Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mối Tình Đầu của Turgenev

Mối Tình Đầu viết dưới dạng tự sự. đó là những mối tình dang dở, những người phụ nữ yêu chân thành và say đắm, luôn luôn vươn tới cái mới, cái thiện nhưng không bao giờ thực hiện được ước mơ vì bản tính của họ mâu thuẫn với thực tại xã hội. Đó là những số phận cay nghiệt ở nước Nga dưới chế độ nông nô và Sa hoàng. Đó là những người đàn ông yếu đuối, nhu nhược và ích kỷ... đại diện cho tầng lớp qúy tộc đang suy tàn. Trong sáng tác của Turgenev phụ nữ chiếm một vị trí đặc biệt. tác giả dành cho những nhân vật nữ quyền phán xét nam giới vì bản tính của nữ giới là mãnh liệt, không khoan nhượng, toàn vẹn, nhạy bén và mơ mộng. nhưng theo Turgenev, tình yêu không những là niềm hạnh phúc lón lao mà còn là tấn bi kịch của đời người. *** Ivan Sergeyevich Turgenev (9 tháng 11 năm 1818 - 3 tháng 9 năm 1883) là một nhà văn và nhà soạn kịch nổi tiếng của Nga thế kỉ 19. Tiểu thuyết Cha và con của ông được coi là một trong những tác phẩm lớn nhất thế kỉ 19. Ivan Turgenev sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Oryol thuộc Đế quốc Nga. Cha ông, Sergei Nikolaevich Turgenev, là một đại tá kỵ binh trong quân đội Nga Hoàng, ông mất năm Ivan 16 tuổi, mẹ của Turgenev là bà Varvara Petrovna Lutovinova, một phụ nữ có học, thông minh, chăm lo đến việc học hành của con cái nhưng đối xử tàn nhẫn, khắc nghiệt với nông nô. Hình ảnh bà mẹ khó tính ấy đã khắc sâu trong tâm khảm ông và được ông thể hiện trong nhiều tác phẩm sau này.   Tiểu thuyết 1857 - Rudin 1859 - Tổ quý tộc 1860 - Đêm trước 1862 - Cha và con 1867 - Khói 1877 - Đất hoang 1882 - Thơ văn xuôi Truyện ngắn 1850 - Dnevnik Lishnego Cheloveka 1851 - Provintsialka 1852 - Bút ký người đi săn 1855 - Yakov Pasynkov 1855 - Faust 1858 - Asya 1860 - Mối tình đầu 1870 - Cánh đồng hoang của vua Lear 1872 - Những dòng nước mùa xuân 1881 - Pesn' Torzhestvuyushey Lyubvi 1883 - Klara Milich *** Tiệc đã tan từ lâu. Đồng hồ gỏ mười hai giờ ba mươi phút.. Trong phòng chỉ còn lại vị chủ nhà, Sergei Nilolaevitch và Vladimir Petrovitch. Chủ nhà rung chuông, ra lệnh dọn đi phần còn lại của bửa cơm tối. "Và chúng ta đã đồng ý," ông nhìn quanh, ngồi thoải mái trong lòng chiếc ghế bành, châm một điếu xì gà." mỗi người sẽ nói về mối tình đầu của mình. Tới phiên anh, Sergei Nikolaevich." Sergei Nikolaevich, một người đàn ông thấp bé mập mạp với gương mặt bầu bỉnh, trắng trẻo, đầu tiên nhìn vị chủ nhà, sau đó hướng ánh mắt lên trần. "Tôi không có mối tình đầu," sau cùng ông nói; "Tôi bắt đầu bằng mối tình thứ hai." "Sao lại có thể như thế được?" "Rất đơn giản. Năm mười tám tuổi lần đầu tiên tôi tán tỉnh một cô gái trẻ và duyên dáng, nhưng tôi đeo đuổi nàng như thể không có chi là mới lạ; về sau này với các cô gái khác cũng thế. Nói cho chính xác, lần đầu và cũng là lần cuối, tôi yêu nhũ mẫu của mình khi tôi lên sáu; nhưng đó là chuyện ngày xưa. Tôi không tài nào nhớ được những chi tiết, và ngay cả khi tôi nhớ được, có ai thích nghe chăng? "Vậy về phần tôi thì sao?" ông chủ nhà