchère thanh bình bị chấn động: bà quả phụ giàu có Lerouge bị sát hại dã man tạị nhà riêng. Điều tra viên Lecoq đã phải nhờ sự giúp đỡ của một thám tử nghiệp dư cũng là người thầy của mình, lão Tabaret, tham gia vào cuộc điều tra. Với sự cẩn trọng, tỉ mỉ,  kĩ thuật  phát họa tâm lí tội phạm xuất sắc cùng phương pháp suy luận chặt chẽ, tài tình, lão Tabaret đã lần theo manh mối và dễ dàng tóm được thủ phạm. Khi vụ án tưởng chừng đã khép lại thì những bước ngoặt của số phận lại bất ngờ mở ra một hướng đi mới, khiến các điều tra viên phải xem xét lại toàn bộ những suy luận của mình. Những tình tiết mới xuất hiện sẽ đưa vụ án này đi đến đâu? Những bí mật đen tối nào đang bị lớp màn của thời gian che phủ. BẤT NGỜ, HẤP DẪN là những gì độc giả nhận xét khi đọc cuốn tiểu thuyết trinh thám này của Gaboriau. Giới thiệu tác giả Émile Gaboriau Émile Gaboriau (1832 - 1873) là một trong những tiểu thuyết gia “mở màn” cho thời kỳ đỉnh cao của trinh thám Pháp, đưa trinh thám Pháp sánh ngang với trinh thám Anh, trinh thám Âu Mĩ.  Bạn đọc ở Việt Nam biết đến ông với Hồ sơ số 113 và Tội ác ở Orcival.  Bằng việc xây dựng thành công hình tượng nhân vật thám tử tài ba, tài trí Lecoq, Émile Gaboriau đã trở thành một trong những nhà văn trinh thám kiệt xuất trên thế giới và được mệnh danh là "Ông tổ" của tiểu thuyết trinh thám Pháp.  *** “Liệu có gì ghê tởm hơn sự gán ghép hai ý nghĩ ấy với nhau, lòng căm hận và công lý! Không cần coi thường mình hơn so với những kẻ xấu xa mà mình đã kết án, liệu một quan tòa có thể cho phép nhớ rằng một kẻ tội nhân mà số phận đang nằm trong tay mình đã từng là kẻ thù của ông? Một Thẩm phán điều tra liệu có được phép sử dụng những quyền lực thái quá của mình để chống lại một bị can, khi mà sâu trong tâm can ông ta vẫn còn một giọt mật đắng?” Một đoạn miêu tả tâm lý nhân vật thật xuất sắc với những đấu tranh nội tâm về việc có nên đem chuyện riêng tư vào phép công hay không? Thực chất, nếu đặt bản thân vào hoàn cảnh của nhân vật, chúng ta liệu có công tư phân minh được hay không? Hay cũng chỉ áp dụng quyền hành mà bản thân đang có để triệt tiêu tất cả những mối thù hận và căm hờn lên kẻ thù đang đứng trước mặt? Đôi khi đọc sách là thế, là khiến tôi phải suy ngẫm về những đoạn nhỏ trong sách để tự vấn lòng mình xem bản thân sẽ làm như thế nào với tình huống đó. “Vụ án Lerouge” mở ra với bối cảnh làng La Jonchere bình yên, thế nhưng tất cả mọi người đã bị chấn động bởi cái chết của bà quả phụ Lerouge. Hàng loạt thắc mắc được đặt ra và người ta không hiểu tại sao bà ta bị giết, ai có thể ra tay tàn độc như vậy. Lần này, sự xuất hiện của ông thám tử nghiệp dư Tabaret là một điểm nhấn thú vị và rõ ràng là ông ta có phần tài giỏi hơn cả Lecoq khi sớm tìm ra được hung thủ. Ở nhân vật này, chúng ta sẽ thấy được bóng dáng của Holmes bởi khả năng quan sát mọi việc và tình tiết rất cẩn trọng. Một chút tự mãn được thêm vào tài năng phá án của lão đã tạo ra một cá tính hết sức riêng biệt, đôi chút hài hước và đôi chút khó ưa. Thực ra, ở “Vụ án Lerouge”, việc hung thủ bị lộ diện không còn là yếu tố hút bạn đọc nữa. Điểm hay nhất chính là mối tình xưa cũ của nhân vật được tiết lộ khiến cho chúng ta thêm phần đồng cảm và thích thú nhiều hơn. Tình yêu bi ai được khai thác triệt để và rõ ràng sẽ lấy được nước mắt bạn đọc. Khổ trong tình yêu và tội ác được nảy sinh không phải là một mối kết nối quá mới nhưng với việc khai thác sâu sắc đã khiến cho câu chuyện thật sự thành công và đầy sâu sắc. Nếu những định kiến của xã hội và kiêu hãnh của con người có thể áp chế tình yêu thì sao nó không thể áp chế được luôn cả những bi kịch đã nảy sinh từ những uất ức đó?! Nhìn chung, “Vụ án Lerouge” đã mang tới một câu chuyện đầy ai oán cho bạn đọc với sự lồng ghép tuyệt vời giữa miêu tả tâm lý nhân vật với những đoạn phá án khá kịch tính. Sự thật và những mâu thuẫn tâm lý đã đẩy câu chuyện đến mức cao trào nhất; đôi lúc, tôi còn cảm thấy bất ngờ như chính cảm xúc của nhân vật trong truyện vì không ai có thể ngờ mọi chuyện lại diễn biến theo chiều hướng ấy. Tham, sân, si của lòng người đều hiện rõ qua cách diễn đạt của tác giả Émile Gaboriau và nếu phải suy ngẫm về tình đời, tình người thì mọi chuyện đều diễn ra cay đắng quá, khó mà chấp nhận được. (Trần Nguyễn Phước Thông, FB Trần Thông, 25-01-2020) Trần Thông *** Émile Gaboriau Chắc các bạn chưa quên “trai đẹp” trong Hồ sơ số 113, “gái đẹp” trong Tội ác ở Orcival. Nay các bạn sẽ biết thêm “ông già” Tabaret rất thú vị. Tại ngôi làng La Jonchere thanh bình, bà quả phụ Lerouge bị sát hại tại nhà. Ở một ngôi làng từ trước tới giờ luôn thanh bình, tại sao bà quả phụ Lerouge lại bị sát hại? Nguyên nhân khiến bà bị sát hại là gì? Tất cả các câu hỏi đó được giải đáp nhờ sự trợ giúp của vị thám tử nghiệp dư, lão Tabaret. Người được gọi là thầy của anh chàng thám tử gà trống Lecoq. Dưới con mắt của thanh tra Gevol, lão Tabaret là một ông già tự phụ như một con công, dễ nổi khùng, dễ mắc lừa, lão làm trinh thám chỉ để chứng tỏ tài năng của mình, giống như một nghệ sĩ không hơn không kém. Mặc dù đôi lúc có sự nhiệt tình thái quá nhưng không thể phủ nhận tài năng của lão Tabaret. Sự cẩn trọng, tỉ mỉ, khả năng quan sát, suy luận sắc bén. (Sự quan sát tỉ mỉ có bóng dáng của thám tử Sherlock Holmes quen thuộc). Dĩ nhiên có sai lầm thì mới là con người, đâu phải ai cũng thông minh hoàn hảo. Lecoq “trai đẹp” chỉ là cameo trong tập này thôi. Sân khấu chính là lão Tabaret. Không biết có phải do đọc kha khá trinh thám rồi nên “khôn” hơn hay do vụ án mà Boog đoán được cả hung thủ lẫn nguyên nhân gây ra tội ác nên không bất ngờ lắm về hung thủ. Tuy nhiên, để lại cảm xúc ở vụ án này không phải ở khía cạnh trinh thám mà là khía cạnh tình cảm. Boog khá là xúc động, cảm thông cho mối tình bi ai của nhân vật. Tại sao yêu nhau không đến được với nhau, để giờ đây hai ta phải khổ đau. Những rào cản định kiến, sự ngăn cách của xã hội, sai lầm bồng bột của tuổi trẻ đã để lại một bi kịch mà lớp đất thời gian không thể chôn vùi. Đánh giá cá nhân: 7,5/10 Binh Boog *** Thứ Năm ngày 6 tháng Ba năm 1862, hai ngày sau ngày Thứ Ba Ăn Mặn*, năm người đàn bà ở làng La Jonchère đã đến trình diện tại Sở Cảnh sát xã Bougival. Ngày được ăn thịt sau Mùa chay (ND). Họ báo với cảnh sát rằng từ hai ngày nay không ai nhìn thấy hàng xóm của họ là bà quả phụ Lerouge, người sống một mình trong một ngôi nhà nhỏ biệt lập. Sự im ắng này khiến họ lo lắng. Sợ là có án mạng hay ít nhất là một tai nạn gì đó, họ yêu cầu “luật pháp” phá cửa vào nhà xem có chuyện gì để được yên tâm. Bougival là một xứ sở đáng yêu, cứ Chủ nhật là trai gái lại chèo xuồng về đây; tội phạm cũng nhiều nhưng hiếm có án mạng. Vì thế, ban đầu viên thanh tra khước từ lời cầu xin của mấy người đàn bà, nhưng họ cứ nài nỉ mãi và cuối cùng nhà chức trách đã phải nhượng bộ. Ông cho gọi viên cai đội hiến binh đến cùng với hai nhân viên, sai người tìm một anh thợ khóa, rồi cả tốp cùng đi theo hàng xóm của bà quả phụ Lerouge. Làng La Jonchère là một ngôi làng nhỏ nằm trên triền dốc đổ xuống sông Seine, giữa xã Malmaison và xã Bougival. Nó cách con đường lớn hai mươi phút, con đường lớn đó chạy từ Paris đi Saint-Germain qua Rueil và Port-Marly. Dẫn đến làng là một con đường dốc đứng mà ngành cầu đường chưa hề biết đến. Thế là nhóm người, dẫn đầu là tốp hiến binh, đi theo con đường lớn đắp thành một con đê ngăn cách sông Seine với khu vực này, rồi chẳng mấy chốc họ quẹo phải rẽ vào một con đường ngang sâu hút kẹp giữa hai dãy tường gạch. Đi khoảng một trăm bước, họ dừng lại trước một căn nhà đơn sơ nhưng có vẻ ngoài