Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Huyền Thoại Porasitus (Thảo Dương)

Cuốn sách là câu chuyện về nàng công chúa chiến thần Anastasia - một trong những tác phẩm Việt Nam thu hút được nhiều sự quan tâm của cộng đồng mạng.

Huyền thoại Porasitus hay còn có tên gọi quen thuộc là Legend of Porasitus là tác phẩm thuộc thể loại giả tưởng, dã sử của tác giả Thảo Dương. Tác phẩm đã được đăng tải trên mạng từ năm 2003 từ khi Thảo Dương mới chỉ 15 tuổi, và sau 11 năm Huyền thoại Porasitus đã trình làng bạn đọc dưới dạng sách giấy.

Câu chuyện về nàng công chúa chiến thần Anastasia này đã trở thành một trong những truyện mạng Việt Nam thu hút được nhiều sự quan tâm nhất của cộng đồng mạng với hơn 100 website đăng tải, nhiều kết quả tìm kiếm trên Google và đạt hơn 2 triệu lượt xem.

Huyền thoại Porasitus là truyện dài giả tưởng về một lịch sử không có thật, nơi tồn tại những quốc gia hùng mạnh mang hơi hướm của thời kỳ Trung Cổ. Câu chuyện bắt nguồn từ sự diệt vong của vương quốc Porasitus xinh đẹp trước vó ngựa xâm lăng của đế quốc Henki tàn bạo, đẩy số phận của nàng công chúa cuối cùng của hoàng triều Porasitus vào một cuộc trả thù thấm đẫm máu và nước mắt.

Những tham vọng quyền lực, những âm mưu xâm chiếm, những trận đánh nảy lửa, những trò đùa số mệnh, những tình cảm nội tâm dằn xé được cất giấu trong những trang sách sẽ làm người đọc phải choáng ngợp. Tìm mua: Huyền Thoại Porasitus TiKi Lazada Shopee

Nét đặc sắc của Huyền thoại Porasitus trước hết nằm ở tài phác họa của tác giả khi xây dựng lên một xã hội với những quốc gia khác biệt rõ ràng về dân tộc, địa lý, phong tục, đặc trưng. Cách xây dựng nhân vật cũng là điểm mạnh của Thảo Dương khi đem vào Huyền thoại Porasitus hệ thống nhân vật đồ sộ với những phe phái, gia tộc, dòng dõi và đặc điểm khác nhau.

Trải dài trong Huyền thoại Porasitus là những cuộc viễn chinh xâm lược của quân đội Henki và sau đó là những xung đột quân sự để bảo vệ lãnh thổ giữa Henki và Serazan. Xen lẫn vào đó là những cuộc minh tranh ám đấu trong triều đình đế quốc, không hoàng gia nào là không tồn tại tranh chấp chính trị và không quốc gia nào là tránh được xung đột lãnh thổ, chỉ là cái giá phải trả là to lớn bao nhiêu thôi.

Huyền thoại Porasitus không chỉ là khúc bi ca về tình yêu mà còn ca ngợi những tình yêu sâu sắc mãnh liệt. Biết bao nhân vật trong truyện đã phải dằn vặt, đớn đau, thậm chí là hy sinh cả tính mạng vì tình cảm của mình. Thế nhưng tuyệt nhiên lại không có tình cảm nào nhuốm màu bi lụy.

Bằng trí tưởng tượng không có giới hạn, Thảo Dương đã viết nên một tác phẩm đậm tính anh hùng ca, có chút hơi hướm của những sử thi như Iliad và Odyssey với những trận chiến hào hùng, những con người mạnh mẽ và quả cảm, những âm mưu tranh đấu chính trị khôn lường và những tình cảm chân thành sâu sắc.***

Câu chuyện bi hùng này bắt đầu từ cái thuở xa xưa lắm rồi, khi mà cả tôi và bạn mới chỉ là những hạt bụi lơ

lửng trong vũ trụ của sự sống, khi mà ma thuật vẫn bùng lên dưới tay những bậc thầy pháp sư tài ba và những chàng hiệp sĩ vẫn mải mê lao vào trận chiến với các loài quái vật để tìm kiếm vinh quang.

Cái thuở ấy, ở một vương quốc giàu đẹp mang cái tên định mệnh Porasitus, vào một đêm trăng sáng cuối mùa thu năm trị vì thứ tám của vua Devis, trong hoàng cung lộng lẫy vang lên tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ

-Thưa bệ hạ, hoàng hậu đã hạ sinh một tiểu công chúa. - Cô tì nữ hấp tấp chạy ra ngoài hành lang, nơi vua Devis đang bước vòng quanh cả trăm lần, tưởng chừng sắp nổ tung vì lo lắng. Mặt ngài sáng lên trong niềm vui rạng rỡ khi vội chạy vào phòng, theo sau là hai vị tiểu hoàng tử: Leon, tám tuổi và Gan, sáu tuổi.

Nhân đây cũng xin nói về hai vị hoàng tử này. Cả hai đều không phải là con của vị hoàng hậu hiện nay mà là của một hoàng hậu đã qua đời sáu năm trước sau khi sinh hoàng tử Gan. Leon có đôi mắt màu nâu nhạt, ấm áp, kiên định và mái tóc vàng kem hệt mẫu hậu. Thế nhưng cậu em Gan lại có mái tóc vàng sậm cùng đôi mắt sáng thông minh của phụ hoàng.

Trong căn phòng hoàng gia, hoàng hậu trẻ với khuôn mặt ửng hồng ôm trong tay một cuộn chăn bao gọn thân hình bé nhỏ đáng yêu. Một bé gái. Đôi mắt xanh của tiểu công chúa mở to, đẹp như hai viên ngọc quý. Một khuôn mặt ửng hồng đã sớm có những đường nét của nhan sắc tuyệt mỹ trong tương lai.

-Con ta sẽ là công chúa Anastasia. - Nhà vua tuyên bố.

Trông ông vô cùng hạnh phúc. Vâng, hạnh phúc như bất kì người cha nào trên thế gian này.

Hoàng hậu mỉm cười âu yếm:

-Và con gái yêu của chúng ta nhất định sẽ trở thành một đại mỹ nhân…

Lời của hoàng hậu chợt bị cắt ngang bởi hàng loạt tiếng la hét náo loạn bên ngoài vườn hoa. Một nữ tì hớt hải chạy vào báo, giọng đứt quãng:

-Thưa bệ hạ, xin…xin người mau ra ngoài…

Đức vua Devis nheo mày ngạc nhiên nhưng vốn đang vui vẻ, ông đứng dậy đi ra.

Bên ngoài là một khung cảnh vô cùng ấn tượng.

Vô số cánh hoa hồng màu đen thẫm đang từ trên trời tung xuống, cuộn lên trong những cơn gió mỏng. Một khung cảnh lạ lùng. Trăng sáng vằng vặc, làm nền cho một bóng người mặc áo choàng đen huyền bí đứng chót vót trên đỉnh tháp Bắc, ngọn tháp cao nhất trong cung điện. Người ấy không ngừng rải hoa xuống. Trên đỉnh tháp Nam ngay đối diện lại có thêm một người nữa mặc áo choàng đỏ sậm như máu, tay cầm đàn gảy nhịp

nhàng. Điệu nhạc du dương nhưng buồn thảm não lòng với những nốt ngân dài như hơi thở của gió miết trên nền trời đêm.

-Các người là ai?!? - Nhà vua Devis quát hỏi - Sao lại đến đây?

Thay cho câu trả lời, người mặc áo choàng đỏ cất giọng hát tuyệt hay mà đem đến cảm giác rợn người:

-Chúng ta đến để chúc mừng vì hoàng hậu đã hạ sinh tiểu công chúa xinh đẹp tuyệt trần. Chúng ta cũng đến để

chia buồn cho vương quốc Porasitus đáng thương. Ngày tàn của các người sắp đến. Lời nguyền từ hàng trăm năm trước rằng, vương quốc của nhà vua bị giẫm tan dưới vó ngựa tộc người tàn ác phương Bắc xa xôi. Hãy khóc, hãy cầu nguyện… trước khi máu chảy, thấm ướt những cánh đồng, làm những chùm nho có mùi tanh và mặn chát…

-Bệ hạ. - Hoàng hậu bế công chúa bước ra, yếu ớt phải nhờ tì nữ đỡ hai bên, mặt mày bà nhợt nhạt pha nỗi lo lắng kinh hoàng - Có chuyện gì thế ạ? Đó là những ai vậy? Họ hát cái gì thế?

-Ồ, chào công chúa đáng yêu nhất trên đời. - Người ban nãy hát tiếp, giọng vui hơn một chút, có điều đó lại là một niềm vui xa vắng - Nàng sinh ra khiến thế gian như vào mùa xuân rực rỡ tuyệt vời. Nhưng sắc đẹp là thuốc độc, nhuốm đầy máu tươi dưới vó ngựa của những chiến binh tóc đen tuyền...

-Im ngay! - Nhà vua giận dữ - Mi là ai mà dám vô lễ đến nhường ấy! Mi dám nguyền rủa con gái ta sao?!?

-Ôi, bệ hạ, hắn ta hát giống như một lời tiên tri vậy. - Hoàng hậu thoáng rùng mình, lo sợ ôm con gái bé nhỏ vào lòng như sắp có ai đến cướp mất của bà món quà tuyệt diệu này. Linh cảm của một người mẹ về tương lai đen tối đang chờ đứa con thơ ngây khiến bà tưởng chừng nghẹt thở vì kinh hãi.

Trước khi có bất cứ sự phản ứng phòng vệ nào của mọi người đang có mặt, người mặc áo choàng đen đã nhảy khỏi đỉnh tháp cao chót vót, đáp xuống ngay trước mặt gia đình hoàng tộc. Một chàng trai còn rất trẻ. Sở dĩ

chúng ta có thể khẳng định điều đó cho dù chàng che kín nửa mặt bằng thứ khăn voan đen ấy là vì sắc trong veo như thủy tinh của đôi mắt xám ánh bạc để lộ ra.

Trong và sáng. Chắc hẳn là một người con trai tuấn tú. Chàng chăm chú nhìn công chúa bé nhỏ và công chúa cũng mở to mắt nhìn lại.

-Chào người yêu dấu của ta. - Chàng trai dịu dàng nói.

Hoàng hậu vừa định thần được đã thét lên thất thanh và lùi lại sau lưng chồng trong khi hàng trăm cận vệ hoàng gia ào đến chĩa thẳng mũi thương vào người vị khách lạ lùng vừa xuất hiện.

-Mi là ai?!? - Nhà vua gầm vang như sư tử đang bảo vệ con thơ.

-Ta là kẻ lãng du mà ông không bao giờ muốn biết... - Giọng người đó bỗng chuyển thành một thứ âm thanh buốt giá sâu thẳm.

-Cái gì? Ai?

Nhưng người tự xưng là kẻ lãng du không quan tâm đến đức vua nữa, chàng mỉm cười trìu mến nhìn cô bé

trong cuộn chăn nhỏ:

-Ta đến đây vì em, người yêu dấu ạ. Định mệnh của chúng ta là ở đây. Nhưng chưa đến lúc, mười sáu năm nữa ta sẽ quay lại và mang em đi...

-Hỗn xược! Bắt lấy hắn! - Nhà vua quát. Ngài nghĩ bấy nhiêu chuyện lạ lùng thế là quá đủ!

Còn nhanh hơn cơn gió vùng thảo nguyên, chàng trai kì lạ biến mất trong một làn khói mỏng màu trắng bạc.

Công chúa Anastasia bất chợt nhoẻn cười ngây thơ. Và đôi mắt màu ngọc lam bừng sáng hơn bao giờ hết.

Đôi mắt trẻ thơ … Đôi mắt định mệnh … đã bắt đầu dõi nhìn cuộc đời đầy biến động, đau thương.

Bấy giờ đến lượt người mặc áo choàng đỏ chậm rãi bước đến, mái tóc dài màu nâu hạt dẻ tung bay phía sau lưng, huyền hoặc, phong thái ung dung, tao nhã. Mọi người cảnh giác lùi lại, không hẳn vì sợ hãi mà là bởi thứ

khí thanh khiết toả ra từ con người này thật quá sức tưởng tượng của người bình thường.

Chàng trai tóc nâu mỉm cười thật dịu dàng, khuôn mặt được che kín bởi một chiếc mặt nạ bạc:

-Tôi đến vì lời tiên tri. Mười sáu năm nữa, vương quốc này sẽ trở thành nấm mồ lớn nhất chưa từng có, bị san bằng dưới vó ngựa của tộc người phương Bắc. Hãy nhớ điều đó. Kẻ lãng du chỉ mang lại buồn thương cho công chúa mà thôi.

Cả gia đình hoàng tộc mở to mắt hãi hùng nhìn người vừa thốt ra những lời độc địa ấy. Đó không chỉ là những lời tiên tri mà đúng như lời hoàng hậu nói, nó cứ như là sự nguyền rủa. Nhưng chàng trai thì dường như chẳng quan tâm đến nỗi sợ hãi mà mình vừa gieo rắc, đôi mắt màu xanh đẹp như màu ngọc lục bảo tinh khiết nhất đang ấm áp nhìn sinh linh bé bỏng vừa chào đời, nói trìu mến:

-Tạm biệt công chúa xinh đẹp nhất trên đời, cầu cho trái tim nàng không được làm từ băng tuyết.

Người mặc áo choàng đỏ thoáng mỉm cười và rồi cũng biến mất nhẹ như làn gió ôn hoà.

Vua Devis ôm hoàng hậu vào lòng, vỗ về trấn an. Mắt ông dấy lên nỗi phiền muộn lo lắng. Niềm vui ban nãy dường như đã bị chôn vùi ở sâu, sâu lắm trong nỗi lòng sóng gió của ông lúc này. Cho dù hai người đó là ai thì công chúa Anastasia cũng đang bị đe doạ bởi những lời tiên tri mơ hồ. Là một người cha, đức vua không thể

cho phép ai hại đến con gái mình. Và với tư cách một vị vua, ông sẽ làm hết khả năng để bảo vệ con.

Công chúa Anastasia cười khúc khích thật lạ lùng trước nỗi lo lắng của những người xung quanh. Cô bé không ngủ li bì giống phần lớn những em bé sơ sinh khác. Điều đó khiến cho chúng ta cảm giác mơ hồ là dường như

bé hiểu được câu chuyện từ nãy đến giờ …

Điềm báo hay sao?

Chương 2

Thời gian trôi khe khẽ, nhẹ nhàng như những cơn gió ngày ngày vẫn ve vuốt cỏ xanh trên các thảo nguyên bao la của vương quốc Porasitus hiền hoà. Vậy mà đã mười lăm năm trôi qua, lời tiên tri mà hai con người năm xưa từng nói đang đến gần. Đức vua Devis và hoàng hậu ngày đêm lo lắng. Đức vua cảm thấy mình bất lực quá, ngài không biết phải làm gì để ngăn số mệnh đến gần và chạm bàn tay độc ác vào đứa con gái bé bỏng của mình. Nỗi u phiền đã nhuộm bạc mái tóc của ngài. Và trong khi các bậc tiền bối đang lo lắng như vậy thì những con người trẻ tuổi vẫn không hề hay biết…

-Anastasia! - Một chàng trai chừng hai mươi tuổi chạy vào cung điện Lency vừa mới xây dựng dành cho nàng công chúa yêu quý của đức vua Devis. Tóc vàng mềm như tơ, đôi mắt nâu ấm, không ai xa lạ, đó chính là nhị

hoàng tử Gan, một trong hai niềm hi vọng của thế hệ tiếp theo thuộc hoàng tộc vương quốc Porasitus.