bắt đầu nói. "Mối tình đầu của tôi cũng chẳng có gì hấp dẫn; tôi chưa từng yêu ai cho đến khi gặp Anna Nikolaeva, nhà tôi hiện nay, -- và tất cả mọi chuyện đều xảy ra hết sức êm đẹp; cha mẹ chúng tôi xếp đặt cuộc gặp gỡ, chúng tôi yêu nhau ngay, và cưới nhau liền sau đó. Chuyện của tôi có thể kể lại vỏn vẹn trong vài ba chữ. Thú thật với các bạn, khi nêu lên chủ đề là mối tình đầu, tôi đã đặt hy vọng nơi các bạn, tôi không nói là đã già, nhưng không còn trẻ trung gì nữa. Vladimir Petrovich, anh có thể làm cho không khí sôi động hơn không ?" "Mối tình đầu của tôi, chắn chắn không bình thường," Vladimir Petrovitch, một người trạc tứ tuần, tóc đen ngã sang màu muối tiêu, hơi ngập ngừng, trả lời. "Ah!" ông chủ nhà và Sergei Nikolaevitch cùng nói một lúc: "Càng tốt...Kể cho chúng tôi nghe đi." "Nếu các bạn muốn...nhưng không; tôi không kể đâu; tôi không biết cách kể chuyện; tôi sẽ làm cho nó khô khan và cộc lốc, hay thêm thắt quá đà. Nếu các bạn đồng ý, tôi sẽ viết tất cả những gì tôi còn nhớ và đọc cho các bạn nghe." Các ông bạn lúc đầu không bằng lòng, nhưng Vladimir Petrovitch nhất định làm theo ý mình. Hai tuần sau, họ gặp lại, và Vladimir Petrovitch giữ lời hứa. Bản thảo của ông chính là câu chuyện sau đây: -- ************* Tôi lên mười sáu. Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1833. Tôi sống tại Moscow với cha mẹ tôi. Họ sở hữu một ngồi nhà nghỉ mát ở gấn cổng Kalouga, đối diện vườn hoa Neskutchny.Tôi đang chuẩn bị vào đại học, nhưng không chăm học và không sốt sắng. Tôi hoàn toàn tự do tự tại, không ai để ý đến tôi. Tôi muốn làm gì tùy thích, nhất là sau khi chia tay với người thầy sau chót, người Pháp, ông này không bao giờ chấp nhận rằng ông đã rơi tỏm vào nước Nga "comme une bombe" (như một quả bom), và nằm bẹp dí trên giường ngày này sang ngày khác với vẻ mặt phẩn uất. Cha tôi tử tế, dễ dãi với tôi, còn mẹ tôi gần như chẳng ngó ngàng gì đến, mặc dù tôi là đứa con độc nhất ; nhiều việc khác chiếm trọn tâm trí của bà. Cha tôi, vẫn còn trẻ và rất đẹp trai, đã kết hôn với mẹ tôi chỉ vì tiền; mẹ tôi lớn hơn cha tôi đến mười tuổi. Mẹ tôi sống một cuộc đời buồn bả; lúc nào cũng bực dọc, ghen tuông và cáu kỉnh, nhưng chỉ khi vắng mặt cha tôi; mẹ tôi rất e sợ ông, và ông luôn luôn nghiêm khắc, lạnh lùng và xa cách... Tôi chưa bao giờ gặp ai trầm tỉnh, tự tin và uy quyền như ông. Tôi không bao giờ quên những tuần lễ đầu tiên sống ở quê. Thời tiết tuyệt diệu; chúng tôi rời thành phố vào ngày 9 tháng Năm, ngày lễ thánh Nicholas. Tôi thường lang thang trong vườn nhà mình, trong vườn hoa Neskutchny, và đi xa khỏi cổng thành; tôi hay mang theo vài quyển sách -- sách giáo khoa của Keidanov, thí dụ vậy -- nhưng hiếm khi đọc, và thường hay ngâm nga những vần thơ; tôi thuộc lòng nhiều bài ; với bầu máu nóng sôi sục, với trái tim đau thương ngọt ngào; lòng tôi tràn đầy niềm tin và hy vọng, tôi hơi sợ sệt một điều gì đó, và thích thú về mọi thứ; trí tưởng tượng của tôi mãnh liệt như lũ chim nhạn lượn lờ quanh tháp chuông lúc rạng đông; tôi mơ mộng, tôi buồn rầu, đôi khi