Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bão Ngầm

Tiểu thuyết này đặc biệt dành tặng đồng đội tôi, những người lính can trường trên mặt trận đấu tranh phòng chống ma túy. Bước ra từ cuộc chiến đấu thầm lặng, như chất kháng thể của xã hội chống lại những kẻ gieo rắc cái chết, bao gian truân trên đường đời mà chúng tôi đã trải nghiệm bằng mồ hôi và cả máu xương, đã biến thành nguồn chất liệu sinh động cho cuốn tiểu thuyết này.  Một câu chuyện do lính viết từ những gì đã trải, đã thấy, đã cảm trong hiện thực cuộc đấu tranh sinh tử với tội phạm. Hành trình lần tìm ra các sào huyệt ma túy, chui sâu leo cao trong các đường dây, tổ chức tội phạm... của người lính, hẳn không phải một cuộc dạo chơi. Trên con đường vào trận, mỗi bước đi của họ đều nằm giữa lằn ranh sống và chết, vinh quang hay hèn nhát. Bởi, tội phạm không chỉ đón họ bằng những loạt đạn đồng khi chống trả, mà còn giăng đầy những chiếc cạm bọc nhung.  Hiểm nguy hay cám dỗ, đều có đặc tính của "quỳ tím", là liều thuốc thử đặc hiệu nhất giúp soi tỏ bản chất con người. Không thiếu những người xông xáo khi chiến đấu, nhưng lại chịu thúc thủ rồi gục ngã trước tiền và quyền. Khi ấy, những lớp vỏ rụng lả tả, bộc lộ những bộ mặt trần không son phấn. Để rồi chính họ lại cản trở bước chân đồng đội trong hành trình truy tìm thủ phạm. Nghiệt ngã là bản chất của mọi cuộc chiến. Trong mặt trận này, tính khốc liệt không chỉ hiện ra qua tiếng súng bắn trả của tội phạm, mà còn quyết liệt trong bản thân mỗi con người khi đứng trước những lựa chọn. Sự chuyển hóa giữa tốt và xấu, thiện với ác, trung thực hay đểu giả... diễn ra không ngừng nghỉ. Cuối cùng, quy luật đào thải sẽ cất những tiếng lạnh lùng, làm bắn ra khỏi quỹ đạo vận động những gì là giả tạo và lạc hậu, nghiền nát trong vòng quay luật đời mọi tráo trở, lừa lọc và phản bội... Cùng lúc ấy, nó tôn vinh những giá trị nhân văn, những mầm thiện trồi lên từ thực địa cuộc xung đột chính - tà. *** Mưa rả rích cả tuần, da trời thâm bầm xám ngoét như môi thằng nghiện. Đồi lúp xúp, đìu hiu trong chiều lạnh. Những rạch chè dài hun hút đến vô tận. Lẻ loi những thân cọ chơ vơ, tán lá ủ dột trĩu xuống vì nước, chốc chốc lại rùng rùng, đành đạch khi có dọn gió dưới thung thổi hất lên. Gió mang tối xuống nhanh. Trên con đường dẫn vào xóm Chè trơn như mỡ đổ, thấp thoáng bóng một người đàn bà chửa vượt mặt đang dò dẫm từng bước. Khối bụng lặc lè nhắc nhở chị ta thận trọng, phòng những cú sảy chân bất ngờ. Trên lưng, chiếc ba lô to như chực kéo người ngửa về sau. Ì ạch leo đến giữa đồi, thốt nhiên người đàn bà ngồi sụp xuống vạt cỏ. Thán khí từ phổi tranh đường ra qua mũi, qua mồm. Hơi thở dốc qua đi, chị chống tay vào cỏ, định đứng dậy đi tiếp. Đường về nhà còn xa, phải qua hai mỏm đồi thế này mới tới, mà trời đã nhập nhoạng. Chợt từ đâu le lói một cơn đau, âm ỉ ở vùng lưng dưới. “Chắc do đi bộ quãng đường xa, khó chịu nên em đạp?” Người đàn bà nhìn xuống bụng, cười mỉm rồi quyết định ngồi lại, hy vọng một lát cơn đau sẽ dịu đi. Luồn trong lớp áo mưa, đôi tay người mẹ xoa xoa, vỗ về đứa con trong bụng, thì thào: “Ngủ ngoan, bé bỏng của mẹ!”. Mưa vẫn quất vào mặt, tóc bết dính, dẫn nước luồn lách qua cổ, qua nách, xuống bụng. Người đàn bà run lên bên con đường nhạt nhòa trong mưa. Như là tự nhủ phải về được đến nhà trước khi tối hẳn, chị quả quyết đứng dậy nhưng rồi lại khuỵu xuống. Một cơn đau mới lại đến. Đau thốc từ sau ra trước, tưng tức nơi cửa mình. Hôm trước khám thai, bác sỹ bảo phải hai tuần nữa mới sinh cơ mà. Chị nhìn xuống bụng vẻ nghi hoặc, lo lắng rồi lại như tự trấn an mình. Nhưng sao vẫn đau, đau liên tục, đau theo nhịp vài phút một lần, như thể bị động thai. “Đừng, đừng con ơi, ở lại với mẹ, mẹ chỉ còn mình con!”, trong cơn vật vã trên vệ cỏ, lùng bùng giãy giụa giữa manh áo đi mưa, người đàn bà vẫn lảm nhảm những tiếng cầu xin… Cơn đau mỗi lúc một mau hơn, lan nhanh từ vùng lưng dưới hông ra trước. Bụng dưới quặn lên vì co thắt, thúc đẩy. Háng ẩm ướt, hai bên đùi phía trong bỗng lép nhép. Sinh khí tứa ra. - Thôi chết! Hay là chuyển dạ? Trời ơi! Ánh mắt thất thần vụt nhìn xuống dưới, rồi dáo dác nhìn lên, nhìn ngang, như thể tìm một bóng người, một chỗ trú chân. - Có ai không? Cứu tôi với? - Tiếng kêu lạc giọng vì sợ hãi của người sắp làm mẹ. - Cứu, cứu với! - Cứu! Tiếng kêu yếu dần, tan vào vô vọng. Giờ này, trời này, chỉ một mình chị giữa mênh mông đồng đất. Trong xa xăm, đâu như có tiếng chó sủa tối vọng về. Trên đầu mây vần vũ, bồng bềnh tiền sử. Trời càng lúc càng tối, vạt chè, tán cọ thoáng chốc đã biến sang màu đen dị hình. Từ đất đã vọng lên tiếng ri ri nỉ non của dế. Chỉ có một mình! Tiếng khóc tức tưởi bật ra từ lồng ngực người mẹ trẻ, không chỉ vì cơn đau dứt ruột, mà ai oán như tủi phận, xót xa đến cùng cực. “Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà vượt cạn mồ côi một mình”, câu ấy cũng chỉ nói đến lúc lâm bồn bình thường của người đàn bà, ở thời khắc họ cho cuộc đời những sinh linh mới mẻ. Đằng này, chỉ một mình chị cô độc tuyệt đối giữa bạt ngàn chè cọ, Không lúc nào ranh giới sống chết của cả hai mẹ con có thể mỏng manh hơn. Quay cuồng trong cơn đau, vòng xoáy màu máu đảo lộn rút con ngươi hướng lên trên, miệng há lưỡi thò khỏi cung răng. Đúng lúc ấy, như ảo giác, rõ ràng trong làn mưa bay từ nền trời đen ngòm, có ánh mắt đang nhìn xuống chị. Ánh mắt ấy lạ lắm, như thúc chị gắng lên, như chỉ dẫn cho chị cách thoát khỏi tình huống nguy hiểm hiện tại. Nó còn như van vỉ, cầu xin… Đăm đắm vào cái nhìn tưởng tượng, chợt như có lửa bùng lên trong cặp mắt người đàn bà. Một cái gì đó thật dữ dội, quyết liệt đã trỗi dậy. Bản năng giống cái bảo vệ những đứa con của mình ư? Không rõ. Chỉ thấy người mẹ trở dạ ấy ngồi nhổm lên giữa bê bết bùn đất, rướn hết thị lực nhìn xung quanh. Kia rồi, lờ mờ bóng cọ. Cắn môi bật máu, người mẹ nén đau lết cặp mông trượt trên mặt đất từng chút, từng chút một. Cọ già, tán phủ rộng rãi như cái lọng của tự nhiên. Dưới gốc, một đống tàu lá khô vương vãi. Cũng không xa là đống cành chè dân đốn vụ trước còn vất ngổn ngang. Củi chè bền lửa, chỉ tội mưa gió ướt sũng thế này làm sao mà cháy được. Người đàn bà khó nhọc vơ lấy nắm cành chất vội thành bếp, nhét mấy tàu cọ già xuống dưới, rồi bàn tay run rẩy móc ra một hộp diêm, quýnh quáng quẹt lửa châm. Khói um, mù mịt, chị nén đau ra sức thổi. Hì hục, rồi ánh lửa cũng bùng lên, ma quái nhảy nhót. Mồ hôi vẫn rịn ra theo từng cơn co thắt. Người mẹ trẻ lập cập mở chiếc ba lô, lấy mảnh áo mưa kê dưới mông, giật toang chiếc quần lót để chuẩn bị cho thời khắc vượt cạn, sẵn sàng đón đứa con bé bỏng chào đời bằng chính đôi bàn tay mình. Vũ trụ chao đảo, người đàn bà quằn quại hét từng tiếng đứt quãng: - Hùng ơi, khôn thiêng thì về đây cứu em, cứu con. Nối đời của anh đây, của dòng họ Vũ đây! Lửa vẫn cháy rần rật trên mấy tàu cọ. Nước ối đã ra đẫm ướt mảnh nylon. Nỗi sợ cạn dịch thoáng vụt qua trong đầu, người mẹ nghiến chặt hàm răng rặn mạnh. - Ra đi con, ra đi, mẹ xin con, Hùng ơi, cứu em, con ơi, thương mẹ… Ra đi, rồi mai mình về bà ngoại. - Người mẹ trẻ gào lên trong từng đợt co thắt, háng dang rộng, tay phải nắm chặt con dao ăn. Nửa giờ vật vã, kết bằng một tiếng rú váng động. Bên dưới, đầu trẻ đã nhô ra khỏi ống sinh. Người mẹ dồn toàn sức cho cơn co bóp cuối cùng. “Oe, oe”, bé trai dây rốn lòng thòng đã trườn khỏi lòng mẹ đi ra, cơn đau vụt tắt, chỉ còn những âm ỉ, giật giật khó tả miền bụng dưới. Phản xạ đón con xảy đến, khi tiếng khóc đầu tiên lọt vào tai người mẹ. Chị đảo chiều nằm, quay xuống cứa dao cắt rốn hài nhi rồi ấp nhanh bé vào lòng cùng mớ quần áo vương vãi. Bầu vú như tự tìm đến miệng trẻ. Không rõ sữa đã về chưa, chị bóp mạnh. Tiếng khóc ngằn ngặt làm người mẹ nhở đến đống lửa gần tàn. Bàn tay quờ quạng chất thêm mấy tàu cọ khô vào. Lửa lại in hình nhảy múa trong đôi mắt đang sáng rực vì sung sướng của người mẹ. Đêm nhích dần về sáng, người mẹ trùm cả đống quần áo đắp cho con. Khi hài nhi thiếp vào giấc ngủ, chị cũng nằm vật ra, miên man. Thời gian bỗng đảo chiều chuyển động, kéo quá khứ hiện hình đầy ắp trong cơn mê mệt. Những tiếng nổ chát chúa như nện vào óc hôm nao, bỗng rền vang trong ký ức… Ngoài tán lá, mưa cũng đã ngớt. Thi thoảng có giọt nước rơi xuống đống lá khô, lộp bộp như tiếng gà mổ ngô. Đống lửa leo lét tàn dần nhưng cũng đủ giữ cho hai mẹ con họ qua đêm thu mưa gió trên triền đồi heo hút ấy.   - - -   Ánh trăng non đầu tháng, không đủ cường lực để xuyên thủng lớp giáp của rừng. Dòng người lầm lũi chuyển động theo sau ánh đèn pin loang loáng. Câm lặng. Chỉ có tiếng lách cách khe khẽ của kim khí chạm nhau. Sau cơn mưa ban chiều, muỗi tủa ra từ bụi, u u rờn rợn. Thảng hoặc, có con gì thấy động vụt bỏ chạy. Những tiếng xột xoạt bất ngờ phát ra từ bụi rậm tối ngòm, làm tốp người khựng lại, dò xét rồi lại ngập ngừng bước tiếp. Cây gậy trên tay khua khua, đập đập về phía trước, sang hai bên đường mòn, để tránh những cú táp bất ngờ của con cạp nong, hổ mang nào đấy. Đêm xuống, rừng đen ngòm như một cái bẫy khổng lồ, chờ đợi những cái sa chân. Trên đầu, những búi dây leo quềnh quàng, búa xua xuống trước trán. Trong đấy, biết đâu chẳng có những con lục xà đang thả mình… Hơn ba giờ đi bộ, lõi của rừng đã ở lại phía sau. Những tán lá ken trên đầu bớt dày. Từ ống nhòm đêm, đập vào mắt là một thung lũng hẹp, tạo thành giữa ba khe núi, như cái miệng nơm úp. Mờ mờ hiện ra một con đường mòn hình con rắn, đang ngoằn ngoèo trườn đi giữa các khe núi. Phía sau đã là vành đai biên giới. Tin trinh sát báo về, độ quá nửa đêm sẽ có cuộc giao hàng lớn ở đây. Người cầm đèn pin đi đầu nói nhỏ: “Nghỉ tại chỗ mười phút, tranh thủ hội ý!”