Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kỳ Án Dòng Chữ Tắt

Sophie Hannah & Tuấn Việt (dịch) Hercule Poirot nghỉ ẩn ở London tại một nhà trọ ít ai ngờ đến. Tình cờ, cùng nhà trọ với ông có cảnh sát điều tra Edward Catchpool của Scotland Yard. Và cũng tình cờ ông gặp người phụ nữ tên Jennie, hốt hoảng như trong tình trạng bị nguy hiểm. Nhưng tất cả không còn là tình cờ nữa khi xảy ra vụ án mạng ba người chết tại khách sạn Bloxham và Catchpool phụ trách điều tra... "Sophie Hannah mang một không khí mới cho nhân vật Poirot. Lời văn dí dỏm hơn, hợp thời hơn. Có điều hơi dài dòng... 3.5* là hợp lý, nhưng làm tròn...." _ NQK *** Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.    Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920). Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. *** Sophie Hannah là một nhà thơ và tiểu thuyết gia người Anh, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1971 tại Manchester, Vương quốc Anh. Cô tốt nghiệp Đại học Manchester với bằng Cử nhân Văn học Anh và sau đó theo học Đại học Cambridge để lấy bằng Thạc sĩ Văn học Anh. Sophie Hannah bắt đầu viết thơ từ khi còn nhỏ và đã xuất bản hai tập thơ trước khi chuyển sang viết tiểu thuyết. Cô đã xuất bản 12 tiểu thuyết, trong đó có 9 tiểu thuyết trinh thám, 2 tiểu thuyết lãng mạn và 1 tiểu thuyết dành cho trẻ em. Tác phẩm đầu tay của Sophie Hannah là tiểu thuyết trinh thám "The Other Half of Me" (2007), kể về câu chuyện của một người phụ nữ phát hiện ra rằng mình có một người song sinh cùng trứng. Cuốn tiểu thuyết đã được dịch sang hơn 20 thứ tiếng và nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình. Năm 2014, Sophie Hannah được gia đình của Agatha Christie ủy quyền viết một tiểu thuyết mới về thám tử Hercule Poirot. Cuốn tiểu thuyết "The Monogram Murders" (2014) là cuốn tiểu thuyết chính thức đầu tiên được viết tiếp theo mạch văn của Agatha Christie. Cuốn tiểu thuyết đã được dịch sang tiếng Việt và phát hành tại Việt Nam vào năm 2016. Ngoài ra, Sophie Hannah còn được biết đến với các tiểu thuyết trinh thám khác như "The Murderer's Son" (2010), "The Other Woman" (2013), "The Killing Room" (2015), "The Girl in the Red Dress" (2016), "The Woman in the Window" (2017), "The Love Song of Miss Jane Austen" (2018), "The Other Woman's Husband" (2020) và "The Body in the Woods" (2022). Nội dung một số tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt "The Monogram Murders" (2014): Câu chuyện bắt đầu khi một người đàn ông bị sát hại tại một bữa tiệc, trên người nạn nhân có một chiếc khăn tay có thêu chữ A. Poirot cùng với trợ lý của mình, Captain Hastings, bắt đầu cuộc điều tra và phát hiện ra rằng vụ án này có liên quan đến một bí mật đen tối trong quá khứ. "The Murderer's Son" (2010): Câu chuyện kể về một người phụ nữ tên là Emma, người phát hiện ra rằng mình có một người con trai là một kẻ giết người hàng loạt. Emma phải tìm cách ngăn chặn con trai mình gây ra thêm tội ác. "The Other Woman" (2013): Câu chuyện kể về một người phụ nữ tên là Emma, người phát hiện ra rằng chồng mình đã ngoại tình. Cô quyết định gặp người phụ nữ kia, người mà cô biết đến với cái tên Sarah. Emma và Sarah bắt đầu trở thành bạn bè và họ sớm phát hiện ra rằng chồng của Emma không phải là người duy nhất trong cuộc sống của họ. "The Killing Room" (2015): Câu chuyện kể về một nhóm người bị bắt cóc và đưa đến một căn phòng bí mật. Họ được cho biết rằng họ sẽ phải chơi một trò chơi để có cơ hội sống sót. Trò chơi này có tên là "The Killing Room" và nó đòi hỏi họ phải giết người để giành chiến thắng. "The Girl in the Red Dress" (2016): Câu chuyện kể về một người phụ nữ trẻ tên là Kate, người bị mất trí nhớ. Cô tỉnh dậy trong một bệnh viện và không nhớ gì về cuộc sống của mình. Kate phải tìm cách tìm lại ký ức của mình và giải mã bí ẩn về cái chết của một người phụ nữ trẻ mà cô được cho là đã giết. Tác phẩm của Sophie Hannah được đánh giá cao bởi lối viết hấp dẫn, cốt truyện chặt chẽ và các nhân vật được xây dựng chân thực. Cô là một trong những nhà văn trinh thám nổi tiếng nhất hiện nay. Thông tin bổ sung Giải thưởng: Giải Agatha Christie dành cho tiểu thuyết trinh thám hay nhất năm 2014 cho "The Monogram Murders" Giải Barry dành cho tiểu thuyết trinh thám hay nhất năm 2014 *** “Tóm lại, tôi không ưa cô ta,” cô phục vụ có mái tóc bay bay thì thào nói. Đó là một tiếng thì thào lớn vì mọi khách trong quán cà phê Pleasant đều nghe