khóc than; nhưng qua những giọt lệ và nỗi buồn gợi ra bởi một vần thơ du dương hay bởi vẽ đẹp của một buổi chiều tà, hượng vị ngọt ngào của tuổi trẻ và cuộc sống sôi động vẫn vươn cao như ngọn cỏ mùa xuân. Tôi có một con ngựa, tôi thường tự thắng lấy yên cương và một mình cởi ngựa rất lâu, phóng nước đại và tưởng tượng như mình là một hiệp sĩ trong trận đấu thương. Gió thổi mơn man tươi vui làm sao! hoặc ngẩng mặt lên, tôi đón lấy vẽ lộng lẫy và xanh mát của bầu trời vào linh hồn tôi rộng mở. Tôi nhớ lúc đó hình ảnh của người đàn bà, gương mặt của tình yêu, hiếm khi hình thành rõ nét trong đầu óc tôi; nhưng tôi có nghĩ đến và cảm thây chung chung ở một cõi mơ hồ kín đáo nào đó, một linh cảm ngượng ngùng về một điều gì đó, mới lạ, vô cùng ngọt ngào, yểu điệu... Mối linh cảm này, niềm hy vọng này, thấm đẫm vào tôi; tôi hít thở trong nó, nó chảy trong huyết quản, trong từng giọt máu...nó là định mênh sẽ sớm được hoàn thành. Địa điểm, nơi chúng tôi sẽ sống trong mùa hè, gồm một dinh thự bằng gỗ và hai căn nhà nhỏ; trong ngôi nhà phía trái là một cơ sở sản xuất giấy dán tường loại rẻ tiền...Đã hơn một lần tôi đi dạo về hướng đó, nhìn thấy khoảng một chục đứa bé gầy còm và luộm thuộm, quần áo dính đầy dầu mở, gương mặt mỏi mệt, thường xuyên nhảy lên những chiếc cần gổ để ép những ô vuông của cái máy in, và do đó, bằng sức nặng mong manh của chúng, tạo nên những mẫu mã khác nhau của giấy dán tường. Căn nhà bên tay mặt không có ai cư ngụ. Một ngày nọ -- ba tuần sau ngày 9 tháng Năm -- màn cửa sổ của ngôi nhá này cuốn lên, những gương mặt phụ nữ xuất hiện -- có một gia đình nào đó dọn tới. Tôi nhớ trong cùng ngày đó, vào bửa ăn tối, mẹ tôi hỏi thăm ông quản gia về người láng giềng mới, và khi mẹ tôi nghe nói tới danh hiệu Công chúa Zasyekin, mẹ tôi ra vẻ tôn kính, " Ah! một công chúa!" ...và thêm vào, " tôi nghĩ là, một công chúa nghèo, phải không?" "Họ đi xe thuê, " ông quản gia kính cẩn nói, đưa cho mẹ tôi một cái dĩa: " họ không có xe riêng, và bàn ghế tồi tàn." "Ah," mẹ trả lời, " vậy càng tốt." Cha tôi đưa ánh mắt băng giá nhìn qua; bà im bặt. Chắc chắn Công chúa Zasyekin không thể là một người giàu có; căn nhà bà dọn vào quá tiêu điều, nhỏ bé và mái dốc thoai thoải, không có ai, ngay cả những người tương đối khá giả trong thế gian này lại bằng lòng vào ở. Tuy thế vào lúc ấy, những gì được nói ra đã chóng bị quên lãng. Tước vị vương giả không tạo ra ấn tượng nào cho tôi.Tôi đang đọc Robbers của Schiller. ... Mời các bạn đón đọc Mối Tình Đầu của Turgenev của tác giả Ivan Turgenev.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hai Năm Trên Hoang Đảo