. Tốp người tản ra, vặn vẹo đỡ mỏi rồi vạch quần xả nước ồ ồ. Sảng khoái. Có tiếng hỏi nhỏ: - Thuốc lá đâu? Tao điếu, mày! Những đốm lửa lập tức được chuyền nhau, lập lòe đom đóm. - Muốn chết à? Tắt thuốc ngay, ngu thế! Ngồi cả xuống đi! - Tiếng quát khẽ nhưng đầy uy lực. Những điếu thuốc nhả vội khỏi mồm, rơi xuống đất. Bàn chân di di. - Lát nữa, chúng sẽ giao nhận hàng dưới thung lũng. Bây giờ thằng Linh phụ trách tổ 1 vận động ra phục hai bên cánh gà của khe núi kia. Tổ 2 thằng Tuấn chỉ huy. Tuấn “đen” đâu? Mày dẫn năm anh em lùi lại rừng ngay, ém sát đường mòn. Thấy chúng đi qua, cứ để yên cho qua. Khi ta gọi hàng, bọn nó sẽ chạy tán loạn. Nếu qua chỗ chúng mày thì xông ra mà bắt, đừng để sổng thằng nào. Tổ 3 triển khai đội hình bao vây toàn bộ khu vực giao hàng. Hai chục khẩu AK tập trung ở đây, tạo thế gọng kìm, đợi chúng “chập” với nhau sẽ phang. - Nếu nó “bật” lại thì ta được phép bắn hạ chứ? - Nghe này! Cả hai nhóm không dưới mười thằng đâu, đều có AK, lựu đạn, nên chúng mày phải hết sức cẩn thận. Mặc áo giáp vào! Tìm thân cây to mà nấp! Đầu tiên ta sẽ gọi hàng, nếu chúng bắn lại thì cứ hạ súng tầm thấp mà “tiu” què chân cho anh. Vạn bất đắc dĩ mới phải tiêu diệt, vì tao cần những cái lưỡi còn cử động để khai. Lưu ý lúc bắn tạo góc bốn mươi lăm độ, kẻo phang nhầm vào nhau. Quy ước là bắn điểm xạ ba viên một. Tao hô xung phong, chúng mày đồng loạt xông ra nhé. Chú ý vồ tay, đừng để chúng kịp rút chốt lựu đạn. Còn anh chưa lao ra, cấm thằng nào manh động rời khỏi chỗ nấp. Nghiêm cấm nổ súng khi tao chưa có lệnh! Có tiếng rì rầm bàn tán các tình huống có thể xảy ra lúc vào trận. - Đội trưởng Thắng ơi em ở tổ nào anh? - Có tiếng con gái cất lên. - Con Hoa, mày ở tổ anh, phụ trách liên lạc giữa các tổ bằng bộ đàm. Tý nữa mà có đàn bà thì mày khám! - Nhớ chọc rồi ngoáy cho kỹ em gái, nhỡ nó giấu hàng! - Ai đó chêm vào rồi cười khùng khục. - Vớ vẩn! Vào việc đi! Tiếng lên đạn loạch xoạch. Những bóng đen tản ra rất nhanh, trả lại cho rừng cái yên tĩnh vốn có. Chiều hôm trước. Toàn “khỉ đốm” ngả người lim dim trên ghế phụ chiếc Lexus 470. Xe đang lao vùn vụt trên đường, trực chỉ hướng biên giới, chợt điện thoại đổ chuông. Một số máy lạ hoắc gọi tới, có số đuôi 919. Gã ngạc nhiên, số này chỉ có ông Trùm biết. Nhầm máy chăng? Gã uể oải cầm máy lên nghe. Mất toi cơn ngủ, khí nóng nghe như đã bốc tới mặt. Giọng nói chuẩn bị sẵng. Bỗng, đầu dây kia có tiếng rất quen: - Nghe thôi, đừng hỏi! Sếp dặn mày cẩn thận. Bọn “cớm”1 đang làm mạnh. Lúc giao hàng đề phòng bọn A Tú chơi đểu. Có gì tao gọi lại. Máy tắt phụt, đột ngột như lúc gọi đến. Toàn ngả người ra sau ngẫm ngợi. Mấy đứa ngồi sau hỏi với lên: - Ai gọi đấy anh? - Câm đi! Đéo phải việc chúng mày! - Toàn sẵng giọng. Cuộc gọi bất ngờ khiến gã thấy bất an. Nỗi lo sợ không còn là điều gì mơ hồ nữa. Bởi gã đang ngồi trên chiếc xe chứa cả tạ “trắng”2, khác nào kẻ đang ôm bom. Gã biết đi chuyến này quá nguy hiểm. Đang cao điểm, Công an ra quân rầm rộ. Thằng nào ho he thò mặt ra hãy coi chừng. Mới rồi mấy đường dây lớn trong nước vừa bị hốt trọn, dắt díu nhau vào trại cả trăm thằng, chờ ngày ra tòa mà nhận án tử. Thành thử, hàng khan lắm, đội giá cao vọt. Khách đói hàng kêu như vạc, nhao nhao tìm nguồn cung. Bán ra lúc này một vốn trăm lời. Toàn vào nghề đã có “thâm niên”. Nghề này đã thò chân vào thì khó mà rút ra. Khó, vì chỉ có nó mới thỏa mãn cơn khát tiền trong mỗi con người. Mỗi bánh kiếm lãi cả trăm triệu. Ban đầu, nhiều đứa bước chân vào nghề có thể là do những khó khăn, quẫn bách trong cuộc sống. Nhưng vào cuộc rồi, thấy tiền thật dễ kiếm, thì việc kiếm tiền trở thành đam mê lúc nào chẳng hay. Tiền có sức mạnh vạn năng, mang những giấc mơ sang giàu về trên mặt đất. Khi đã phè phỡn vì nhiều tiền, bước vào đẳng cấp của những kẻ sống trên tiền, thì chẳng còn cái phanh nào tồn tại trong đời nữa. Có những thằng nhiều tiền quá chẳng biết làm gì, bèn chôn cả hầm tiền dưới đất. Đêm nào cũng lén xuống thơ thẩn chơi với tiền. Chơi say mê, chơi chân thành. Chúng nó bảo, âm thanh vĩ đại nhất trên cuộc đời này là tiếng sột soạt của tiền khi mang ra đếm. Nó ngân lên những giai điệu mà những kẻ không tiền không thể hiểu được. Một điều nữa khiến những kẻ đã “ngồi trên thuyền” không thể nhảy xuống, buộc phải đi đến cùng. Đó là vì luật chơi. Đợt trước, có thằng sợ chết gặp lão Trùm để thoái thác việc vận chuyển. Lão hỏi “sao lại thôi, thôi dễ thế á?” rồi đưa mắt cho mấy thằng hộ sát xúm vào tẩn cho nó một trận thừa sống thiếu chết, về sau Toàn không gặp lại thằng ấy nữa. Có lẽ xác nó đã dưới đáy sông hay mục ruỗng ở một xó xỉnh nào đó rồi. Và gã hiểu ra, đã cùng tổ chức, cùng đánh quả, ăn chia với nhau, biết hết chiêu thức và các mối làm ăn. Nay tự dưng bảo rút, rút là rút thế nào? Ai cho rút mà rút? Luật làm ăn, chỉ cần có ý định rút lui, là đã tự điền tên mình vào sổ khai tử. Bởi về nguyên tắc, không thể để thằng ất ơ nào đó nắm thông tin về mình mà lại không làm việc cho mình. Để nó sống, tức là thông tin có nguy cơ bị lộ lọt. Nên đã bỏ việc, thì phải cho nó im lặng vĩnh viễn. Lão Trùm chỉ cho lính tạm nghỉ ngơi, mỗi khi dính cao điểm bị “cớm” đánh mạnh. Nhưng khi yên ắng, phải trở lại với công việc. Đừng dại dột nghĩ đến chuyện “rửa tay gác kiếm”. Cuối cùng thì những thằng như gã đều có suy nghĩ giống nhau, đằng nào tay cũng đã “nhúng chàm”, buôn một bánh khác nào nghìn bánh. “Mẩu số chung” đều là tai chỉ kịp nghe một tiếng “bùm”, hay thấy nhói đau nơi bắp tay khi mũi tiêm thuốc độc chọc vào, rồi tất cả thành hư vô. Thành thử, kệ mẹ cho số phận đưa đẩy, dẫn dắt. Mời bạn đón đọc Bão Ngầm của tác giả Đào Trung Hiếu.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hồ Sơ Một Điệp Viên - Georges Simenon