lịch sự. Với bề sâu kéo dài hơn bề rộng, ngôi nhà có một tầng trệt hai phòng và một tầng áp mái ở trên. Quanh nhà trải rộng một khu vườn gần như không được chăm sóc. Thông ra vườn là một chiếc cổng gỗ nhẹ được buộc hờ bằng một sợi dây thép. - Ở đây này. - Mấy người đàn bà lên tiếng. Viên thanh tra cảnh sát dừng bước. Trong lúc đi đường, nhóm người của ông đã nhanh chóng được những kẻ hiếu kỳ và những kẻ vô công rồi nghề ở quanh đây gia nhập. Giờ đây ông đang bị khoảng bốn mươi kẻ tò mò vây quanh. - Không ai được vào đây! - Ông nói. Và, để cho mệnh lệnh của mình chắc chắn được tuân thủ, ông cắt cử hai anh hiến binh đứng gác trước lối vào, rồi ông bước tới, theo sau là viên cai đội và anh thợ khóa. Ông đích thân chĩa đầu cây gậy cạp chì gõ mạnh nhiều lần, đầu tiên là vào cánh cửa, sau đó là tất cả các ô cửa con. Sau mỗi cú gõ ông lại áp tai vào vách gỗ nghe ngóng. Không thấy động tĩnh gì, ông quay sang anh thợ khóa, ra lệnh: - Mở khóa đi. Anh thợ khóa mở túi dụng cụ và chuẩn bị đồ nghề. Anh đang lùa một cái que móc vào ổ khóa thì trong đám người hiếu kỳ có tiếng reo lên: - Chìa khóa! Chìa khóa đây này! Quả thực, một cậu bé chừng mười hai tuổi, trong lúc đang chơi với tụi bạn đã nhìn thấy một chiếc chìa khóa to nằm trong cái rãnh bên đường; cậu bé nhặt lên và đắc thắng đem tới. - Đưa đây, cậu bé, - viên cai đội nói - đưa chúng ta xem nào. Chìa khóa được đưa vào mở thử; đúng là chìa của ngôi nhà. Ông thanh tra và anh thợ khóa nhìn nhau đầy vẻ lo lắng sợ sệt. - Không hay rồi! - Viên cai đội lẩm nhẩm. Rồi họ vào trong nhà, trong khi đám đông, bị hiến binh vất vả giữ lại, vừa giậm chân sốt ruột, vừa cố ngó qua tường để nhìn vào trong xem chuyện gì đã xảy ra. Thật đáng tiếc là những kẻ phỏng đoán có án mạng đã không nhầm, ông thanh tra cảnh sát tin chắc như vậy ngay từ ngưỡng cửa. Trong căn phòng đầu tiên, tất cả đã tỏ rõ sự có mặt của những kẻ bất lương. Đồ đạc trong nhà, một chiếc tủ ngăn kéo và hai chiếc hòm lớn, đã bị phá đáy. Trong căn phòng thứ hai, là phòng được dùng làm buồng ngủ, quang cảnh còn lộn xộn hơn. Có thể hình dung rằng một bàn tay giận dữ đã vô cớ làm đảo lộn mọi thứ. Cuối cùng, bên cạnh lò sưởi, xác bà quả phụ Lerouge nằm dài với khuôn mặt vùi trong tro. Nửa khuôn mặt và tóc bị cháy thui, và thật kỳ diệu là lửa không bén đến quần áo. - Bọn vô lại, - viên cai đội thì thầm - chẳng lẽ chúng không thể ăn cắp mà không phải giết chết người đàn bà tội nghiệp này ư! - Nhưng bà ta bị đâm ở chỗ nào? - Ông thanh tra hỏi - Tôi không thấy máu. - Đây này, giữa hai vai đó, thưa ngài thanh tra. - Viên cai đội nói tiếp. - Hai cú đâm mạnh! Tôi xin lấy quân hàm của tôi để đánh cược là thậm chí bà ta đã không kịp kêu lên một tiếng “Ối!”. Ông cúi người, đặt tay lên thi thể. - Ồ, - ông nói tiếp - xác bà ấy đã lạnh thật rồi. Mặc dù có vẻ chưa cứng lắm, ít nhất bà ấy cũng đã tắt thở được ba mươi sáu giờ đồng hồ. Ông thanh tra ngồi vào một góc bàn ghi vội tờ biên bản. - Thôi không nói dông dài nữa, - ông bảo viên cai đội - giờ là lúc phải tìm ra thủ phạm. Hãy đi báo cho ngài Thẩm phán hòa giải và ngài xã trưởng đi. Còn nữa, hãy chạy đi Paris đưa bức thư này cho Viện Công tố. Trong hai giờ đồng hồ một Thẩm phán điều tra sẽ có mặt tại đây. Trong khi chờ đợi, tôi sẽ tiến hành một cuộc khám xét sơ bộ. - Chính tôi phải đưa bức thư này ư? - Viên cai đội hỏi. - Không, hãy cử một nhân viên của ông đi. Ông sẽ ở đây giúp tôi ngăn đám người tò mò kia và kiếm cho tôi các nhân chứng. Cứ để yên hiện trường đó, tôi sẽ sang căn phòng đầu tiên kia. Bà quả phụ Lerouge này là ai, quê ở đâu, bà làm nghề gì, lấy gì để sống, và sống như thế nào? Bà có thói quen gì, những mối giao du của bà thế nào? Kẻ nào có hiềm thù với bà, bà có hà tiện không, liệu bà có tiền không? Đó là những điều quan trọng mà ông thanh tra muốn biết. Nhưng cho dù có nhiều nhân chứng thì họ cũng chẳng biết gì hơn. Khi lần lượt được hỏi, những người hàng xóm chỉ đưa ra những lời khai vô nghĩa, thiếu mạch lạc và không đầy đủ. Chỉ có một bà làm vườn và một bà bán sữa cho bà quả phụ Lerouge là có vài thông tin chính xác, mặc dù chẳng mấy giá trị. Cuối cùng, qua ba giờ hỏi cung mệt mỏi, sau khi thu thập những lời chứng mâu thuẫn nhất và những chuyện ngồi lê đôi mách khôi hài nhất, ông thanh tra cảnh sát hình dung được sự việc gần đúng như sau: Cách đây hai năm, bắt đầu từ năm 1860, bà Lerouge đến xã Bougival với một chiếc xe dọn nhà lớn chở đầy đồ đạc, chăn mền và quần áo. Bà vào một quán trọ và bày tỏ ý định muốn ở lại trong vùng, rồi bà lập tức đi tìm thuê một căn nhà. Khi tìm thấy căn nhà vừa ý này, bà thuê ngay không mặc cả, với điều kiện trả trước 320 franc nửa năm, nhưng bà không đồng ý ký hợp đồng thuê nhà. Thỏa thuận thuê nhà xong, bà dọn đồ vào ở ngay hôm đó và bỏ ra khoảng 100 franc cho việc sửa chữa. Đó là một người phụ nữ tầm năm mươi tư, năm mươi lăm tuổi, trông rất trẻ, đẫy đà và rất khỏe mạnh. Chẳng ai biết tại sao bà lại chọn cái nơi hoàn toàn không quen biết một ai này để về ở. Người ta đoán bà là người Normandie vì thường thấy bà đội chiếc mũ trùm bằng vải bông vào buổi sáng. Thứ mũ dùng cho ban đêm này vẫn khiến bà rất duyên dáng vào ban ngày. Bà thường mặc những chiếc váy dài rất đẹp, cuốn nhiều dải ruy băng quanh mũ và đeo đầy đồ trang sức giống như một bức tượng thờ. Có thể bà là người miền biển, vì trong lúc chuyện trò bà rất hay nhắc đến biển và tàu thủy. Bà không thích nói đến chồng mình, là người, theo bà, đã mất trong một vụ đắm tàu. Chưa bao giờ bà hé mở một chi tiết nhỏ nhất nào về chuyện này. Chỉ có một lần bà nói với bà bán sữa trước sự có mặt của ba người khác, “Chưa có một người đàn bà nào bất hạnh như tôi trong chuyện vợ chồng.” Bà quả phụ Lerouge được coi là giàu có, hoặc ít nhất là rất sung túc. Bà không phải là người hà tiện. Bà thích sống thoải mái, tiêu nhiều cho chuyện ăn uống và thường mua rượu vang từng nửa thùng. Niềm vui của bà là được thiết đãi bạn quen và những buổi dạ tiệc của bà thật thịnh soạn. Nếu người ta khen bà giàu có thì bà cũng chẳng phản đối nhiều. Người ta thường nghe bà nói, “Tôi không có tiền lợi tức, nhưng tôi có tất cả những gì cần thiết. Nếu tôi muốn hơn nữa thì tôi sẽ có.” Ngoài ra, chưa bao giờ người ta nghe thấy có lời bóng gió nào, dù là nhỏ nhất, về quá khứ, về quê hương hay về gia đình bà. Bà rất hay nói chuyện, nhưng khi nói chuyện, bà chỉ nói đến những điều xấu xa của đồng loại. Dù sao, chắc là bà đã trải đời và biết nhiều chuyện. Với tính rất hay ngờ vực, bà cố thủ trong nhà mình như trong một pháo đài. Buổi tối không bao giờ bà ra khỏi nhà. Người ta biết rằng bà thường uống rượu say vào bữa tối và sau đó đi nằm luôn. Rất hiếm khi người ta nhìn thấy có người lạ đến nhà bà. Khoảng bốn, năm lần có một quý bà và một cậu thanh niên trẻ, và một lần khác có hai quý ông, một ông già đeo đầy huân huy chương và một chàng trai trẻ; hai người này đi trên một chiếc xe lộng lẫy. Nói tóm lại, người ta không tôn trọng bà mấy. Bà thường có những lời lẽ chướng tai và lập dị phát ra từ miệng một người ở tuổi đó. Người ta đã nghe thấy bà đưa ra những lời khuyên khó chịu nhất dành cho một cô gái. Tuy nhiên có một ông bán thịt lợn ở Bougival, một người buôn bán vụng về, cũng tán tỉnh bà. Bà đã gạt đi và nói bà lấy chồng một lần là đủ rồi. Mấy lần khác, người ta nhìn thấy có những người đàn ông đến nhà bà. Đầu tiên là một chàng trai trẻ trông có vẻ là một nhân viên hỏa xa, rồi sau đó có một ông cao lớn tóc nâu khá già, mặc một chiếc áo blouse và trông có vẻ rất dữ tợn. Người ta đoán rằng cả hai đều là nhân tình của bà. Vừa hỏi cung, ông thanh tra vừa ghi tóm tắt