Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kẻ Tẩy Não

Những gì mắt thấy tai nghe chưa chắc đã là sự thật.   Xác chết của một phụ nữ trẻ tuổi cùng hai bộ xương tình cờ được phát hiện tại một khu vực vốn biệt lập và nổi tiếng yên bình của Thụy Điển. cả ba đều có những thương tích như nhau, đều bị hành hạ một cách có hệ thống suốt một thời gian dài trước khi bị giết chết. Vụ việc giống như quả bom làm đảo lộn hoàn toàn nhịp sống của mọi người. Những khách du lịch đang háo hức với kỳ nghỉ nhanh chóng rời, chính quyền địa phương đứng ngồi không yên… Câu chuyện mở ra những bí mật khủng khiếp ẩn sâu dưới vẻ bề ngoài tĩnh lặng của cộng đồng. Tất cả dẫn tới hậu duệ của một nhà truyền giáo đã qua đời - người đã truyền “khả năng chữa bệnh” của mình cho hai con trai. Được nhào nặn trong tay một nữ tác giả được coi là Agatha Christie của Thụy Điển cuốn sách trở nên một tiểu thuyết tâm lý tội phạm nổi bật, điên rồ và ám ảnh.   “Cốt truyện thông minh và khả năng khắc họa nội tâm nhân vật thật cá tính đã nâng Kẻ tẩy não lên trên tầm những cuốn tiểu thuyết trinh thám khác. - Washington Post   “Bậc thầy trong sự kết hợp giữa nội tâm ấm áp và những kinh hoàng đổ máu.” - The Guardian *** Mình đã kết tác giả Camilla Lackberg từ khi đọc tiểu thuyết trinh thám “Công Chúa Băng” của bà (là tập đầu tiên trong series xoay quanh cặp đôi nhà điều tra Erica Falck và Patrik Hedstrom). Cuốn “Công Chúa Băng” mình đọc thấy cuốn hút thiệt luôn, tình huống dẫn tới cuộc điều tra, các ngóc ngách trong đời sống cá nhân và đời tập thể ở vùng Fjällbacka của Thụy Điển được miêu tả rất lôi cuốn, sự thật phơi bày thì vừa lạnh gáy vừa đau lòng, cái kết hợp lý, nên là khi thấy Nhã Nam xuất bản tập tiếp theo trong series này, mình phải lật đật mua ngay về đọc. Tuy nhiên, trải nghiệm của mình với “Kẻ Tẩy Não” lại không được như mong đợi… Bối cảnh vụ án trong cuốn này phải nói là khá hấp dẫn: xác chết của một thiếu nữ không mảnh vải che thân, cơ thể có nhiều vết thương do bị hành hạ liên tục trong nhiều ngày được phát hiện ở Khe Vua, bên dưới xác chết, người ta đào được 2 bộ xương của 2 thiếu nữ khác cũng bị sát hại theo cùng cách thức, nhưng thời gian là vào 20 năm trước. Nghe là ly kỳ rồi ha, vì có thể có 2 trường hợp: có 1 kẻ thủ ác chịu trách nhiệm cho các vụ án trong quá khứ và ở hiện tại, hay là 1 kẻ là hung thủ trong quá khứ, 1 kẻ khác ở hiện tại tiếp tục gây án theo cách thức tương tự… Tuy nhiên, diễn tiến các giai đoạn điều tra các vụ án này được miêu tả khá là chậm chạp và máy móc, và chả hiểu sao mà mình có cảm giác không có mấy bất ngờ ở cuốn này. Có thể do khi đọc tiểu thuyết trinh thám vùng bán đảo Scandinavia, các nước Bắc Âu (Scandinavian crime fiction) thì mình hy vọng bối cảnh sẽ có cái gì đó lạnh lẽo, rùng rợn, kiểu giống “Công Chúa Băng”, mùa đông tháng giá đồ đó, mà câu chuyện trong “Kẻ Tẩy Não” lại diễn ra vào mùa hè, nên mất đi một phần nét lôi cuốn vốn có của tiểu thuyết trinh thám Bắc Âu… Nhưng mà thiệt sự là mình không thích mấy cái nhịp điệu kể chuyện chầm chậm, từ từ đó của tác giả ở cuốn này. Chưa hết, mình có cảm giác công cuộc điều tra của Patrik – đáng lẽ phải là nội dung chính của tác phẩm – lại bị lu mờ trước những chi tiết có phần hài hước về đời sống riêng của bà bầu Erica, bầu bí tới tháng thứ 8 mà vẫn phải một thân một mình đối mặt với mấy người thân không tốt đẹp gì cho cam, vô cùng bất lịch sự. Mình vốn rất thích đọc thêm về các chi tiết thuộc đời sống riêng của nhân vật là thám tử điều tra trong các cuốn tiểu thuyết trinh thám, vì theo mình, các chi tiết này có thể soi rọi thêm ánh sáng vào những góc khuất trong tâm trí của nhân vật chính, làm tăng thêm độ hấp dẫn và đóng góp sự đa dạng vào cốt truyện. Nhưng trong mọi trường hợp, công cuộc điều tra phải luôn là đối tượng chính của một cuốn tiểu thuyết trinh thám, chứ không phải mấy câu chuyện đời tư lặt vặt này… Hồi mình đọc tiểu thuyết trinh thám của một tác giả Scandinavian khác là Samuel Bjork, mình thấy bác này cũng đưa các chi tiết về đời tư, tính cách, suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật điều tra viên vào tác phẩm, nhưng nó hoàn toàn không gây loãng mạch truyện chút nào; ngược lại, nó mang thêm độ thấu cảm và u ám cho câu chuyện vốn đã khá ghê rợn. Chứ còn cuốn này thì mình thấy tác giả giống như cố tình cho độc giả “hít drama” của các nhân vật để chuẩn bị cho đoạn sau bùng nổ hơn hay sao á… Mà mấy cái drama này đọc một lần thì thấy cũng hài hài, chứ đọc hoài thiệt mắc mệt… Thêm câu chuyện tình duyên luôn chả đâu vào đâu của Anna, em gái của Erica nữa… Tinh hoa/phần hay nhất của cuốn này nằm ở những trang cuối và gần cuối, khi việc điều tra tiến đến giai đoạn sau cùng là tìm ra chân tướng thủ phạm. Trước phần hạ màn này thì tác giả có cố gắng cài cắm một chút red herring, để Patrik và đồng sự cùng độc giả nghĩ rằng sẽ có thể có một cú twist, hoặc một điều gì đó chưa ai nghĩ ra hay dự tính trước sẽ xuất hiện. Nhưng cuối cùng thì chân tướng hung thủ không nằm ngoài dự đoán và cảm nhận của mình, nên thành ra mình không thấy thực sự muốn lật bàn hay té ghế gì lắm :D Chỉ ấn tượng nhất là cái độ điên loạn của tên hung thủ (hay là các tên hung thủ ta? ^^ bạn đọc sẽ rõ :)))), và những tội ác ghê tởm nào mà con người có thể thực hiện nhân danh tôn giáo. Nói chung mình đánh giá cuốn này ở tầm khá, không phải hay (thua xa “Công Chúa Băng”) nhưng cũng không phải là dở. Đọc để giải trí trong mấy ngày Tết thì chắc ổn. Mình đánh giá tầm 3/5 hoặc 6.5/10, đó là nhờ đoạn phá án thì nhịp truyện bắt đầu dồn dập lên, mình đọc một lèo tới hết luôn đó ^^ Chứ mấy đoạn trước mình nhơi nhơi vì thực sự không thấy có nhiều điều hấp dẫn, đọc từ hồi trước Tết mà giờ hết Tết tới nơi rồi mới xong :D Mà trùng hợp là gã hung thủ (hay là các gã hung thủ nhỉ? :D Again, bạn đọc sẽ rõ ^^) của cuốn này trùng tên với gã hung thủ của một cuốn trinh thám Bắc Âu khác mà mình đọc hồi cuối năm ngoái (mà mình không nói là cuốn nào đâu, nói ra là spoil hết rồi :D). Nhi Nguyễn's Reviews *** Review sách Kẻ Tẩy Não - Phuc Hieu Truyện bắt đầu khi một cậu bé trốn nhà đi chơi thì tình cờ phát hiện ra thi thể của một phụ nữ trẻ trong hẻm núi. Khi cảnh sát đến hiện trường, họ phát hiện ra thêm hai bộ xương được chôn bên dưới thi thể đó. Hai bộ xương đó nhiều khả năng là của hai cô gái đã mất tích từ những năm 1970. Còn người phụ nữ vừa mới chết kia? Không ai biết cô ta là ai… Từ đó, cuộc điều tra về những cô gái bị bắt cóc và tra tấn tới chết được mở ra, bóc tách những bí mật khủng khiếp trong một gia tộc được che giấu trong nhiều thế hệ… Thường thì điều làm nên cái hay ho, đặc sắc ở một cuốn truyện trinh thám là quá trình phá án gay cấn, căng thẳng và đoạn kết thật bất ngờ, bất ngờ đến mức độc giả ngã ngửa ra sau. Nhưng Kẻ Tẩy Não thì không có cả hai điều đó. Điều đặc biệt tạo nên vị trí của nó, cũng như những cuốn truyện khác của cùng tác giả, trên bản đồ trinh thám thế giới là sự chân thực. Sự chân thực khi mô tả vẻ nhàm chán buồn ngủ của thị trấn Fjällbacka. Sự chân thực khi khắc họa mỗi nhân vật, cả chính lẫn phụ, từ nạn nhân, hung