Georges Simenon (1903-1989) trong cuộc đời sáng tác của mình đã từng xuất bản đến hơn 400 tác phẩm và được coi là “nhà chế tạo tiểu thuyết” tài danh. Thậm chí có người còn ví ông với Balzac và cho rằng trong tác phẩm của cả hai nhà văn đều miêu tả rất chi tiết diện mạo nước Pháp. Đọc tác phẩm của Balzac sẽ thấu hiểu diện mạo chân thực của xã hội nước Pháp nửa đầu thế kỷ XIX, còn khi đọc tiểu thuyết của Georges Simenon sẽ hiểu khá tường tận tình hình xã hội nước Pháp nửa đầu thế kỷ XX. Thật vậy, trong mỗi tác phẩm của Georges Simenon dù là tiểu thuyết trinh thám hay tâm lý xã hội đều phản ánh rất chân thực cuộc sống với đủ mọi hạng người trong xã hội. Trong Hồ Sơ Một Điệp Viên còn có tựa xuất bản khác là Tội Ác Trong Bóng Đêm, đã thể hiện rất rõ những thế mạnh của Georges Simenon. Tác giả đưa người đọc vào thế giới của những người già cô đơn, nghèo khổ trong một khu phố cũ kỹ của nước Pháp hoa lệ. Bắt đầu từ cái chết bí ẩn của ông già Bouvet đơn độc, dần dần sự kiện được hé mở khi cảnh sát tiến hành điều tra về thân thế của ông. Thực ra ông là ai? Là ông chủ hãng khai thác mỏ, con trai ông chủ hãng dệt len, tên tội phạm giết người hay là một tên phát xít? Mỗi số phận mỗi con người lại có những mối quan hệ riêng với những cách sống hoàn toàn khác nhau tạo nên một xã hội thu nhỏ khá phức tạp. Có thể nói mặc dù cũng có vụ án, có điều tra song Hồ Sơ Một Điệp Viên không có tính hồi hộp, căng thẳng đến nghẹt thở như trong các truyện trinh thám mà nghiêng về tính chất tâm lý xã hội nhiều hơn. Nhà xuất bản Công an nhân dân trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc. *** Mọi việc diễn ra theo đúng nguyện vọng của bà Jeanne, nhưng bà Lair tế nhị làm cho bà gác cổng thấy như đây là cái chết của chính mình vậy. Bà Jeanne đã có thời gian quét dọn căn hộ trên lầu ba và mở các cửa sổ cho nó thoáng khí trước khi người ta chở quan tài đến. Vì đứa con trai nói có lý nên nhà Sardot đã hoãn chuyến đi nghỉ sau đó vài ngày. Ông Sardot ra ga để đổi lại vé tàu. — Ông có cho rằng có đèn thắp xung quanh quan tài là sang trọng so với các đám khác trong khu phố này không? Theo tôi thì nên có mấy bức trướng treo trước cửa. Đã có một bức rồi. Một bức có những chữ viết tắt và tua viền ở xung quanh. Cỗ áo quan rất đẹp, và bà Jeanne đã thay thế những ngọn nến bằng những cây bạch lạp. Có những vòng hoa lớn được mang đến khiến bà không biết nên đặt chúng vào đâu. Hôm nay đẹp trời giống như cái hôm ông Bouvet nằm xuống trên hè phố giữa những tấm ảnh vùng Epinal. Bà Marsh muốn tổ chức tang lễ theo ý muốn của mình, nhưng người luật sư khuyên bà nên tránh mặt. Bà ta không phải là người đến trước tiên. Chắc chắn là do lơ đãng, bà đã để quá nhiều thời gian vào việc trang điểm, và, khi bà ra khỏi xe taxi thì bà Lair đã có mặt ở đấy trước rồi. Cũng tới lúc ấy thì vợ chồng nhà Gervais mới đến. Không một bà nào chào các bà khác. Người mẹ và người con gái tỏ ra không quen biết nhau và chàng rể khẽ cúi đầu trước mặt bà mẹ vợ nhưng bà này lờ đi, không đáp lễ lại. Người ta không thể nào nhìn thấy ông Bouvet vì trên nắp áo quan chất rất nhiều bó hoa và vòng hoa. Một lần nữa bà Jeanne lại cho giày của ông Ferdinand vào tủ và khoá lại, chỉ để cho ông đi tất không khiến ông phải thề rằng ông sẽ không ra khỏi khu nhà, vì đã có lần ông đi chân không tới quán rượu. Bà Jeanne rất bận rộn. Từ chiều đến tối hôm qua bà đã đi mua một chiếc mũ mới. Vấn đề xe cộ làm bà bận tâm vì lúc này có nhiều người mà bà không biết là những ai kéo đến. Có những người ở tận Roubais và xa hơn nữa. Ông Costerman và người luật sư của ông, các nhà báo, những nhà nhiếp ảnh và những người hiếu kỳ khác. — Anh có tin chắc là có đủ ôtô không? - Bà căn vặn người của Công ty dịch vụ lễ tang. Đúng mười giờ người ta nghe thấy những tiếng ầm ầm trên cầu thang và người ta thấy những người phu đòn mang chiếc áo quan xuống. Lần này ông Bouvet rời khu nhà một cách đàng hoàng và một tiếng nấc bật lên trong cổ họng của bà Jeanne trong khi bà già có bộ mặt tròn và xanh xao khóc một cách lặng lẽ. Bà Marsh muốn mình là người đi chiếc xe dẫn đầu nhưng người của ban tổ chức không thể nào đưa thêm vợ chồng người con gái của bà vào xe này được vì ông Costerman và người luật sư của mình đã chiếm chỗ trước rồi. — Bà có đi ra nghĩa trang không, thưa bà? Bà Lair ngập ngừng nhìn cô con gái và chàng rể đi theo bà. Vì nhầm lẫn người ta cho vợ chồng nhà Gervais là người nhà của bà nhưng bà không cãi lại. Để làm gì kia chứ? Chúng là anh em con cô con cậu của nhau cả, tại sao lại phân biệt? ... Mời các bạn đón đọc Hồ Sơ Một Điệp Viên của tác giả Georges Simenon.