Gan đang cố tìm cô em Ana xinh đẹp nhưng nghịch ngợm của mình trốn trong những dãy phòng trang nhã.

Cung điện này được xây bằng đá cẩm thạch trắng, có những hàng cột cao hình múi khế, thoáng đãng, khắp nơi là phù điêu chạm khắc chân dung một thiếu nữ trẻ vô cùng xinh đẹp. Mái tóc nàng mềm mại, ôm lấy khuôn mặt thanh tú, đôi mắt đầy thần khí … công chúa Anastasia.

Gan dừng bước trước bức tượng bằng người thật của em gái mình, chàng chạm tay lên đôi môi của bức tượng, mắt sáng long lanh một thứ tình cảm lạ lùng. Không ai có thể khẳng định cụ thể nó là gì, nhưng, có thể cam đoan rằng một người anh trai không bao giờ nhìn em gái mình như thế.

-Anh! - Một tiếng gọi trong veo vang lên chẳng khác nào tiếng chuông bạc.

Gan giật mình rụt tay lại, vừa kịp lúc cô gái, người được tả trong tất cả các bức tượng và tranh ở cung điện này, xuất hiện ở cuối căn phòng rộng lớn. Gan lập tức nở một nụ cười trìu mến, chứa chan yêu thương:

-Ana, anh tìm em mãi.

-Có chuyện gì vậy, anh? - Ana tung tăng chạy quanh anh trai, rực rỡ và rạng ngời như một tia nắng hiếu động của mùa xuân.

Những lọn tóc màu nâu hạt dẻ gợn sóng mềm mại rủ xuống vai, nàng nở nụ cười xinh đẹp và hướng đôi mắt sáng ngời về phía người đối diện. Ở cạnh nàng những bức tượng và phù điêu trở nên thô cứng và dường như hơi ghen tức.

Làm sao chúng có được đôi mắt long lanh nhường ấy?

Làm sao chúng có được nụ cười e ấp như đoá hoa hồng vừa hé nở buổi ban mai kia?

Nàng công chúa mới mười lăm tuổi tràn đầy sức sống hạnh phúc. Khi nhìn nàng, ai cũng bất giác thấy ấm áp và vui sướng lạ lùng.

-Phụ vương muốn em về chính cung ngay, khách từ vương quốc Henki đã đến rồi.

-Việc đó đâu liên quan đến em. - Công chúa bướng bỉnh nói, ngón tay thon của nàng quấn quấn một sợi tóc nâu mềm mại - Họ đến hay ở là chuyện của phụ vương và hai anh mà.

Gan cố tỏ ra cương quyết một chút, chỉ một chút thôi:

-Nào, mọi người đang đợi. Phụ vương muốn em có mặt thì em nên làm điều đó, Ana à.

Nhìn thấy vẻ van nài của anh trai, Ana đành tiếc nuối ngắm nhìn vườn hoa rộng lớn đầy thú vị xung quanh một lần nữa rồi nàng nhún vai:

-Được rồi, em sẽ đi với anh, không phải vì khách khứa gì đâu. Mà vì anh đấy, em sợ anh gặp rắc rối với phụ vương thôi.