thủ, nghi can cho đến cảnh sát, ai cũng được dành cho một phần (dù có thể rất nhỏ) để bộc lộ những suy nghĩ của riêng mình. Nỗi đau của những người thân của các cô gái mất tích có thể khiến độc giả xúc động muốn khóc. Mấy vị khách phiền nhiễu đến quấy rầy Patrik và Erica khiến độc giả cũng điên đầu luôn. Những cảnh sát tầm thường (đến vô dụng) khiến độc giả phát ngán. Chẳng có một chút nào thần thông quảng đại, đoán đâu trúng đó như các hình mẫu ngời ngời của Holmes, của Poirot. Ngay cả Patrik là cảnh sát có năng lực nhất đồn cũng nhiều lần phán đoán sai tùm lum. Còn mấy người khác thì khỏi nói đi, đã làm ăn không nên hồn, lại chỉ phá team là giỏi. Nhưng như vậy mới chân thực. Trong các truyện trinh thám khác, thường thì nhân vật chính, là thám tử hoặc cảnh sát, có thể suy-luận rồi khẳng-định luôn. Ví dụ như khi phát hiện ra hai bộ xương cũ kỹ, ồ chắc chắn đây là của hai cô gái mất tích năm xưa rồi. Nhưng không, đồn cảnh sát Fjällbacka không thể khẳng định như thế. Họ phải lấy mẫu, phải xét nghiệm, phải chờ kết quả. Chờ thực sự ấy. Không phải đưa mẫu xong là OK, có kết quả luôn. Họ phải điều tra những manh mối khác cho đến khi nhận thông báo từ phòng thí nghiệm. Họ phải làm những công việc nhàm chán, họ phát chán mà độc giả cũng phát chán, như đi hỏi han loanh quanh từng người sống gần hiện trường… Có lẽ đó mới thực sự là những công việc phi-hư-cấu của cảnh sát. Độc giả có thể theo chân họ, biết hết mọi điều họ đã thu nhận được, bởi tác giả không giấu giếm một manh mối nào. Tuy nhiên thủ phạm vẫn khá bất ngờ, theo kiểu chắc-chắn-là-kẻ-đó, ơ-hóa-ra-không-phải, á-chính-là-kẻ-đó-mà! Bởi manh mối quan trọng dùng để phá án được cài khéo quá khiến độc giả dễ, rất dễ bỏ qua. Nói chung tôi không thích trinh thám Bắc Âu lắm, cũng không hâm mộ tác giả Camilla Läckberg, nên chỉ chấm “Kẻ Tẩy Não” 7.5/10 thôi. Ai thích thể loại này thì có thể sẽ đánh giá cao hơn. P. S. Cái tên “Kẻ Tẩy Não” là do biên tập viên đặt, xin đừng hỏi dịch giả tại sao *** Ngày mới bắt đầu đầy hứa hẹn. Cậu bé dậy sớm hơn những người còn lại trong nhà, cố gắng mặc quần áo lặng lẽ hết mức có thể, rồi lẻn ra ngoài sao cho không ai chú ý. Cậu mang theo mũ hiệp sĩ và thanh kiếm gỗ, vừa hớn hở vung vẩy thanh kiếm vừa chạy trăm mét từ nhà xuống đến cửa Khe Vua. Cậu dừng lại một lát và kinh ngạc nhìn vào cái khe hun hút giữa hai vách đá dựng đứng. Hai bên khe đá cách nhau khoảng hai mét và cao đến hơn chín mét vươn trên bầu trời vừa được mặt trời mùa hè chiếu sáng. Ba tảng đá lớn nêm chặt giữa khe, một cảnh tượng thật hùng vĩ. Nơi đây có sức hút đầy ma lực đối với một cậu bé sáu tuổi. Việc Khe Vua là vùng đất cấm thực ra càng làm cho nơi đây hấp dẫn hơn. Cái tên này có nguồn gốc từ khi Vua Oscar Đệ Nhị đến thăm Fjällbacka hồi cuối thế kỷ mười chín, nhưng cậu bé không biết và cũng không quan tâm tới điều đó khi rón rén bước vào vùng tối, tay lăm lăm thanh kiếm sẵn sàng trong thế tấn công. Bố đã nói với cậu rằng những cảnh ở Rãnh Địa Ngục trong phim Ronja Rövardotter đã được quay bên trong Khe Vua. Khi xem phim một mình, cậu thấy ngứa ngáy trong bụng lúc nhìn tướng cướp Mattis phóng qua. Đôi khi cậu cũng chơi trò lục lâm ở đây, nhưng hôm nay cậu là một hiệp sĩ. Một Hiệp sĩ Bàn Tròn, như trong cuốn sách to có tô màu mà bà ngoại đã tặng dịp sinh nhật cậu. Cậu đánh bạo cầm kiếm leo qua những tảng đá nằm trên nền đất và đã sẵn sàng tấn công con rồng phun lửa khổng lồ. Mặt trời giữa trưa hè cũng không thể rọi xuống đến đáy khe được, nên chỗ này vừa tối vừa lạnh. Đó là chỗ trú ẩn lý tưởng cho loài rồng. Rất nhanh thôi cậu sẽ khiến máu phun ra từ cổ họng nó, và sau con hấp hối kéo dài đầy đau đớn, nó sẽ phải gục chết dưới chân cậu. Qua khóe mắt, cậu liếc thấy thứ gì đó khiến cậu phải chú ý. Cậu thoáng thấy một mảnh vải màu đỏ đằng sau một tảng đá, rồi tính tò mò thôi thúc cậu tiến lại gần hơn. Có thể là con rồng đang chờ đợi, có thể là kho báu được giấu ở đó. Cậu nhảy lên trên tảng đá và nhìn xuống phía bên kia. Trong thoáng chốc cậu gần như ngã ngửa ra, nhưng sau khi ngả nghiêng và vung tay loạn xạ cậu cũng lấy lại được thăng bằng. Sau này, cậu không thừa nhận rằng mình đã khiếp sợ, nhưng vào lúc đó, trong khoảnh khắc đó, cậu chưa bao giờ cảm thấy kinh hãi hơn thế suốt sáu năm cuộc đời mình. Một phụ nữ đang nằm đó chờ đợi cậu. Cô ta nằm ngửa, nhìn thẳng vào cậu với đôi mắt mở to. Trực giác mách bảo cậu phải chạy trốn trước khi cô ta bắt gặp cậu đang chơi ở đây mà không được phép. Có thể cô ta sẽ buộc cậu phải nói với cô ta nơi cậu sống và sau đó sẽ kéo cậu về nhà với bố mẹ. Họ sẽ rất tức giận, và họ chắc chắn sẽ hỏi: đã bao nhiêu lần bố mẹ dặn là con không được đi đến Khe Vua nếu không có người lớn đi cùng rồi? Nhưng kỳ lạ thay người phụ nữ không hề nhúc nhích. Cô ta cũng không có mảnh vải nào che thân, và cậu bé thoáng ngượng ngùng khi thấy mình cứ đứng đó mà nhìn người phụ nữ trần truồng như vậy. Màu đỏ mà cậu nhìn thấy không phải là một mảnh vải, mà là thứ gì đó ướt át treo ngay bên cạnh cô ta, và cậu chẳng thấy quần áo của cô ta đâu cả. Buồn cười thật, cứ nằm đó trần truồng. Nhất là khi trời lạnh thế này. Rồi cậu nghĩ đến một điều tưởng như không thể. Có thể người phụ nữ này đã chết! Cậu không thể nghĩ ra bất kỳ lời giải thích nào khác cho việc tại sao cô ta lại cứ nằm im như thế. Nhận ra điều đó, cậu nhảy khỏi tảng đá, và chầm chậm lùi dần về phía cửa khe. Sau khi đã cách người chết vài mét, cậu quay người lại và chạy thục mạng về nhà. Cậu không còn quan tâm liệu mình có bị mắng hay không nữa. Mồ hôi đã khiến khăn trải giường dính vào cơ thể cô. Erica trằn trọc trên giường, nhưng vẫn không thấy tư thế nào thoải mái. Trời đêm hè vẫn sáng trưng chẳng khiến cô dễ ngủ hơn, và phải đến cả ngàn lần cô đã tự nhắc mình nhớ mua rèm cửa, hay đúng hơn là thuyết phục Patrik đi mua một cái. ... Mời các bạn đón đọc Kẻ Tẩy Não của tác giả Camilla Lackberg & Mẫn Nhi (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Việc Máu - Michael Connelly
Terry McCaleb không ở  đỉnh cao phong độ của một đặc vụ FBI dày dặn kinh nghiệm. Ông mới ngoài bốn mươi tuổi, lẽ ra vẫn còn có thể tiếp tục cày xới thế giới tội  ác ở Los Angeles, nhưng trái tim của ông đã  đầu hàng, ông phải thay tim và thấy trước mặt  mình một cuộc sống khác hẳn. Rồi người phụ nữ  đó xuất hiện, không hề báo trước, ngay tại nơi trú ẩn tuổi già của ông. Và McCaleb buộc phải gắng gượng tìm lại phong độ tưởng chừng đã vĩnh viễn mất đi, lần mò theo những lối  đi gian nan nhất của sa mạc và của trí tuệ, với một trái tim của người khác đập trong lồng ngực. Terry McCaleb và Graciela Torres bỗng chốc khám phá ra rất nhiều điều bí ẩn của các tội ác, cũng như bí ẩn trong mối quan hệ tình cảm con người. Michael Connelly ở độ chín của tài năng và phong cách, một cuốn tiểu thuyết trinh thám có nhịp điệu mạnh liên hồi, tàn khốc nhưng không mất đi sự mềm mại, nhân bản, thậm chí là lãng mạn. *** Michael Connelly sinh ngày 21.7.1956. Ông là một nhà văn, nhà báo Mỹ. Văn đàn thế giới coi M. Connelly là "ông hoàng trinh thám Mỹ", có lẽ bởi nhiều tác phẩm thuộc thể tài này của