Con Chó Vàng - Georges Simenon
Nhân vật Thanh tra cảnh sát Tư pháp Paris Maigret xuất hiện từ năm 1931, trong tác phẩm Con Chó Vàng. Hình ảnh người thanh tra ngậm tẩu thuốc, trầm ngâm ngồi dệt cái mạng nhện tư tưởng để tìm ra thủ phạm dần trở nên rất quen thuộc. Bằng trực giác bén nhạy, Maigret kín đáo thâm nhập, phát hiện ra những điều kẻ tội phạm che giấu. Lần theo từng dấu vết từng chi tiết nhỏ nhặt, Maigret xem xét tỉ mỉ tình huống, phân tích tâm trạng kẻ tình nghi. Có thể nói công việc điều tra của Maigret là tìm ra sự thật về một con người. Từ phân tích tâm lý, dựa vào chiều sâu trực giác, ông phát hiện ra các tác nhân thúc đẩy kẻ phạm tội. Ông còn lặn lội tới những nơi đầy kịch tính, thị xã tỉnh lẻ dưới mưa, cảng biển mù sương, quán rượu ồn ào ngập khói thuốc, những nhà trọ, khu ổ chuột phức tạp... để tìm ra hung thủ giữa đám đông. Và điều kỳ lạ là sự ngăn cách biên giới, ngăn cách không gian với những người đọc đã bị xóa nhòa. *** Nhà văn Georges Simenon sinh ngày 13.2.1903 mất ngày 4.9.1989. Năm 16 tuổi, Simenon là chàng phóng viên trẻ viết tin vắn cho tờ La Gazette de Liège. Mỗi ngày, ông đạp xe đến các bót cảnh sát, nhà băng, sở cứu hỏa, những cuộc thi thể thao để lấy tin cho báo. Năm 1922, ông tới Paris hoa lệ. Tiểu thuyết đầu tay Trên Chiếc Cầu Vòm Cung được xuất bản tại Liège (Bỉ) với bút danh Georges Sun. Nhưng sự thành công chưa vội đến với cây bút trẻ có hàng chục bút danh khác nhau này (Jean du Perry, Gom Gut, Christian Brull...). Mười năm miệt mài viết như người lao động khổ sai giúp ông thành thạo trong “tốc độ” sáng tác. Đây chính là thế mạnh của tác giả “bậc thầy trinh thám” sau này. “Suốt thời kỳ 1928-1931, ông chỉ viết những tác phẩm về Maigret, trung bình mỗi tháng một cuốn”, ông nổi tiếng như cồn khi tiểu thuyết trinh thám Con Chó Vàng (Le chien jaune, 1931) được xuất bản, với tên thật Georges Simenon. 11 tác phẩm in năm đó thì 10 cuốn là tiểu thuyết với nhân vật sáng tạo Thanh tra Maigret. Một đời văn với hơn 300 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp đã được xuất bản, người ta không khỏi thán phục năng lực sáng tác bền bỉ và trí tưởng tượng phong phú của nhà văn Georges Simenon. Bậc thầy tiểu thuyết trình thám thật sự chinh phục hàng triệu người đọc tại nhiều nước trên thế giới. Hơn 80 tiểu thuyết Thanh tra Maigret không nằm trong thể loại truyện hình sự tầm thường. Giá trị văn học của tác phẩm đã được các nhà phê bình nhìn nhận. Sau ngày ông mất, Đại học Liège ở Bỉ đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Georges Simenon và đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về ông. Cho đến nay, chưa có nhà xuất bản nào tại Pháp in toàn bộ tác phẩm của Georges Simenon. Mới đây, các tiểu thuyết của ông được Nhà xuất bản Ommious in thành 25 tập Tất cả Simenon nhưng chưa đầy đủ. Còn ở Việt Nam mới chỉ có khoảng chục cuốn thuộc thể loại trinh thám hình sự của Georges Simenon. *** Ông cảnh sát trưởng, có thể ông đồng ý là đã đến lúc chúng ta phải nói chuyện nghiêm túc. Ông thị trưởng đã nói như thế với một vẻ lịch sự lạnh lùng, còn Leroy thì chưa đoán được cảm xúc của Maigret ra sao khi nhìn thấy ông tuôn ra một đụn khói của tẩu thuốc lá. Đôi môi của ông cảnh sát trưởng như làn chỉ mỏng màu xám từ từ hé mở, còn cặp mi của ông nhấp nháy đến hai ba lần. Rồi ông rút cuốn sổ trong túi, nhìn xung quanh, nhìn người dược sĩ, người bác sĩ, những kẻ hiếu kỳ… - Xin tuân lệnh ông, thưa ông thị trưởng. Đây là… Ông thị trưởng vội vàng ngắt lời Maigret: - Mong ông vui lòng quá bộ đến nhà tôi, chúng ta cùng uống với nhau tách nước trà. Tôi có xe ở cổng, chờ cho ông ra những mệnh lệnh cần thiết. - Lệnh nào cơ?… - Nhưng… kẻ giết người, tên du đãng, cô gái ấy. - À! Vâng! Chà, sở cảnh sát không có gì tốt hơn để làm, đến nỗi chỉ có giám sát các bãi đỗ thuyền quanh vùng. Maigret có cái vẻ rất hồn nhiên: - Còn anh, anh Leroy, anh hãy đánh điện cho Paris là mong họ chuyển Goyard về cho chúng ta, rồi anh đi ngủ đi. Ông ngồi vào trong xe của ông thị trưởng do một người lái xe mặc chế phục màu đen cầm lái. Ở phía trước khu vực Cát Trắng một ít, người ta thấy ngôi biệt thự xây ở ngay vách đá, có dáng như một cung điện của vua chúa. Các cửa sổ đều sáng sủa. Trong khi đi đường, hai người đàn ông không trao đổi với nhau đến hai câu. - Ông cho phép tôi dẫn đường. Ông thị trưởng cởi chiếc áo lông, đặt lên tay một người hầu. - Bà đi ngủ rồi chứ? - Dạ, bà chờ ông Thị trưởng trong thư viện ạ… Người ta đã thấy bà vợ ông Thị trưởng ở đấy. Mặc dù tuổi đã trạc tứ tuần, bà có vẻ còn rất trẻ bên cạnh người chồng đã sáu lăm. Bà gật đầu ra hiệu chào ông cảnh sát trưởng. - Thế nào? Là con người rất lịch thiệp, ông thị trưởng hôn tay bà, vẫn giữ nguyên bàn tay bà trong tay ông và nói: - Bà cứ yên tâm? Một nhân viên hải quan bị thương nhẹ. Và tôi mong rằng sau câu chuyện trao đổi giữa ông cảnh sát trưởng Maigret và tôi, cơn ác mộng không thể