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Huyền Thoại Porasitus PDF của tác giả Thảo Dương nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Cô Gái Có Hình Xăm Rồng (Stieg Larsson)
Cô gái có hình xăm rồng là tập 1 trong bộ ba tiểu thuyết Millennium của nhà văn Thụy Điển Stieg Larsson. Ngay từ khi ra mắt vào năm 2004 tại Thụy Điển, bộ tiểu thuyết đã gây được tiếng vang lớn, và năm 2009 đã trở thành tác phẩm bán chạy nhất châu Âu, với khoảng 26 triệu ấn bản đã được phát hành trên toàn thế giới. Nhà xuất bản Phụ nữ xuất bản ấn bản tiếng Việt của bộ tiểu thuyết này, với tập 1 Cô gái có hình xăm rồng đã được phát hành trên toàn quốc vào tháng 3 năm 2010. Hai tập tiếp theo dự kiến sẽ ra mắt độc giả Việt Nam cùng trong năm 2010. Nhân vật xuyên suốt của bộ ba tiểu thuyết là Lisbeth Salander, một cô gái trẻ có tuổi thơ và tuổi trưởng thành hết sức đặc biệt. Bị coi là có vấn đề về mặt tâm thần, từ năm 13 tuổi Salander được nuôi dạy trong một bệnh viện dành cho thiếu nhi, một mô hình nửa giống trại trẻ mồ côi, nửa giống bệnh viện tâm thần. Cô bé lớn lên cô độc và mất lòng tin vào phần lớn những người xung quanh. Vẻ bề ngoài cứng rắn gai góc, cách cư xử, giao tiếp như đi ngược lại những nguyên tắc xã hội, nhưng Salander có một trí thông minh tuyệt vời, trí nhớ đáng ngạc nhiên, cộng với sự liều lĩnh và quyết đoán đến không ngờ. Trong tập đầu tiên, Cô gái có hình xăm rồng, Salander bị cuốn vào một cuộc điều tra cùng với Mikael Blomkvist, một nhà báo lão luyện nhưng uy tín đang suy giảm do một bài báo anh viết về vụ bê bối tài chính của Tập đoàn Wennerstrom bị cho là “không có căn cứ”. Blomkvist được Henrik Vanger, người đứng đầu một dòng họ giàu có và danh giá, thuê để tìm hiểu sự thật đằng sau vụ mất tích từ hơn 40 năm trước của cô cháu gái Harriet. Henrik Vanger hứa rằng nếu Blomkvist vén màn được câu chuyện, thì ông sẽ cung cấp cho anh những bằng chứng chống lại Tập đoàn Wennerstrom.Blomkvist nhận lời với Henrik Vanger, từ đó tình cờ quen biết Lisbeth Salander. Với sự hiểu biết xuất sắc (nhưng bất hợp pháp) của một tin tặc về mọi ngóc ngách trong thế giới mạng, Salander đã giúp Blomkvist lần ra được sự thật sau vụ mất tích của Harriet Vanger và phát hiện bí mật của những vụ giết người hàng loạt có liên quan đến người của dòng họ Vanger. Hơn thế nữa, cô còn giúp anh đưa ra ánh sáng những gian lận thương mại của Tập đoàn Wennerstrom. Cô đã bất chấp nguy hiểm và nhiều chuẩn mực xã hội thông thường để cứu không chỉ uy tín nhà báo của Blomkvist mà còn cứu chính mạng sống của anh. Với Cô gái có hình xăm rồng, những bí ẩn của một dòng họ, những góc đen tối của thế giới tài chính, những mặt trái của chế độ giám hộ thanh thiếu niên - vốn được coi là một tiến bộ của xã hội Thụy Điển, những vấn đề đạo đức nghề nghiệp đặt ra với người làm báo… tất cả đều được phơi bày không khoan nhượng. Cuốn sách dày hơn 500 trang, nhưng khó có thể dứt ra cho tới khi đọc hết dòng cuối cùng.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Cô Gái Có Hình Xăm Rồng PDF của tác giả Stieg Larsson nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Cô Gái Brooklyn (Guillaume Musso)
Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Cô Gái Brooklyn PDF của tác giả Guillaume Musso nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Cô Gái Bất Khuất (William Somerset Maugham)
Cô gái bất khuất là tập truyện ngắn của William Somerset Maugham gốm 6 truyện ngắn:Cô gái bất khuấtBệnh việnThực và giảBữa ăn trưaHuân tước Mountdrago Tìm mua: Cô Gái Bất Khuất TiKi Lazada Shopee Ba bà mập ở Antibes*** William Somerset Maugham (1874-1965) là nhà viết kịch, viết tiểu thuyết, viết truyện ngắn người Anh. Đây là một trong vài tác giả danh tiếng nhất trong thập niên 1930 và còn là nhà văn được trả tiền tác quyền cao nhất.1. Cuộc ĐờiW. Somerset Maugham chào đời vào ngày 25/11/1874 tại thành phố Paris, nước Pháp, và qua đời ngày 16/12/1965 tại tỉnh Nice, nước Pháp. Cha của William là ông Robert Ormond Maugham, một luật sư lo các công việc pháp lý tại Tòa Đại Sứ Anh ở thành phố Paris. Vì luật lệ của nước Pháp quy định rằng các trẻ em sinh ra trên đất Pháp sẽ bị gọi vào quân đội, nên ông Robert Ormond đã xếp đặt để cậu bé William chào đời bên trong Tòa Đại Sứ Anh, như vậy cậu bé này được coi như sinh đẻ trên đất Anh và sẽ không bị động viên vào các cuộc chiến tranh tương lai của nước Pháp. Ông nội của cậu William, hay Willie là tên gọi thân mật lúc còn nhỏ, cũng có tên là Robert, là một luật sư xuất sắc và cũng là người sáng lập nên Hội Luật Anh Quốc (The English Law Society). William Somerset Maugham còn có một người anh lớn tên là Frederick Herbert Maugham, cũng theo ngành luật pháp và về sau đã trở nên Thủ Tướng (Lord Chancellor) của nước Anh trong 2 năm 1938-39. Như vậy với truyền thống gia đình danh tiếng này, người ta tin rằng cậu Willie sẽ nối tiếp con đường của cha anh để lại. Bà mẹ của cậu Willie tên là Edith Mary, đã mắc bệnh lao phổi, vào thời bấy giờ, các bác sĩ đã tin rằng việc sinh con có thể chữa được bệnh này. Vì vậy mặc dù cậu Willie đã có 3 người anh khá lớn tuổi và khi cậu Willie lên 3, bà mẹ của cậu sinh thêm một đứa con nữa. Việc sinh con này đã không chữa được bệnh phổi và bà Edith Mary Maugham đã qua đời ở tuổi 41, 6 ngày sau khi sinh đứa con trai cuối cùng và đứa bé này cũng chết ngay khi lọt lòng mẹ. Sự qua đời của bà mẹ đã khiến cho cậu Willie rất đau buồn trong suốt cuộc đời và cậu đã đặt tấm ảnh của bà mẹ bên cạnh giường ngủ của mình cho tới ngày cuối của đời mình. Hai năm sau đó, cha của cậu Willie cũng qua đời rồi cậu bé này được gửi về nước Anh để cho ông bác chăm sóc. Ông bác Henry MacDonald Maugham là vị mục sư tại Whitestable, trong hạt Kent, là một người lạnh lùng và tàn nhẫn về mặt tình cảm. Cậu Willie được gửi theo học nội trú trong trường King (the King's School) thuộc hạt Canterbury, đây cũng là một nơi cực khổ đối với Willie bởi vì cậu bị các bạn bè chế riễu do vóc người thấp lùn, một nét di truyền từ người cha, và do kém tiếng Anh bởi vì tiếng Pháp là ngôn ngữ đầu tiên. Cũng vào thời kỳ này, Willie bắt đầu nói cà lăm (nói lắp), khuyết tật này không thường xuyên mà tùy theo hoàn cảnh, theo trạng thái tâm hồn. Cuộc sống của Willie trong giáo khu của ông bác đã dạy cho cậu phải kiềm chế mọi cảm xúc, không được bộc lộ sự nóng giận cũng như khi gặp gỡ các bạn bè khác phải hạn chế biểu lộ các tình