Một sự cố xảy ra trong đêm tối – du thuyền Sloughi mất tích và trôi dạt vào Thái Bình Dương, mang theo mười lăm cậu bé từ tám đến mười bốn tuổi, không một cơ may được cứu giúp cũng chẳng có người lớn nào để cậy trông. Vừa thoát khỏi bão tố và những con sóng dữ của đại dương, du thuyền lại dạt vào một miền đất hoang sơ, bí ẩn. Kì nghỉ hè mơ ước bỗng chốc hóa thành một "trường học" sinh tồn gian khổ: các cậu bé phải tự xoay xở để kiếm cái ăn, chốn ở và sống sót qua bao thử thách, hiểm nguy với hi vọng mong manh được thấy lại quê nhà. Hai năm trên hoang đảo của Jules Verne trước hết là một cuộc phiêu lưu kì thú mở ra bao điều mới lạ về thế giới tự nhiên, đồng thời khơi gợi khao khát trưởng thành và ý chí tự lập ở các em nhỏ. Nhưng nhìn rộng ra, đây cũng là bức tranh thu nhỏ về công cuộc thám hiểm và chinh phục những vùng đất mới từng là một chương quan trọng trong lịch sử loài người. Qua đó, độc giả có dịp hiểu thêm về mối quan hệ giữa con người nhỏ bé nhưng giàu trí khôn và nghị lực với thiên nhiên kì vĩ, đôi khi khắc nghiệt nhưng hào phóng vô cùng. *** Đã có nhiều Robinson khơi dậy lòng hiếu kì của các bạn đọc trẻ. Đó là một người đàn ông trong tác phẩm bất hủ Robinson Crusoe của Daniel Defoe, là một gia đình trong Robinson Thụy Sĩ* của Wyss, là một nhóm người trong Miệng núi lửa của Cooper, là một nhóm bác học trong Hòn đảo huyền bí của tôi. Người ta còn tưởng tượng ra Robinson mười hai tuổi, Robinson miền băng giá, Robinson thiếu nữ v.v. Mặc dầu đã có vô số truyện Robinson như vậy, tôi vẫn thấy cần thêm vào cho đầy đủ một nhóm trẻ em từ tám đến mười ba tuổi, bơ vơ trên một hòn đảo, phải vật lộn để sống còn giữa những thiên kiến do sự khác biệt về dân tộc, tóm lại, một kí túc xá những Robinson. Tác phẩm này đã có bản dịch tiếng Việt với nhan đề Lớn lên trên đảo vắng. (Sau đây các chú thích không có ghi chú gì thêm đều của người dịch). Mặt khác, trong truyện Thuyền trưởng mười lăm tuổi, tôi đã cố gắng chứng tỏ những gì một cậu bé, bằng lòng dũng cảm, trí thông minh, với ý thức trách nhiệm cao hơn lứa tuổi, có thể làm được để vượt qua bao gian khó, hiểm nguy. Nên tôi nghĩ rằng nếu đó là bài học bổ ích thì cũng cần được bổ sung cho hoàn mĩ hơn. Tác phẩm này ra đời nhằm mục đích kép ấy. Jules Verne *** Jules Gabriel Verne sinh ngày 8 tháng 2 năm 1828 tại Pháp và được coi là cha đẻ của thể loại Khoa học viễn tưởng. Để theo đuổi việc viết văn, Jules Verne đã bỏ học luật, nghề cha ông định hướng. Cuốn tiểu thuyết đầu tay thành công Năm tuần trên khinh khí cầu (1863) đã mở đầu cho hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng về sau của Jules Verne như Cuộc Thám Hiểm Vào Lòng Đất (1864), Hai vạn dặm dưới biển (1870), 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới (1873)… Các  tác phẩm của ông được dịch khắp nơi trên thế giới. Jules Verne mất ngày 24 tháng 3 năm 1905. Sau khi ông qua đời, nhiều tiểu thuyết chưa in của ông vẫn được tiếp tục xuất bản. - Ông là nhà văn Pháp nổi tiếng, được coi là người khai sinh ra thể loại văn học Khoa học viễn tưởng. - Tác phẩm của ông được dịch nhiều thứ ba trên thế giới và được chuyển thể thành phim nhiều lần. - Danh tiếng ấy chắc hẳn đã là đẹp đẽ lắm rồi. Tuy nhiên ông còn xứng đáng được nhiều hơn thế. Và thật không công bằng khi chúng ta kể lại lịch sử văn học của thời đại này mà không đặt tiểu thuyết gia có lẽ là có tính sáng tạo bậc nhất vào một vị thế đúng đắn. - Ông đã dùng phòng thí nghiệm và kính viễn vọng để viết tiểu thuyết phiêu lưu. Ông không