chấp nhận được ấy sẽ kết thúc. Bà bước ra, trong tiếng sột soạt của nhung lụa. Một tấm màn cửa bằng nhung xanh buông xuống. Phòng thư viện rất rộng, các bức tường được ốp bằng ván đẹp, trần nhà được ghép bằng những thanh xà lớn như ở các trang viên của nước Anh. Người ta nhìn thấy khá nhiều bìa sách đẹp nhưng những cuốn sách đẹp nhất để ở trong một tủ sách đang kín bao phủ cả một vạt tường. Toàn thể là một sự lộng lấy thực sự, không thiếu vẻ trang nhã, hoàn toàn tiện nghi. Mặc dù đã có hệ thống sưởi trung tâm, vẫn có những súc củi rực cháy trong một lò sưởi lớn. Không có một nét trùng hợp nào với sự xa hoa hão kiểu ngôi biệt thự của người bác sĩ. Ông thị trưởng chọn một điếu thuốc trong hộp xì gà đưa cho Maigret. - Cảm ơn, nếu ông cho phép, tôi sẽ hút cái tẩu này của tôi. - Ông ngồi xuống đi, xin mời ông… Ông dung whisky nhé? Ông quẹt một que diêm, châm một điếu xì gà. Người hầu đến phục vụ họ. Và Maigret có lẽ cố ý, có cái dáng vụng về của một kẻ phàm tục được đón tiếp trong một ngôi nhà quý tộc. Những nét sắc sảo của ông dường như thô hơn; cái nhìn của ông mơ hồ. Chủ nhà chờ người đầy tớ đi rồi mới nói: - Ông cánh sát trưởng, ông phải hiểu rằng không thể nào để cho một loạt vụ ám sát như vậy tiếp diễn. Đấy, chúng ta thấy… thế là năm ngày ông ở đây và trong năm ngày ấy… Maigret rút trong túi ra cuốn sổ tay của chị thợ giặt bọc bằng vải đánh xi: - Ông cho phép chứ? Maigret ngắt lời - ông nói đến một loạt vụ ám sát. Nhưng tôi để ý rằng tất cả những nạn nhân đều sống, chỉ trừ một người chết thôi: đấy là ông Le Pommeret. Về trường hợp người nhân viên hải quan, ông sẽ thừa nhận rằng nếu một kẻ nào thực sự muốn mưu sát ông ta thì hắn đã không bắn vào bắp chân… Ông biết nơi viên đạn bắn ra. Không ai nhìn thấy kẻ tấn công. Hắn đã có đủ thì giờ. Nếu không, hắn chẳng bao giờ cầm được một khẩu súng ngắn chứ? ... Mời các bạn đón đọc Con Chó Vàng của tác giả Georges Simenon.
Tên Trộm của Cảnh Sát Trưởng Maigret - Georges Simenon
Cảnh sát trưởng Jules Maigret là nhân vật thám tử mà những người hâm mộ sách trinh thám không thể không biết tới. Chuyện về cảnh sát trưởng Maigret được Simenon sáng tác khi ngòi bút của ông đạt đến độ trưởng thành và sung sức nhất. Khi đó, ông có khả năng viết 60-80 trang mỗi ngày. Ông từng đi du lịch nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Pháp, Thụy Sỹ, vùng Địa Trung Hải và liên tục sáng tác trong suốt thời gian đó. Qua những chuyến đi này, ông thu thập được nhiều dữ liệu về cuộc sống để viết nên những chuyến phiêu lưu điều tra ly kỳ của cảnh sát trưởng Maigret. 75 tiểu thuyết và 28 truyện ngắn về Maigret đã được xuất bản đều đặn trong khoảng thời gian từ năm 1931-1972. Tiểu thuyết cuối cùng về Maigret, Maigret và ngài Charles là tiểu thuyết trinh thám cuối cùng của ông. Những trang viết về các cuộc phá án của Maigret không sôi nổi, mạnh mẽ, “đao to búa lớn”, thậm chí có đôi chỗ còn khiến người ta... buồn ngủ vì văn phong chậm rãi cũng như những động thái từ tốn của viên thanh tra, nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi đặt sách xuống, hình ảnh của cảnh sát trưởng Maigret hết lòng vì công việc cùng những số phận bi thảm của nhân vật luôn đeo đuổi người đọc. Và cứ thế, Maigret ghi đậm thêm dấu ấn của mình trong văn học trinh thám. Cảnh sát trưởng Maigret là con trai một người nông dân ở ngoại ô Moulins, đến Paris để học y khoa nhưng lại có duyên với nghề cảnh sát điều tra tội phạm. Trong loạt truyện về cảnh sát trưởng Maigret, người đọc luôn nhớ đến ông với hình ảnh một người đàn ông cao lớn, trên tay luôn cầm tẩu thuốc với chiếc áo bành tô dài. Thanh tra Maigret yêu thích rượu bia nhưng ông có thể kiểm soát bản thân để không lâm vào trạng thái say. Dựa vào trực giác vô cùng nhạy bén, sự hiểu biết sâu sắc ý nghĩa các hành vi của con người với thái độ điềm tĩnh và kiến thức sâu sắc về tội phạm học, sảnh sát trưởng Maigret có khả năng khám phá thành công những vụ án hóc búa nhất mà giới cảnh sát đã “chào thua”. Truyện về Maigret được Simenon viết với văn phong rất tự nhiên, không hoa mỹ. Simenon cho rằng chúng như những bức phác họa mà một người họa sĩ vẽ để giải khuây hay một bài tập của sinh viên nhập môn. Nhờ khả năng kể chuyện tài tình của Simenon, những câu chuyện về cảnh sát trưởng Maigret trở thành loạt truyện trinh thám lôi cuốn hàng triệu độc giả trên toàn thế giới. Dựa trên những tập truyện này, rất nhiều bộ phim về vị thanh tra thông minh và mẫn cán ấy được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới như: Pháp, Anh, Ai-len, Úc, Hà Lan, Đức, Ý và Nhật Bản. Trong số đó, diễn viên Pháp nổi tiếng Jean Gabin được xem là người thể hiện nhân vật Maigret thành công nhất. Vào ngày 3-9-1966, tại nơi mà Georges Simenon viết tác phẩm đầu tiên về Maigret, bức tượng chân dung của Maigret, tạc bởi nhà điêu khắc Pieter d'Hont, đã chính thức được Simenon khánh thành. *** Nhà văn Georges Simenon sinh ngày 