cảm, trong khi đó Willie là một con người rất tò mò, nhưng đã phải giữ yên lặng, phải sống trong cảnh riêng tư. Kết quả là Willie cảm thấy rất đau khổ ở nhà cũng như ở trường, và đã khiến cho sau này, nhà văn Maugham phản ảnh các vết thương tình cảm qua các nhân vật bên trong nhiều tác phẩm của mình. Vào tuổi 16, Somerset Maugham không muốn theo học trường King nữa nên được ông bác cho phép đi du lịch qua nước Đức, tại đây William theo học tiếng Đức, học văn chương và triết học tại trường đại học Heidelberg. Vào giai đoạn này, Somerset Maugham khám phá thấy mình thuộc về loại người đồng tính luyến ái (homosexual) cho nên càng trở nên lo lắng và rồi tìm cách ẩn mình, ít tiếp xúc với xã hội chung quanh. Khi trở về nước Anh, Somerset Maugham được ông bác kiếm cho công việc làm trong một văn phòng kế toán nhưng sau một tháng, William đã bỏ cuộc, sự việc này khiến cho ông bác rất bất bình. Ông bác này muốn Somerset Maugham theo lối đi của cha và ba người anh, họ đều là các luật sư xuất sắc trong khi đó nghề mục sư cũng không thích hợp với William bởi vì chàng nói cà lăm. Cuối cùng, một bác sĩ địa phương đã khuyên ông bác cho Somerset Maugham theo học nghề y khoa trong khi mà William thực sự muốn theo nghề viết văn. Cuối cùng William Somerset Maugham đành phải tới thành phố London để theo nghề y khoa tại trường St. Thomas trong 5 năm. Nhiều người cho rằng theo học ngành y khoa sẽ tiêu hủy tinh thần sáng tác văn chương nhưng trái lại, Somerset Maugham đã cảm thấy vui vẻ khi sinh sống tại thành phố London sống động, khi gặp các người thuộc giai cấp thấp, khi thấy họ ở trong các hoàn cảnh lo lắng và William đã nhận thấy ý nghĩa của đời sống của họ. Somerset Maugham đã hồi tưởng khi còn là một sinh viên y khoa: "Tôi đã nhìn thấy người ta qua đời như thế nào. Tôi đã nhìn thấy họ phải chịu đau khổ ra sao. Tôi đã chứng kiến cảnh hy vọng ra sao, sợ hãi ra sao, xoa dịu ra sao". Somerset Maugham đã ghi vào các sổ tay các suy nghĩ của mình trước các hoàn cảnh của con người trong khi đang theo học để dành lấy mảnh bằng. Kết quả là cuốn truyện đầu tiên đã ra đời: "Lisa của miền Lambeth" (Lisa of Lambeth, 1897). Đây là tác phẩm thứ hai của Somerset Maugham, viết về giới lao động khi ông là một sinh viên y khoa 22 tuổi, lo công việc đỡ đẻ tại khu vực Lambeth nghèo nàn của thành phố London. Cuốn truyện này được nhiều người đón đọc, kể cả các người điểm sách rồi trong vòng vài tuần lễ, tác phẩm thuộc đợt in đầu tiên đã được bán hết. Sự việc này khiến cho Somerset Maugham yên tâm để từ bỏ ngành y khoa mà bước vào ngành viết văn, và ông đã nói khi mới bước vào nghề mới này như sau: "Tôi bước vào nghề này như một con vịt bước xuống nước". Nghề viết văn khiến cho Somerset Maugham phải đi và sống tại nhiều nơi, như tới xứ Tây Ban Nha hay hòn đảo Capri, nhưng sau 10 tác phẩm được xuất bản, Somerset Maugham đã không đạt được thành công như cuốn truyện "Lisa của Lambeth". Tới năm 1907, Somerset Maugham lại thành công với vở kịch "Bà Frederick" (Lady Frederick), rồi qua năm sau, ông có 4 vở kịch được trình diễn tại London và kết quả kể trên khiến cho tạp chí Punch đã phổ biến một tranh vui, vẽ hình Đại Văn Hào Shakespeare phải "cắn móng tay" khi nhìn vào các tấm bảng quảng cáo các vở kịch của Somerset Maugham. Vào năm 1910, Somerset Maugham nổi tiếng do 10 vở kịch và 10 cuốn tiểu thuyết. Bởi vì tuổi cao hơn tuổi động viên nên không thể gia nhập quân đội khi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ, Somerset Maugham đã qua đất Pháp, gia nhập Hồng Thập Tự Anh và phục vụ trong "Nhóm tài xế văn chương chạy xe cứu thương" (Literary Ambulance Drivers), nhóm này gồm 23 nhà văn danh tiếng như Ernest Hemingway, John Dos Passos, E.E. Cummings... Trong thời gian phục vụ cho công tác Hồng Thập Tự này, Somerset Maugham đã gặp Frederick Gerald Haxton, một người trẻ từ thành phố San Francisco, anh này trở nên một người bạn đồng hành và một "người yêu" (lover) của Somerset Maugham cho đến khi Haxton qua đời vào năm 1944. Nói rằng Haxton là người yêu bởi vì Somerset Maugham là một con người lưỡng tính (bisexual). Chính trong giai đoạn này và ở vào lúc không bận công tác xe cứu thương, Somerset Maugham đã viết và đọc lại bản thảo của cuốn "Về Cảnh Nô Lệ của Con Người" (Of Human Bondage, 1915) tại một địa điểm gần Dunkirk. Các nhà phê bình văn học đã mô tả tác phẩm "Về Cảnh Nô Lệ của Con Người" là một trong các tiểu thuyết quan trọng nhất của thế kỷ 20. Cuốn truyện này giống như cuốn tự thuật của tác giả trong đó nhân vật Phillip Cary là một bác sĩ, có tật nói cà lăm, và mục sư của miền Whitestable trở thành mục sư của miền Blackstable. Sự hiện diện chặt chẽ giữa hư cấu và không hư cấu đã trở nên một nét đặc thù của Somerset Maugham, rồi về sau, vào năm 1938, ông đã viết rằng: "Sự kiện hiện thực và hư cấu đã được trộn lẫn trong các tác phẩm của tôi và khi đọc lại, tôi không còn phân biệt được thứ nọ với thứ kia". Vào khoảng năm 1914, Somerset Maugham đã tư tình với bà Gwendoline Maud Syrie Barnado, vợ của một nhà tài phiệt về thuốc tây, là ông Henry Welcome, sinh ra đứa bé gái đặt tên là Elizabeth Liza Mary Maugham (1915-1998). Chồng của bà Syrie vì vậy đã nạp đơn xin ly dị bà vợ này. Tới tháng 5/1916, Somerset Maugham và bà Syrie lập hôn thú với nhau.Khi Somerset Maugham đã trở về nước Anh và không thể phục vụ trong đội quân xe cứu thương, bà vợ Syrie đã dàn xếp để Somerset Maugham gặp một nhân viên tình báo cao cấp của chính quyền Anh, bí danh là "R", rồi tới tháng 9/1915, Somerset Maugham qua Thụy Sĩ, hoạt động như một nhà văn nhưng bí mật thu lượm các tin tức tình báo. Somerset Maugham là một con người yên lặng và giỏi quan sát nên có đủ đức tính của một nhân viên tình báo. Ông tin rằng mình đã thừa hưởng được các đặc tính này từ người cha, nhờ vậy, ông biết suy xét rõ ràng và không để ai lường gạt vì vẻ bên ngoài. Năm 1916, Somerset Maugham đã du lịch trong vùng Thái Bình Dương, tìm kiếm tài liệu và khởi đầu viết cuốn tiểu thuyết "Mặt Trăng và 6 Xu" (The Moon and Sixpence) căn cứ vào cuộc đời của họa sĩ Paul Gauguin. Đây là lần đầu tiên đi thật xa, để sau này, trong thập niên 1920 và 1930, nhà văn này đã tới thăm viếng thế giới của các miền đất thuộc địa như Ấn Độ, Đông Nam Á, Trung Hoa và các hải đảo Thái Bình Dương. Trong các lần đi xa này, Somerset Maugham đều có anh chàng Haxton đi kèm, bởi vì nhà văn là một người e thẹn