chỉ ghi lại quá trình các nhà bác học tạo nên những phát minh lớn, mà còn tiên đoán chúng. Đọc những tác phẩm cùa ông, ta có thể nhận thấy những mâu thuẫn vì trong số những ý tưởng khoa học còn có những kiến phát chưa thể xác minh. Và bỗng dưng năm sau, hoặc vài năm sau, những giả thuyết mà ông đặt ra mà đôi khi thậm chí ông còn không tin, đã trở thành sự thật, một cách hoàn toàn chính xác. Những nhà bác học đã hoàn toàn đồng tình với ý tưởng của ông, hay nói cách khác, ông đã đi trước họ!.. - Trước đây, người ta vẫn đặt câu hỏi liệu khoa học thực sự có đi ngược hướng với trí tưởng tượng văn chương hay không. Các nhà triết học thì đồng tình, lules Verne chứng minh điều ngược lại qua hành động. Ông dùng chất liệu khoa học để xây dựng nên những câu chuyện hấp dẫn, những cuộc phiêu lưu lôi cuốn. *** I Trận bão - Con tàu bị hư hỏng - Bốn chú bé trên boong tàu Sloughi - Buồm trước rách tả tơi - Trong khoang tàu - Chú học việc thủy thủ bị chẹt cổ gần chết - Sóng đánh đuôi tàu - Thấy đất qua sương mù - Bãi đá ngầm Đ êm mùng 9 tháng 3 năm 1860, mây rà sát mặt nước, tầm nhìn xa chỉ vài sải tay. Biển động, sóng dậy dồn dập chiếu ra một thứ ánh sáng nhợt nhạt, một con tàu nhỏ gần như không giương buồm lao nhanh. Đó là một du thuyền trọng tải một trăm tấn mà người Anh, người Mỹ gọi là “schooner”. Tên chiếc schooner này là Sloughi. Nhưng giờ thì đừng hoài công tìm tên ấy vì tấm biển đề đã bị một sự cố - sóng đánh hay một cú va đập mạnh - làm vỡ ra từng mảnh rồi. Đã 11 giờ đêm. Ở vĩ độ này vào đầu tháng 3, đêm hãy còn ngắn. Đến 5 giờ sáng thì trời hửng. Nhưng liệu ánh mặt trời có làm giảm bớt hiểm nguy đang đe dọa con tàu không? Nếu sóng dịu xuống, gió lặng đi thì chắc nó sẽ không bị đắm, một tai nạn khủng khiếp nhất ở giữa đại dương, xa mọi mảnh đất, nơi những người sống sót có hi vọng được cứu giúp. Ở cuối tàu, bên bánh lái có ba chú bé, một chú mười bốn tuổi, hai chú kia cùng mười ba với một chú da đen học việc thủy thủ mười hai tuổi. Các chú hợp sức cố giữ cho tàu khỏi chệch hướng quay ngang. Công việc thật khó nhọc vì bánh lái cứ cưỡng lại, muốn quay ngược, có thể hất bay các chú qua thành tàu. Đã thế, gần nửa đêm, một con sóng trùm qua boong, đập mạnh vào sườn tàu đến nỗi các chú không bị văng mất đã là một sự thần kì. Cú đập làm các chú ngã nhưng đứng dậy được ngay. - Còn lái được không, Briant? - Một cậu hỏi. - Còn, Gordon ạ. - Briant đã trở về vị trí và bình tĩnh trả lời, rồi nói với cậu thứ ba. - Chúng mình phải vững vàng, Doniphan ạ! Phải dũng cảm vì bọn mình phải cứu mấy đứa kia. Briant nói bằng tiếng Anh, nhưng cách phát âm cho thấy cậu là người Pháp. Quay sang chú tập sự thủy thủ, cậu hỏi: - Mày có bị thương không, Moko? - Thưa cậu* không sao, - Moko trả lời. - Cần nhất bây giờ là giữ cho tàu gối lên sóng, không chệch hướng quay ngang, không thì chúng ta sẽ chìm nghỉm ngay! Vào thời ấy, tệ phân biệt chủng tộc da trắng, da màu rất nặng nề. Nguyên văn tiếng Pháp là “monsieur Briant”, đúng ra phải dịch là “thưa ông Briant”. Người dịch tạm dùng chữ “cậu” cho nhẹ bớt. Vừa lúc ấy, ca pô cầu thang xuống phòng khách du thuyền bật mở, hai cái đầu bé bỏng nhô lên mặt boong cùng một con chó dễ thương sủa mấy tiếng. - Anh Briant!