thấy. Ông tự hỏi, trong trường hợp này, cô ta là một cô phục vụ nào khác hay là một khách thường xuyên giống như ông. “Mắc gì tôi phải ưa cô ta, đúng không nào? Cô nghĩ khác thì tùy cô.” “Tôi nghĩ cô ta cũng tốt mà,” cô phục vụ mặt tròn, thấp bé hơn cất tiếng, có vẻ kém tự tin hơn so với ít phút trước. “Khi lên cơn ngạo mạn thì cô ta mới thế. Lúc cái mặt vênh lên thì lưỡi cô ta mới nhỏ độc. Chẳng hay ho chút nào. Tôi biết hàng tá người kiểu đó – chớ bao giờ tin họ.” “Chị nói chẳng hay ho chút nào là ý sao?” cô mặt tròn hỏi. Hercule Poirot, người duy nhất đang dùng bữa trong quán cà phê vào lúc 7 giờ 30 phút tối ngày thứ năm, tháng 2, biết rõ cô phục vụ tóc bay bay muốn ngụ ý gì. Ông mỉm cười một mình. Đây không phải lần đầu cô đưa ra một quan sát sắc bén. “Nếu vô tình thốt ra lời gì đó gay gắt thì còn tha thứ được. Tôi không ngại thú nhận, chính tôi cũng thường thế. Nhưng tôi mà vui thì tôi muốn mọi người cùng vui. Thế mới phải chứ. Nhưng có những kẻ như cô ta, chuyện chẳng có gì mà cứ trầm trọng hóa lên. Đó chính là loại người cần phải tránh thật xa.” Bien vu, Tốt, Hercule Poirot nghĩ. De la vrai sagessepopulaire. Khôn ngoan đấy. Cửa quán chợt mở tung, bật cả vào bờ tường. Đứng ở lối vào là một phụ nữ trong bộ áo khoác nâu nhạt đội chiếc nón cũng màu nâu nhưng sậm hơn. Cô có mái tóc vàng hoe. Poirot không thấy khuôn mặt cô. Đầu cô đang ngoái ra sau như chờ ai đó theo vào. Vài giây cửa ngỏ cũng là đủ lâu để cái lạnh đêm hôm tước đi hết sự ấm áp của căn phòng nhỏ. Bình thường, việc đó sẽ khiến Poirot nổi cáu, nhưng ông đang quan tâm sự xuất hiện kịch tính của kẻ mới đến nên chẳng mấy để ý tác động mà cô ta gây ra. Ông ấp bàn tay lên tách cà phê, hy vọng giữ lại chút hơi ấm cho món uống của mình. Ngôi nhà nhỏ hẹp, tường xiêu vẹo tại khu vực Gregory’s Alley này của London dù chẳng phải sang trọng gì nhưng lại có món cà phê ngon nhất thế giới. Ông không hay uống cà phê trước và sau bữa tối – thật ra, một viễn cảnh như thế luôn khiến ông thấy gơm gớm trong hoành cảnh bình thường – nhưng vào mỗi thứ năm, khi đến Pleasant chính xác lúc 7 giờ 30 tối, ông đều ban cho mình một ngoại lệ. Giờ thì ông xem cái ngoại lệ hàng tuần này là một thứ truyền thống nho nhỏ. Những nề nếp khác của quán thì ông chẳng ưa mấy: cứ mỗi khi đến quán, ông lại thấy dao nĩa, khăn ăn và ly nước bày lung tung trên bàn và phải sắp chúng lại cho đúng vị trí. Rõ ràng các cô phục vụ luôn cho rằng các món đồ này nằm đâu đó – bất cứ đâu – cũng được. Poirot không chịu và luôn đòi hỏi tái lập lại trật tự mỗi khi ông đến. “Xin lỗi, cô làm ơn đóng cửa sau khi vào được không ạ?” Tóc Bay Bay gọi với ra người phụ nữ áo-nâu-nón-nâu đang nắm chặt khung cửa, mặt vẫn hướng ra đường. “Hoặc giả cô không vào cũng chẳng sao. Chúng tôi ở trong này không muốn bị lạnh cóng đâu ạ.” Người phụ nữ bước vào. Cô ta khép cửa lại, không hề tạ lỗi vì đã để ngỏ cửa quá lâu. Từ cuối phòng cũng nghe được hơi thở gấp của cô. Cô chừng như chẳng để ý sự hiện diện của mọi người. Poirot đón cô bằng một câu Chào cô nhỏ nhẹ. Cô khẽ xoay sang ông, nhưng không đáp lễ. Mắt cô mở lớn trong nỗi lo lắng bất thường, một nỗi lo đủ rõ ràng để người lạ có thể nắm bắt được như một thứ vật chất. Poirot không còn thấy tĩnh tại và hài lòng như mọi khi. Sự thanh bình của ông đã vỡ tan. Người phụ nữ lao vội đến cửa sổ, săm soi nhìn ra ngoài. Cô ta sẽ không thấy thứ muốn tìm, Poirot nghĩ. Nhìn vào màn đêm từ một căn phòng chiếu sáng tốt thì chẳng thể thấy gì nhiều khi mà kính cửa chỉ phản chiếu hình ảnh ở bên trong căn phòng. Thế mà cô ta vẫn đăm đăm nhìn ra ngoài hồi lâu, cứ như quyết chí muốn canh gác cả con đường. “Ồ, hóa ra là,” cô Tóc Bay Bay nói với một thoáng bực bội. “Có chuyện gì vậy? Cô gặp chuyện gì sao?” Người phụ nữ áo-khoác-nâu-mũ-nâu quay đầu lại. “Không, tôi…” Lời thốt ra như một tiếng thổn thức. Nhưng cô ta nén lại được. “Không. Tôi lấy chiếc bàn ở góc có được không?” Cô trỏ vào chiếc bàn ở xa cánh cửa nhất. “Trừ chỗ quý ông kia đang ngồi, cô muốn chọn đâu cũng được ạ. Các bàn đều trống cả.” Sực nhớ đến Poirot, Tóc Bay Bay vội bảo ông, “Bữa tối của ông đang được nấu, ngon lắm đấy ạ.” Poirot rất thích nghe câu này. Thức ăn ở Pleasant ngon chẳng kém cà phê. Thật ra, xét cả hai khoản này, Poirot thấy khó tin vào điều mà ông được biết: các đầu bếp ở đây đều là người Anh. Incroyable. Không thể tin nổi. Tóc Bay Bay quay sang người phụ nữ đang lo lắng. “Cô chắc là không sao chứ, Jennie? Trông cô cứ như vừa gặp phải ma quỷ ấy.” “Tôi không sao, cảm ơn. Tôi chỉ xin một tách trà nóng thật đặc, làm ơn nhé.” Jennie bước vội đến chiếc bàn ở góc xa, ngang qua Poirot mà không hề nhìn ông. Ông khẽ xoay ghế để có thể quan sát cô. Chắc chắn cô ta đang gặp chuyện, một chuyện mà cô rõ ràng không muốn nói với các cô phục vụ. Không cởi áo, cởi nón, cô ngồi xuống chiếc ghế trông ra đường, đấu lưng với cánh cửa. Chỉ xong đâu đấy cô mới ngoái lại, nhìn ra sau. Có cơ hội quan sát chi li hơn khuôn mặt cô, Poirot đoán cô trạc bốn mươi tuổi. Đôi mắt to xanh luôn mở lớn và không bao giờ chớp. Poirot nghĩ, đôi mắt ấy như đang nhìn một cảnh tượng gây sốc. Gặp phải ma quỷ, Tóc Bay Bay đã nhận xét như thế. Nhưng Poirot chẳng thấy cảnh tượng nào kinh khủng với Jennie cả, chỉ có căn phòng vuông vức với bàn ghế, chiếc tủ gỗ treo áo khoác và nón, cùng những chiếc kệ cong vênh, đỡ trọng lượng của rất nhiều ấm tách với màu sắc, hoa văn và kích cỡ khác nhau. Các kệ này chỉ nhìn thấy thôi là cũng đủ rùng mình! Poirot chẳng hiểu sao một chiếc kệ cong oằn lại không được thay ngay bằng một chiếc kệ phẳng phiu. Ông cũng không thể hiểu nổi vì sao người ta xếp nĩa lên chiếc bàn vuông mà lại không chịu đặt nó song song với cạnh bàn. Tuy vậy, không phải ai cũng suy nghĩ như Hercule Poirot và từ lâu ông đã chấp nhận điều đó, cả mặt thuận lợi lẫn bất lợi mà nó gây ra. Ngồi nhấp nhổm trên ghế, người phụ nữ – Jennie – đăm đăm nhìn ra cửa như chờ đợi ai đó xông vào bất cứ lúc nào. Cô đang run rẩy, chắc một phần vì lạnh. Không – Poirot đổi ý – hoàn toàn không vì lạnh. Quán đã ấm lại rồi. Do muốn canh chừng cánh cửa, Jennie ngồi quay mặt về phía đó, giữ khoảng cách tối đa, dấy là kết luận hợp lý duy nhất. Mời các bạn đón đọc Kỳ Án Dòng Chữ Tắtcủa tác giả Agatha Christie.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ngọc Xuyến Án
Ngọc Xuyến Án là tác phẩm thứ bảy trong bộ tiểu thuyết trinh thám quan án viết về Địch Nhân Kiệt - vị thần thám danh tiếng lẫy lừng triều Đường, dưới thời Võ Tắc Thiên trị vì. Năm 669, sau một chuyến công cán, Địch Công ghé thăm trấn Thanh Xuyên - nơi tọa lạc cung điện mùa hè của Tam Công chúa - với kỳ vọng có vài ngày an nhàn câu cá trước khi trở về Phổ Dương. Nhưng tất cả đã nhanh chóng sụp đổ… Vừa đặt chân đến trấn, Địch Công đã gặp ngay một vụ thảm án. Viên thủ quỹ của một khách điếm bị tra tấn dã man tới chết, xác bị ném xuống sông. Liệu đây có phải một vụ cướp đường thông thường như người ta đã tưởng? Ngay sau đó, Địch Công được bí mật triệu vào cung. Tam Công chúa yêu cầu ông ẩn danh, để truy tìm kẻ đã đánh cắp chuỗi ngọc mà Hoàng thượng đích thân ban cho nàng. Liệu trong hai ngày, Địch Công có thể tránh được tai mắt từ những kẻ quyền thế trong cung, đối phó với một bang hội giang hồ hung ác để phá giải Ngọc Xuyến án, hoàn trả chuỗi ngọc cho vị Công chúa cao quý? “Trụ trượng hai đầu nâng Nhật Nguyệt, Hồ lô một bầu giấu núi sông.” *** Robert Van Gulik (1910-1967) là một nhà Đông phương học uyên thâm, từng học Pháp luật và Ngôn ngữ phương Đông tại Hà Lan; năm 1935 nhận học vị tiến sĩ nhờ công trình nghiên cứu về Ấn Độ, Tây Tạng (Trung Quốc) và Viễn Đông. Những năm tiếp theo, liên tục làm công việc của một quan chức ngoại giao tại Trùng Khánh, Nam Kinh (Trung Quốc), Tôkyô (Nhật Bản) và một số nước khác; cuối đời trở thành đại sứ Hà Lan tại Nhật Bản. Ông là tác giả của hàng loạt cuốn sách nổi tiếng về văn hóa phương Đông, như “Trung Quốc cổ đại cầm học”, “Kê Khang cầm phú”, “Trung Quốc hội họa giám thưởng”, “Địch công án”, “Xuân mộng tỏa ngôn”, “Bí hí đồ khảo”, Trung Quốc cổ đại phòng nội khảo”… Celebrated Cases of Judge Dee (Địch Công Án/ Những cuộc điều tra của quan Địch) gồm 16 tập. Một loại tiểu thuyết trinh thám - công án về quan án Địch Công được xây dựng dựa trên nguyên mẫu của tể tướng Địch Nhân Kiệt (630 - 700) một nhân vật có thật sống vào đời nhà Đường thế kỷ thứ VII. Sinh tại Tĩnh Châu, phủ Thái Nguyên (Sơn Tây) Địch Nhân Kiệt đã làm quan tại các địa phương dưới các chức vụ huyện lệnh, Pháp tào Tham quân, Tuần phủ,Thứ sử. Năm 47 tuổi ông về kinh đô Trường An làm Đại lý thừa Tự khanh rồi lần lượt được thăng lên Thị ngự sử, Thị lang bộ Công, thượng Thư tả thừa, hai lần làm Trung thư lệnh (tể tướng) và đô đốc dưới quyền nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên. Phẩm chất đạo đức và tài phá án của ông đã được người đời ca tụng sủng ái đến mức như huyền thoại. Không những là người có hiểu biết về pháp luật, về tâm lý con người, Địch Công còn biết cả kiếm thuật, võ thuật lẫn chữa bệnh, một quan toà cổ đại Trung Quốc mang dáng dấp của Sherlock Holmes... Cùng với bốn hộ vệ mưu trí, dũng cảm, xả thân vì chủ như Hồng Lương, Mã Tôn, Triệu Thái và Tào Can - những giang hồ hảo hán được ông giác ngộ và cho đi theo, Địch Công đã phá được rất nhiều vụ án ly kỳ. Robert Van Gulik cũng khéo léo đưa vào bộ tiểu thuyết trinh thám này những nét văn hóa, lịch sử, phong tục của Trung Quốc.  *** Địch Công kỳ án là bộ tiểu thuyết 16 tập thuộc dòng trinh thám quan án. Nội dung tác phẩm xoay quanh nhân vật Địch Nhân Kiệt và các trợ thủ thân tín, cùng những vụ kỳ án muôn màu muôn vẻ ông đã phá giải trên hành trình thăng tiến từ một Huyện lệnh lên đến chức Tể tướng. Có thể nói, tác giả đã hội tụ và đúc kết những gì tinh hoa nhất của hai dòng trinh thám phương Đông và phương Tây vào kiệt tác Địch Công kỳ án. Bộ tiểu thuyết được viết theo phong cách đậm chất duy lý, đồng thời cũng là tác phẩm trinh thám phương Tây đầu tiên đi theo mô tuýp trinh thám quan án và mang lại sức sống mới cho dòng trinh thám đậm chất phương Đông này. Nhờ vậy mà đến tận bây giờ, Địch Công kỳ án vẫn giữ vị trí độc tôn đặc biệt, là tác phẩm thành công nhất trong dòng trinh thám quan án. *** Các nhân vật chính ĐỊCH NHÂN KIỆT, huyện lệnh Phổ Dương, một trấn huyện thuộc địa phận phủ Kim Hoa. Ông thường được gọi là “Địch Công” hay “Địch huyện lệnh”. Các nhân vật khác TAM CÔNG CHÚA, ái nữ của Hoàng đế, ngụ tại cung Bích Thủy, phía đông trấn Thanh Xuyên. VƯƠNG CẨM TÚ, Tổng quản nữ quan. LÔI CÔNG CÔNG, Đại tổng quản ở cung Bích Thủy. VĂN ĐÔNG, Tổng giám cung ở cung Bích Thủy. KHANG TƯỚNG QUÂN, Chỉ huy Cấm quân. TRÂU LẬP UY, Hiệu úy Cấm quân, dưới trướng Khang Tướng quân. NGỤY THÀNH, chưởng quỹ của khách điếm Thúy Điểu. ĐỚI NINH, thủ quỹ của khách điếm Thúy Điểu. TỬ TÂY, cháu gái của Ngụy Thành. LANG LƯU, một phú thương buôn tơ lụa. HỒ LÔ TIÊN SINH, một ẩn sĩ Đạo gia. Các vụ án trong truyện Vụ án Viên thủ quỹ bị sát hại. Vụ án Vị phu nhân bỏ trốn. Vụ án Chuỗi ngọc của Tam Công chúa. Mời các bạn đón đọc Ngọc Xuyến Án của tác giả Robert van Gulik & Nguyễn Việt Hải (dịch).
Hồng Lâu Án
Hồng lâu án là tác phẩm thứ 8 trong bộ tiểu thuyết trinh thám quan án Địch Công kỳ án viết về Địch Nhân Kiệt – vị thần thám danh tiếng lẫy lừng dưới thời Đường - Chu. Sau khi phá giải thành công vụ án chiếc vòng ngọc xuyến của Tam Công chúa, Địch Công được triệu về kinh để thẩm án. Trên đường quay lại huyện Phổ Dương, khi nghỉ dừng chân ở Đảo Bồng Lai – một chốn ăn chơi hưởng lạc nổi tiếng với các song bạc, tửu lâu và kỹ viện, Địch Công được đồng liêu nhờ điều tra vụ án liên quan đến một vị Trạng Nguyên trẻ tuổi tự sát ở Hồng Lâu. Dưới giàn hoa tử đằng, Địch Công tình cờ gặp nàng Hoa khôi xinh đẹp nhưng không lâu sau đó nàng cũng bỏ mạng. Đây có phải là vụ án tự tử vì tình đơn thuần hay có liên quan đến vụ án xảy ra cách đây 30 năm trước? Ân tình khó trả, tri kỉ khó tìm? Liệu Địch Công có thể phá giải được ba vụ án kì lạ, giải đáp bí ẩn của Hồng Lâu? *** Robert Van Gulik (1910-1967) là một nhà Đông phương học uyên thâm, từng học Pháp luật và Ngôn ngữ phương Đông tại Hà Lan; năm 1935 nhận học vị tiến sĩ nhờ công trình nghiên cứu về Ấn Độ, Tây Tạng (Trung Quốc) và Viễn Đông. Những năm tiếp theo, liên tục làm công việc của một quan chức ngoại giao tại Trùng Khánh, Nam Kinh (Trung Quốc), Tôkyô (Nhật Bản) và một số nước khác; cuối đời trở thành đại sứ Hà Lan tại Nhật Bản. Ông là tác giả của hàng loạt cuốn sách nổi tiếng về văn hóa phương Đông, như “Trung Quốc cổ đại cầm học”, “Kê Khang cầm phú”, “Trung Quốc hội họa giám thưởng”, “Địch công án”, “Xuân mộng tỏa ngôn”, “Bí hí đồ khảo”, Trung Quốc cổ đại phòng nội khảo”… Celebrated Cases of Judge Dee (Địch Công Án/ Những cuộc điều tra của quan Địch) gồm 16 tập. Một loại tiểu thuyết trinh thám - công án về quan án Địch Công được xây dựng dựa trên nguyên mẫu của tể tướng Địch Nhân Kiệt (630 - 700) một nhân vật có thật sống vào đời nhà Đường thế kỷ thứ VII. Sinh tại Tĩnh Châu, phủ Thái Nguyên (Sơn Tây) Địch Nhân Kiệt đã làm quan tại các địa phương dưới các chức vụ huyện lệnh, Pháp tào Tham quân, Tuần phủ,Thứ sử. Năm 47 tuổi ông về kinh đô Trường An làm Đại lý thừa Tự khanh rồi lần lượt được thăng lên Thị ngự sử, Thị lang bộ Công, thượng Thư tả thừa, hai lần làm Trung thư lệnh (tể tướng) và đô đốc dưới quyền nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên. Phẩm chất đạo đức và tài phá án của ông đã được người đời ca tụng sủng ái đến mức như huyền thoại. Không những là người có hiểu biết về pháp luật, về tâm lý con người, Địch Công còn biết cả kiếm thuật, võ thuật lẫn chữa bệnh, một quan toà cổ đại Trung Quốc mang dáng dấp của Sherlock Holmes... Cùng với bốn hộ vệ mưu trí, dũng cảm, xả thân vì chủ như Hồng Lương, Mã Tôn, Triệu Thái và Tào Can - những giang hồ hảo hán được ông giác ngộ và cho đi theo, Địch Công đã phá được rất nhiều vụ án ly kỳ. Robert Van Gulik cũng khéo léo đưa vào bộ tiểu thuyết trinh thám này những nét văn hóa, lịch sử, phong tục của Trung Quốc.  *** Địch Công kỳ án là bộ tiểu thuyết 16 tập thuộc dòng trinh thám quan án. Nội dung tác phẩm xoay quanh nhân vật Địch Nhân Kiệt và các trợ thủ thân tín, cùng những vụ kỳ án muôn màu muôn vẻ ông đã phá giải trên hành trình thăng tiến từ một Huyện lệnh lên đến chức Tể tướng. Có thể nói, tác giả đã hội tụ và đúc kết những gì tinh hoa nhất của hai dòng trinh thám phương Đông và phương Tây vào kiệt tác Địch Công kỳ án. Bộ tiểu thuyết được viết theo phong cách đậm chất duy lý, đồng thời cũng là tác phẩm trinh thám phương Tây đầu tiên đi theo mô tuýp trinh thám quan án và mang lại sức sống mới cho dòng trinh thám đậm chất phương Đông này. Nhờ vậy mà đến tận bây giờ, Địch Công kỳ án vẫn giữ vị trí độc tôn đặc biệt, là tác phẩm thành công nhất trong dòng trinh thám quan án. *** Lữ khách nghỉ chân tại Hồng lâu Huyện lệnh gặp gỡ vị Hoa khôi
Hoa Văn Cây Liễu
Mùa hè năm 677, Kinh thành Trường An chìm trong dịch bệnh. Địch Công - bấy giờ đang giữ chức Đại lý tự khanh - được bổ nhiệm làm Kinh triệu doãn tạm quyền, lưu lại trấn giữ kinh thành khi triều đình di giá đến nơi khác. Trong thời gian này, dân gian lưu truyền một bài vè tiên đoán về sự lụi tàn của những dòng dõi công huân thế tộc tiền triều có liên quan mật thiết đến vận mệnh của đất nước và thành Trường An. Và khi những vị trưởng tộc thuộc các dòng dõi đột ngột tử vong một cách đáng ngờ thì cả kinh thành chìm trong nỗi hoang mang tột độ. Trong quá trình điều tra, Địch Công và các trợ thủ phát hiện mọi manh mối đều xoay quanh một bức tranh vườn liễu. Bí mật gì được ẩn giấu đằng sau những hoa văn. Thật giả bất phân, làm thế nào để giải mã nó và đưa vụ án ra ánh sáng. *** Robert Van Gulik (1910-1967) là một nhà Đông phương học uyên thâm, từng học Pháp luật và Ngôn ngữ phương Đông tại Hà Lan; năm 1935 nhận học vị tiến sĩ nhờ công trình nghiên cứu về Ấn Độ, Tây Tạng (Trung Quốc) và Viễn Đông. Những năm tiếp theo, liên tục làm công việc của một quan chức ngoại giao tại Trùng Khánh, Nam Kinh (Trung Quốc), Tôkyô (Nhật Bản) và một số nước khác; cuối đời trở thành đại sứ Hà Lan tại Nhật Bản. Ông là tác giả của hàng loạt cuốn sách nổi tiếng về văn hóa phương Đông, như “Trung Quốc cổ đại cầm học”, “Kê Khang cầm phú”, “Trung Quốc hội họa giám thưởng”, “Địch công án”, “Xuân mộng tỏa ngôn”, “Bí hí đồ khảo”, Trung Quốc cổ đại phòng nội khảo”… Celebrated Cases of Judge Dee (Địch Công Án/ Những cuộc điều tra của quan Địch) gồm 16 tập. Một loại tiểu thuyết trinh thám - công án về quan án Địch Công được xây dựng dựa trên nguyên mẫu của tể tướng Địch Nhân Kiệt (630 - 700) một nhân vật có thật sống vào đời nhà Đường thế kỷ thứ VII. Sinh tại Tĩnh Châu, phủ Thái Nguyên (Sơn Tây) Địch Nhân Kiệt đã làm quan tại các địa phương dưới các chức vụ huyện lệnh, Pháp tào Tham quân, Tuần phủ,Thứ sử. Năm 47 tuổi ông về kinh đô Trường An làm Đại lý thừa Tự khanh rồi lần lượt được thăng lên Thị ngự sử, Thị lang bộ Công, thượng Thư tả thừa, hai lần làm Trung thư lệnh (tể tướng) và đô đốc dưới quyền nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên. Phẩm chất đạo đức và tài phá án của ông đã được người đời ca tụng sủng ái đến mức như huyền thoại. Không những là người có hiểu biết về pháp luật, về tâm lý con người, Địch Công còn biết cả kiếm thuật, võ thuật lẫn chữa bệnh, một quan toà cổ đại Trung Quốc mang dáng dấp của Sherlock Holmes... Cùng với bốn hộ vệ mưu trí, dũng cảm, xả thân vì chủ như Hồng Lương, Mã Tôn, Triệu Thái và Tào Can - những giang hồ hảo hán được ông giác ngộ và cho đi theo, Địch Công đã phá được rất nhiều vụ án ly kỳ. Robert Van Gulik cũng khéo léo đưa vào bộ tiểu thuyết trinh thám này những nét văn hóa, lịch sử, phong tục của Trung Quốc.  *** Địch Công kỳ án là bộ tiểu thuyết 16 tập thuộc dòng trinh thám quan án. Nội dung tác phẩm xoay quanh nhân vật Địch Nhân Kiệt và các trợ thủ thân tín, cùng những vụ kỳ án muôn màu muôn vẻ ông đã phá giải trên hành trình thăng tiến từ một Huyện lệnh lên đến chức Tể tướng. Có thể nói, tác giả đã hội tụ và đúc kết những gì tinh hoa nhất của hai dòng trinh thám phương Đông và phương Tây vào kiệt tác Địch Công kỳ án. Bộ tiểu thuyết được viết theo phong cách đậm chất duy lý, đồng thời cũng là tác phẩm trinh thám phương Tây đầu tiên đi theo mô tuýp trinh thám quan án và mang lại sức sống mới cho dòng trinh thám đậm chất phương Đông này. Nhờ vậy mà đến tận bây giờ, Địch Công kỳ án vẫn giữ vị trí độc tôn đặc biệt, là tác phẩm thành công nhất trong dòng trinh thám quan án. *** CÁC NHÂN VẬT CHÍNH ĐỊCH NHÂN KIỆT: Đại lý tự khanh* kiêm Kinh triệu doãn* tạm quyền. Ông thường được gọi là “Địch Công”. ĐÀO CAM: trợ thủ của Địch Công, Trưởng sử của Đại lý tự. KIỀU THÁI, MÃ VINH: trợ thủ của Địch Công, Tả Hữu Quả nghị Đô úy. Quan viên đứng đầu Đại lý tự, cơ quan có nhiệm vụ xét lại những án nặng đã xử rồi gửi kết quả cuộc điều tra qua Bộ Hình để đệ tâu lên Hoàng đế xin quyết định. Chức quan giữ nhiệm vụ quản lý hành chính và trị an ở kinh đô. CÁC NHÂN VẬT KHÁC MAI LƯỢNG: một thương nhân thuộc dòng dõi công huân thế tộc tiền triều*. MAI THỊ: phu nhân của Mai Lượng. DIỆP KHUÊ LÂM: một người thuộc dòng dõi Hầu gia tiền triều. DIỆP THỊ: phu nhân của Diệp Khuê Lâm. QUẾ HOA: tỳ nữ trong Diệp phủ. HÀ BẰNG: một người thuộc dòng dõi Tướng gia tiền triều. LƯ HỒNG CƠ: một đại phu nổi danh. VIÊN NGỌC ĐƯỜNG: một ông lão múa rối giang hồ. BẠCH LAM, HỒNG PHỈ: hai nhi nữ song sinh của Viên Ngọc Đường. Triều đại trước. CÁC VỤ ÁN TRONG TRUYỆN Vụ án HOA VĂN CÂY LIỄU. Vụ án CẦU THANG DỐC ĐỨNG. Vụ án NÀNG NÔ TỲ BỊ SÁT HẠI. Mời các bạn đón đọc Hoa Văn Cây Liễu của tác giả Robert van Gulik & Nguyệt Minh (dịch).
Hầu Tử Và Lão Hổ
Hầu Tử và Lão Hổ là tác phẩm thứ 14 trong bộ tiểu thuyết trinh thám quan án Địch Công kỳ án viết về Địch Nhân Kiệt – vị thần thám danh tiếng lẫy lừng triều Đường, dưới thời Võ Tắc Thiên trị vì. Hầu Tử và Lão Hổ tái hiện lại hai vụ án riêng lẻ ở hai mốc thời gian khác nhau trong sự nghiệp quan án xuất chúng của Địch Công. Vụ án thứ nhất có liên quan đến một chiếc nhẫn quý dính máu và một xác chết trong căn lều hoang. Vụ án thứ hai liên quan đến nạn đạo tặc hoành hành, khiến cuộc sống của người dân vô cùng khổ cực. Số mệnh trớ trêu, lòng người khó đoán, kẻ đáng thương vị tất không có chỗ đáng giận. Vậy ai mới là kẻ có tội? Làm thế nào để Địch Công có thể lật ngược ván cờ trong thế khó, vạch trần bộ mặt của những kẻ đổi trắng thay đen, gỡ được những nút thắt phức tạp, tìm ra chân tướng của các vụ án? *** Robert Van Gulik (1910-1967) là một nhà Đông phương học uyên thâm, từng học Pháp luật và Ngôn ngữ phương Đông tại Hà Lan; năm 1935 nhận học vị tiến sĩ nhờ công trình nghiên cứu về Ấn Độ, Tây Tạng (Trung Quốc) và Viễn Đông. Những năm tiếp theo, liên tục làm công việc của một quan chức ngoại giao tại Trùng Khánh, Nam Kinh (Trung Quốc), Tôkyô (Nhật Bản) và một số nước khác; cuối đời trở thành đại sứ Hà Lan tại Nhật Bản. Ông là tác giả của hàng loạt cuốn sách nổi tiếng về văn hóa phương Đông, như “Trung Quốc cổ đại cầm học”, “Kê Khang cầm phú”, “Trung Quốc hội họa giám thưởng”, “Địch công án”, “Xuân mộng tỏa ngôn”, “Bí hí đồ khảo”, Trung Quốc cổ đại phòng nội khảo”… Celebrated Cases of Judge Dee (Địch Công Án/ Những cuộc điều tra của quan Địch) gồm 16 tập. Một loại tiểu thuyết trinh thám - công án về quan án Địch Công được xây dựng dựa trên nguyên mẫu của tể tướng Địch Nhân Kiệt (630 - 700) một nhân vật có thật sống vào đời nhà Đường thế kỷ thứ VII. Sinh tại Tĩnh Châu, phủ Thái Nguyên (Sơn Tây) Địch Nhân Kiệt đã làm quan tại các địa phương dưới các chức vụ huyện lệnh, Pháp tào Tham quân, Tuần phủ,Thứ sử. Năm 47 tuổi ông về kinh đô Trường An làm Đại lý thừa Tự khanh rồi lần lượt được thăng lên Thị ngự sử, Thị lang bộ Công, thượng Thư tả thừa, hai lần làm Trung thư lệnh (tể tướng) và đô đốc dưới quyền nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên. Phẩm chất đạo đức và tài phá án của ông đã được người đời ca tụng sủng ái đến mức như huyền thoại. Không những là người có hiểu biết về pháp luật, về tâm lý con người, Địch Công còn biết cả kiếm thuật, võ thuật lẫn chữa bệnh, một quan toà cổ đại Trung Quốc mang dáng dấp của Sherlock Holmes... Cùng với bốn hộ vệ mưu trí, dũng cảm, xả thân vì chủ như Hồng Lương, Mã Tôn, Triệu Thái và Tào Can - những giang hồ hảo hán được ông giác ngộ và cho đi theo, Địch Công đã phá được rất nhiều vụ án ly kỳ. Robert Van Gulik cũng khéo léo đưa vào bộ tiểu thuyết trinh thám này những nét văn hóa, lịch sử, phong tục của Trung Quốc.  *** Địch Công kỳ án là bộ tiểu thuyết 16 tập thuộc dòng trinh thám quan án. Nội dung tác phẩm xoay quanh nhân vật Địch Nhân Kiệt và các trợ thủ thân tín, cùng những vụ kỳ án muôn màu muôn vẻ ông đã phá giải trên hành trình thăng tiến từ một Huyện lệnh lên đến chức Tể tướng. Có thể nói, tác giả đã hội tụ và đúc kết những gì tinh hoa nhất của hai dòng trinh thám phương Đông và phương Tây vào kiệt tác Địch Công kỳ án. Bộ tiểu thuyết được viết theo phong cách đậm chất duy lý, đồng thời cũng là tác phẩm trinh thám phương Tây đầu tiên đi theo mô tuýp trinh thám quan án và mang lại sức sống mới cho dòng trinh thám đậm chất phương Đông này. Nhờ vậy mà đến tận bây giờ, Địch Công kỳ án vẫn giữ vị trí độc tôn đặc biệt, là tác phẩm thành công nhất trong dòng trinh thám quan án. *** Địch Công đang tận hưởng buổi sáng mùa hè mát lành bên hành lang chạy dài theo phía sau của tư thất. Ông vừa ăn xong bữa điểm tâm buổi sáng cùng mọi người trong nhà, và giờ ông đang thưởng trà một mình, đây là thói quen cố hữu trong suốt những năm ông làm Huyện lệnh Hán Nguyên. Ông kéo chiếc ghế mây lại gần lan can bằng cẩm thạch được chạm khắc. Chậm rãi vuốt bộ râu dài đen nhánh, ông khoan khoái ngồi ngắm hàng cây cao chót vót và cây bụi rậm rạp trên triền núi ngay phía trước chỗ ông ngồi, trông y như một bức tường màu xanh tươi mát. Từ bức tường ấy rộ lên tiếng những loài chim nhỏ ríu rít và cả bài ca râm ran của đám ve sầu hòa cùng. Ông nghĩ thật đáng tiếc khi những thời khắc thư nhàn để tận hưởng sự bình yên này chỉ là thoáng chốc. Chẳng mấy chốc, ông sẽ phải lên công đường để xem có công văn nào được chuyển đến hay không. Bỗng trong đám lá có tiếng xào xạc và cành cây gãy. Hai bóng dáng lông lá đen thẫm đang chuyền qua những ngọn cây, đu từ cành này sang cành khác bằng đôi tay dài mảnh khảnh, để lại phía sau là một đám lá rụng lả tả. Địch Công mỉm cười nhìn theo hai con khỉ. Ông chưa bao giờ chán ngắm vẻ uyển chuyển của lũ khỉ khi chúng nhào lộn. Khỉ vốn nhút nhát, chúng sống trên triền núi và đã quen với vị quan ngồi một mình ở đó mỗi sáng. Thỉnh thoảng, một trong hai con khỉ còn dừng lại một lát và khéo léo chụp lấy trái chuối Địch Công ném cho. Đám lá lại xao động. Lúc này, một con khỉ khác xuất hiện. Nó chuyền rất chậm bằng một cánh tay dài duy nhất và đôi chân linh hoạt tựa như bàn tay. Nó đang ôm một vật nhỏ trên tay trái. Con khỉ dừng lại phía trước chỗ Địch Công và hạ mình xuống một cành thấp hơn, đôi mắt tròn và nâu nhìn sang vị quan án bằng vẻ tò mò. Lúc này, Địch Công mới thấy rõ vật trên tay nó - một chiếc nhẫn bằng vàng có gắn miếng ngọc màu lục lấp lánh. Ông biết lũ khỉ vẫn hay nhặt về những vật nhỏ mà chúng thích thú, nhưng hứng thú của chúng cũng chẳng được bao lâu, nhất là khi chúng thấy những thứ nhặt về không thể ăn được. Nếu ông không thể khiến con khỉ thả chiếc nhẫn xuống ngay lúc này, nó có thể sẽ ném chiếc nhẫn vào đâu đó trong rừng, và chủ nhân chiếc nhẫn sẽ không bao giờ tìm lại được. ???? Địch Công trông thấy con khỉ đang nhìn mình Vì Địch Công không còn chút hoa quả nào trong tay để khiến con khỉ mất tập trung với chiếc nhẫn, ông vội rút chiếc hộp nhỏ trong tay áo và bày những thứ trong đó ra bàn trà, cẩn thận xem xét từng thứ một. Ông liếc thấy con khỉ đang quan sát mình. Chẳng mấy chốc, nó đã bỏ rơi chiếc nhẫn, đu mình xuống cành cây thấp nhất và trụ lại đó hồi lâu bằng đôi tay dài xù xì, say sưa dõi theo từng cử chỉ của Địch Công. Địch Công thấy có vài cọng rơm trên bộ lông đen nhánh của con khỉ. Ông không thể đánh lạc hướng nó quá lâu. Con khỉ kêu lên “oác oác” mấy tiếng thân thiết rồi lại trèo lên một cành cao hơn và biến mất giữa đám lá xanh. Địch Công bước qua lan can và xuống chỗ những tảng đá xanh rêu xếp thành hàng dưới chân dốc núi. Ông nhanh chóng phát hiện ra chiếc nhẫn lấp lánh. Ông nhặt lên và lại treo lên hành lang. Quan sát kĩ hơn thì thấy đó hóa ra là một chiếc nhẫn lớn, rõ ràng là loại nhẫn dành cho nam nhân. Chiếc nhẫn được thiết kế từ hai con rồng bằng vàng cuộn xoắn lấy nhau, và một miếng ngọc lục bảo to lớn khác thường loại thượng đẳng. Chủ nhân chiếc nhẫn chắc sẽ rất mừng khi tìm lại được món đồ cổ giá trị này. Ngay khi ông định bỏ chiếc nhẫn vào tay áo, ông để ý đến những đốm