ông đã được dịch ra hơn 40 thứ tiếng và bản thân M. Connelly đã đoạt nhiều giải thưởng văn học quan trọng nhờ số truyện trinh thám mà ông đã viết. Người biết M. Connelly nói ông viết truyện trinh thám không phải do tình cờ, cũng chẳng phải do sự bồng bột, một "tình yêu sét đánh nào đó", mà là do ông có vốn sống giàu có về lĩnh vực điều tra tội phạm. Tất cả bắt đầu từ khi M. Connelly tốt nghiệp Đại học Florida năm 1980 và khởi đầu sự nghiệp bằng những bài viết trên tờ Daytona Beach News Journal về vấn đề tội phạm Mỹ, sau đó là viết cho tờ Fort Lauderdale News and Sun-Sentinel, cũng về lĩnh vực này. Những giải thưởng đầu tiên đến với M. Connelly vào năm 1985, khi bài phỏng vấn những nạn nhân còn sống sót sau vụ rớt máy bay Delta Flight 191 của ông lọt vào danh sách đề cử giải Pulitzer - giải thưởng báo chí danh giá bậc nhất dành cho một nhà báo. Hai năm sau, chuyển đến sống tại California, M. Connelly cho ra đời tác phẩm trinh thám đầu tay của mình và gần như ngay sau đó, cuốn The Black Echo được xuất bản và đoạt giải Edgar Award năm 1992. *** McCaleb thấy nàng trước khi nàng thấy ông. Ông đang bước xuống ụ tàu chính, băng qua dãy thuyền của cánh nhà binh thì nhìn thấy người đàn bà đứng trên mũi chiếc Biển Theo Ta. Lúc đó là mười rưỡi sáng một ngày thứ Bảy, tiếng thì thầm ấm áp của mùa xuân khiến nhiều người rời khỏi nhà kéo đến các ụ tàu ở San Pedro. McCaleb đang sắp hoàn tất cuộc đi dạo vào mỗi sáng - đi trọn một vòng quanh Cabrillo Marina, dọc theo đê chắn sóng xây bằng đá rồi quay về. Đến đoạn này thì ông đã mệt bở hơi tai, nhưng ông bước còn chậm rì hơn khi tiến lại gần thuyền. Ý nghĩ đầu tiên của ông là bực bội - người phụ nữ đó đã lên thuyền ông mà không đợi ai mời. Nhưng khi đến gần hơn, ông gạt ý nghĩ đó qua bên mà tự hỏi nàng ta là ai, nàng muốn cái gì. Nàng không mặc quần áo dùng để đi thuyền. Nàng mặc bộ đầm mùa hè suông nhẹ dài tới giữa đùi. Làn gió nổi lên từ mặt nước cứ chực tốc váy nàng khiến nàng phải ép một tay vào hông để giữ yên. McCaleb không thấy hai bàn chân nàng, nhưng qua đường nét cơ bắp săn chắc ông nhìn thấy nơi đôi chân rám nắng của nàng, ông đoán nàng không mang giày dùng để đi thuyền. Nàng nhón gót lên. McCaleb lập tức hiểu ra, nàng đứng đây nhằm để gây ấn tượng với ai đó. McCaleb thì ăn mặc sao cho chẳng gây ấn tượng gì. Ông mang chiếc quần jeans cũ rách te tua vì mặc quá lâu chứ không phải để làm dáng, áo phông mặc từ hồi dự giải Catalina Gold Cup tận mấy mùa hè trước. Quần áo lấm bê lấm bết, chủ yếu là máu cá, đôi phần là máu của chính ông, axit hydrochloric, nhựa poliuretan và dầu máy. Bộ đồ này ông thường mặc để đánh cá nhưng cũng mặc cả khi sửa máy. Cuối tuần này ông định sẽ sửa máy trên thuyền nên ông đang mặc bộ đồ phù hợp. Ông bắt đầu có ý thức hơn về ngoại hình mình trong khi lại gần thuyền và thấy người đàn bà rõ hơn. Ông rút hai miếng mút của máy nghe nhạc ra khỏi tai rồi tắt CD giữa lúc bài “I Ain’t Superstitious” qua giọng Howlin’ Wolf đang phát nửa chừng. “Tôi giúp gì được cho cô?” ông hỏi trước khi bước xuống thuyền của mình. Giọng ông dường như khiến nàng giật mình, đang đứng nơi cánh cửa trượt dẫn vào buồng khách của thuyền nàng liền quay phắt lại. McCaleb đồ rằng nàng gõ lên mặt kính vì cứ nghĩ ông đang ở trong đó. “Tôi tìm Terrell McCaleb.” Nàng là một phụ nữ hấp dẫn ngoài ba mươi đôi chút, trẻ hơn McCaleb tròn chục tuổi hay hơn. Trông nàng quen quen, nhưng ông không nhớ ra ai. Chỉ là ngờ ngợ như quen, thật ra chưa chắc đã phải. Đồng thời ông lại thấy dường như ký ức mình bị đánh động khiến cho ông nhận ra, nhưng rồi điều đó qua nhanh và ông biết mình lầm, ông không quen biết người đàn bà này. Ông thường nhớ được mặt người ta. Mà cô nàng này thì mặt đủ xinh để ông không quên được. Nàng phát âm sai tên ông, đáng lẽ Mác-cây-lép thì nàng nói Mác-ca-lớp, rồi thì nàng lại dùng tên ghi trên giấy tờ của ông, cái tên chẳng ai dùng trừ cánh báo chí. Chính khi đó ông bắt đầu hiểu. Giờ thì ông biết điều gì đã đưa nàng tới con thuyền. Lại một linh hồn lạc lõng đến nhầm nơi phải đến. “McCaleb,” ông chữa lại. “Terry McCaleb.” “Xin lỗi. Tôi, ờ, tôi cứ nghĩ ông đang ở trong thuyền. Tôi không biết nếu bước lên thuyền mà gõ cửa thì có được không.” “Thì cô vẫn làm đó thôi.” Nàng lờ đi lời trách mà nói tiếp. Cứ như thể những điều nàng đang làm và những gì nàng phải nói, nàng đã phải tập đi tập lại nhiều lần. “Tôi cần nói chuyện với ông.” “Ồ, hiện giờ tôi hơi bận.” Ông chỉ tay về phía cánh cửa dẫn xuống hầm thuyền vẫn đang mở toang, may phước là cô nàng chưa lọt xuống, chỉ tay vào đống đồ nghề ông đã trút ra trên một tấm vải màn cạnh cửa sổ đuôi tàu. “Tôi đi loanh quanh tìm cái thuyền này gần cả tiếng rồi,” nàng nói. “Không lâu đâu mà. Tên tôi là Graciela Rivers, tôi chỉ muốn...” “Này, cô Rivers,” ông nói, giơ hai tay lên ngăn lại. “Thực sự là tôi... Cô đọc được về tôi trên báo có đúng không?” Nàng gật. “Thôi được, trước khi cô bắt đầu chuyện của cô, tôi phải nói với cô rằng cô không phải người đầu tiên tới đây tìm tôi hay kiếm số phôn của tôi mà gọi tôi. Và với tất cả những người khác tôi nói gì thì với cô tôi cũng nói thế thôi. Tôi không phải đang tìm việc. Thành thử nếu chuyện là cô muốn thuê tôi hay nhờ tôi giúp cách này cách nọ thì rất tiếc, tôi không làm được. Tôi không phải đang tìm loại việc ấy.” Nàng chẳng nói gì và ông cảm thấy lòng xốn xang cảm thông với nàng, cũng như ông từng cảm thấy với những người khác tới tìm ông trước nàng. “Này, tôi có biết vài ba điều tra viên tư, tôi có thể giới thiệu họ với cô. Hội này giỏi đấy, làm ăn chăm chỉ, họ không lừa cô đâu.” Ông bước lên mép đuôi thuyền, nhặt chiếc kính râm ông quên mang theo khi đi bộ, đeo vào, ra hiệu rằng cuộc nói chuyện thế là dứt. Nhưng cử chỉ và lời lẽ của ông cứ như nước đổ lá khoai đối với nàng ta. “Bài báo nói ông tốt bụng. Nói rằng bất cứ khi nào có kẻ chuồn được là ông ghét cay ghét đắng.” Ông thọc tay vào túi quần, nhún vai. “Cô phải nhớ một điều. Không bao giờ chỉ mình tôi cả. Tôi có người cộng tác, tôi có đội xét nghiệm, tôi có cả Cục ở sau lưng hỗ trợ tôi. Khác xa cái kiểu anh chàng đơn thân độc mã làm gì cũng lầm lũi một mình. Khác nhiều lắm. Dù có muốn, e tôi cũng không giúp cô được.” Nàng gật đầu nên ông đinh ninh đã làm nàng ta thấu hiểu rồi, và với cô này tới đây là hết chuyện. Ông bắt đầu nghĩ tới cái van trên một trong các động cơ thuyền mà ông đang thao tác dở, ông định sẽ làm cho xong nội cuối tuần này. Nhưng ông đã lầm về nàng. “Tôi nghĩ ông có thể giúp tôi,” nàng nói. “Có khi còn giúp chính ông nữa.” “Tôi không cần tiền. Tôi kiếm đủ.” “Tôi không nói chuyện tiền nong.” Ông nhìn nàng trong khoảng một nhịp tim trước khi đáp. “Tôi không biết cô nói thế là ý gì,” ông nói, cố tình tỏ ra cáu kỉnh. “Nhưng tôi không giúp cô được. Tôi không còn phù hiệu, mà cũng chả phải là điều tra viên tư. Tôi mà làm việc như điều tra viên tư hoặc nhận tiền mà không có giấy phép của nhà nước thì sẽ là bất hợp pháp đấy. Nếu đã đọc bài báo thì ắt cô biết chuyện gì đã xảy ra với tôi. Thậm chí tôi còn không được lái xe nữa kìa.” Ông trỏ xuống bãi đỗ xe bên ngoài dãy ụ tàu