lời khai của nhân chứng, và ông đang viết đến đây thì ông Thẩm phán điều tra xuất hiện. Ông này dẫn theo ông Đội trưởng an ninh cùng một nhân viên. Ông Thẩm phán điều tra Daburon, người mà sau này bạn bè đã từng vô cùng ngạc nhiên thấy ông xin từ chức để về quê vui thú ruộng vườn vào đúng lúc vận may đang đến với ông, năm nay ba mươi tám tuổi, có thân hình đẹp, trông dễ mến mặc dù có vẻ lạnh nhạt, có một khuôn mặt hiền hậu và hơi buồn, vẻ buồn rầu này là di chứng của một căn bệnh hiểm nghèo mà cách đây hai năm đã suýt khiến ông mất mạng. Làm Thẩm phán điều tra từ năm 1859, ông nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Là người cần cù, kiên nhẫn, có trực giác tinh tế cùng óc sáng suốt hiếm có, ông biết cách tháo gỡ những vụ án rắc rối nhất, và, giữa trăm nghìn mối tơ vò, ông biết cách nắm được sợi dây dẫn lối. Được trang bị một bộ óc lập luận logic chặt chẽ, chỉ ông mới có thể giải quyết được những vấn đề hóc búa mà gã X nào đó là thủ phạm. Là người biết khôn khéo suy luận từ cái đã biết để tìm ra cái chưa biết, ông rất giỏi trong việc tập hợp các sự kiện và tập trung những tình tiết phù phiếm nhất và có vẻ ngoài vô can nhất thành một cụm chứng cứ không thể chối cãi. Tuy nhiên, mặc dù có những phẩm chất đáng quý như thế, nhưng ông lại tỏ ra không phải sinh ra để làm những chức phận khủng khiếp này. Ông rùng mình thực hiện những chức phận đó với sự ngờ vực trước sự lôi kéo của những năng lực tài hoa của mình. Ông không có sự táo bạo để thực hiện những cú bất ngờ mạo hiểm có khả năng làm bộc lộ sự thật. Mời các bạn mượn đọc sách Vụ Án Lerouge của tác giả Émile Gaboriau & Nguyễn Văn Dân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Gác Đêm Tập 2
Một “Kị sĩ u linh”, một Sơn Tiêu có thể dễ dàng cải trang dung mạo, một kẻ mang danh “Tai sứt” bí ẩn. Liên tiếp xuất hiện những nhân vật bóng tối tiềm năng. Người gác đêm đang phải đối mặt với đối thủ thần bí, rốt cuộc họ là ai? Ngôi nhà trọ với vụ thảm sát tàn bạo, căn nhà bỏ không hay nghĩa trang hoang vu là nơi ẩn giấu bao điều bí mật, bao ân oán suốt ngần ấy năm, những đứa trẻ non nớt chưa hiểu sự đời đã phải chết yểu. Những vụ kỳ án, dị án được Người gác đêm tiếp nhận, lần lượt được những thành viên trẻ tuổi tinh anh, đầy nhiệt huyết từng bước gợi mở, làm sáng tỏ. Vậy sao mọi việc vẫn còn là một câu đố chưa tìm ra lời giải đáp? Người thầy giáo hướng dẫn tưởng như đã tiếp cận thật gần với sự thật, người phụ nữ bí mật kia rốt cuộc là ai? Khi bóng tối tiềm năng dần được hé mở, là hiểm nguy hay là cơ hội? Bất kể trong bóng tối có những gì; Tôi vẫn luôn là Người gác đêm của bạn! GIới thiệu tác giả: Tần Minh là một bác sĩ pháp y danh tiếng thế hệ 8X tại Trung Quốc. Anh cũng là tác giả dòng tiểu thuyết trinh thám bán chạy nhất hiện nay. Tần Minh bước vào nghề pháp y từ rất sớm, nên anh có kinh nghiệm vô cùng phong phú, được đặt biệt hiệu “Lão Tần”. Anh đã giải mã vô số tử thi, nên thấu hiểu tinh tường đến chân tơ kẽ tóc. Bằng đôi bàn tay “ma mị” của mình, anh đã phá giải bao vụ án bi thảm oan khuất, giúp các oan hồn được siêu thoát. Với tấm lòng từ bi nhân ái, ước nguyện duy nhất của anh là mong cho cuộc sống trên thế giới này luôn yên bình. Tác phẩm tiêu biểu: Series “Pháp y Tần Minh hiện đã xuất hiện đến tập 7; series “Người gác đêm”. Nhiều tác phẩm của anh đã và đang được chuyển thể thành phim truyền hình với tên gọi “Người giải mã tử thi” và “Pháp y Tần Minh”. *** Hồi nhỏ, tôi đã bị ám ảnh bởi ảo tưởng về một tổ chức trừ gian diệt ác luôn nằm trong bóng tối, lặng lẽ bảo vệ nhân dân. Đó là tập hợp những con người kiệt xuất nhất, lòng đầy chính nghĩa và quả cảm, không ngại hiểm nguy, chiến công hiển hách nhưng mãi mãi không bao giờ được lưu danh sử sách. Thậm chí, tôi còn nghĩ nếu mình đủ thông minh, một ngày đẹp trời nào đó, sẽ có một người xuất hiện hỏi: cô có muốn gia nhập đội ngũ Night keepers với chúng tôi không. Chính vì thế, tôi có cảm tình với Người gác đêm ngay khi bắt đầu đọc phần giới thiệu. Một đứa trẻ bị bắt cóc ngay trong nhà, khi đang ngủ cạnh bố mẹ. Mẹ đứa bé là vận động viên điền kinh đang nắm kỷ lục chạy 1000m của tỉnh mà không đuổi kịp kẻ bắt cóc cõng theo đứa bé. Không cần nói cũng biết tên này không phải người thường, nếu đầu quân cho ngành thể thao nước nhà, nhất định làm rạng rỡ tổ tông. Ngoài khả năng chạy nhảy phi tường rất đỉnh ra, hắn còn có thể bẻ khóa, đột nhập không để lại dấu vết gì. Vụ án hoàn toàn rơi vào bế tắc. Vì một sự tình cờ, Tiêu Vọng – một cảnh sát thực tập phát hiện hóa ra đây không phải trường hợp duy nhất. Trong vòng 22 năm qua, đã có 31 đứa trẻ bị bắt cóc như vậy. Bọn bắt cóc chắc xem thầy nên chỉ nhè ngày mùng 8 tháng 6 âm lịch để ra tay. Điểm chung của những đứa trẻ này là bố mẹ chúng có năng lực đặc biệt. (Ơn trời, bố mẹ mình là người thường.) Dường như bọn bắt cóc đang muốn tổ hợp nguồn gen tốt để làm gì đó. Gần như cùng lúc với vụ bắt cóc số 31, 22 tên tội phạm đủ loại ngành nghề đồng loạt trốn thoát bằng một kế hoạch kín kẽ đến mức tưởng có nội gián. Kỳ lạ ở chỗ, những kẻ này không phải tất cả đều nhất thiết phải vượt ngục. Có những tên tội khá nhẹ, ngồi tù vài năm là ra, vượt ngục chỉ tổ tăng tội. Vì thế, nhiệm vụ bắt sống lại 22 tên này để hiểu động cơ của chúng rất quan trọng. Hai vụ án lớn cùng một lúc, thúc đẩy khao khát và nhu cầu thành lập lại tổ hoạt động Người Gác Đêm từng tung hoành giang hồ khiến kẻ xấu khiếp sợ mấy chục năm trước. Gần 1/2 truyện là giới thiệu hoàn cảnh, dẫn dắt đến sự tái khởi động tổ chức này (đặng còn viết mấy tập sau). Hơn 1/2 truyện còn lại là quá trình truy bắt 22 tên tù trốn trại, cũng là bài tập khảo nghiệm lọc thành viên của Người Gác Đêm, là điều kiện để Người Gác Đêm được hoạt động trở lại hay không. Quá trình tìm kiếm này, các vị đọc truyện sẽ biết, khá thú vị. Truyện có đoạn chuyển tông bất ngờ làm tôi ngạc nhiên. Ban đầu, tưởng bạn Tiêu Vọng là nam chính, hóa ra, em trai bản – Tiêu Lãng mới là chính. Tôi thích sự thay đổi này hơi vì bạn Tiêu Lãng là mẫu dương quang thụ điển hình, rất đối lập với lạnh lùng cô đơn sửu công – Lăng Mạc. Hai bạn trẻ đấu trí đấu mồm, cực kỳ tương ái tương sát. Theo kinh nghiệm đọc đam của tôi thì những cp kiểu này sau khi thân ái rồi sẽ vô cùng nóng bỏng và cuồng nhiệt. Người Gác Đêm bày ra một âm mưu khủng khiếp mà bạn Tiêu Vọng phát hiện ra như đã nói trên. Âm mưu lớn như vậy rất thu hút người đọc đón xem tập tiếp. Ở cuối truyện, một nhân chứng quan trọng bị giết, trong tay cầm mảng giấy ghi ba chữ Người Gác Đêm mở cho tôi suy nghĩ rằng nội bộ tổ chức NGĐ năm xưa bị chia cắt bởi 2 tư tưởng: một là nhóm người sẵn sàng ra tay giết những kẻ “họ cho là xấu” mà pháp luật chưa trừng trị và hai là nhóm người giống như bọn Tiêu – Lăng hiện nay – muốn bắt họ về quy án, cố gắng tìm ra kẽ hở pháp luật mà bọn chúng là lợi dụng để thoát tội, dần dần hoàn thiện hóa bộ máy pháp luật, giữ bình an cho nhân dân. Thế hệ kế thừa của 2 nhóm này sẽ đấu trí đấu dũng nhau trong các tập tiếp theo. Kết của tập 1 này kể ra làm tôi hơi chưng hửng vì nó giống như tôi đoán lúc đầu, hơi bị khó tin . Xuyên suốt quá trình phá án, tác giả gài hơi nhiều lời khen ngợi cho cơ quan công quyền và mấy cháu thực tập khiến tôi nghĩ lẽ nào trợ lý mới của Tần Minh là fan của teenfic. Bìa lần này tiến bộ hơn nhiều so với mấy cái bìa đỏ lòe trước nhưng bìa lót cần cải tiến. Khổ sách và lề hơi nhỏ. Tên của nhân vật Trình Tử Mặc bị nhầm thành Trần Tử Mặc. Quynh Anh Thi Dang *** Rất nhiều bạn bè hỏi tôi, series “Người gác đêm” này của anh, rốt cuộc là muốn bày tỏ điều gì? “Chống lại bóng tối, bảo vệ ánh sáng”, đây