13.2.1903 mất ngày 4.9.1989. Năm 16 tuổi, Simenon là chàng phóng viên trẻ viết tin vắn cho tờ La Gazette de Liège. Mỗi ngày, ông đạp xe đến các bót cảnh sát, nhà băng, sở cứu hỏa, những cuộc thi thể thao để lấy tin cho báo. Năm 1922, ông tới Paris hoa lệ. Tiểu thuyết đầu tay Trên Chiếc Cầu Vòm Cung được xuất bản tại Liège (Bỉ) với bút danh Georges Sun. Nhưng sự thành công chưa vội đến với cây bút trẻ có hàng chục bút danh khác nhau này (Jean du Perry, Gom Gut, Christian Brull...). Mười năm miệt mài viết như người lao động khổ sai giúp ông thành thạo trong “tốc độ” sáng tác. Đây chính là thế mạnh của tác giả “bậc thầy trinh thám” sau này. “Suốt thời kỳ 1928-1931, ông chỉ viết những tác phẩm về Maigret, trung bình mỗi tháng một cuốn”, ông nổi tiếng như cồn khi tiểu thuyết trinh thám Con Chó Vàng (Le chien jaune, 1931) được xuất bản, với tên thật Georges Simenon. 11 tác phẩm in năm đó thì 10 cuốn là tiểu thuyết với nhân vật sáng tạo Thanh tra Maigret. Nhân vật Thanh tra cảnh sát Tư pháp Paris Maigret xuất hiện từ năm 1931, trong tác phẩm Con Chó Vàng. Hình ảnh người thanh tra ngậm tẩu thuốc, trầm ngâm ngồi dệt cái mạng nhện tư tưởng để tìm ra thủ phạm dần trở nên rất quen thuộc. Bằng trực giác bén nhạy, Maigret kín đáo thâm nhập, phát hiện ra những điều kẻ tội phạm che giấu. Lần theo từng dấu vết từng chi tiết nhỏ nhặt, Maigret xem xét tỉ mỉ tình huống, phân tích tâm trạng kẻ tình nghi. Có thể nói công việc điều tra của Maigret là tìm ra sự thật về một con người. Từ phân tích tâm lý, dựa vào chiều sâu trực giác, ông phát hiện ra các tác nhân thúc đẩy kẻ phạm tội. Ông còn lặn lội tới những nơi đầy kịch tính, thị xã tỉnh lẻ dưới mưa, cảng biển mù sương, quán rượu ồn ào ngập khói thuốc, những nhà trọ, khu ổ chuột phức tạp... để tìm ra hung thủ giữa đám đông. Và điều kỳ lạ là sự ngăn cách biên giới, ngăn cách không gian với những người đọc đã bị xóa nhòa. Một đời văn với hơn 300 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp đã được xuất bản, người ta không khỏi thán phục năng lực sáng tác bền bỉ và trí tưởng tượng phong phú của nhà văn Georges Simenon. Bậc thầy tiểu thuyết trình thám thật sự chinh phục hàng triệu người đọc tại nhiều nước trên thế giới. Hơn 80 tiểu thuyết Thanh tra Maigret không nằm trong thể loại truyện hình sự tầm thường. Giá trị văn học của tác phẩm đã được các nhà phê bình nhìn nhận. Sau ngày ông mất, Đại học Liège ở Bỉ đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Georges Simenon và đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về ông. Cho đến nay, chưa có nhà xuất bản nào tại Pháp in toàn bộ tác phẩm của Georges Simenon. Mới đây, các tiểu thuyết của ông được Nhà xuất bản Ommious in thành 25 tập Tất cả Simenon nhưng chưa đầy đủ. Còn ở Việt Nam mới chỉ có khoảng chục cuốn thuộc thể loại trinh thám hình sự của Georges Simenon. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu thêm với bạn đọc Việt Nam một tác phẩm nữa của ông: Tên Trộm Của Cảnh Sát Trưởng Maigret. Nhà xuất bản Công an Nhân dân Mời các bạn đón đọc Tên Trộm của Cảnh Sát Trưởng Maigret của tác giả Georges Simenon.
Bi Kịch Cuối Cùng - Ellery Queen
Như nhà ẩm thực mới tìm lại được vị giác, sau một thời gian dài gắng gượng nhai nuốt những món ăn tồi tệ, tôi bỗng được hưởng một hương vị độc đáo và thơm ngon vô cùng - mà tôi ghi lại dưới đây: Vụ án cuối cùng mà quý ông vĩ đại của sân khấu kịch Shakespeare, ngài Drury Lane đã cống hiến tất cả nỗ lực phi thường của mình. Đây là vinh hạnh dành cho tôi dưới danh nghĩa người ghi chép thầm lặng những khám phá của ngài Lane; và chắc chắn không ai có thể nghi ngờ - trừ khi có mâu thuẫn với cá nhân Lane - sự linh hoạt đáng ngưỡng mộ trong tư duy mà ông thể hiện trong những vụ điều tra mà tôi đặt tên là Tấn Bi Kịch X, Tấn Bi Kịch Y và Tấn Bi Kịch Z. Không chỉ là vinh dự mà đây cũng là trọng trách của tôi - ghi lại lại cuộc điều tra cuối cùng của con người phi thường này, trong cuốn sách mà tôi đã đặt tên là Bi Kịch 1599, bởi một lí do sẽ được làm sáng tỏ ngay sau đây. Tôi nói đây là một ‘trọng trách’, vì Lane không chỉ làm công chúng ở thời đại mình ngưỡng mộ nhờ sự cao ngạo trong cách tư duy suốt ba vụ án đã khám phá trước đó mà còn làm họ bất ngờ và thích thú bởi những khám phá đã khẳng định tên tuổi ông như một người bảo vệ công lý xuất sắc. Bởi vậy, nếu tôi ngăn cản độc giả - những người đã kiên nhẫn, hào hứng, đầy nhiệt huyết theo sát tất cả những cuộc phiêu lưu khác của Lane - tiếp cận với vụ án đỉnh cao này, đó sẽ là một tội lỗi không thể tha thứ. Đây chỉ là ý kiến của riêng tôi về một sự vụ kì lạ và đặc biệt bậc nhất không hề có tiền lệ trong lịch sử tội phạm học, sẽ xảy ra trong cuốn truyện này. ELLERY QUEEN   Bộ Râu Của Joseph Đó là một bộ râu kì cục, khác người, nhìn khá khôi hài. Được tạo hình giống một chiếc khiên cách điệu, nó được uốn cong phình ra từ phần cằm đã bị che phủ hoàn toàn xuống và phủ lên luôn cả phần cổ áo. Có nét gì đó vừa mềm mại vừa cao quý trong những lọn râu hoàn hảo đó, giống như chòm râu uy nghiêm của thần Zeus. Nhưng, vẻ đẹp thu hút mọi ánh nhìn lại không nằm ở cái phần cong phình ra hai bên ấy; mà điều kì diệu thực sự nằm ở màu sắc của bộ râu. Đó thực sự là bộ râu của Joseph*, được nhuộm sắc đen, xanh da trời và xanh lá cây theo từng vệt cũng giống chiếc áo của Joseph mà ta thường thấy trong tranh vẽ. Phải chăng nó đã phai màu dưới ánh mặt trời rực rỡ? Hay nó nhạt màu vì những lí do bí hiểm, giả như ông đã dành hàng giờ bên bàn thí nghiệm, chải chuốt bộ râu của mình trong một chậu hóa chất? Một bộ râu như của một vị thần như thế không thể có một xuất thân tầm thường. Bộ râu đó phải được ghi vào lịch sử; dứt khoát phải cho vào viện bảo tàng để gìn giữ đến muôn đời sau. Bây giờ thì thám tử Thumm, từng làm việc ở Sở cảnh sát New York, đã nghỉ hưu, nhưng vốn quen bận rộn, đang đắm chìm trong công việc tại phòng thám tử tư, sau bốn mươi năm quá quen thuộc với những điều bất ngờ trong xã hội loài người. Nhưng kể cả như vậy thì ông cũng phát hoảng lên, sau đó thực tâm thích thú với bộ râu phi thường trên cằm của vị khách đến vào một buổi sáng thứ Hai dịu nhẹ đầu tháng Năm. Ông chưa bao giờ nhìn thấy một bộ sưu tập gồm những sợi tơ sặc sỡ đến vậy. Thumm nhìn chằm chằm, rồi nhìn chằm chằm, như thể dù nhìn bao nhiêu lâu vẫn thấy không đủ. Cuối cùng ngài cũng nói: “Mời ngồi,” bằng giọng nhỏ nhẹ, liếc mắt qua lịch để bàn, hi vọng nhờ một điều kì diệu nào đó, hôm nay trở thành ngày Cá tháng Tư, để ngài có thể ngồi tụt sâu vào ghế, cào nhẹ lên bộ hàm rộng của mình và nhìn vị khách kia một cách sững sờ sửng sốt. Râu Cầu Vồng bình thản ngồi xuống, hoàn toàn thư thái. Ông ấy là một người cao gầy, thám tử Thumm quan sát - ngài không thu được thông tin gì khá khẩm hơn, bởi phần còn lại của ông ta, hệt như cái cằm, cũng được gói kỹ trong bộ trang phục cũng bí ẩn và kì quái. Ông ta vận rất nhiều lớp áo, cả cơ thể được phủ lên vài lớp vải dày cộp; nên đôi mắt tinh anh của vị thám tử chỉ phát hiện được đôi cổ tay mảnh dẻ dưới đôi tay mang găng và đôi chân lòng khòng - những dấu hiệu không che giấu được. Đôi kính mắt màu xanh biển che đi cặp mắt ông ta. Chiếc mũ phớt có vẻ bình thường, nhưng lại toát lên nét thờ ơ quyến rũ không giấu giếm khi ông bước chân vào văn phòng thám tử, che kín phần đầu và màu tóc của ông. Và ông ta ngồi đó, giống thần Zeus, im lặng hoàn toàn. Thumm húng hắng. “Vâng?” ông cố khích lệ. Bộ râu hơi lay động, như thể đang cười. “Vâng? Tôi có thể giúp gì ông?” Đột nhiên vị khách vắt chéo đôi chân mảnh khảnh, đặt bàn tay đeo găng lên đầu gối. “Hẳn ngài thực sự là thám tử Thumm, tôi đoán vậy?” một giọng nói nhừa nhựa vang lên. Thumm giật mình, như thể ông vừa nghe một bức tượng phát ra tiếng nói. “Là tôi đây.” Thumm uể oải nói. “Còn ông là…?” Ông ta phẩy tay. “Chuyện này không quan trọng, ngài thám tử à. vấn đề là… tôi phải nói sao nhỉ? Tôi muốn yêu cầu ngài một điều hết sức đặc biệt.” Hẳn đó là một yêu cầu đặc biệt, vị thám tử nghĩ thầm, nếu như ông không mang bộ dạng kì quặc kia! Thumm nhanh trí giấu đi ánh mắt kinh ngạc. Bàn tay ông nhẹ nhàng gạt một chốt nhỏ dưới ngăn bàn, có tiếng vo vo khe khẽ, mà chắc chắn quý ông với bộ râu sặc sỡ kia không thể nhận ra. “Những người ngồi trên chiếc ghế đó thường có các yêu cầu như vậy.” Thumm vui vẻ nói. Một mẩu đầu lưỡi của ông ta nhô ra nơi cánh rừng rậm rạp trên bờ môi, rồi như thể sợ hãi bởi màu sắc kì lạ nơi đó, đã vội vàng rụt lại. “Tôi có thể nói với ngài, ngài thám tử ạ. Rằng tôi đang tìm kiếm ngài. Điều làm tôi thấy lí thú là ngài có vẻ không… à, giống một thám tử tư bình thường.” “Chúng tôi đều cố làm khách hàng hài lòng.” “Thực vậy. Thực vậy… À, ngài thực sự giữ mọi chuyện riêng tư chứ? Ý tôi là, bây giờ ngài không còn liên quan đến cảnh sát, phải không ngài thám tử?” Thumm đăm đăm nhìn ông ta. “Ngài thấy đó, tôi cần phải chắc chắn. Chuyện tôi nhờ ngài cần được giữ bí mật tuyệt đối.” “Tôi cực kì kín tiếng,” Thumm làu bàu, “tôi sẽ không nói với ai, kể cả với bạn thân nhất của tôi. Nếu đó là điều khiến ông lo lắng. Trừ phi đó là một chuyện bẩn thỉu. Tôi căm ghét lũ chuột bọ, thưa ngài. Văn phòng của Thumm không chơi đùa với lũ lừa lọc.” “Ồ, không, không đâu,” Râu Cầu Vồng nói nhanh, “không phải những chuyện đó, tôi cam đoan. Chỉ là một chuyện nhỏ thôi… chỉ có điều hơi đặc biệt một chút, ngài thám tử ạ.” “Nếu về chuyện vợ ông và anh bạn giai,” vị thám tử quan sát khách hàng của mình, “thì thôi nhé. Văn phòng tôi cũng không nhận mấy vụ kiểu đó.” “Không, không đâu, ông bạn thám tử, không phải mấy vụ rắc rối gia đình đâu. Không phải mấy chuyện kiểu đó. Mọi chuyện, thực ra thì, gói gọn trong một từ thôi,” Râu Cầu Vồng nói, hơi thở nhè nhẹ lay động bụi cây nho nhỏ trên cằm mình, “tôi muốn ngài giữ một vật cho tôi.” ... Mời các bạn đón đọc Bi Kịch Cuối Cùng của tác giả Ellery Queen.