và cầu tàu. “Cô thấy cái xe trùm kín mít như quà Giáng sinh kia không? Xe tôi đó. Nó sẽ còn nằm đó chừng nào tôi chưa được bác sĩ chuẩn y cho lái xe lại. Đến nước này thì tôi còn là cái thứ điều tra viên nào nữa chứ? Đến mà phải đi xe buýt suốt.” Nàng lờ đi lời phản đối của ông, chỉ nhìn ông với vẻ kiên quyết khiến ông lúng túng. Ông chẳng biết làm cách nào điệu nàng ta đi khỏi thuyền ông được đây. “Để tôi đi lấy tên mấy người kia cho cô.” Ông đi vòng qua nàng rồi đẩy cánh cửa trượt của phòng khách ra. Vào trong rồi, ông đóng chặt cửa sau lưng mình. Ông cần sự ngăn cách. Ông đi tới chỗ mấy ngăn kéo dưới bàn vẽ hải đồ, bắt tay tìm cuốn danh bạ điện thoại. Đã quá lâu không cần tới nên bây giờ ông chẳng biết nó nằm ở đâu nữa. Ông liếc ra ngoài qua cánh cửa, quan sát cô nàng bước tới chỗ đuôi tàu, tựa hông vào ô cửa sổ nhỏ trong khi chờ đợi. Trên mặt kính cửa có lớp màng phản chiếu. Nàng không thể thấy ông đang quan sát nàng. Cảm giác quen quen lại xâm chiếm tâm trí ông và ông cố nhớ ra xem mình đã gặp khuôn mặt này ở đâu. Ông thấy nàng thật nổi bật. Đôi mắt hình quả hạnh sẫm màu vừa có vẻ u sầu lại vừa có vẻ thấu hiểu điều bí mật nào đấy. Ông biết giá như ông từng gặp nàng hay thậm chí chỉ từng quan sát nàng trước đây thì hẳn ông sẽ dễ dàng nhớ ra nàng. Nhưng ông chẳng nhớ được gì cả. Mắt ông bất giác chuyển sang hai bàn tay nàng, tìm xem có chiếc nhẫn nào không. Không có. Về chuyện giày dép của nàng thì ông đoán đúng. Nàng mang xăng đan có gót làm bằng bần, cao năm phân. Móng chân nàng sơn màu hồng, nổi bật trên làn da màu nâu mềm mại. Ông tự hỏi có phải lúc nào nàng cũng trông thế này không, hay nàng ăn mặc thế chỉ để nhử ông nhận làm cho nàng. Ông tìm ra cuốn danh bạ điện thoại trong ngăn kéo thứ hai, liền nhanh chóng tìm mấy cái tên Jack Lavelle và Tom Kimball. Ông ghi lại tên và số điện thoại của họ vào một tờ rơi quảng cáo cũ của hãng dịch vụ tàu biển rồi mở cánh cửa trượt. Nàng đang mở ví trong khi ông ra khỏi buồng khách. Ông chìa tờ giấy cho nàng. “Đây là tên hai người. Lavelle là thám tử Los Angeles đã nghỉ hưu còn Kimball hồi trước làm ở FBI. Tôi từng làm việc với cả hai, người nào cũng có thể làm việc tốt cho cô. Chọn một người mà gọi. Nhớ bảo anh ta rằng cô có được tên anh ta là nhờ tôi. Anh ta sẽ lo cho cô.” Nàng không nhận mấy cái tên từ tay ông. Thay vì vậy nàng rút một tấm ảnh ra khỏi ví chìa cho ông. McCaleb cầm lấy không nghĩ ngợi gì. Ông nhận ra ngay đó là một sai lầm. Trong tay ông là bức ảnh một phụ nữ mỉm cười ngắm một đứa bé trai đang thổi tắt nến trên cái bánh sinh nhật. McCaleb đếm được bảy ngọn nến. Đầu tiên ông nghĩ đó là ảnh của Graciela hồi trẻ hơn bây giờ vài tuổi. Nhưng rồi ông nhận ra không phải là nàng. Người phụ nữ trong ảnh mặt tròn hơn, môi mỏng hơn. Cô ta không đẹp như Graciela Rivers. Tuy cả hai đều có mắt màu nâu sẫm, nhưng mắt người phụ nữ trong ảnh không có cái vẻ mãnh liệt như mắt người đàn bà đang quan sát ông lúc này. “Em gái cô à?” “Phải. Và con của nó.” “Người nào?” “Sao cơ?” “Người nào chết?” Câu hỏi đó là sai lầm thứ hai của ông, làm trầm trọng thêm sai lầm thứ nhất bởi nó lôi ông dấn vào sâu hơn nữa. Ngay lúc hỏi, ông đã biết rằng đáng lẽ ra ông nên khăng khăng đòi nàng ta nhận lấy họ tên hai thám tử tư kia rồi chấm dứt mọi chuyện ở đây. “Em tôi. Gloria Torres. Cả nhà tôi gọi nó là Glory. Đây là Raymond, con của nó.” Ông gật đầu rồi đưa trả bức hình nhưng nàng không nhận. Ông biết nàng muốn ông hỏi chuyện gì đã xảy ra, nhưng cuối cùng ông kịp kìm lại. “Nào, thế này chả ích gì đâu,” rốt cuộc ông nói. “Tôi biết cô đang làm gì rồi. Chả ích với tôi đâu.” “Ý ông là ông không hề có lòng thông cảm phải không?” Ông ngần ngừ trong khi cơn giận sôi lên trong họng. “Tôi có lòng thông cảm. Cô đã đọc bài báo, cô biết chuyện gì đã xảy ra với tôi. Xưa nay tôi gặp rắc rối gì cũng đều do thông cảm mà ra cả.” Ông nuốt khan và cố gột sạch mọi cảm xúc khó chịu. Ông biết cô nàng này đang bị nỗi thất vọng khủng khiếp làm cho héo hon tiều tụy. McCaleb từng biết hàng trăm người như nàng. Những người thân yêu bị tước đi khỏi họ chẳng vì lý do nào hết. Không bắt bớ, không buộc tội, không phá án. Một vài người trong số đó chỉ còn như cái thây sống, đời họ bị thay đổi vô phương cứu chữa. Những linh hồn lạc lõng. Graciela Rivers giờ đây là một người như thế. Chắc chắn nàng là thế, không thì nàng đã chẳng tìm mọi cách lùng ra tung tích của ông. Ông biết, dù nàng nói gì với ông hoặc dù ông có tức giận đến mấy, nàng cũng không đáng phải hứng chịu thêm những cơn thất vọng của chính ông. “Thôi nào,” ông nói. “Tôi không làm được đâu mà. Tôi rất tiếc.” Ông đặt một tay lên tay nàng để đưa nàng trở lại bậc lên xuống thuyền. Da nàng ấm. Ông cảm nhận được bắp cơ khỏe mạnh dưới sự mềm mại đó. Ông lại đưa nàng tấm ảnh, nhưng nàng vẫn từ chối không chịu cầm. “Xem lại đi. Xin ông làm ơn. Chỉ thêm một lần thôi, rồi tôi sẽ để ông yên. Nói cho tôi biết liệu ông có cảm thấy gì khác không?” Ông vừa lắc đầu vừa phác một cử chỉ yếu ớt bằng bàn tay như muốn nói đằng nào thì cũng vậy thôi. “Tôi là cựu nhân viên FBI chứ không phải nhà ngoại cảm.” Nhưng ông vẫn làm ra vẻ giơ tấm ảnh lên nhìn. Người phụ nữ và chú bé xem chừng hạnh phúc. Là tiệc sinh nhật mà. Bảy ngọn nến. McCaleb nhớ rằng hồi ông bảy tuổi cha mẹ ông còn ở với nhau. Nhưng sau đấy thì không ở với nhau lâu nữa. Mắt ông bị hút vào đứa bé nhiều hơn vào người phụ nữ. Ông tự hỏi bây giờ không có mẹ thì thằng nhỏ sống ra sao. “Tôi xin lỗi, cô Rivers ạ. Thực sự là tôi rất tiếc. Nhưng tôi chẳng làm gì được cho cô hết. Cô có muốn lấy ảnh này lại không?” “Tôi có hai cái. Ông biết đấy, rửa một tặng một mà. Tôi tưởng ông sẽ giữ lại một cái.” Lần đầu tiên ông cảm thấy có cái gì đó ngầm ẩn trong dòng cảm xúc. Có cái gì đó hệ trọng nữa đây, nhưng ông không biết là gì. Ông nhìn kỹ cô Graciela Rivers và có cảm tưởng rằng nếu dấn thêm một bước, hỏi cái câu hỏi thật hiển nhiên, ông sẽ bị cuốn hẳn vào. Ông không kìm được. “Sao tôi lại muốn giữ tấm ảnh dù tôi sẽ không thể giúp cô được?” Nàng mỉm cười một cách buồn bã thế nào đó. “Bởi nó là người đàn bà đã cứu mạng ông. Thỉnh thoảng tôi lại nghĩ, hẳn ông cần tự nhắc mình nhớ cô ta trông thế nào, cô ta là ai.” Ông nhìn nàng chằm chằm một hồi lâu nhưng thật ra ông không nhìn Graciela Rivers. Ông đang nhìn vào bên trong mình, lục lọi trong ký ức và hiểu biết của mình điều nàng vừa nói, nhưng vẫn không hiểu được ý nghĩa của nó. “Cô nói cái gì vậy?” Ông chỉ hỏi được có thế. Ông có cảm giác quyền kiểm soát cuộc nói chuyện và mọi thứ khác đều đang tuột khỏi ông mà trượt qua boong tàu về phía nàng. Cái dòng chảy ngầm kia đã tóm được ông. Nó đang đưa ông đi. Nàng giơ tay lên, nhưng rướn tay qua bức ảnh ông vẫn đang chìa ra cho nàng. Nàng đặt lòng bàn tay lên ngực ông, miết tay dọc xuống ngực áo ông, mấy ngón tay nàng lần theo vết sẹo giống như đoạn thừng dày cộm sau lần áo. Ông để yên cho nàng làm vậy. Ông đứng như hóa đá mà để nàng làm vậy. “Trái tim ông,” nàng nói. “Nó từng là của em tôi. Nó là người đã cứu mạng ông.” ... Mời các bạn đón đọc ​Việc Máu của tác giả Michael Connelly.