… Anh Briant!… Chuyện gì thế? - Một chú bé chín tuổi gào lên. - Không, Iverson, chẳng có chuyện gì cả, - Briant đáp - em với Dole xuống ngay đi… nhanh lên! - Là vì chúng em sợ quá! - Chú nhóc thứ hai còn non tuổi hơn nói thêm. - Còn những đứa kia? - Doniphan hỏi. - Những đứa kia cũng sợ! - Dole trả lời. - Thôi, các em xuống cả đi! - Briant nói - Đóng chặt cửa lại, trùm kín chăn, nhắm mắt vào là hết sợ thôi! Chẳng có gì nguy hiểm đâu. - Chú ý! Lại sóng lớn! - Moko thét. Đuôi tàu bị đập mạnh. May sao sóng không trùm lên boong, nếu không nước sẽ qua ca pô cầu thang ùa vào, tàu nặng lên sẽ không đè trên sóng được. - Xuống ngay! Nếu không thì… liệu hồn! - Doniphan quát. - Thôi nào! Về buồng đi các em! - Briant nói, giọng ôn tồn hơn. Hai cái đầu vừa thụt xuống thì một cậu bé khác xuất hiện: - Briant! Có cần chúng mình không? - Không! Baxter, bốn chúng tớ là đủ, Cross, Webb, Service, Wilcox và cậu, các cậu ở lại với các em bé. Baxter sập ca pô xuống. “Những đứa kia cũng sợ!” Dole đã nói thế. Chẳng lẽ chỉ có toàn trẻ em trong con tàu đang bị cuốn theo gió bão này sao? Đúng, toàn là trẻ em! Bao nhiêu? Mười lăm đứa, kể cả Gordon, Briant, Doniphan và chú thủy thủ tập sự. Vậy các em xuống tàu trong hoàn cảnh nào? Ta sẽ sớm biết thôi. Và trên tàu không có một người lớn, không có thuyền trưởng để chỉ huy, không có một thủy thủ nào để sử dụng các thiết bị, không có một người lái nào để lái tàu hay sao? Không! Không có một ai! Vì thế, không ai trên tàu biết vị trí chính xác của tàu trên đại dương này! Mà là đại dương nào? Đại dương lớn nhất, Thái Bình Dương trải rộng hai nghìn dặm từ bờ biển Australia và New Zealand tới tận bờ biển Nam Mỹ. Vậy chuyện gì đã xảy ra? Tai họa nào đã làm thủy thủ đoàn biến mất? Phải chăng cướp biển Mã Lai đã bắt tất cả, để mặc đám hành khách trẻ con này, mà đứa lớn nhất mới suýt soát mười bốn tuổi, tự xoay xở lấy? Chiếc du thuyền một trăm tấn ít ra phải có một thuyền trưởng, một thủy thủ trưởng và năm, sáu người nữa. Thế mà cả cái bộ sậu tối thiểu để vận hành con tàu chỉ còn lại chú thủy thủ tập sự!… Cuối cùng, du thuyền từ đâu tới, từ vùng biển nào của Australia hay quần đảo nào của châu Đại Dương, đã đi từ bao lâu và định tới đâu? Bất cứ thuyền trưởng nào gặp tàu Sloughi ở vùng biển khơi này cũng sẽ hỏi như vậy và chắc chắn là bọn trẻ sẽ trả lời được. Nhưng có tàu thuyền nào đâu. Tàu viễn dương thường qua lại các vùng biển châu Đại Dương cũng chẳng thấy, mà tàu buôn chạy bằng máy hơi nước hoặc chạy bằng buồm, thường có hàng trăm chiếc từ châu Âu hoặc châu Mỹ sang các hải cảng Thái Bình Dương cũng không gặp chiếc nào. Mà dẫu có một con tàu khỏe có động cơ hoặc hệ thống buồm đi chăng nữa thì thủy thủ cũng phải tập trung chống bão, cứu sao được chiếc du thuyền đang nhấp nhô trên mặt biển như mảnh vỡ của một con tàu! Mời các bạn đón đọc .Hai Năm Trên Hoang Đảo của tác giả Jules Verne & Đinh Khắc Phách (dịch)
Bóng Tàu Ma