chính là tâm nguyện trong lòng của những người cảnh sát nhân dân - lực lượng hy sinh to lớn nhất trong thời đại hòa bình. Tôi rất tự hào bản thân mình là một người cảnh sát, tôi cũng muốn kể cho mọi người nghe những câu chuyện của cảnh sát. Nếu như có thể cùng với việc kể những câu chuyện của cảnh sát mà làm cho tinh thần pháp trị thấm sâu vào lòng người, thì càng là việc không mong đợi gì hơn nữa. Trước đây không lâu, trong buổi công bố của Tencent Picture*, tôi đã nói: “Series truyện Người gác đêm sẽ tiếp nối bối cảnh khoa học kỹ thuật hình sự chân thực, khoa học và nghiêm ngặt của series truyện “Pháp y Tần Minh”, nhưng sẽ có những đột phá về mặt phát triển đội ngủ cảnh sát và sự đối kháng trong tổ chức.” Đây chính là nguyện vọng chân thực nhất của tôi. Còn có người hỏi tôi, series “Người gác đêm” là những câu chuyện kể về một số siêu anh hùng trẻ tuổi phải không? Tôi nói không phải. Chúng ta đều biết, chỉ cần là miêu tả chân thực, tự nhiên sẽ không có siêu anh hùng gì cả. Tổ chức Người gác đêmthực ra là có nguyên mẫu thực của nó, đó chính là rất nhiều phòng công tác chuyên môn trực thuộc trung tâm giám định vật chứng Bộ Công an. Những chuyên gia lão luyện đức cao vọng trọng dẫn dắt đội ngũ tinh anh chuyên nghiệp trên mọi miền đất nước lập nên các phòng công tác, có thể nói là đi tới đâu phá được án tới đó, cho dù án khó, nghi án hay kỳ án, họ phá được hết vụ án này sang vụ vụ án khác, lập được rất nhiều chiến công hiển hách. Tôi chỉ là lấy họ làm nguyên mẫu, để cho một nhóm những bạn trẻ tràn đầy nhựa sống làm nhân vật chính mà thôi. Trẻ trung tinh nhuệ, tràn đầy nhiệt huyết, chăng phải cũng chính là trạng thái mà đội ngũ công an chúng ta cần phải có sao? Có điều là, tạo dựng một thế giới quan hoàn toàn mới, đối với một người không đủ trí tưởng tượng là tôi đây mà nói, thực là một việc khó khăn. May mà có sự giúp đỡ của các bạn trẻ trong công ty Văn hóa Truyền thông Nguyên Khí, chúng tôi hết lần này đến lần khác sửa đổi đề cương nội dung, điều chỉnh cốt truyện chính. Sau khoảng thời gian một năm, bản thảo trải qua mười mấy lần chỉnh sửa lớn nhỏ, cấu tứ câu chuyện của chúng tôi cuối cùng cũng dần dần trở nên rõ nét. Cuối cũng thì tôi đã có thể cầm bút tiếp tục sáng tác “Ngườigác đêm 2” rồi. Tại sao phải trải qua nhiều lần chỉnh sửa như vậy chứ? Điều này cần phải nói bắt đầu từ khi xuất bản cuốn “Người gác đêm 1”. Thực ra, trước khi sáng tác series “Người gác đêm”, chúng tôi đã có một tuyến truyện hoàn chỉnh rồi. Chỉ tiếc là, Lão Tần vốn là dân học tự nhiên, năng lực về mặt viết lách thực sự còn nhiều khiếm khuyết. Trong “Người gác đêm 1” cũng đã để lộ ra rất nhiều khuyết điểm. Sau khi “Người gác đêm 1” xuất bản, tôi đã tỉ mỉ đọc những lời nhận xét của các bạn độc giả. Dù phần lớn độc giả nhiệt tình cổ vũ động viên Lão Tần, nhưng cũng có không ít độc giả đưa ra nhiều phê bình, góp ý. Cho dù là động viên hay phê bình, Lão Tần tôi tại đây cũng xin được chân thành cúi đầu cảm ơn! Những tràng pháo tay, tiếng hoan hô và lời cổ vũ động viên của độc giả khiến tôi có thêm sự tự tin trên con đường sáng tác; những lời phê bình của các bạn độc giả cũng khiến tôi có thêm động lực để hoàn thiện bản thân, bổ sung những thiếu sót của mình. Với mong muốn để series “Người gác đêm” càng gần gũi chân thực hơn, để không phụ lòng mong đợi của độc giả, và cũng để cho cả câu chuyện thêm phần cuốn hút hơn, trên cơ sở tiếp thu ý kiến đóng góp của các bạn độc giả, chúng tôi đã điều chỉnh lại tuyến truyện chính. Cá nhân tôi cảm thấy, bản thảo hiện giờ còn ly kỳ và hấp dẫn hơn, ngay bản thân tôi chỉ mới nghĩ đến việc bắt đầu cầm bút viết đã thấy vô cũng hào hứng rồi. Bất luận thế nào, đối với một người vẫn đang không ngừng miệt mài viết tiếp bộ truyện “Pháp y Tần Minh” là tôi mà nói, series “Người gác đêm” là một sự khởi đầu hoàn toàn mới, là mốc giới quan trọng đánh giá sự đột phá vươn lên trong sáng tác của tôi. Trong quá trình viết bộ “Người gác đêm”, tôi luôn cảm thấy tư duy vững chắc của bản thân mình không ngừng bị lung lay, bầu trời trước mắt tôi ngày càng rộng mở. Tôi nghĩ, đây có lẽ chính là quá trình đang tiến bộ đấy nhỉ. Tuy rằng kết quả không chắc chắn hoàn mỹ, nhưng quá trình này khiến cho con người ta mê say. Bởi vậy mà nói series “Người gác đêm” vô cùng quan trọng trên con đường sáng tác của Lão Tần. Tôi biết, những độc giả thân yêu của tôi, nhất định sẽ nắm lấy tay tôi, cũng nhau trải qua những khó khăn trắc trở trên chặng đường sáng tác. Viết đến đây, trong lòng tôi chợt trào dâng cảm giác ấm áp vô ngần. Chính là các bạn độc giả của tôi, đã ở bên tôi trọn vẹn suốt hơn năm năm qua, cũng chính sự hợp lực của chúng ta, khiến cho những câu chuyện pháp y của công an được lưu truyền rộng rãi. Những câu chuyện trong series “Người gác đêm” rất phức tạp, muốn kể cho rõ ràng thì phải cần đến ba cuốn sách, Lão Tần tôi tha thiết mong rằng, mọi người có thể kiên nhẫn, từ từ nghe tôi kể hết câu chuyện. Tôi cũng thực lòng hy vọng, các bạn độc giả của tôi sau khi đọc xong series truyện “Người gác đêm” có thể hấp thu được dù chỉ là một chút dưỡng chất. Không dài dòng nữa, “Người gác đêm 2” là một mắt xích quan trọng kết nối hai phần trước sau series ba cuốn “Người gác đêm”,cũng là mắt xích đặc biệt quan trọng trong cả series, rất nhiều manh mối quan trọng đều sẽ xuất hiện trong cuốn sách này. Các bạn có mong chờ không? Vậy chúng ta cùng bắt đầu nhé! Tần Minh Ngày 20 tháng 9 năm 2017 Mời các bạn đón đọc Người Gác Đêm Tập 2 của tác giả Tần Minh.
Vụ Án Mạng Bên Hồ
Namikishi Yunsuke một mình lái chiếc xe Cima bon bon len lỏi trên con đường dài tít tắp dẫn tới Khu biệt thự hồ Himegami. Anh tới nhập hội với nhóm các ông bố bà mẹ tổ chức một trại ôn luyện cho bốn đứa trẻ chuẩn bị kỳ thi quan trọng vào trường trung học nổi tiếng. Khu biệt thự nằm giữa một rừng cây rậm rạp xanh rì, những tưởng là một nơi nghỉ dưỡng yên tĩnh và lý tưởng. Vậy mà máu đã đổ, một cái chết bất ngờ ập đến, một vụ giết người khó hiểu… Bốn cặp vợ chồng đang ấp ủ những mưu tính quái đản. Làm thế nào để kẻ sát nhân lộ diện? Mặt hồ Himegami phẳng lặng phản chiếu bầu trời xanh kia, có ngày lại gợn sóng… Vụ án mạng bên hồ là tác phẩm trinh thám thể hiện xuất sắc nghệ thuật kể chuyện tài ba của Higashino Keigo. Độc giả thực sự bị cuốn vào trò chơi tâm lý gay cấn, vừa bồn chồn khi gặp những nút thắt này thì lại háo hức trước những manh mối gợi mở khác. Xuyên suốt câu chuyện sẽ là những tình huống móc nối nhau tựa như bí ẩn lồng trong bí ẩn, bất ngờ đến tận những trang sách cuối cùng. *** Giống như những tác phẩm trinh thám trước đây của Higashino Keigo, yếu tố trinh thám vẫn luôn là cái nền móng vững chắc để ông xây dựng vào đó những khía cạnh về xã hội và tâm lý của con người. Với “Vụ án mạng bên hồ”, đi cùng khả năng kể chuyện tài ba và nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật tài tình là khả năng tháo gỡ nút thắt trong một câu chuyện với những tình huống đầy nghiệt ngã khiến bất kỳ độc giả nào cũng phải ngả mũ thán phục về cách dẫn dắt người đọc của Higashino Keigo. Sự sắp đặt vấn đề tài tình chỉ trong bốn chương sách “Vụ án mạng bên hồ” của Higashino Keigo có nội dung xoay quanh bốn gia đình tổ chức một trại ôn luyện cho bốn đứa trẻ chuẩn bị kỳ thi quan trọng vào trường trung học nổi tiếng ở một khu biệt thự lý tưởng cách xa thành phố. Vụ án không được kể dưới con mắt của người điều tra theo cách thông thường mà được Keigo đi ngay vào câu chuyện kẻ thú tội và cách bốn cặp vợ chồng cùng nhau che giấu tội ác này. Nghệ thuật kể chuyện từ đầu đến cuối cuốn sách là những nút thắt buộc chặt rồi được gỡ và qua vô số những sự bất thường của những nhân vật trong truyện, người đọc cảm giác như mình đang thực sự bị cuốn vào một trò chơi tâm lý gay cấn. Tưởng chừng là cái kết của “Vụ án mạng bên hồ” khi kẻ giết người đứng ra nhận tội lại mở ra một câu chuyện khắc nghiệt hơn nhiều chờ đợi ở phía sau. Điểm sáng trong “Vụ án mạng bên hồ” chính là cái cách mà Higashino Keigo lựa chọn và sắp đặt vấn đề đầy sáng tạo, có tính gợi mở rất cao. Hai yếu tố quan trọng để quyết định sự thành công cho cuốn tiểu thuyết này của Keigo, đó là: Giới thiệu nhóm các ông bố bà mẹ có cùng ước mơ cho con vào học trường chuyên lớp chọn để con cái sau này đều có một tương lai xán lạn và sự kết nối thầm kín giữa họ – Chính hai yếu tố này là động cơ và là sự lý giải phù hợp cho sự phát triển hành động, suy nghĩ của nhân vật Namikishi Yunsuke xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Sự tài tình của Keigo không chỉ dừng lại ở việc tạo ra một vụ án hay tình tiết ly kỳ, mà còn là sự giằng xé tâm can độc giả. Họ sẽ không tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi chính Keigo đã đặt ra, cũng không tìm thấy sự phán xét cá nhân cách xử lý vấn đề của nhân vật là đúng hay sai từ Keigo. Thứ đọng lại trong lòng độc giả khi gấp lại cuốn sách là sự thấu hiểu mọi đắng cay ngọt bùi mà các nhân vật đã phải trải qua. Tất cả đều được Keigo sắp xếp tài tình, tròn trịa chỉ với bốn chương sách và chắc chắn ông đã giữ chân được độc giả của mình ở lại để đồng hành cùng “Vụ án mạng bên hồ” cho đến những trang cuối cùng. Một cuốn sách đậm tính thời sự Tính thời sự trong tác phẩm đáng bàn nhất có lẽ là việc các bậc phụ huynh sẵn sàng hy sinh tất cả mọi thứ để con mình có thể đỗ vào trường chuyên lớp chọn.  Higashino Keigo một lần nữa khẳng định tài năng đầy sáng tạo với những cốt truyện mới lạ, táo bạo khi lựa chọn một vấn đề tưởng chừng như quá thân thuộc với độc giả và khó để có thể khai thác thêm. Trong “Vụ án mạng bên hồ”, Keigo khai thác triệt để ranh giới khó phân biệt giữa tình thương và sự áp đặt. Bậc làm cha làm mẹ nào cũng hy vọng một tương lai tươi sáng, một cuộc sống ổn định cho con cái mình sau này. Ấp ủ mong muốn này, ở Nhật Bản nói riêng hay các nước phương Đông nói chung ngay từ nhỏ các bậc cha mẹ đều hướng con mình học trường chuyên lớp chọn với những cuộc đua khốc liệt và căng thẳng như “chọi gà’’. Cuối cùng, trên tất cả, phần thưởng cao nhất được vẽ ra trong thời niên thiếu: đỗ vào trường trung học nổi tiếng. Cuộc đua vào trường trung học phổ thông không phải là xem học sinh nào giỏi hơn, mà là so ví tiền của cha mẹ nào dày hơn, sự bất chấp vượt qua mọi rào cản của ai lớn hơn để con có điều kiện đi học chỗ tốt hơn. Ta tự hỏi bọn trẻ làm sao khác đi được, khi chúng đã được dưỡng dục cẩn thận như thế, được tuyển lựa khắt khe qua vòng này vòng kia và được gọt giũa kỹ lưỡng về mặt tư duy? Bọn trẻ sẽ làm bất cứ việc gì người khác yêu cầu, đạp đổ mọi chướng ngại vật để đạt được điều mà chúng tin là đúng. Qua đó, tác phẩm đã thể hiện một góc nhìn về những lý lẽ của các bậc phụ huynh để bắt con cái sống theo kỳ vọng ích kỷ của bản thân đã vô tình khiến những đứa trẻ bị huỷ hoại ngay từ khi còn nhỏ và có lẽ sẽ khó có khả năng nhận ra mình sai khi mắc lỗi. Kết: “Vụ án mạng bên hồ” của Higashino Keigo là một câu chuyện thiên về tâm lý và khiến độc giả phải theo dõi những biến hoá trong từng câu thoại của mỗi nhân vật. Hãy đến với tác phẩm để bạn có thể tự cảm nhận mọi xúc cảm của bản thân khi hòa mình vào câu chuyện của các nhân vật. Để tự vấn chính mình đâu là ranh giới của sự yêu thương bao bọc? Khi ta làm cha làm mẹ sẽ yêu thương con mình như thế nào cho “đúng cách”? ** Trước hết, hãy cứ phải nói rằng tôi là một người đọc đặc biệt không thích trinh thám. Số truyện tôi đọc về thể loại này tính đến hiện tại chắc cũng chỉ xoay quanh đâu đó số 10. Lý do thứ nhất khiến tôi không đọc trinh thám là vì não tôi nhảy số chậm, tôi chẳng bao giờ đoán ra được hung thủ là ai. Lý do thứ 2 là vì đã là trinh thám thì chắc chắn sẽ có kẻ thủ ác, mà đã có điều ác luôn khiến tôi sợ hãi. Tôi sợ không chỉ là hành động tội ác mà hơn hết, là những gì ẩn sâu bên trong lòng người. Thế giới này vốn đã quá phức tạp rồi. Thực cũng khá lâu rồi tôi không đọc truyện của Higashino Keigo. Biết đến tác giả từ Điều kỳ diệu của tiệm tạp hóa Namiya, tôi hoàn toàn bị thuyết phục vì những câu chuyện được ghép lại rất mượt và tinh tế. Đến Bạch dạ hành thì Keigo đã trở thành cái tên không thể bỏ qua đối với những người đọc say mê những câu chuyện tâm lý. Thế nhưng trong rất nhiều fan trinh thám thích thú với những tác phẩm của Higashino Keigo thì thật tiếc là tôi lại không thấy có gì đặc sắc cho lắm. Sau Hoa mộng ảo có cái kết khá kì cục, tôi quyết định thử lại một lần nữa với trinh thám của Keigo. Liệu Vụ án mạng bên hồ đây có phải tác phẩm khiến tôi quay đầu hay không? Vụ án mạng bên hồ của Higashino Keigo có nội dung xoay quanh 4 gia đình cho con tập trung ở khu vực xa thành phố để ôn thi. Vụ án không được kể dưới con mắt của người điều tra thông thường mà được tác giả đi ngay vào đối tượng thực hiện và những hoạt động xử lý sau đó. Từ đầu đến cuối câu chuyện là những nút thắt được buộc, được gỡ và qua vô số những sự bất thường của những nhân vật trong truyện, tôi cũng không bất ngờ với cái kết. Cái kết của Vụ án mạng bên hồ có thể chỉ là bắt đầu cho một câu chuyện khắc nghiệt hơn nhiều chờ đợi ở phía sau. Trong Vụ án mạng bên hồ, Higashino Keigo không khiến tôi bất ngời bằng những cú twist mà ở các nhân vật ông tạo nên. Những kẻ, vì lý do nào đó, vừa thực hiện hành vi liên quan đến tội ác giết người nhưng vẫn còn nhớ là ở đây (trong biệt thự) hình như không cho hút thuốc hay ngủ ở sofa không tốt. Người ta có suy nghĩ rằng, ngoại tình như một chất bôi trơn để tận hưởng cuộc sống. Khi đọc đến những chi tiết này, tôi đều khựng lại để thử nghĩ xem rốt cuộc mình đang đọc thứ gì. Thế nhưng, xét cho cùng thì sự suy đồi về nhân cách, về lối sống không chỉ có ở đất nước cách chúng ta 6 giờ bay. Tuy câu chuyện với thời lượng chủ yếu là nói về người lớn nhưng trọng tâm của họ lại xoay quanh những đứa trẻ. Những lý lẽ của họ luôn dựa trên cái trục là tốt cho con của mình. Fujima đã khiến tôi nghĩ “Ồ, có lẽ mình cũng được xếp vào kiểu phụ huynh đúng chuẩn (bình thường) khi luôn nghĩ bọn trẻ có quyền tự do với quyền lựa chọn của chúng”. Tôi ngẫm nghĩ và thấy anh ta nói cũng không quá sai. Thế nhưng, đến cùng thì những bậc cha mẹ cũng chỉ là những kẻ biện minh quá lỗi thời khi dùng những lý lẽ cũ rích để bắt con sống theo kỳ vọng ích kỷ của bản thân. Họ đã vô tình khiến những đứa trẻ bị huỷ hoại ngay từ khi còn nhỏ và có lẽ sẽ không bao giờ nhận ra mình có lỗi. Trong cả câu chuyện này, tôi thương những đứa trẻ thật sự. Vụ án mạng bên hồ của Higashino Keigo vẫn là câu chuyện thiên về tâm lý và khiến độc giả phải theo dõi những biến hoá trong từng biểu cảm của nhân vật. Sách khá mỏng và dễ đọc. Một câu chuyện có nhiều điều để suy ngẫm. Lá Xanh *** Đám mây trôi lơ lửng trên bầu trời trước mắt, trông như một vết bẩn bị vạch trên nền trời. Những mảng màu xanh tươi len lỏi giữa đám mây. Namikishi Yunsuke buông bàn tay trái khỏi vô-lăng, đưa lên bóp vai phải, rồi lại đổi tay cầm vô-lăng, bóp vai trái. Sau cùng anh lắc đầu sang hai bên, tạo ra những tiếng lục khục. Trên làn xe bên phải của đường cao tốc Chuo, chiếc Cima anh lái đang chạy quá hai mươi kilomet so với tốc độ quy định. Radio trên xe ra rả nhắc đến những cung đường bị tắc do dòng người đổ về quê dịp lễ hội Obon. Có vẻ năm nay tình trạng ùn xe đỡ hơn mọi năm. Chiếc