Sáu Ngày Của Condor - James Grady
James Grady là nhà văn tiến bộ Mỹ. Ông sinh năm 1949 tại một thị trấn nhỏ thuộc bang Montana. Ngày nhỏ sống tại quê nhà. Sau khi tốt nghiệp đại học Montana, J. Grady trở thành nhà báo. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường đại học, ông đã say mê tìm hiểu các môn khoa học xã hội - chính trị và sử học. Tuy rất có năng khiếu về văn chương, nhưng J. Grady vẫn không dám sống bằng nghề cầm bút, vì ông vốn biết chắc mười mươi rằng "phàm đã là nhà văn thì khó lòng được sống một cuộc đời no đủ". Bởi thế, J. Grady xin vào làm trợ lý các vấn đề lập pháp tại Uỷ ban soạn thảo hiến pháp bang Montana. Tiếp đó, suốt nhiều năm liền ông đã làm qua đủ mọi nghề: khi thì công nhân, khi thì chuyên gia bài trừ tệ nạn phạm pháp trong trẻ em, khi thì phóng viên báo chí. Cuộc sống của ông cứ tiếp tục trôi qua như thế cho mãi đến năm 1974, năm J. Grady công bố cuốn truyện đầu tay, làm chấn động dư luận: "Sáu ngày của Condor" 1 (trong những lần tái bản sau này được đổi tên thành "Ba ngày của Condor"). Cuốn tiểu thuyết đã đem lại cho tác giả danh tiếng ấy lập tức được đạo diễn Mỹ có tên tuổi là Sydney Pollack đưa lên màn ảnh và càng làm xôn xao dư luận. Năm 1975, J. Grady cho ra mắt bạn đọc thiên tiểu thuyết thứ hai: "Cái bóng của Thần Ưng". Nhân vật chính ở đây vẫn là anh chàng Ronald Malcolm quen thuộc mà một nhà phê bình đã từng tặng cho danh hiệu là "gã điệp viên đáng mến và hấp dẫn nhất, nhưng đồng thời cũng lại là tên điệp viên khó gặp và phi hiện thức nhất trong lịch sử tồn tại của cơ quan CIA". Ngay cả khi tác phẩm đầu tay đã có tiếng vang rộng khắp, J. Grady vẫn còn nấn ná khá lâu mãi tại quốc hội Mỹ với chức vụ trợ lý của một hạ nghị sĩ. Còn hiện thời, J. Grady đang làm thư ký riêng cho một nhà báo Mỹ lừng danh. Ông chỉ sáng tác truyện trinh thám những khi rỗi việc. Các cốt truyện trong sáng tác của ông thường xây dựng trên chất hiện thực. Những gì được hư cấu hoàn toàn không phải nhằm mục đích "thêm nhưn thêm nhị" mà chỉ là phương tiện để gắn kết các biến cố thực lại với nhau cho bố cục tác phẩm được cân xứng, thật hài hoà. Năm 1980, tác phẩm thứ ba của J. Grady ra đời: "Bắt lấy ngọn gió lành". Mùa xuân năm 1981, lại một tiểu thuyết hấp dẫn nữa của nhà văn, thiên truyện thứ tư ra mắt bạn đọc: "Kẻ trốn chạy ngoài phố". Những biến cố trong "Sáu ngày của Condor" bắt đầu từ việc một nhân viên trong một tiểu ban của CIA (gọi là "Hội Văn Sử") phát hiện ra một vụ gian lận về chứng từ, sổ sách, và muốn làm "sáng tỏ", anh bèn viết một tờ trình ngắn gởi lên cấp trên. Tờ trình rơi vào tay một "ông lớn" ở Tổng hành dinh CIA. Nhân vật này cho thi hành "những biện pháp khẩn cấp nhằm huỷ diệt hết tất cả các "khoản" cùng những hồ sơ lưu trữ có liên quan đến công việc, lẫn những nhân viên của cái tiểu ban có dính đến câu chuyện nêu trong "tờ trình". Thế là ngay đêm hôm đó, nhân viên viết tờ trình bị thủ tiêu tại nhà. Và sáng hôm sau thì toàn bộ người của tiểu ban bị giết một cách thảm khốc, trừ mỗi một mình anh chàng Malcolm, vì sáng hôm đó đi vắng, nên thoát chết. Trở về trụ sở và chứng kiến cảnh giết chóc tàn khốc nọ, Malcolm với biệt danh Thần Ưng (Condor), đã dùng điện thoại báo động. Báo động! Báo động khẩn cấp! Phong toả ngay căn cứ!... Và từ đó bắt đầu cuộc săn lùng, cuộc đấu trí, chung quanh cái trục là Malcolm, "người hùng" trong một tình thế bắt buộc, như anh thú nhận: "không có con đường nào khác". Cả hai phía; phía "chính thống" và phía "buôn lậu ma tuý" đều lùng sục Malcolm, bởi vì anh là người nắm được đầu mối của cái tấn kịch khủng khiếp. Malcolm, cái anh chàng "thư lại" ấy, bỗng chốc phải đối phó với hàng trăm tình huống gay cấn - và tình huống cũng đã buộc anh phải hành động mưu trí, sáng tạo để thoát chết và để khám phá ra bọn thủ phạm vụ án. Vấn đề là trong khi hành động như thế, Malcolm cũng dần dần hiểu ra một điều cơ bản là cả hai phía săn lùng anh cùng có chung một bản chất: "Maronic là đứa giết người thuê. Malcolm bỗng nhớ lại giọng nói của những nhân viên nhà nghề ở đầu đường dây "Báo động", những người cũng y hệt như Maronic vậy. "Không", anh nghĩ bụng, - cuộc săn lùng từ trước đến giờ chỉ nhằm vào mỗi một mình mình. Vấn đề đặt ra chỉ có thế này họ chống lại mình, họ hại mình" (chương Thứ ba (đêm) - Thứ tư (Rạng sáng)). Thông qua toàn bộ câu chuyện, J. Grady cũng phơi bày được một bộ mặt bản chất của xã hội Mỹ: đó là một xã hội với những tội ác kinh điển, thường trực, một xã hội đầy dẫy bọn buôn lậu, bọn găng- xtơ thích máu, mà đối với chúng việc giết người "chỉ là công việc làm ăn, không hơn không kém" và "họ không xúc động mảy may nào về những hậu quả do họ gây nên". Điều đáng chú ý nữa là cái bọn tội phạm ấy lại chính là những nhân vật có cỡ nằm ngay trong nội bộ CIA. Đúng hơn, một số nhân vật có cỡ trong CIA đã móc ngoặc với bọn găng xtơ, làm ăn phi pháp và gây tội ác. Và việc chúng khử cả một tiểu ban của CIA một cách lạnh lùng, tàn bạo… để bịt đầu mối, đã nói lên cái bản chất của những con người trong cái công cụ đáng nguyền rủa ấy của nước Mỹ. Qua cuốn tiểu thuyết, nội tình của CIA, cái mặt trái của tổ chức cồng kềnh này, đã bị phơi trần. Nó có nội gián. Nó mọt ruỗng từ bên trong. Nó kém hiệu lực mặc dù hùng hổ. Đứng trước sự khủng hoảng, nó đối phó lúng túng. Cái gì sẽ xảy ra nếu không có anh chàng Malcolm? Nhân vật "ông già hiền hậu" chỉ là nhân vật tỉnh táo gần như duy nhất, trong trường hợp ấy cũng sẽ chẳng làm nên chuyện gì. Còn Malcolm? Anh là "người hùng" trong một tình thế bắt buộc, như anh thú nhận: "không có con đường nào khác". Cái kết thúc phần nào "có hậu"của cuốn truyện, tuy không hẳn đã phản ảnh chân xác lô- gich của xã hội Mỹ, nhưng cái kết thúc ấy cùng với phần nào cái chất lương thiện trong con người bình thường Malcolm, biểu tượng của khát vọng về lẽ phải và lòng nhân đạo của nhân dân Mỹ, đã đem lại cho người đọc cảm tình và hy vọng. Đó là một tích cực đáng nói của cuốn truyện này Hội Văn nghệ Quảng Nam - Đà Nẵng Mời các bạn đón đọc Sáu Ngày Của Condor của tác giả James Grady.
Thánh Giá Rỗng - Higashino Keigo
Đằng sau mỗi vụ án mạng luôn có một câu chuyện đau lòng và đầy nước mắt. Nhưng liệu rằng tử hình có phải là hình phạt thích đáng cuối cùng cho mọi tội ác? Công lý có thực sự được thực thi? Liệu rằng khi lời tuyên bố án tử được vang lên trước tòa, thân nhân của người bị hại có thực sự thấy yên lòng, nỗi đau có phần nào được bù đắp và kẻ gây nên tội ác có chút nào ăn năn, hối cải? Nếu bạn cũng băn khoăn và chưa tìm được lời giải cho những câu hỏi này, hãy tự đi tìm câu trả lời trong cuốn tiểu thuyếtThánh giá rỗng của nhà văn bậc thầy trinh thám hàng đầu Nhật Bản - Higashino Keigo. Thánh giá rỗng là câu chuyện xoay quanh hai vụ án mạng tàn khốc trong cùng một gia đình. Ngày 21 tháng 9 của mười một năm về trước, cô bé Manami ngây thơ, vô tội đã bị sát hại tại nhà riêng. Đúng mười một năm sau, mẹ cô bé - Sayoko, cũng bị giết hại dã man trên con đường thuộc quận Koto. Nakahara - một người chồng, một người cha bất hạnh đã hai lần phải cảm nhận nỗi đau mất người thân. Cái chết đầy uẩn khúc của Sayoko đã khiến anh tạm gác lại niềm riêng để bước vào cuộc hành trình tìm kiếm sự thật. Trên con đường tìm lời giải đáp cho mọi thắc mắc của mình, Nakahara vô tình tìm ra mối liên hệ giữa vụ án mạng của vợ anh và một bí mật động trời khác đã được chôn giấu suốt hai mươi mốt năm trời. Bằng giọng văn giản dị nhưng không kém phần sắc bén Higashino Keigo lại một lần nữa dẫn dắt người đọc đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, lần tìm về quá khứ để từng bước, từng bước gỡ những nút thắt chưa được giải. Không có những pha rượt đổi gay cấn đến nghẹt thở, không có những màn phá án li kì đến xuất thần, nhưng Thánh giá rỗng - cuốn sách có mặt trong top 5 các tiểu thuyết trinh thám hay nhất do Shukan Bunshun bình chọn, bằng một cách rất riêng vẫn ám ảnh và lôi cuốn người đọc vào những câu chuyện cảm động, đầy nước mắt của tình bạn, tình yêu, và tình phụ tử thiêng liêng... *** Higashino Keigo sinh ngày 4/2/1958 tại Osaka. Ông được biết đến như một trong những tác giả nổi tiếng nhất Nhật Bản ở thể loại trinh thám - li kì. Sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng của ông với các độc giả Nhật Bản có thể được ví như James Patterson hay Dean Koontz với nhiều thế hệ độc giả Mĩ. Năm 1985, Higashino Keigo giành giải Edogawa Rampo lần thứ 31 cho tác phẩm trinh thám hay nhất với tiểu thuyết Houkago (tạm dịch: Sau giờ học). Năm 1999, ông đoạt giải Mystery Writers of Japan với tiểu thuyết Bí mật của Naoko. Năm 2006, ông tiếp tục nhận giải Naoki lần thứ 134 cho Phía sau nghi can X. Trong năm 2006, Phía sau nghi can X cũng mang về cho Higashino Keigo giải Honkaku Mystery Award. Năm 2012, ông tiếp tục nhận giải thưởng văn nghệ Chuokoron lần thứ 7 cho tiểu thuyết Điều kì diệu của tiệm tạp hóa Namiya. Các tác phẩm của Higashino Keigo có lối tiếp cận rất độc đáo, cuốn hút độc giả dõi theo từng chi tiết, từng nét chuyển biến dù là mong manh nhất trong tâm lí và tình cảm của các nhân vật. Không chỉ là những câu chuyện độc nhất vô nhị đầy ám ảnh, các tác phẩm của ông còn khiến độc giả suy nghĩ về những vấn đề phức tạp của xã hội và mối quan hệ giữa người với người. Rất nhiều trong số các tác phẩm của Higashino Keigo đã được chuyển thể thành phim và mang về cho nhà sản xuất những thành công rực rỡ về cả mặt thương mại cũng như tính nghệ thuật. Cuốn Thánh giá rỗng (tên gốc: Utsuro na Jujika) bạn đang cầm trên tay là một trong những tác phẩm mới nhất của Higashino Keigo. Cuốn sách được ra mắt lần đầu tiên tại Nhật năm 2014 và nhanh chóng có mặt trong top 5 các tiểu thuyết trinh thám hay nhất do Shukan Bunshun bình chọn. Sẽ thế nào nếu một người thân yêu của chúng ta ra đi vì "bị giết?" Liệu án tử hình là cần thiết hay không hề hiệu quả? Phạt tù là sự trừng phạt hay giải thoát những nỗi đau? Sinh mệnh của đứa trẻ còn chưa lọt lòng thuộc về ai? Ngay cả khi hiểu được động cơ của kẻ gây án, ngay cả khi hắn đã phải chịu án phạt tử hình, thì liệu ngày mà tất cả thực sự được cứu rỗi có đến? Có lẽ không chỉ những người thân xung quanh người bị hại, mà gia đình thủ phạm cũng chỉ là nạn nhân. Sau khi gấp lại những trang cuối cùng và ta buộc phải suy nghĩ về những chủ đề nặng nề như một con đường hầm không thấy ánh sáng như vậy, bạn chỉ có thể thốt lên rằng: Thật đúng là Higashino! Skynovel Iguchi Saori hầu như không nhớ gì về mẹ mình, khi cô bé bắt đầu nhận thức được thế giới xung quanh, bà đã không còn trên đời. Saori vẫn nhớ hồi mẫu giáo cô bé đã ghen tị với đám bạn như thế nào vì chúng có mẹ đến đón mà mình thì không. Đến lúc học tiểu học, cô bé mới hay mẹ đã mất năm mình 3 tuổi, và mãi lên lớp 5 cô bé mới biết bà mất vì bệnh u não khi chỉ vừa 31 xuân xanh. "Mẹ con nấu ăn rất ngon, lại vô cùng dịu dàng. Bà ấy vốn là người rất khỏe mạnh, lúc đó ba cũng không dám nghĩ mẹ con lại mắc bệnh đó", Yosuke - ba của cô bé vẫn luôn nói về mẹ cô như vậy. Yosuke là kỹ sư làm việc tại một công ty chuyên về sản phẩm công nghiệp hóa chất. Trụ sở chính của công ty đặt ở Osaka, nhưng công xưởng Fuji, nơi anh làm việc lại nằm ngay ở thành phố Fuji gần đó, vì thế hàng ngày anh đi ô tô đến công xưởng. Đến năm lớp 4, anh vẫn gửi Saori ở trường giáo dục trẻ em¹. Giờ trả học sinh của trường là 6 giờ 30 phút, nhưng ngày nào Yosuke cũng đến đón cô bé sát giờ trường đóng cửa. Mỗi ngày nhìn thấy mặt ba là cô bé lại an tâm phần nào. ____________________________ (1) Là một dạng trường dành cho trẻ em cấp 1 sau khi tan học nếu về nhà không có người bảo hộ thì sẽ tới đây cho đến khi có người nhà tới đón Khi Saori lên lớp 5, cô bé không đến trường giáo dục trẻ em nữa mà đi thẳng từ trường tiểu học về nhà. Cô bé không chán ghét việc ở nhà một mình, chỉ cần đọc sách, xem đĩa phim là thời gian sẽ mau trôi qua. Ở trường cô bé cũng có bạn, nhưng Saori vốn thích được ở một mình như vậy. Cũng từ lúc đó, Yosuke về nhà muộn hơn. Trước đây, anh vẫn làm bữa sáng và bữa tối đều đặn, nhưng vì công việc càng ngày càng bận rộn, nên có những lúc anh mua cơm hộp ở cửa hàng tiện lợi để hai ba con ăn tối, cũng có những khi Saori một mình gọi pizza vừa ăn vừa đợi ba về. Được một thời gian, Saori nhận ra mình nên tự nấu cơm. Một ngày nọ, Saori đi siêu thị mua thức ăn, rồi ghé qua thư viện mượn một quyển sách dạy nấu ăn. Bữa tối hôm đó cô bé đã làm món thịt hầm khoai tây, canh miso và cơm trắng. Hôm ấy, Yosuke hiếm hoi có một ngày về sớm, mắt anh ánh lên tia lấp lánh, miệng liên tục khen con gái "Saori giỏi quá!". Và dù món thịt hầm thực ra hơi nhạt, canh miso cũng không thể nói là ngon, nhưng chỉ cần nghĩ mình đã giúp được ba cũng khiến cô bé cảm thấy vui vẻ. Từ đó trở đi, Saori trở thành người chăm lo chuyện cơm nước trong gia đình. Không phải ngày nào cô bé cũng có thể nấu, vì thế có những lúc, trước khi Yosuke đi làm cô bé sẽ dặn ba rằng, "Ba, hôm nay ba ăn tối ở ngoài nhé. Con sẽ mua bánh kẹp ở cửa hàng tiện lợi ăn tối". Ngoài nấu cơm, Saori cũng dần dần làm cả việc dọn dẹp hay giặt giũ trong nhà. Cô bé không cảm thấy có gì khổ cực, ngược lại làm việc nhà còn khiến cô bé cảm thấy vui vẻ. Có lẽ Saori hợp với công việc nội trợ gia đình. Yosuke vẫn thường khen con mình đầy tự hào rằng, "Saori sau này sẽ trở thành cô con dâu tốt đây, ba cũng rất yên tâm". Thế nhưng, sau câu khen đó, anh không quên nói thêm, "Nhưng ngoài việc nhà ra, Saori còn phải làm rất nhiều việc khác. Bây giờ điều quan trọng nhất là con phải học tập thật chăm chỉ, như thế sau này con mới được hạnh phúc. Việc nhà hay chuyện của ba, con xếp thứ hai cũng được". Nói như vậy, nhưng Yosuke cũng yên tâm khi con gái quán xuyến việc trong gia đình. Anh về nhà muộn hơn trước, có lẽ vì công việc trở nên bận bịu hơn. Thậm chí khi đã về đến nhà, anh vẫn nhận được những cuộc gọi liên quan đến công việc, số ngày lễ phải đi làm cũng tăng dần, các chuyến công tác qua đêm cũng trở nên thường xuyên. Khi Saori lên cấp hai, cuộc sống ở nhà của Yosuke chỉ là về nhà để ngủ. Cũng vì thế, hai ba con hiếm khi có thể nhàn nhã ngồi nói chuyện với nhau. ... Mời các bạn đón đọc Thánh Giá Rỗng của tác giả Higashino Keigo.