Reng... Reng... Reng... Tiếng chuông cửa reo vang. Ông Đốc gọi con: - Côn ơi, ra xem ai, con! Côn từ trên lầu chạy xuống. Tiếng khách vọng vào: - Ba có nhà không em? Côn lễ phép đáp: - Thưa thầy, có ạ! Mời thầy vào chơi. Côn dẫn khách vào phòng, ông Đốc đứng dậy bắt tay mời khách ngồi. Côn giới thiệu: - Thưa ba, đây là thầy Mạnh, giáo sư vạn vật ở trường con đó ba. - Hân hạnh được biết thầy – rồi ông quay sang Côn – Con vào rót nước mời thầy, con. Thầy Mạnh vào đề ngay: - Thưa ông bà, hôm nay tôi đến đây là để xin phép ông bà cho em Côn đi cắm trại ít bữa ở Đại Lãnh. - Ủa, thì ra thầy... Có, tôi có nghe thằng Phan nói lại như vậy. Nhưng... Vừa lúc ấy, Côn bưng nước ra: - Mời thầy xơi nước. Côn là con gái duy nhất của ông bà Đốc hiện ngụ tại một biệt thự xinh xắn tọa lạc trên đại lộ Duy Tân, trông thẳng ra bãi biển Nha thành thơ mộng. Tuy là con gái, nhưng Côn có bản tính nhanh nhẹn gan góc không kém con trai mấy. Nghe giáo sư Lê Mạnh đề cập đến vụ đi nghỉ hè, bọn trẻ ló đầu ra chờ kết quả. Thầy Mạnh nheo mắt ra hiệu: - Phan, Minh, An xuống rồi đấy hả? Ra đây các em. Bốn đứa trẻ ngồi quanh ông Đốc và giáo sư Mạnh. Phan, Minh, An là con của bà Liên, chị ruột của ông Đốc. Khi niên học sắp tàn, năm nào cũng vậy, Phan, Minh, An đều náo nức được đến biệt thự Thùy Dương, căn nhà của ông bà Đốc. Bà Liên sinh sống ở trên thành nhưng hàng ngày, ba đứa con vẫn đạp xe đạp xuống tỉnh học. Năm nay, bọn trẻ dự tính đi Đại Lãnh cắm trại nhưng xin mãi, ông bà Đốc vẫn nằng nặc không chấp thuận. May mắn thay, giáo sư Mạnh cũng cùng chí hướng nên ông cố nài: - Vâng, tôi biết ông bà không muốn để các cháu đi cắm trại xa quá, tại Đại Lãnh lận. Các em có nói lại với tôi. Tôi nghĩ đi một ngày đàng, học một sàng khôn, có tôi cùng đi kỳ này, các em không dám nghịch ngợm đâu. Ông Đốc cười nói: - Thầy nói thế chớ... Tụi nó nghịch dữ lắm, thầy không chịu nổi đâu – Ông nhìn Côn – Nhất là con Côn, con gái gì mà... bảo coi má làm bếp, chả chịu nghe gì cả. Bọn trẻ lo lắng chưa biết kết quả đi đến đâu. Thầy Mạnh tiếp: - Các em còn nhỏ cả mà, ông bà cứ để cho các em nô đùa. Các em học giỏi cả, tháng nào cũng xếp hạng cao, thế mà ông bà còn chê trách. Ông Đốc hớp một ngụm nước, hít một hơi thuốc, rồi thong thả nói: - Chúng tôi cũng muốn cho các cháu cùng đi với thầy. Nhưng... Côn van nài: - Ba, nhưng, nhưng hoài. Con đi mấy bữa, đâu có sao mà ba lo. Phan cũng vòi theo: - Cậu ừ đi cho rồi cậu! Ông Đốc nhìn bọn trẻ, ông cười: - Các cô các cậu nài dữ quá. Thôi được, tôi cho phép đấy. Bọn trẻ vui mừng ôm nhau cười ra nước mắt, con chó Tô Tô của Côn cũng nhảy cỡn lên sủa nho nhỏ. - Chúng em cám ơn thầy hết sức. Nhờ thầy chứ không... - Thôi, thế nhiệm vụ của tôi hoàn thành rồi nhé. Xin phép ông bà tôi về. Chủ nhật sau, tôi đón các em đi. Phan, Minh, An, Côn chuẩn bị nghe chưa, chủ nhật sau, thầy chở các em đi Đại Lãnh. Minh vỗ tay: - Vâng, chúng em sẽ lo đâu đấy trước. Thầy Mạnh leo lên xe rồ máy. Chiếc xe "cà tàng" giừn giựt mấy cái mới chịu lăn bánh. Mời các bạn đón đọc Bóng Tàu Ma của tác giả Hà Đức Nghi.