trong khi Haxton là con người tâm hướng ngoại (extrovert), dễ dàng thu nhận các tài liệu hay dữ kiện về con người địa phương để cho nhà văn Somerset Maugham chuyển thành các cuốn tiểu thuyết. Vào tháng 6 năm 1917, Sir William Wiseman, người đứng đầu Cơ Quan Tình Báo Anh Quốc (The British Secret Intelligence Service, sau này được đặt tên là MI6) đã gặp Somerset Maugham và yêu cầu nhà văn sang nước Nga để lãnh một nhiệm vụ đặc biệt, đó là làm sao giúp cho các đảng viên Mensheviks nắm chính quyền và nước Nga sẽ ở trong tình trạng chiến tranh. Hai tháng rưỡi sau, nhóm Bolsheviks đã thắng thế và công tác của Somerset Maugham coi như không thực hiện được dù cho nhà văn này đã nói rằng nếu ông qua nước Nga sớm hơn 6 tháng thì có lẽ ông đã thành công. Nhờ các kinh nghiệm về tình báo, Somerset Maugham đã không để mất cơ hội chuyển các điều hiểu biết về do thám này thành một loạt các truyện ngắn với nhân vật gián điệp là Ashenden, một người lịch sự, hoàn hảo và tháo vát. Các truyện Ashenden (Ashenden stories) của Somerset Maugham về sau trở nên căn bản cho cuốn phim hồi hộp "Nhân Viên Mật Vụ" (The Secret Agent) của Alfred Hitchcock. Cách viết truyện phản gián của Somerset Maugham cũng ảnh hưởng tới nhà văn Ian Fleming với viên gián điệp danh tiếng James Bond. Năm 1922, Somerset Maugham đã đề tặng cuốn truyện ngắn "Về bức màn Trung Hoa" (On a Chinese Screen, 1923) cho bà Syrie nhưng rồi cặp vợ chồng này đã ly dị nhau vào năm 1927 bởi vì bà vợ Syrie đã quá ghen tức do ông chồng Somerset thường hay đi du lịch vắng nhà và liên hệ với anh chàng Haxton. Vào năm 1928, Somerset Maugham đã mua Biệt Thự Mauresque nằm trên mảnh đất rộng 12 mẫu tại Cap Ferrat thuộc vùng biển danh tiếng Riviera của nước Pháp. Đây là tòa nhà nghỉ ngơi của nhà văn này trong các năm cuối đời và cũng là một trong các địa điểm tụ họp lớn của giới Văn Chương và Xã Hội trong các thập niên 1920 và 1930. Các vị khách được mời tới Biệt Thự Mauresque là những nhân vật như Winston Churchill, Garson Kanin, Ian Fleming, Evelyn Waugh, Cecil Beaton, Rudyard Kipling và Rebecca West... Cũng tại nơi này, sức sáng tác phong phú của Somerset Maugham tiếp tục được duy trì, ông đã viết ra các vở kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết, các bài bình luận và các sách du lịch. Trong thập niên 1930, danh tiếng của Somerset Maugham tại châu Âu còn lớn lao hơn tại nước Anh, là quê hương của ông.Tới năm 1940 khi Thế Chiến Thứ Hai lan tới miền Nam của nước Pháp và khi chính phủ Pháp đầu hàng quân Đức Quốc Xã, Somerset Maugham phải rời khỏi miền Riviera để đi lánh nạn qua Hoa Kỳ, ông trở thành một người tị nạn rất giàu có và cũng là người giàu nhất trong số các nhà văn danh tiếng viết tiếng Anh. Khi Thế Chiến Thứ Hai diễn ra, Somerset Maugham ở tuổi 60, đã sống phần lớn thời gian tại Hollywood để viết nhiều kịch bản phim (scripts), nên ông cũng là một trong các tác giả kiếm được nhiều tiền nhất do công việc chuyển các cuốn tiểu thuyết danh tiếng sang các cốt truyện phim. Trong khi sinh sống tại Hoa Kỳ vào thời kỳ này, chính quyền nước Anh đã yêu cầu ông viết ra và đọc các bài diễn thuyết ái quốc để cổ động Hoa Kỳ giúp đỡ nước Anh đồng thời cũng là một nước đồng minh tham chiến. Năm 1944, Gerald Haxton qua đời nên Somerset Maugham di chuyển về nước Anh rồi tới năm 1946, ông dọn nhà, trở về Biệt Thự Mauresque tại miền Nam của nước Pháp và sống cho tới ngày cuối đời. Sự vắng bóng anh chàng Haxton đã khiến Somerset Maugham thay thế bằng Alan Searle. Ông đã gặp anh chàng này vào năm 1928. Searle là một người trẻ tuổi, xuất thân từ khu vực nghèo khó Bermondsey của thành phố London và đã từng sinh sống với các người đồng tính luyến ái (homosexuals) lớn tuổi hơn. Searle cũng là một người tận tụy với Somerset Maugham và còn là một người bạn đồng hành khích lệ của nhà văn này. Vào các năm cuối đời, Somerset Maugham đã phạm nhiều lỗi lầm căn bản trong cách phán xét nên đã gây ra nhiều tiếng xấu và vì vậy có người cho rằng ông đã đi dần tới tình trạng mất trí nhớ (dementia), trái hẳn với thời kỳ ông còn trai trẻ, là người quá khôn ngoan và lịch thiệp. Một trong các vụ tai tiếng là những lời chê trách bà vợ Syrie đã quá vãng, trong tác phẩm hồi ký "Nhìn Lại" (Looking Back) của ông, viết vào năm 1962. Cũng vào các năm này, Somerset Maugham chấp nhận anh chàng Alan Searle làm con nuôi để thừa hưởng tài sản để lại, sự việc này đã bị cô con gái Liza và chồng là Lord Glendevon đưa ra tranh tụng trước công lý và khiến cho nhà văn danh tiếng Somerset Maugham bị nhiều người chê cười.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Cô Gái Bất Khuất PDF của tác giả William Somerset Maugham nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Cô Gái Băng Tuyết (Jack London)
Cô gái băng tuyết là tác phẩm đầu tay của Jack London. Cuốn sách nói về những nguời đầu tiên đi khai phá miền đất Alaska băng giá nơi thử thách gay gắt sức mạnh và ý chí con người, nơi kẻy ếu, kẻ hèn nhát bị loại trừ, ca ngợi tình bạn, tình yêu chân chính, lòng dũng cảm và những vẻ đẹp của nam tính. Một cô gái đẹp, thông minh và can đảm đã sánh vai được với cánh đàn ông trong các tình huống khó khăn, nguy hiểm nhưng trong tìnhyêu, cô đã lầm lẫn, ngộ nhận, thậm chí mù quáng, nhưng một khi nhận ra tính cách hèn nhát của người yêu, cô đã ghê tởm khi nghĩ đến những cái hôn với hắn. Cuốn sách đuợc viết với những sự kiện diễn ra liên tiếp như một cuốn phim: núi đồi, sông suối, lều trại, cảnh băng tan, băng trôi, bình minhbắc cực, những con người dũng cảm, những kẻ hèn nhát, kẻ phản bội, người chính trực... tất cả đã diễn ra trong khung cảnh mênh mông, băng giá khắc nghiệt của miền cực bắc. Jack London đã quen thuộc với bạn đọc Việt Nam qua những tiểu thuyết đã được dịch ra tiếng Việt, nhưng "Cô gái băng tuyết" tiểu thuyết đầu tay của nhà văn lớn người Mỹ này lại đến với bạn đọc Việt Nam khá muộn mặc dù nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Riêng ở Pháp, nó đã được tái bản đến 3 lần, có lần kèm theo cả tranh minh họa. Tìm mua: Cô Gái Băng Tuyết TiKi Lazada Shopee Dịch "Cô gái băng tuyết" qua bản tiếng Pháp của Louis Past if, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần giới thiệu bổ sung một nét bút pháp nữa của Jack London để bạn đọc tham khảo.***Cô Oen-sơ, xong xuôi cả rồi rất tiếc là chúng tôi không có sẵn một chiếc thuyền nhỏ nào khác. Cô Phrôna Oen-sơ đứng dậy và tiến lại gần viên thuyền trưởng: - Công việc ngập đầu, những gã đi tìm vàng thì cứ dục quýnh lên...