Người Đàn Bà Đáng Ngờ - Erle Stanley Gardner
Cô Ambler cứ nằng nặc đề nghị vạch bụng cho luật sư trứ danh Perry Mason xem vết sẹo với sự chứng kiến của nhà thám tử tài ba Paul Drake. Ngay sau đó Ambler ra phi trường Los Angeles bắn ba phát súng đạn giả ở nơi đông người rồi chạy biến vào khu vệ sinh. Cảnh sát ập tới bắt được một cô gái có thân hình, mặt mày, trang phục giống hệt như Ambler nhưng lại là - cô gái triệu phú Minerva Minden …  *** Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [Perry Mason #78 The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952) 14. Tiếng Chó Tru Trong Đêm [Perry Mason #04 - The Case of the Howling Dog] (1934) 15. Người Được Minh Oan [Perry Mason #27 - The Case of the Half-Wakened Wife] (1945) *** Cô Della Street - thư ký riêng của Perry Mason - bước vào văn phòng và nói: - Trong văn phòng của luật sư, người ta thấy có quá nhiều chuyện kỳ cục. - Thật ư? Nhưng sao cô lại có ý kiến như vậy? - Có một cô Dorrie Ambler nào đó. Cô ta đang ngồi ở phòng đợi và mong muốn gặp ông. - Cô ấy bao nhiêu tuổi? - Khoảng 23 hay 24. Trẻ, khỏe, đẹp, trải đời rồi. - Thế cô ta đã nói gì để cô có nhận xét như vậy? - Cô ta vừa mổ ruột thừa và muốn vạch bụng cho ông xem vết sẹo. - Để kiện người giải phẫu ư? - Không, hoàn toàn không phải như thế. Cô ta nghĩ là việc nhận dạng của cô không được chắc chắn lắm nên khi cho ông xem vết sẹo, cô ta muốn ông cấp một bản xác nhận chứng tỏ cô là ai hay chính xác hơn cô khòng phải là ai đó. - Một chuyện đùa giỡn hay một âm mưu làm tiền đây? Chắc chắn là tôi không cho một cô gái trẻ cởi quần áo trong văn phòng của tôi để… - Cô ta đề nghị tiến hành việc đó trước mặt một người làm chứng. Trong đám người khoái chứng kiến cái cảnh như vậy có ông Paul Drake. Tôi mời ông ta đến nhé? - Della, khoan hãy gọi vội, chờ tôi nói chuyện một chút với cô Ambler nào đó đã… - Trước khi đưa cô ta vào gặp ông, tôi xin báo trước với ông một việc… - Việc gì? - Trong túi xách của cô ta có một khẩu súng lục. - Làm sao cô biết? - Gertie, cô gái phụ trách tổng đài tuyệt vời của chúng ta đã báo cho tôi điều đó. Trong khi chọn xem một tờ tạp chí, cô Ambler đã để rơi chiếc xắc xuống sàn. Tiếng rơi nghe thật nặng và cô ta giật mình lo ngại nhìn quanh xem có ai chú ý đến điều đó không. Gertie kết luận vật nặng trong xách phải là một khẩu súng. Luật sư nói với vẻ hăng hái: - Ai mà được biết trước thì sẽ cẩn thận gấp đôi, Della, cô cứ dẫn cô ta vào đây. Dorrie Ambler đúng là một cô gái thật đẹp, cô có mái tóc màu hung, đôi mắt màu hạt dẻ. - Ồ! Thưa ông luật sư Mason, ông thật là khả ái mới vui lòng tiếp đón tôi… - Mời cô ngồi, thưa cô… Theo tôi hiểu thì cô cần gặp tôi để nhờ xác định căn cước của cô phải không? Ý cô muốn nhờ tôi chứng nhận cô đúng là cô chứ gì? - Dạ vâng. - Vì lý do gì cô phải làm như vậy? - Có kẻ định làm tôi lẫn lộn với một người khác. Mason liếc nhìn Della Street và chỉ rõ: - Dấu vân tay của cô là cách tốt nhất để tránh chuvện đó. Cô gái trẻ kêu lên như bị xúc phạm: - Ồ! Biện pháp đó làm tôi có cảm giác như mình là kẻ phạm tội. Mason lắc đầu: - Không đâu! Cô chỉ việc gửi dấu vân tay đến cơ quan F.B.I đề nghị họ xếp vào hồ sơ loại không phạm tội. Đó là cách thức quen thuộc mọi người đều làm như vậy vì nó giúp cho nhà chức trách biện pháp nhận dạng một cách chính qui. - Biện pháp đó có mất nhiều thời gian không? - Lấy dấu tay của cô và gửi đến F.B.I ấy à? Ồ! Không lâu đâu. - Tôi ngại mất nhiều thời gian… Do đó tôi mới đến xin gặp ông… Tôi muốn… ơ… ông xem vết sẹo tôi vừa mổ ruột thừa. Lại một lần nữa Mason trao đồi ánh mắt với Della Street. - Này cô Ambler, tôi muốn biết thực sự cô có ý định gì? Ambler trịnh trọng nói: - Sau này nếu khi gặp lại lôi, ông có nhận ra tôi không? - Tôi nghĩ rằng có. - Thế còn cô, thưa cô Street? - Ồ! Chắc chắn như vậy - Della Street gật đầu xác nhận. - Nhưng trong trường hợp như thế này, ai cùng muốn có một sự xác nhận thật đảm bảo. Tôi biết khi cần phải xác nhận căn cước của một người, người ta thường hay dùng đến vết sẹo. Như vậy tôi cũng có một vết… - Và cô muốn cho chúng tôi xem? - Vâng, nhưng cần phải có một người khác chứng kiến vì theo tôi hiểu thì một vị luật sư không thể làm chứng cho khách hàng phải không ạ? Mason xác nhận: - Đúng vậy, luật sư không thể làm chứng cho thân chủ được. Luật sư nhìn cô thư ký và nói tiếp: - Nếu cô muốn, chúng tôi mời ông Paul Drake, giám đốc hãng trinh thám Drake làm chứng. Văn phòng của ông ta ở ngay bên cạnh trong cùng mội lầu, tôi hay nhờ ông ta cộng tác trong công việc. Dorrie hơi lưỡng lự nói: - Một phụ nữ làm chứng thì tốt hơn. Nhưng thôi thưa ông Mason, tôi hoàn toàn tin tưởng ở ông và để tùy ông quyết định. Luật sư nói với cô thư ký: - Tôi ghi vài chữ đề nghị ông ta giúp đỡ. Della, cô đưa mảnh giấy nầy cho ông Paul Drake. Trên mảnh giấy, Mason ghi vội: Anh Paul thân! Cô Della sẽ kể cho anh nghe câu chuyện nhưng tôi muốn anh cử một hay nhiều nhân viên, theo dõi cô gái khi cô ta rời khỏi văn phòng của tôi. Việc theo dõi cứ tiến hành cho đến khi có lệnh mới của tôi. Còn Della, cô cố thử xem trong túi xách của cô gái có súng không. Ông đưa mảnh giấy cho Della và cô biến nhanh qua cửa thông ra hành lang. Vắt chéo đôi chân tuyệt đẹp, Dorrie Ambler nhìn ông vẻ thăm dò và hỏi: - Thưa ông luật sư Mason, chắc ông lấy làm lạ về tôi lắm nhỉ? - Phải nói là hơi không bình thường một chút. - Tôi ngại có kẻ định dùng tôi làm một thứ để tế thần. Luật sư cười: - Đối với cô, chữ con dê không thích hợp. Phải gọi là con nai mới tương xứng. - Con nai tế thần? - Cô Ambler nhắc lại. – Vâng, chữ dùng thật đẹp nhưng tôi không thể chịu để sử dụng như thế. - Cô Ambler, chắc chắn như vậy rồi. Chính tôi cũng không chịu ở vào một tình trạng rắc rối như thế… Cô đã ghi địa chỉ cho cô thư ký của tôi rồi chứ? - Vâng… Ơ… tôi đã cho cô trực tổng đài biết. - À cô Gertie… Cô sống ở đâu nhỉ? - Chung cư Parkhurst, căn hộ số 907. - Cô có chồng, sống độc thân hay đã ly hôn? - Độc thân. - Chủ nhà hay người quản lý ngôi nhà có thể nhận dạng cô được chứ? Cô gái gật đầu xác nhận. - Cô ở đó được bao lâu rồi? - Ồ! Khoảng 6 tháng thì phải. - Cô có bằng lái xe hơi không? - Dạ có. - Cho tôi xem qua được chứ? Dorrie Ambler mở xắc lấy bằng lái xe. Perry Mason dù chú ý nhưng không thể nhìn thấy trong đó có gì. ­Ông chăm chú xem tấm bằng và nhận xét: - Bằng