xe xuống hết đường cao tốc, băng qua trạm thu phí, anh lấy điện thoại ra. Rồi anh tìm một số điện thoại lưu trên máy trong lúc dừng xe chờ đèn đỏ. Số điện thoại ấy được lưu dưới cái tên “ET”. Anh bấm gọi, nhưng đầu dây bên kia để chế độ trả lời tự động. Anh tặc lưỡi, đành cất điện thoại vào trong túi quần. Theo hướng dẫn trên màn hình chỉ đường, chiếc xe cứ thế mải miết chạy một hồi lâu. Chẳng mấy chốc sau đó, nó đã len vào một con đường nằm lọt thỏm giữa rừng cây. Con đường vẽ ra những đường cong mềm mại; ở những đoạn quang đãng, hai bên vệ đường lại mọc lên bảo tàng hay quán ăn nhỏ như thể thế chỗ của cây cối. Những căn nhà đó đều khoác lên mình dáng vẻ sang trọng theo phong cách của một đất nước xa lạ nào đó. Tấm biển báo cho biết khu biệt thự hồ Himegami còn cách bao nhiêu cây số hiện ra trước mắt. Trông thấy nó, Yunsuke bất giác thở dài. Con số thể hiện khoảng cách trên tấm biển đã giảm dần. Đến tấm biển cuối cùng với hàng chữ “Khu biệt thự hồ Himegami—rẽ trái ở đây”, anh xoay vô-lăng. Chiếc Cima màu xanh tím than rẽ vào con đường nhỏ bao quanh bởi rừng cây rậm rạp. Những con đường hẹp trong khuôn viên khu biệt thự nối nhau chạy dài như mê cung. Các căn biệt thự không nằm san sát nhau thành từng cụm, mà rải rác như tô điểm cho khu rừng sâu. Bên rìa con đường là một bãi đất trống. Ba chiếc xe ô tô đỗ sát nhau ở đó: một chiếc xe Mercedes-Benz màu xám bạc, một chiếc BMW màu tím than và một xe Wagon màu đỏ. Cả ba xe đều quay đèn hậu về phía mặt đường. Yunsuke cũng đỗ xe vào bãi đất đó, tay cầm túi và áo jacket màu trắng, bước ra ngoài xe. Anh đóng cửa, rồi mặc áo. Ngay bên cạnh bãi đất trống có một cái cầu thang dẫn xuống phía dưới. Một tòa biệt thự màu nâu cháy nằm phía trước cầu thang. Khu rừng trải rộng bao quanh khiến ngôi biệt thự đó trông như thể ngập chìm trong biển cả màu xanh lục. Yunsuke toan bước xuống cái cầu thang trông như thể mấy tảng đá lớn được ghép đại lại, chợt có tiếng phụ nữ loáng thoáng vọng đến tai. Theo phản xạ, anh quay mặt nhìn về hướng giọng nói phát ra, một cái sân tennis xuất hiện trong tầm mắt. Yunsuke chậm rãi đi về phía cái sân tennis đó. Bốn người cả nam và nữ đang ở bên trong khoảng sân chăng lưới thép. Họ đang hăng say chơi bóng hai chọi hai, hay còn gọi là đánh đôi nam nữ. Anh đứng ở gần lưới thép, tháo kính râm. Một người đàn ông và một người phụ nữ đứng cạnh nhau, quay lưng về phía anh. Đội bên kia chuẩn bị phát bóng, người phụ nữ mảnh dẻ đứng ở đầu sân bên kia vung vợt lên vào tư thế chuẩn bị. Cô toan tung quả bóng thì nhìn thấy Yunsuke, liền lập tức dừng lại. Thấy cô dừng tay, ba người còn lại không ai bảo ai đồng loạt hướng mắt nhìn về phía anh. “Tôi xin phép một chút.” Cô nói với những người kia, tay cầm vợt và bóng, vòng ra ngoài sân tennis, đi về phía Yunsuke. Hai người đứng đối diện nhau qua tấm lưới thép. “Anh đến sớm hơn em nghĩ.” Cô thở hổn hển. “Anh xong việc sớm.” Ba người kia cũng đi về phía này. “Chồng cô à?” Người phụ nữ vóc người nhỏ nhắn hỏi. Gương mặt cô ta tròn xoe, trang điểm đậm. “Vâng.” Người phụ nữ mảnh khảnh khẽ gật đầu. “Tôi là Namikishi.” Yunsuke cúi đầu. “Cảm ơn mọi người luôn giúp đỡ Minako và Shota nhà tôi.” “Anh đừng khách sáo, chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau mà.” Người đàn ông áng chừng trên dưới năm mươi tuổi nói. Anh ta đeo trên đầu một món đồ màu trắng nổi bật. Cái băng-đô giữ cho chiếc kính màu xanh vàng không bị tuột ra. “Tôi là Fujima. Còn đây là vợ tôi, Kazue.” “Chào cô.” Yunsuke cúi đầu chào. “Đây là anh Sakazaki. Sakazaki Yotaro.” “Tôi là Sakazaki.” Người đàn ông đánh cặp với Minako ban nãy chào hỏi anh. Anh ta khoảng trên dưới bốn mươi tuổi, theo ước đoán của Yunsuke. Gương mặt rắn rỏi ngự trên thân hình săn chắc. Sakazaki quay sang Fujima. “Anh Namikishi cũng đến đây rồi, chúng ta ngừng chơi thôi nhỉ. Với lại cần sửa soạn cho bữa tối nay nữa.” “Anh nói phải. Để cho mọi người có thời gian tắm táp.” Fujima nói với vợ mình. “Em thì cần nằm ngả lưng một chút.” “Em không biết lượng sức gì cả, có tuổi rồi mà còn thế. Đáng lẽ không nên chơi đấu đôi.” “Nhưng cũng vui mà.” Kazue nhìn sang Minako, ánh mắt như mong mỏi sự đồng tình của cô. Minako gật đầu hưởng ứng. Sakazaki ở bên cạnh dọn đồ, nhưng không quên buông lời khen ngợi. “Vợ anh tiến bộ nhiều đấy. Động tác của cô ấy hoàn toàn khác trước đây.” “À, thế ư? Vậy là tôi có thể tự tin thêm một chút rồi.” “Thôi đi Sakazaki, cô ấy mà lên mặt thì phiền cho tôi đấy.” Sakazaki và Minako bật cười. Yunsuke đứng ở ngoài sân tennis, mắt nhìn xuống chân mình. Mời các bạn đón đọc Vụ Án Mạng Bên Hồ của tác giả Higashino Keigo & Nguyễn Phương Chi (dịch).
Đại Đường Phạm Thiên Ký
“Từ Hà Bắc tới Trường An, trên những trục đường cổ, đao hỏng kích gãy và hài cốt nằm rải rác khắp nơi. Thi thoảng còn xuất hiện chó hoang tha xương người chạy dọc ven đường, nhe nanh trợn tròn cặp mắt đỏ au. Đôi khi chúng bám theo cả những người đi đường, răng nghiến ken két. Đưa mắt nhìn quanh chỉ thấy thôn xóm hoang tàn, cỏ dại mọc tràn lan, cùng vài vết máu khô bám trên những vách tường đổ nát thê lương trong gió.”  “Tiếng đàn văn vẳng, trong núi như có người chết sống lại, lấy da người làm trống, lấy xương người làm dùi, gõ nhịp trống thần bí xa xăm. Lại có lân quang từ hài cốt hóa thành lửa ma trơi lấp lánh, múa lượn dưới ánh trăng.” *** Bộ sách 81 Án Tây Du gồm có: Đại Đường Nê Lê Ngục Tây Vực Liệt Vương Ký Đại Đường Phạm Thiên Ký Đại Đường Đôn Hoàng Biến *** [Review] 81 án Tây Du – Đại Đường Phạm Thiên Kí DECEMBER 29, 2019 HA LAM Tên: 81 án Tây Du – Đại Đường Phạm Thiên ký. Tác giả: Trần Tiệm. Thể loại: trinh thám Đây là quyển thứ ba trong chuỗi “81 án Tây Du” của tác giả Trần Tiệm. Trong tập này, Đường Tăng khi ấy đã trải qua mười hai năm học tập ở chùa Na Lan Đà, trở thành một đại tăng đức cao vọng trọng ở Tây Vực. Những vụ án cuốn ngài vào lần này còn rắc rối hơn cả trước đây, liên quan tới sự tồn vong của nhiều quốc gia ở cả Tây Vực và Đại Đường. Đọc hết cuốn sách, mình mở lại trang đầu để tìm lại một số thông tin, bỗng cảm thấy như vừa trải qua một kiếp người, thật thật ảo ảo, mộng tưởng và hồi ức đan xen vào nhau. Như Đường Tăng nói với Giới Nhật Vương: “Thưa bệ hạ, bần tăng không bao giờ so sánh thật với giả”. “Sao?”, Giới Nhật Vương hỏi: “Vậy nên so sánh thật với thứ gì?”. “Ảo!” Huyền Trang nói: “Phật gia nói thật chính là không điên đảo, không hư vọng, không thể bàn cãi, chí lí vĩnh hằng. Nhưng vĩnh hằng này trên thực tế cũng nằm trong sinh diệt vô thường, vạn vật như bong bóng. Đó chính là ảo. Thật và ảo là sự khác nhau của các tầng lớp sinh mệnh. Bệ hạ hãy xem tổ kiến dưới gốc cây sa la kia”. Giới Nhật Vương nhìn lại, bên cạnh sân khấu kịch, dưới gốc cây sa la quả nhiên có một tổ kiến. “Kiến chúa ngồi trên vương toạ nhìn kiến thợ trong vương quốc vất vả bận rộn nuôi dưỡng nó, nó đương nhiên cho rằng đây là chân thật chứ không phải hư ảo” Huyền Trang cười nói: “Nếu có ngày nó luân hồi vãng sinh thành người, đứng dưới gốc cây nhìn tổ kiến này, nhìn kiến chúa trên vương toạ và nhớ lại kiếp trước, vậy đó là chân tướng hay là ảo giác?” Quyển sách thứ ba này không làm mình thất vọng. Với lối kế chuyện mang đầy Phật pháp như hai quyển đầu, cùng màu sắc li kì hoang đường nhưng được lí giải cặn kẽ, tác giả đã nói về sự sống và cái chết, tình yêu và sự luân hồi nghiệp quả kiếp trước kiếp này một cách thuần thục tài tình. Một điểm mình nhận thấy ở ba quyển là quyển nào cũng có tình yêu chân thành sâu sắc đến chết đi sống lại giữa đôi trai tài gái sắc nhưng bị chia tách. Ờm, chỉ là điều mình nhận thấy thôi, không có ý gì khác hết.
Tây Vực Liệt Vương Ký
“Gia Tư Đinh trước khi chết nói với Huyền Trang rằng: “Trong bình có quỷ…” Ấy vậy mà lại có ma quỷ thật. Con quỷ trong chiếc bình nhìn thấu dục vọng của chúng sinh, khuấy đảo cả một vùng Tây Vực vốn đã bất ổn nay lại càng hỗn loạn hơn. Chiếc bình của vua Đại Vệ đi đến đâu, nơi đó máu chảy nhuộm đỏ sa mạc, ánh nắng mặt trời không thể chiếu rọi. Nhưng ma quỷ có thần thông quảng đại đến mức một tay che kín cả bầu trời…” *** Bộ sách 81 Án Tây Du gồm có: Đại Đường Nê Lê Ngục Tây Vực Liệt Vương Ký Đại Đường Phạm Thiên Ký Đại Đường Đôn Hoàng Biến *** Reviewer: Điền Yên —– Tập 2 này hay không thua gì tập 1, các câu chuyện lồng ghép vào nhau, khi ta vừa tưởng đây là kẻ chủ mưu thì lại lòi ra một boss khác to hơn. Bối cảnh của truyện là phần sau của tập 1 nhưng không đọc tập 1 mà bay vào tập 2 cũng không quá mức lạ lẫm. Sau khi phá vỡ một âm mưu tày đình nhắm vào hoàng đế Trung Hoa thì Huyền Trang lại tiếp tục đường Tây Du, và lần này thì nâng level lên phá án xuyên quốc gia. Ở Tây Vực lưu truyền câu chuyện về Chiếc bình của vua Đại Vệ, giống như thần đèn, hắn cho ngươi 3 điều ước, sau khi điều ước số 3 hoàn thành, ngươi phải trả tự do cho hắn. Chiếc bình này là vật trấn quốc của Tát San Ba Tư suốt 400 năm. Có chiếc bình trong tay, không kẻ thù nào xâm phạm được vương quốc. Bởi vì quốc vương không bao giờ ước đủ 3 điều, cứ xong điều 2 thì truyền cho kế hoàng đế, cứ như thế lừa gạt, lợi dụng chiếc bình để duy trì thái bình thịnh trị. Nhưng sức hút của chiếc bình quá lớn, ai mà chẳng ôm ấp những khát vọng khó thành, bỗng nhiên xuất hiện một vị thần có thể biến chúng thành hiện thực, ngay đến người thiền tâm trấn định như Huyền Trang cũng không khói có chút lung lay, đừng nói những người dã tâm sâu nặng. Chính vì thế, chiếc bình trở thành vật bị tranh đoạt khắp Tây Vực. Nhưng thực tế hơn cả chiếc bình, đó là Con đường Tơ Lụa, các quốc gia nhỏ đều phải dựa vào con đường này mà tồn tại, chỉ cần tuyến đường thay đổi là có thể dẫn đến sự hưng thịnh hay suy tàn của cả vương quốc.Nhân vật chính trong cuộc chiến giành Con đường Tơ Lụa trong Tây Vực liệt vương ký là Yên Kỳ và Cao Xương. Mối tình như Romeo và Juliette của Tam hoàng tử Cao Xương và công chúa Yên Kỳ trở thành công cụ chính trị, có điều, ở đây khác một chút. Công chúa Yên Kỳ xinh đẹp cơ trí, từ nhỏ đã biết mình nặng gánh giang san nên hoàn toàn khinh bỉ chàng hoàng tử si tình tội nghiệp không màng vương vị. Nhưng nếu có thể lợi dụng tình yêu của chàng để đạt được mục đích thì nàng không ngại diễn một vở kịch tình yêu thống thiết. Tam hoàng tử này, ban đầu tôi cực kỳ ngứa mắt vì chàng ta ngoài tình yêu với Long Sương công chúa ra thì chẳng để ý tới bất kỳ cái gì. Giang sơn xã tắc, cha mẹ huynh đệ, danh dự mặt mũi chỉ là mây bay, chàng sẵn sàng tung hê tất cả chỉ vì một nụ cười của giai nhân. Sao trên đời lại có cái loại đàn ông bạc nhược ngu xuẩn thế không biết?! Long Sương Nguyệt Chi nghĩ thế, tôi đồng tình với nàng, cả thiên hạ không ai nghĩ khác, trừ Chu công công – người chăm sóc cho hoàng tử từ nhỏ. Trong mắt ông, chàng là người thông tuệ nhất. Mãi khi đọc đến cuối truyện tôi mới nhận ra Chu công công đã đúng. Không phải chàng là boss cuối, toàn bộ câu chuyện đều là mưu kế của chàng như tôi đã đoán mò ban đầu mà tận đến phút cuối cùng, Khúc Trí Thịnh vẫn là 1 người chỉ đặt Long Sương Nguyệt Chi làm mục tiêu tối thượng. Đó chính là điểm cao minh của chàng, biết rõ mình muốn gì, luôn một mực bám đuổi mục đích, không hề suy chuyển, bất chấp thế nhân, nhưng về sau, trên con đường Tây Du với Huyền Trang, chàng đã học được nhiều điều, biết buông bỏ mà không từ bỏ.Thực ra, gây ấn tượng sâu sắc nhất với tôi trong bộ truyện này là hai câu chuyện. Câu chuyện thứ nhất có thể viết thành một bộ ngôn tình. Khi đọc lịch sử, tôi luôn suy nghĩ về số phận của các nàng công chúa hòa thân – những cô gái chân yếu tay mềm gánh trọng trách của cả dân tộc, phải phát triển duy trì mối quan hệ giữa 2 quốc gia, phải đóng vai trò gián điệp công khai. Các nàng có khác gì chất tử, là con tin đưa đến dị quốc, quan hệ hai nước tốt đẹp thì nàng được tử tế, bằng không, sự khó khăn mà các nàng phải đối mặt thật khó tưởng tượng nối. Nếu quốc gia của nàng bị diệt vong, nàng chỉ là con bài vứt đi. Chết không chết được vì còn phải gánh trách nhiệm với lưu dân sống sót, sống cũng không xong, nhất là khi trượng phu của nàng là một kẻ khốn nạn. Vũ Văn Ngọc Ba là công chúa thời Tùy Mạt, sang Cao Xương hòa thân. Năm đầu tiên, phu thê ân ái, nhưng sang năm tiếp theo, nhà Tùy sụp đổ, vương triều Cao Xương bị đảo chính, nàng cùng hoàng tộc Cao Xương phải nương nhờ Đột Quyết. Một nàng công chúa vong quốc như nàng thì còn có tác dụng gì ngoài nhan sắc? Chồng nàng đẩy nàng lên giường quý tộc Đột Quyết, cố giành chút lợi ích. 6 năm lưu lạc là 6 năm nàng chịu đủ khuất nhục, đến khi giành lại được vương quyền, hắn vẫn phong nàng làm vương phi nhưng đêm đêm hàng hạ tra tấn nàng, khiến toàn thân nàng đầy vết thương thê thảm, khiến tâm hồn nàng chết tàn chết lụi. Nhưng nàng không dám tự sát vì con dân nàng vẫn còn sống, vì nàng tìm được một người yêu nàng. Người ấy vì nàng mà ủ mưu mười mấy năm, chỉ cần hắn lên ngôi, nàng sẽ là vương phi của hắn. Nhưng cả nàng và hắn lại đều chỉ là quân cờ trong một ván cờ của người khác. Người này cũng vì oán hận mà âm thầm lập kế 20 năm, không ngại hủy hoại ngàn vạn người. Trí tuệ của y thật khó lòng đo đếm được. Rốt cuộc, Ngọc Ba – nàng công chúa hòa thân của vong quốc vẫn không thể đến được với người mình thương. “Nhà gả ta tới phương trời xa, tới vùng dị quốc vua Ô Tôn cai trị. Lều vải thay nhà, tường là chăn dạ, lấy thịt thay cơm, sữa dùng thay nước. Ở nơi này thường đau lòng tưởng nhớ, muốn làm cánh hạc tìm về lại cố hương.” Và câu chuyện thứ hai khiến tôi nhớ đến Bạch Dạ Hành, dù người ấy đang ở dưới ánh mặt trời chói lọi vẫn như bước đi trong bóng tối u ám vĩnh hằng. Câu chuyện này, nếu tôi kể ra thì sẽ lộ hết bí mật. Huyền Trang là mắt xích kết nối tất cả những câu chuyện này. Là Phật tử nhưng dường như ngài theo chủ nghĩa duy vật, ngay từ đầu đã không tin ma quỷ, không tin chiếc bình kia thực sự có thần yêu trấn yểm mà đã dự đoán có người bày ra mưu ma chước quỷ hòng xáo động lòng người. Ngài làm mọi kế hoạch thay đổi, là người chứng kiến nỗi bi thương, lòng tham hận của con người, ý chí tới Thiên Trúc thỉnh kinh của ngài càng thêm sắt đá. Bằng lòng nhân từ và trí thông minh của mình, ngài đã phá giải bí mật lưu truyền hơn 400 năm về Chiếc bình của vua Đại Vệ. Nhưng dù sao, ngài cũng chỉ là một cá nhân nhỏ nhoi trong dòng chảy lịch sử, bánh xe số phận không vì ngài chặn mà dừng lại. Người phải chết vẫn chết, người không phải chết cũng chết. Hành sự tại nhân, thành sự tại thiên, người tính không bằng trời tính, tưởng đã xong hết rồi mới đau đớn nhận ra bao công lao khổ cực của mình bấy lâu chỉ đổ ra sông ra biển, toàn bộ kế hoạch đã hỏng ngay từ bước đầu tiên. Văn phong tác giả vẫn như tập 1, viết rất chắc tay, tìm hiểu kỹ càng lịch sử, lồng những chi tiết có thật vào tác phẩm tưởng tượng của mình. Lời văn vừa gay cấn vừa hóm hỉnh. Ví dụ như đoạn Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh bị bắt, ném xuống một cái giếng hoang: “- Sư phụ, đệ tử sợ chết. – Khúc Trí Thịnh thành thật nói – người dùng Phật pháp khuyên răn đệ tử đi. – Bần tăng không có cách nào dùng Phật pháp để khuyên răn con, – Huyền Trang tiếp tục ngáp. – Tại sao? – Khúc Trí Thịnh buồn bực. – Bởi vì… – Huyền Trang duỗi chân ra cho hỏi mái một chút, nước tron giếng ào ào vang lên, – trong lòng bần tăng đang niệm A Di Đà Phật, khi sợ chết, ta lập tức nghĩ rằng có lẽ sau khi chết rồi vừa nhắm mắt lại liền có thể nhìn thấy Phật. Như vậy bản thân lại cảm thấy vui vẻ. Nhưng con thì sao? Trong lòng con chỉ nhớ đên Long Sương Nguyệt Chi, nếu vừa nhắm mắt mà lại nhìn thấy Phật A Di Đà, con chắc là không thấy vui vẻ đâu.” Dịch giả của tập 2 này cũng rất tốt. Truyện có khoảng hơn chục lỗi chính tả và ngữ pháp. Giá bìa 186K nhưng với lượng trang sách này thì giá đó là xứng đáng. Sách nặng 850g, nằm đọc chỉ sợ rơi vào mặt thì lại được lý do chính đáng đi làm lại mũi. Cùng một hình vẽ, màu cát rất hợp với cái tên truyện vì vùng Tây Vực luôn làm tôi nghĩ đến gió, cát và sa mạc. Truyện hay, đáng đọc. Vô cùng ngóng chờ tập 3 và các tác phẩm khác của Trần Tiệm, Dang Thi Quynh Anh *** Công Nguyên năm 628, Đại Đường năm Trinh Quán thứ hai. Mùa xuân tháng Hai. Tại lưu vực Lưỡng Hà cách Trường An một vạn bốn nghìn dặm, đế quốc Tát San Ba Tư[1] (Sassan) đã tồn tại được bốn trăm năm, đúng vào năm trị vì thứ ba mươi tám của vị hoàng đế vĩ đại cuối cùng - Khố Tư Lỗ đệ nhị[2] (Khosrow II). Khố Tư Lỗ đệ nhị đã già yếu và sa đọa. Ba mươi tám năm trước, sau khi