ông ta thanh minh. - Tôi hiểu... cô gái ngắt lời, tôi cũng đang vội lắm. Xin ông thứ lỗi vì đã phiền nhiễu ông quá, nhưng... Cô gái bỗng quay mình và chỉ về phía bờ: - Ông có nhìn thấy ngồi nhà gỗ lớn đằng kia không, giữa đám cây thông và dòng sông ấy? Tôi đã sinh ra ở đó. - Ở vào địa vị cô thì tôi cũng sẽ không ngồi yên được. Viên thuyền trưởng vừa dẫn cô gái đi trên boong tầu chật chội vừa lẩm bẩm một cách thông cảm. Đám hành khách xô lấn chửi bới nhau. Hàng ngàn tay đi tìm vàng gào lên đòi nhân viên trên tàu chuyển lên ngay lập tức đồ đạc hành lý của họ. Từ cửa khoang hầm tầu mở hết cỡ nổi lên tiếng cọt kẹt của chiếc cần cẩu đang bốc mọi thứ hành lý thập cẩm lên. Những chiếc thuyền con đậu sát vào 2 bên sườn của con tàu chạy bằng hơi nước đón nhận những thùng, những kiện từ trên ném xuống, người trên thuyền thì mồ hôi mồ kê nhễ nhại xô đến đón hàng rồi vội hộc tốc chuyển cho nhau hết kiện nọ đến kiện kia. Có những hành khách nhoài người ra trên lan can tàu, gào đến khản cả tiếng với đám người trên thuyền, tay thì vung vẩy những tờ vận đơn. Đôi khi 2-3 hành khách cùng đòi một thứ hành lý thế là xảy ra cãi cọ tranh chấp. Người phụ trách quản trị trên tàu thì cứ cuống cả lên không còn biết xoay xở ra sao nữa. Viên thuyền trưởng vừa dẫn Phrôna đi qua đám đông đến cầu tàu vừa nói. Các nhân viên trông coi kho hàng thì bỏ việc và bỏ luôn cả hàng hóa của hành khách. Nhưng dầu sao, chúng tôi cũng còn may mắn hơn tàu ngồi sao Bét-lê-em. Ông ta chỉ một con tàu đang thả neo ở xa xa. Một chiếc thuyền kéo nhỏ lôi theo một cách khó nhọc chiếc xà-lan to kềnh, cố vượt qua đám thuyền và chiếc ca-nô. Gã điều khiển ca-nô vọng về va vào đầu mũi tàu, khi gã lùi ra thì mái chèo của gã sục xuống nước quá: chiếc ca-nô quay ngang và dừng hẳn lại. Từ phía ngược dòng, 2 chiếc thuyền căng buồm dài 20 mét chở đầy những người Anh-điêng và đám thợ đi tìm vàng cùng với mọi thứ trang bị của họ đang vùn vụt tiến đến. Một chiếc rẽ quặt vào bến, chiếc kia ép chiếc ca-nô vào xà-lan. Lúc đó gã điều khiển ca-nô vừa nhấc mái chèo lên, thế là con thuyền nhỏ của gã kêu răng rắc khi bị va chạm và suýt chìm. Lập tức gã lái ca-nô đứng phắt dậy và réo cả họ bọn người đi trên thuyền kia và bọn chở xà-lan ra mà chửi rất độc địa. Một gã trên xà- lan cũng trỏ sang chửi lại, trong khi đó đám người da trắng và da đỏ đi trên thuyền thì cười xì nhạo báng: - Này, lão thuyền chài hạng bét kia! Về mà học lại cách chèo chống đi! Một tên nào đó nói to. Gã ca-nô đấm một quả rất mạnh vào giữa hàm tên láo lếu dám coi thường gã làm cho tên này lăn lông lốc vào đống hành lý. Chưa hài lòng về đòn trừng phạt sơ sơ ấy, gã còn định nhảy hẳn sang chiếc xà-lan. Một tay đi tìm vàng loay hoay rút khẩu súng bị kẹt trong bao da bóng nhoáng của hắn ra, trong khi đó đồng bọn cười hô hố chờ pha gay cấn nhất sắp đến. Nhưng chiếc thuyền đã lại bắt đầu vụt đi: tay da đỏ giữ lái phía đuôi thuyền vung mái chèo vào ngực gã ca-nô làm cho gã ngã xuống sàn thuyền. Vào lúc cao trào nhất của làn sóng nguyền rủa chửi bới, lời qua tiếng lại đã chuyển sang thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Viên thuyền trưởng liếc nhìn cô gái cùng đi, ông ta tưởng sẽ thấy vẻ hoảng hốt của cô gái nhưng rất ngạc nhiên thấy Phrôna theo dõi cảnh tượng đó bằng một vẻ chăm chú, hai má đỏ hồng lên: - Thật lấy làm tiếc...ông ta định xin lỗi. Phrôna ngắt lời ông ta, tỏ ra tiếc rẻ vì cuộc ẩu đã bỗng dưng chấm dứt. - Không! Không! Có gì đáng tiếc đâu! Tôi rất thích xem những chuyện này. Cũng may là tay kia không kịp rút súng ra, nếu không thì... - Không biết đến bao giờ, ta mới đặt chân lên bờ được! Viên thuyền trưởng mỉm cười rồi nói gã kia là một tay bất lương đấy. Ông ta chỉ gã ca-nô lúc đó dang áp thuyền của gã vào sườn con tàu. Gã bằng lòng chở cô sang sông với giá 20 đô-la bởi vì cô là phụ nữ, với đàn ông gã đòi những 25 đô-la. Rồi cô sẽ thấy tôi nói đúng, gã là một tên cướp biển, thế nào rồi gì cũng sẽ bị treo cổ. Nửa giờ đồng hồ làm việc mà lấy những 20 đô-la! Này, nói gì trên ấy đấy! Gã vừa được viên thuyền trưởng nhắc đến quăng một mái chèo lên sàn thuyền. Ai cho phép anh nói xấu người khác? Gã hỏi một cách khiêu khích. Rôi gã vắt nước ở ống tay áo ướt sũng khi gã quơ lấy tay chèo. - Anh thính tai lắm. Viên thuyền trưởng khen gã. - Và quả đấm cũng nhanh nữa! Gã nói thêm. - Và cái miệng thì độc địa và leo leo. - Nghề của ta là phải thế. Ta phải đối phó với lũ cá mập các anh. Anh dám gọi ta là cướp biển trong khi anh bắt hành khách ngồi chất như cá hộp, lại còn bắt họ phải trả đắt gấp đôi giá vé hạng nhất. Anh cho hành khách ăn suất cơm thường của thủy thủ và để họ ở bẩn hơn cả chuồng lợn. Ta mà là cướp biển thì anh là gì? Một hành khách mặt đỏ như gà chọi vì rượu thò đầu ra ngoài lan can tàu hét lên với viên thuyền trưởng: - Ông Tư-stông! Tôi yêu cầu bốc hàng của tôi lên ngay lập tức. Ông nghe rõ chưa? Năm mươi con chó của tôi đang ăn thịt lẫn nhau trong các chuồng bẩn thỉu của ông đấy, ông sẽ biết tay tôi nếu ông không đưa chúng lên cho sớm. Ông làm tôi thiệt hại bạc ngàn mỗi ngày. Tôi yêu cầu ông chấm dứt cái trò này đi, tôi không chịu nổi nữa đâu, đùa dai thế đủ rồi! Tôi sẽ kiện và cho công ty của ông phá sản, thật đấy, thật như tên tôi là That Phec-guy-sơn đấy. Khôn hồn thì động đậy đi một tý, vì ông đã biết tên That Phec-guy-sơn là thế nào rồi. - Ta mà là cướp biển ư? Gã ca-nô vẫn lẩm bẩm một mình. Ta muốn biết trong hai ta ai cướp biển hơn ai? Tơ-stông khoát một cử chỉ để cho lão mặt đỏ đừng gào thét nữa rồi quay sang phía cô gái: - Tôi rất muốn tiễn chân cô lên tận bờ nhưng cô xem đấy chúng tôi bận ngập đầu. Tạm biệt cô, chúc cô may mắn! Tôi sẽ cắt cử hai người lo hành lý của cô. Sáng mai, chắc chắn họ sẽ giao lại cho cô tại cửa hàng. Cô gái bíu lấy tay viên thuyền trưởng rồi bước xuống ca-nô. Sức nặng của cô làm cho con thuyền hơi chòng chành vì nước ùa vào qua khe ván sàn, làm ướt cả đôi giày ống của cô. Cô gái vẫn thản nhiên ngồi xuống ghế băng phía sau và giấu chân dưới ghế: - Này thôi! Gượm đã! Viên thuyền trưởng kêu. Cô Oen-sơ, cô không vào bờ được với con thuyền này đâu. Quay lại đi, tôi sẽ cho người chở ngay cô lên bờ khi nào tôi có thuyền. - Xin chào! Ta sẽ gặp nhau trên thiên đàng! Gã lái thuyền thốt lên. Gã muốn cho thuyền đi nhưng Tơ-stông níu lấy mép thuyền. - Buông