màu nâu như gỉ sắt ở phần bên trong chiếc nhẫn. Ông nhíu mày nhìn kĩ. Những dấu vết đó trông giống vết máu khô một cách lạ lùng. Ông quay lại và vỗ tay. Khi lão quản gia chạy đến, ông hỏi: “Lão quản gia, trên sườn núi đằng kia có nhà dân nào không?” “Bẩm đại nhân, không hề có. Sườn núi ấy quá dốc, lại chỉ toàn rừng rậm che phủ. Tuy nhiên có vài tĩnh xá trên đỉnh núi.” “Phải rồi, ta nhớ đã trông thấy những căn tĩnh xá đó. Ngươi có biết ai đang sống trên đó không?” “Bẩm đại nhân, có Lam chưởng quỹ, chủ một cửa hiệu cầm cố. Và cả một lang trung họ Hoàng.” “Ta không biết người họ Lam ấy. Còn ngươi vừa nói là Hoàng lang trung ư? Ý ngươi là người chủ hiệu thuốc ngoài chợ, đối diện miếu Khổng Tử? Một người nhỏ nhắn, sang trọng và luôn có vẻ âu lo?” “Bẩm đại nhân, đúng là vậy. Ông ta cũng có lý do chính đáng để luôn âu sầu. Nô tài nghe nói, năm nay công việc làm ăn của ông ta không thuận lợi. Và nhi tử độc nhất của ông ta lại là người thiểu năng. Cậu ta sang năm sẽ tròn hai mươi tuổi, nhưng vẫn không thể đọc hay viết. Nô tài không biết cậu ta rồi sẽ thành người thế nào…” Địch Công lơ đãng gật đầu. Căn tĩnh xá chắc vắng người, vì lũ khỉ không dám bén mảng đến nơi có người sinh sống. Đương nhiên, con khỉ có thể nhặt được chiếc nhẫn ở một góc vườn vắng vẻ trên đó. Nhưng rồi sau đó nó có thể ném chiếc nhẫn đi trước khi nó đi qua khu rừng và xuống đến chân núi. Con khỉ chắc chắn đã nhặt được chiếc nhẫn ở quãng dưới này. Ông bỏ qua lão quản gia và lại ngắm nghía chiếc nhẫn. Miếng ngọc lục bảo óng ánh này dường như bỗng xỉn màu, biến thành một con mắt sầu thảm nhìn xoáy vào ông bằng ánh mắt tang tóc. Khó chịu vì chính nỗi bối rối của mình, ông vội bỏ chiếc nhẫn vào tay áo. Ông sẽ phải ra cáo thị về chiếc nhẫn này, rồi chủ nhân của nó sẽ sớm đến huyện nha trình diện và mọi chuyện sẽ kết thúc ở đó. Ông vào trong, đi về tư thất của mình ở hoa viên phía trước, rồi từ đó lên thẳng sân chính của huyện nha. Không gian dịu mát vì những tòa nhà lớn bao quanh sân đã ngăn lại ánh nắng buổi sáng. Bộ đầu của huyện nha đang kiểm tra lại quân bị cho hơn mười người dưới quyền, họ xếp hàng trong sân. Tất cả đều quay sang khi thấy Huyện lệnh đến. Địch Công định đi nhanh qua, lên công đường ở phía bên kia sân, nhưng bỗng một ý nghĩ khiến ông dừng bước. Ông hỏi Bộ đầu: “Ngươi có biết tư gia nào trong khu rừng trên sườn núi phía sau huyện nha không?” “Bẩm đại nhân, thuộc hạ không biết. Theo như thuộc hạ nhớ thì ở đó không có nhà dân. Tuy vậy, ở lưng chừng núi có một căn lều. Loại lều nhỏ bằng gỗ, vốn là của một tiều phu. Bấy lâu nay chỗ đó bị bỏ không.” Rồi y nghiêm nghị nói thêm, “Đám du đãng vẫn hay ở lại đó qua đêm. Vậy nên thuộc hạ mới phải lên đó thường xuyên. Chỉ để đảm bảo chúng không gây ra tai họa gì.” Lời này có vẻ hợp lý. Trong một căn lều bỏ hoang, ở lưng chừng núi… “Ngươi nói thế nào là thường xuyên?” Ông hỏi sắc lạnh. “Bẩm đại nhân, ý thuộc hạ là… khoảng hai tháng một lần. Thuộc hạ…” “Ta không gọi đó là thường xuyên!” Địch Công ngắt lời y. “Ta muốn ngươi…” Ông bỏ lửng câu hỏi. Không được. Cảm giác băn khoăn, mơ hồ không khiến ông mất bình tĩnh. Chắc chắn là bữa điểm tâm chưa tiêu trong bụng đã phá hỏng tâm trạng thư thái, an lạc của ông. Ông sẽ không ăn thịt vào bữa điểm tâm nữa… Ông hỏi lại bằng vẻ thân tình hơn: “Bộ đầu, căn lều ấy cách đây bao xa?” “Bẩm đại nhân, chỉ tầm một khắc* đi bộ. Có một lối mòn nhỏ dẫn lên sườn núi.” 1 khắc bằng 15 phút. “Được rồi. Hãy đi gọi Đào Cam đến đây!” Bộ đầu chạy lên công đường. Y quay lại cùng một nam nhân trung tuổi, người gầy, mặc ngoại y màu nâu đã bạc màu, đội mũ có chóp cao bằng vải sa đen. Người này có khuôn mặt dài, u buồn, bộ ria mép rũ xuống và cằm lưa thưa râu, có ba sợi lông dài rủ xuống từ nốt ruồi trên má trái. Đào Cam vừa thi lễ, Địch Công đã kéo y đến một góc sân. Ông cho y xem chiếc nhẫn và thuật lại chuyện mình có được nó. “Ngươi có thể trông thấy vết máu khô bám trên đó. Có thể chủ nhân chiếc nhẫn đã bị đứt tay khi đi trong rừng. Người này đã tháo chiếc nhẫn ra trước khi xuống suối rửa tay, rồi con khỉ đã lấy mất chiếc nhẫn. Vì đây là một vật giá trị, và cũng vì chúng ta vẫn có nửa canh giờ* trước phiên thăng đường buổi sáng, chúng ta sẽ lên núi và tìm kiếm. Có thể chủ nhân chiếc nhẫn vẫn còn quanh quẩn đi tìm nhẫn. Tín sứ có đem đến thư từ quan trọng nào không?” Mời các bạn đón đọc Địch Công Kỳ Án Tập 14: Hầu Tử Và Lão Hổ của tác giả Robert van Gulik  & Nguyễn Việt Hải (dịch).