phế vị rồi giết chết phụ vương mình, ông ta đã dành hai mươi năm để càn quét Bái Chiêm Đình[3] (Đế quốc Đông La Mã/Byzantium), chinh phục Tiểu Á Tế Á[4] (Anatolia), cướp sạch Tự Lợi Á (Syria), chiếm đóng An Điều Khắc[5] (Antiochia), Đại Mã Sĩ Cách[6] (Damascus), Gia Lộ Tát Lãnh[7] (Jerusalem) và toàn bộ Ai Cập[8], thánh vật của Bái Chiêm Đình - cây thập giá hành quyết Chúa Gia Tô (Chúa Jesus) - cũng trở thành chiến lợi phẩm cho ông ta tùy ý đem ra khoe mẽ, trưng giễu trên đường diễu binh, dưới sự trị vì của ông ta Tát San Ba Tư đã chuyển biến, đạt đến đỉnh điểm của sự huy hoàng. Sau đó, chỉ mất vỏn vẹn có hai năm để Khố Tư Lỗ đệ nhị đưa đế chế của mình từ đỉnh cao huy hoàng trượt dài xuống đáy sâu trụy lạc. Vị hoàng đế xấu xa của Bái Chiêm Đình là Hi Lạp Khắc Lược[9](Heraclius) và người Đột Quyết bí mật câu kết với nhau, chia làm hai cánh quân, từ hai mặt trận phía đông và tây đánh úp vào, đại quân của Hi Lạp Khắc Lược thế như chẻ tre, đánh thẳng từ Tiểu Á Tế Á tới Thái Tây Phong[10] (Ctesiphon). Trong thủ phủ của đế quốc, nơi nơi đều là những quý tộc ấp ủ tham vọng riêng, là những vị tướng quân cao ngạo không chịu tuân phục hoàn toàn, là những người dân thường đang chờ đợi thời cơ tạo phản và đám nhi tử lòng dạ hiểm ác khó lường. Ánh mặt trời chiếu rọi lên cung điện Thái Tây Phong, hương liệu an thần được đốt trong lư hương bằng ngọc lưu ly tỏa ra làn khói xanh nhàn nhạt, hòa trong ánh mặt trời, chờn vờn giữa tẩm cung nguy nga lộng lẫy. Khố Tư Lỗ đệ nhị mệt mỏi tỉnh dậy, nhưng xem chừng không muốn mở mắt ra. Hai năm nay lão hoàng đế mắc phải bệnh kiết lị, tháo dạ nghiêm trọng khiến sức khỏe suy sụp hẳn, cũng khiến cho tính tình càng trở nên cáu kỉnh, nóng nảy. Trong suy nghĩ, Khố Tư Lỗ đệ nhị hoài niệm đến hành cung Hải Nhĩ Vượng[11] (Dastgerd), nơi đó khiến ông ta nhớ đến những ngày tháng ở cùng với ái phi Hi Lâm[12] (Shirin). Ông ta vì nàng mà cho xây dựng cung điện Tháp Cách Địch Tư[13] (Behistun), vòm mái điện dát vàng, nạm bạch ngọc làm thành mặt trời, mặt trăng và các vì sao, kết hợp cùng nhiều cơ quan vận hành phức tạp, để khi bọn họ nằm trên giường, có thể nhìn thấy được sự chuyển động của mặt trời và sự thay đổi của bốn mùa. Mặc dù năm nay Hi Lâm đã gần năm mươi tuổi, ông ta vẫn cho rằng nàng là người phụ nữ đẹp nhất trên thế gian này. Đáng tiếc, hành cung Hải Nhĩ Vượng đã bị hoàng đế Hi Lạp Khắc Lược phá hủy, lúc này gã vẫn đang nán lại ở ngoài thành Thái Tây Phong chưa muốn dời binh, chờ đợi thời cơ giáng cho Tát San Ba Tư một đòn trí mạng. Nhớ đến Hi Lâm, gương mặt của Khố Tư Lỗ đệ nhị dịu dàng hẳn, ông ta quyết định nghe theo lời khuyên nhủ của Hi Lâm, lập hài tử của nàng là Mã Nhĩ Đan Sa (Mardanshah) làm thái tử, mặc dù đứa nhỏ mới chỉ sáu tuổi. Vậy thì đã sao? Ta vẫn là vua của Tát San Ba Tư, vua của vạn vua, vua của toàn vũ trụ! Khố Tư Lỗ đệ nhị hạ quyết tâm, gắng cựa người ngồi dậy, thì bất chợt có một bàn tay xuất hiện trong làn khói hương an thần chờn vờn trước mắt, áp lên trán và dùng sức ấn cơ thể ông ta nằm xuống giường. Khố Tư Lỗ đệ nhị còn chưa kịp phản ứng, đã thấy có thêm vô số bàn tay xuất hiện trong màn khói hương, cổ, tay và chân của ông ta đều bị giữ chặt, bị đè ép trên giường thành hình chữ đại (大). Sự tình quái lạ xảy ra trong nháy mắt, dường như đang có rất nhiều người khéo léo phối hợp cùng với nhau để đối phó với ông ta, nỗi sợ hãi khôn cùng dâng trào, nhưng lão hoàng đế không nhìn thấy bóng dáng những người đó. Khố Tư Lỗ đệ nhị cố há miệng ra, muốn kêu thét lên, nhưng miệng đã bị bịt chặt lại, bọn họ dùng một cái kìm bằng đồng xanh kẹp lấy một viên trầm an thần còn cháy đỏ lửa ra khỏi lư hương rồi nhét vào miệng ông ta. Lão hoàng đế không ngừng giãy giụa, phát ra những tiếng kêu rên rỉ vì đau đớn. Nhưng chiếc kìm kia vẫn đâm sâu vào trong cổ họng của ông ta, cho đến tận khi viên trầm nóng nghẹn lại trong cổ họng mới thôi. Cơn đau xé họng cùng sự khó thở đã khiến cho Khố Tư Lỗ đệ nhị ngất lịm đi. Cũng không biết qua bao lâu, Khố Tư Lỗ đệ nhị giật mình tỉnh lại trong cơn đau co giật, ông ta thấy trưởng tử của mình là Hi Lỗ Gia[14](Shiruya) đang kính cẩn đứng bên đầu giường. Hai mắt của Khố Tư Lỗ đệ nhị trợn ngược lên, nhất thời quên cả đau đớn, vì giờ ông ta đã nhận ra Hi Lỗ Gia đang khoác trên người bộ triều phục dành cho hoàng đế, tay nắm quyền trượng, đầu đội vương miện vàng. Lão hoàng đế cảm thấy tức tối vô cùng, nhưng cổ họng lại chỉ phát ra được những tiếng ú ớ không rõ ràng, cùng cơn đau bỏng rát đến khó chịu. “Suỵt!” Hi Lỗ Gia dùng tay nhẹ nhàng áp xuống, che miệng phụ vương của mình, rồi lại chỉ ra phía ngoài cửa sổ, “người nghe đi!”. Lúc này, những âm thanh nhiễu loạn ào ạt như sóng thần ập tới từ phía ngoài cung điện, Khố Tư Lỗ đệ nhị chú tâm lắng nghe, sắc mặt của ông ta cũng dần biến đổi. Đó không phải là tiếng sóng thần ập tới, mà là tiếng reo hò của vô số người. Tiếng reo hò từ xa vọng đến gần, càng lúc càng rõ ràng, cho đến khi vang rần làm chấn động cả tầng mái của cung điện - “Hoàng đế Ca Ngõa Đức (Kavadh)!”. “Ca Ngõa Đức đệ nhị”, Hi Lỗ Gia sửa lại, “chính là con, Hi Lỗ Gia.” Khố Tư Lỗ đệ nhị nằm đờ người ra, suy sụp hoàn toàn, lão hoàng đế hiểu được rằng mình đã bị phế truất, giống như ba mươi tám năm trước, ông ta phế truất ngôi vị của phụ vương mình là Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức đệ tứ[15] (Hormizd IV). “Phụ vương đáng kính của con, vị vua của vạn vua Ba Tư, người có biết tại sao con lại phải thiêu cháy cổ họng của người như vậy không?” Ca Ngõa Đức đệ nhị cười khẽ, “vì con không thể để người đọc câu thần chú đó được. Cũng giống với cách người từng làm trước khi soán ngôi của tổ phụ thôi, người đã khiến tổ phụ mù cả hai mắt. Tát San Ba Tư vĩ đại có thể tồn tại được suốt bốn trăm năm nay đều dựa cả vào sự bảo hộ từ Chiếc bình của vua Đại Vệ[16] (David), nên suốt ba mươi tám năm nay, dẫu cho người có dốc hết binh lực đi gây chiến, xa hoa lãng phí, hoang dâm vô đạo, cũng không có ai dám chống đối người cả. Ma lực từ Chiếc bình của vua Đại Vệ khiến cho vạn quốc khiếp sợ, đến Bái Chiêm Đình cường đại là thế cũng phải run sợ dưới ánh hào quang chói lọi của nó, để mặc cho quân đội của người giày xéo. Vậy tại sao chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi, sức mạnh của đế quốc chúng ta lại suy giảm, phải run sợ trước lưỡi đao của quân đội Bái Chiêm Đình và người Đột Quyết? Lẽ nào câu thần chú của người đã hết tác dụng rồi sao?”. Khố Tư Lỗ đệ nhị nhắm mắt lại. “Nói cho con biết đi, phụ vương vĩ đại!” Ca Ngõa Đức đệ nhị lôi ra một tờ giấy đay của phương đông đã được cắt vuông vức, đặt trước ngực của Khố Tư Lỗ đệ nhị, rồi đưa cho ông ta một cây bút lông ngỗng, “Chiếc bình của vua Đại Vệ đang ở đâu? Con muốn là chủ nhân mới của nó và lại có được ba điều ước toàn năng. Con sẽ dẫn dắt Tát San Ba Tư đạt tới đỉnh cao huy hoàng thêm lần nữa, kiến lập nên một đế quốc hùng mạnh trước nay chưa từng có”. Trên gương mặt của Khố Tư Lỗ đệ nhị bỗng hiện lên một nụ cười lạnh lẽo, lão hoàng đế hất tay viết lên tờ giấy đay: "Chiếc bình của vua Đại Vệđã rời khỏi Ba Tư. Ngươi sẽ không bao giờ có được nó”. “Nó ở đâu?” Ca Ngõa Đức đệ nhị chết sững rồi đột nhiên nổi giận đùng đùng, “nói cho con biết, nó ở đâu?”. Khố Tư Lỗ đệ nhị bật cười ha hả rồi viết lên tờ giấy: “Quê hương của tờ giấy này”. “Quê hương của tờ giấy này ư?” Ca Ngõa Đức đệ nhị suy nghĩ một lúc, hắn biết rằng tờ giấy này có xuất xứ từ Đại Đường ở phương đông, là giấy đay Ích Châu ngự dụng của cung đình Đại Đường, do đám người Túc Đặc[17] (Sogdiana) tham tài háo lợi kia đã liều mình vượt qua Con đường Tơ lụa dài hơn một vạn dặm để vận chuyển tới Ba Tư. “Không… không…” Ca Ngõa Đức đệ nhị khó mà tin được, “Đây là bảo vật trấn quốc của Tát San Ba Tư ta, đã truyền thừa suốt bốn trăm năm nay, sao người có thể đưa nó đến tận Đại Đường cách đây hơn vạn dặm được?”. Khố Tư Lỗ đệ nhị tiếp tục viết: “Mưu lược của bậc đế vương, ngươi không hiểu đâu. Một năm sau, khi Chiếc bình của vua Đại Vệ đến được hoàng cung Đại Đường, cục diện thế giới này sẽ chao đảo, Tát San Ba Tư sẽ lại được trùng sinh. Còn ngươi, nhi tử của ta, cả đời này ngươi sẽ luôn phải sống dưới cái bóng của ta, bị oai danh huy hoàng của ta che lấp”. “Không!” Ca Ngõa Đức đệ nhị gào thét tuyệt vọng, hai tay bóp chặt lấy cổ của Khố Tư Lỗ đệ nhị, vẻ mặt dữ tợn, cơ bắp co giật: “Người đã hủy hoại cơ đồ vương nghiệp của con, con sẽ ban cho người chút tôn nghiêm cuối cùng của bậc đế vương, để người chết sạch sẽ, không có đổ máu!”. Cổ họng của Khố Tư Lỗ đệ nhị run lên, phát ra những thanh âm ọ ọe, trước mắt tối sầm, nhưng nét mặt của ông ta lại tựa như đang cười, trong nụ cười ấy hàm chứa cả những giọt nước mắt. Mời các bạn đón đọc Tây Vực Liệt Vương Ký của tác giả Trần Tiệm & Lucia Nanami (dịch).