ra! Gã lái thuyền hét lên dọa dẫm. Đền đáp lại cử chỉ quan tâm của viên thuyền trưởng với cô gái, gã lái thuyền dùng mái chèo đập một cú rất mạnh vào cổ tay làm cho viên thuyền trưởng buột ra những lời nguyền rủa giận dữ quên cả việc cô gái đang có mặt ở đó. - Đáng tiếc là cuộc chia tay của chúng ta mất cả vẻ lịch sự. Cô gái cười khanh khách và nói to lên với viên thuyền trưởng khi con thuyền đã ra xa. - Mẹ kiếp! Viên thuyền trưởng vừa cau có vừa ngả mũ vẫy chào cô gái một cách lịch thiệp. Thật đáng mặt nữ nhi! Một cảm giác ao ước bỗng xâm chiếm đầu óc viên thuyền trưởng trẻ tuổi: ao ước được ngắm nhìn mãi cặp mắt xanh của cô Phrôna-Oen-sơ. Không hiểu sao, anh cảm thấy dám cùng cô đi tới cùng trời cuối đất. Đột nhiên anh thấy chán ngấy cái nghề sông nước của mình, muốn tung hê tất cả để cùng Phrôna di tới Klông-đai. Anh ngước mắt lên phía lan can tàu bắt gặp bộ mặt đỏ như gấc của Phec-guy-sơn và quên bẵng cái ước mơ vừa thoáng lướt qua. Bụp! Một mái chèo vọng về làm tung nước lên mặt Phrôna. - Xin cô đừng giận. Gã lái thuyền tỏ ý xin lỗi. Cô biết đấy, tôi đã rất cố gắng. - Tôi biết lắm. Cô gái vẫn vui vẻ đáp lại. - Ôi, không phải vì tôi yêu cái nghề sông biển này đâu. Tôi phải xoay xở để kiếm được vài đô-la một cách lương thiện, thú thực với cô, làm ăn cách này theo tôi là chân chính nhất nếu tôi không gặp nhiều chuyện rủi ro thì bây giờ chắc tôi đã có mặt ở Klông-đai rồi. Nhưng rủi ro là thế đấy, tôi đã mất hết mọi thứ trang bị ở Đèo gió khi đã đi được nửa đường, sau khi đã vượt qua khe... Xoạt! Bụp! Lại một vẩy nước tung tóe lên đầu cô gái. Những giọt nước chảy ròng ròng xuống cổ làm cho cô gái rùng mình. - Giỏi lắm! Cô đủ nghị lực để thành công ở đấy đấy. Gã nói bằng giọng khích lệ Phrôna. Cô tới đằng kia phải không? Cô gái gật đầu đáp lại. - Như tôi đã kể với cô lúc nãy, sau khi mất hết trang bị, tôi trở lại vùng ven biển. Khi đó tôi chẳng còn xu nào nhưng tôi vẫn muốn kiếm được cái gì đó để mua lại trang bị mới. Chính vì thế mà tôi có nâng giá chở thuyền lên một chút. Cô không để tâm chứ? Tôi cũng không tồi hơn những kẻ khác đâu, chỉ vì tôi phải trả những 100 đô-la cho con thuyền mướp này trong khi nó chỉ đáng giá 10 đô-la ở Mỹ. Và những cái khác nữa cũng thế thôi. Trên con đường mòn Ska-nê kia chẳng hạn, một chiếc đinh đóng móng ngựa giá 25 xu. Cô có tưởng tượng được không... một gã vào trong quán rượu và gọi một cốc uytki giá nửa đôla. Uống xong, gã trả hai chiếc đinh đóng móng ngựa. Thế là cả chủ và khách đều hài lòng. - Sau những điều phiền muộn đó, anh đâu có thiếu can đảm nghĩ tới chuyện trở lại tìm vàng nữa. Tên anh là gì nhỉ? Biết đâu chúng ta lại tình cờ gặp nhau sau này. - Ai? Tôi ư? Ô, tôi tên là Đen Bi-sốp làm nghề đi tìm vàng. Nếu như sau này tôi có gặp lại cô, cô cứ nhớ cho rằng tôi sẽ biếu cô đến cả cái áo sơ-mi cuối cùng... Xin lỗi, ý tôi muốn nói mẩu bánh cuối cùng. - Cám ơn anh. Cô gái đáp lại với một nụ cười dịu dàng. Phrôna Oen-sơ là người biết quý những lời nói chân thành. Gã lái thuyền dừng tay chèo, nhặt một chiếc hộp sắt tây cũ trong lớp nước bao quanh chân gã. - Cô tát nước đi. Gã quăng cho cô chiếc hộp sắt tây. Thuyền ngập nước nhiều hơn từ lúc chòng chành. Phrôna cười thầm và bắt đầu tát nước ra khỏi thuyền. Mỗi khi cô cúi xuống múc nước thì những ngọn núi phủ băng cũng nhấp nhô ở chân trời, giống như những đợt sóng lớn. Thỉnh thoảng cô dừng tay nghỉ và nhìn về phía con thuyền đang đi tới, ở đó lố nhố những bóng người. Đây là một eo biển nằm kẹt giữa hai bờ dốc, có chừng 20 chiếc tàu lớn chạy bằng hơi nước đang thả neo. Giữa những con tàu và hai bến bờ đó là những chiếc thuyền con, thuyền kéo, thuyền độc mộc to nhỏ đủ loại qua lại như mắc cửi. " Người lái thuyền vạm vỡ này có sá gì thiên nhiên hung dữ ở đây" Phrôna nghĩ thầm. Trong trí tưởng tượng, cô nhớ lại quang cảnh những phòng diễn giảng và những buổi lên lớp tối, nơi cô đã được tiếp thu những kinh nghiệm và kiến thức của những bậc thầy. Cô hiểu rõ thế giới vật chất và biết kính trọng sâu sắc mọi nỗ lực của con người. Trong một lúc lâu, chỉ có tiếng mái chèo khua nước của Đen Bi-xốp gõ nhịp. Rồi một ý nghĩ lướt qua đầu gã. - Cô chưa cho tôi biết tên cô là gì nhỉ? - Tôi tên là Phrôna Oen-sơ. Gã lái thuyền tỏ ra bối rối: - Cô... cô là Phrôna Oen-sơ ư? Gã hỏi lại một cách rụt rè. Có phải Gia-côp Oen-Sơ là bố cô không? - Phải, tôi là con gái của Gia-côp Oen-sơ. Gã bật ra một tiếng huýt gió dài kính nể và nhẹ tay chèo. - Cô quay về ghế sau mà ngồi đi và đừng để chân ngâm trong nước nữa. Hắn nói như ra lệnh. Giả lại tôi cái hộp, đưa ngay cho tôi đi. - Tại sao, tôi tát không thạo hay sao. Cô gái hỏi lại, có vẻ tức giận. - Có, cô tát thạo lắm, nhưng cô là... cô là... -... Tôi vẫn là người như khi anh chưa biết. Nào, anh cứ chèo thuyền đi... Đó là việc của anh, còn tôi lo việc của tôi. Gã nhìn cô kính phục và lại nghiêng mình trên hai tay chèo. - Thế đấy, hóa ra cô là con gái của Gia-côp Oen-sơ! Lẽ ra tôi phải đoán được mới phải. Khi họ tới cái doi cát ngổn ngang những đống hàng và xôn xao, ồn ào tiếng người thì Phrôna đưa tay ra cho gã lái thuyền bắt. Dẫu rằng xưa nay ít có khách phụ nữ tỏ cử Chỉ tử tế như thế với gã nhưng Đen Bi-sốp vẫn biết đón nhận bàn tay của cô con gái Gia-côp Oen-sơ một cách nhã nhặn, lịch sự. - Cô cứ nhớ rằng mẩu bánh cuối cùng của lôi là dành cho cô! Gã nhắc lại. -... Và cả cái áo sơ-mi cuối cùng của anh nữa chứ, anh đừng có quên đấy! - Tôi biết là cô thích nói đùa! Tạm biệt, cô Oen-sơ! - Tạm biệt anh! Chiếc váy ngắn của cô không làm vướng víu bước chân. Bất giác cô ngạc nhiên thấy mình từ bỏ ngay đươc lối bước đi vội vã e ấp của phụ nữ tỉnh thành quen với hè phố để chuyển sang cách đi bằng những bước dài, nhún nháy tự nhiên của những người đã từ lâu quen đi trên những con đường mòn. Nhiều gã đi tìm vàng và Đen Bi-sốp đã liếc mắt nhìn trộm đồi chân đi ghệt da (1) của cô gái một cách kính nể. Có vài gã còn dám ngước nhìn thẳng vào mặt Phrôna. Cách nhìn của họ thân thiện và thẳng thắn, ánh lên vẻ rụt rè như ánh rạng đông mới ló.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Jack London":Tiếng Gọi Nơi Hoang DãCô Gái Băng TuyếtGót SắtJack London Truyện Ngắn Chọn LọcJack London Tuyển TậpMartin EdenMối Thù Thiên ThuTừ Bỏ Thế Giới VàngĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Cô Gái Băng Tuyết PDF của tác giả Jack London nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.