này đã cấp được 5 tháng. - Vâng, nhằm đúng vào ngày sinh của tôi. Thế là ông đã biết tuổi tôi rồi đấy. - Hồi đó sao cô không phản đối chuyện lấy dấu tay vì theo đúng quy định của bang Californie, dấu ngón tay cái của cô đã in vào tấm bằng rồi? - Thưa ông Mason, ông hiểu sai lời tôi rồi. Tôi không phản đối chuyện lấy dấu tay mà chỉ không thích được gửi đến F.B.I thôi. - Nhưng dầu sao dấu ngón tay cái của cô cũng đủ để xác định căn cước của cô một cách tốt nhất rồi. Cô gái nhìn vào ngón tay cái và nói: - Thưa ông luật sư Mason, ông xem dấu tay có rành không ạ? - Không, nhưng ông Paul Drake đúng là một chuyên viên trong lĩnh vực đó đấy. Còn tôi, tôi chỉ có khả năng so sánh các dấu vân tay thôi. Trên người cô còn vết sẹo nào khác nữa không? - Dạ không. Chỉ có một vết mổ ruột thừa thôi. Della và Paul Drake cùng đi vào. Mason giới thiệu nhà thám tử tư với cô Ambler rồi giải thích: - Paul, sự việc hơi đặc biệt một chút. Cô gái này muốn một người xác định căn cước của cô. Cô đề nghị anh quan sát cô thật kỹ và xem vết sẹo cô mới mổ ruột thừa. Drake trịnh trọng nói: - Được rồi. - Tôi vừa giải thích dấu ngón tay cái của cô trên tấm bằng lái xe do bang Californie cấp là đủ xác định nhận dạng của cô một cách hợp pháp rồi. Drake nói: - Dĩ nhiên như vậy rồi, dấu ngón tay cái đủ xác định căn cước nhưng nếu cô cứ thích… - Vâng đúng đấy ạ. - Dorrie Ambler hăng hái nói chen vào. Nếu ông muốn so sánh vân ngón tay cái với dấu tay trên tấm bằng thì đây… Nhưng tôi không muốn ấn ngón tay cái vào mực dấu đâu. Tôi có cảm tưởng như mình là một kẻ phạm tội. Ông có thể so sánh chính ngón tay cái với dấu tay trên tấm bằng được chứ ạ? Drake lấy trong túi ra một chiếc kính lúp: - Được, nhưng làm thế hơi mất thì giờ. Thật giản dị nếu như… Cô Ambler cười gượng gạo và nói van vỉ: - Không, tôi xin ông! Không dùng mực! Nhà thám tử gật đầu: - Tùy ý cô thôi! Paul chăm chú so sánh vân ngón tay cái với dấu tay trên tấm bằng trong một lúc rồi quay lại Mason, anh gật đầu nói: - Ok.Cô gái này đúng là Dorrie Ambler. Nào bây giờ cô cho tôi xem vết sẹo. Cô gái vội đứng lên đi ra góc phòng: - Tôi không thích đứng ở cạnh cửa sổ. Sau khi cởi áo Jakét mặc ngoài, cô vén cao áo trong lên để lộ một ít da trắng nõn phía trên chiếc váy nhưng lại bối rối thả vội áo xuống. Mason nói: - Dấu ngón tay cái là đủ rồi. - Không, không, tôi muốn ông… (Cô lại cười gượng). Thôi được, một vị luật sư cũng như một vị thầy thuốc thôi. Tôi đã quen cởi quần áo trước mặt bác sĩ riêng rồi. Cô kéo fermeture để vạch ra phần trên cái váy và vén áo lên. Trong vài giây, cô để ba người xem một vết sẹo đỏ trên làn da mượt như nhung. Rồi vừa lắc đầu cô vừa vội kéo váy lên và nói to: - Tôi không biết vì sao nhưng có cảm giác bối rối ghê gớm như ở tư thế hoàn toàn khỏa thân ấy. - Cô cứ yên tâm, - Drake nói, - trong vài tháng, khi vết sẹo không còn nữa, nó sẽ lặn mất gần như chẳng nhìn thấy đâu. Dầu sao chúng tôi cũng đã xem và với vết sẹo cùng dấu ngón tay cái, tôi có thể xác nhận nhận dạng cho cô. - Vâng, đó chính là điều tôi đề nghị. Trong khi cô Ambler quay mặt vô phía tường để chỉnh đốn lại y phục, Della lợi dụng thời cơ mở túi xách của cô gái rồi đóng lại sau khi đã liếc nhìn qua. Bắt gặp ánh mắt của Mason cô khe khẽ gật đầu. - Paul! Thế anh sẵn sàng chứng nhận cô gái này đúng là Dorrie Ambler chứ? - Vâng, nhưng tôi muốn biết chuyện này để làm gì vậy? - Tôi cũng thế! - Dorrie Ambler nói chen vào. - Tôi chỉ biết có một người giống tôi như đúc hay là người ta cố tạo ra tôi giộng hệt cô ta và… và tôi thấy sợ… Mason hỏi: - Làm sao người ta có thể buộc cô trở thành một người giống như đúc người khác được? - Vâng, bộ quần áo tôi mặc trên người kể cả tất, đồ lót đều là của người ta đưa cho tôi. Và tôi phải làm theo đúng lời chỉ dẫn của họ. Mason hỏi: - Trên quần áo có dấu hiệu của nhà giặt ủi hay của hiệu nhuộm nào không? - Tôi không chú ý đến chuyện đó… - Có thể nó có ích đấy. Chắc chắn cần phải nhờ ánh đèn rọi qua nhưng… - Ồ! Thưa ông Mason, tôi có một kế hoạch nho nhỏ cần làm gấp. Vì vậy, tôi sẽ xin gặp lại ông sau… - Kế hoạch gì vậy? Dorrie Ambler lắc đầu: - Chắc chắn ông sẽ phản đối kế hoạch đó nên tôi chưa cho ông biết vội, vì tôi muốn buộc họ phải lộ mặt. Bỗng cô cấm lấy túi xách và đưa tay xem giờ: - Thưa ông luật sư Mason, tôi phải trả bao nhiêu tiền? - Cô Ambler, cô thư ký sẽ đưa cô tờ hóa đơn 10 đôla. Khi cánh cửa tiền phòng khép lại sau lưng hai cô gái. Mason quay lại hỏi Drake: - Anh cử người theo dõi cô ta rồi chứ? - Rồi, một cậu trong số những nhân viên có năng lực nhất của tôi: Jerry Nelson. Ngoài ra tôi đã cử một cậu khác ngồi trong xe hơi. Trời đất! Cô gái này mới đẹp làm sao! Theo anh thì đây là chuyện gì vậy? - Tôi cũng đang suy nghĩ… Có thể người ta định biến cô gái này thành một cô gái khác để dễ dàng trong việc ly hôn. Tôi phải chờ người của anh gửi báo cáo đến mới có thể phán đoán được. - Ồ, chắc chắn lúc này cô ta về tới nhà rồi… Drake kêu lên: - Sao, anh nói sao? - Đúng đấy, Gertie có linh cảm như vậy và Della đã kiểm tra chuyện đó khi mở xắc ra. Lúc anh cứ đứng ngây người vì làn da cô ta ấy. - Perry, khi nào lại có khách hàng muốn biểu diễn ‘màn thoát y’ anh nhớ gọi tôi nhé. Anh biết đấy, tôi rất khoái giúp đỡ anh trông công việc mà. Khi Della quay lại phòng, Mason hỏi cô: - Cô ta đi rồi chứ? - Vâng. - Cô có nhìn thấy khẩu súng không? - Có, tôi thấy súng được lắp đạn nhưng là đạn giả. Tôi nhìn thấy rõ ổ đạn chứa toàn đạn không đầu. Đó là khẩu súng nhỏ, chắc thuộc cỡ 22 ly. Drake huýt một tiếng sáo dài, Mason hỏi thêm: - Cô đưa cho cô ta phiếu nhận 10 đôla rồi chứ? - Vâng, đó là tiền dịch vụ. Cô ta muốn đưa thêm cho tôi một số liền 100 đôla nói là để trả cho những việc sau này, nhưng tôi bảo không có quyền nhận, cô ta cần phải trao đổi với ông trước đã. Cô ta nói Ià không hề chi và liền sau đó, cô ta vội vã đi ngay vì đã đến giờ… Mason trầm ngâm nói: - Hy vọng trong kế hoạch của cô ta không xảy ra vụ giết người. Dĩ nhiên cô ta không thể thực hiện nổi chuyện đó với loại đạn giả, nhưng này, Paul, có cái gì đó thầm mách bảo cho tôi biết bản báo cáo của Jerry Nelson và người cộng tác của anh ta không thuộc loại báo cáo bình thường. Anh hãy cho tôi biết ngay khi họ đem tin tức về. ... Mời các bạn đón đọc Perry Mason #69: Người Đàn Bà Đáng Ngờ của tác giả Erle Stanley Gardner.