Bản Sao Không Hoàn Hảo
Một câu chuyện ngây ngô đáng yêu về hai cô nhóc dễ thương. Cứ tưởng chị em sẽ vui vẻ hòa thuận, nhưng hóa ra hai đứa lại như nước với lửa, cứ khều qua chọc lại nhau. Dù có bao nhiêu trò đùa kì quái đi nữa, nhưng thật ra họ lại thật sự yêu thương nhau. Mặc dù tính cách cực trái ngược nhau, đủ chuyện nhỏ to tranh giành nhưng đôi khi nhìn thấy đối phương lại cảm thấy cực kì thân thiết và có lẽ cả hai là người thân duy nhất thấu hiểu nhau. *** Hàn Băng Vũ tên thật là Vương Thị Bích Việt, sinh năm 1989, hiện đang sống cùng gia đình ở xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh. Năm 2006, Bích Việt thi đỗ vào Trường Đại học Hà Nội, khoa Tiếng Anh. Học được hai tháng, cô thi đỗ khoa Quan hệ công chúng tại một trường đại học danh tiếng ở Inđônêxia. Tháng 9 năm 2007, trong một dịp về nghỉ hè, cô theo bố từ Vân Đồn lên Hà Nội chơi. Trên đường trở về, một tai nạn giao thông thảm khốc đã giáng xuống đầu hai bố con. Bố mất ngay tại chỗ, còn cô thì thập tử nhất sinh, phải đi cấp cứu, sau đó gia đình đưa đi điều trị hết bệnh viện này đến bệnh viện khác và cuối cùng thì hậu quả để lại là đôi chân bị liệt hoàn toàn… Truyện ngắn đầu tiên Hàn Băng Vũ viết và gửi cho trang web radio online.com là truyện “Cho em khóc vì anh thêm lần nữa”. Ngay sau khi xuất hiện trên mạng, nó lập tức đã lọt vào trong top 20 truyện có số độc giả cao nhất. Tác phẩm: Không gì ngăn cách nổi tình yêu, Bản sao không hoàn hảo, Chỉ là yêu thôi mà, Cuộc đời thật hoàn hảo,... *** Trường tôi có một hotboy mới xuất hiện. Thực ra thì anh ta vẫn cứ sống ở đó hàng chục năm nay rồi, chỉ là anh ta mới được khai quật sau khi giành giải nhất cuộc thi tháng Olympia mà thôi. Nếu nói cho công bằng thì anh ta cũng chẳng đẹp trai lắm, chỉ là anh ta cao to và khác với những thằng con trai mọt sách khác ở chỗ anh ta không đeo hai cái đít chai ở mắt với mặt không có sủi cảo chứ cũng đen nhẻm đen nhèm, có đẹp đẽ gì đâu. Chỉ được cái sống mũi thẳng, trán cao, hàm răng trắng đều và nụ cười hơi duyên duyên một tí, đá bóng cực giỏi. Thế mà tự dưng sau một đêm, anh ta trở thành hotboy. Cả trường để ý tới anh ta, lũ con gái thì bàn tán, quan tâm xem anh ta có bồ chưa và lập kế hoạch cưa cẩm. Tất nhiên trong số đó không có tôi, tôi mà thèm quan tâm đến mấy anh chàng hotboy ấy à, mà tôi quan tâm thì cũng có được đâu, chẳng phải nhỏ Xuân Lan vẫn bảo tôi là thiểu năng đấy còn gì. Một trong số những người thích anh chàng hotboy có cái tên "nữ tính" Nhật Anh ấy là vật thể lạ sống trong nhà tôi. Tôi chẳng hiểu sao anh ta có điểm gì nổi bật, mà trong số một tá con trai theo đuổi nó, nó lại chọn anh ta trong khi anh ta hoàn toàn chẳng biết nó là ai. Người thích nó thì đẹp trai cũng có, vừa vừa cũng có, xấu tệ cũng có. Thông minh cũng có, học khá cũng có, dốt dốt cũng có, dốt đặc cũng có. Thế mà sao nó lại chọn anh ta? Có thể nó đang bị say nắng bởi cái vẻ chói lóa từ chiếc kỉ niệm chương Olympia và cái vòng nguyệt quế làm cho mê mẩn chăng? Hoặc có thể anh ta đã dụ dỗ nó ra căng tin và mua cho nó vài cái kẹo mút, hối lộ cho nó mấy ly kem vào giờ giải lao rồi chăng? Trời mới biết được... à mà tôi gần nó hơn trời, tôi không biết thì trời nào biết nữa. Nhưng tóm lại vẫn là nó đã để mắt tới anh chàng Nhật Anh hay Nhật Chị đấy. Dạo này nó thích chải chuốt, tết tóc hai bên hoặc buông xõa xuống, mặc váy và đi giày búp bê nhìn nữ tính. Động đất Nhật Bản ảnh hưởng tới tận Việt Nam chăng? Nó không chạy ầm ầm trong sân trường mà bẽn lẽn, rụt rè đi bên cạnh tôi. Bỗng dưng sao tôi thấy mình muốn độn thổ quá, sao cái gì nó cũng hơn tôi vậy ta? Lúc nó mặc quần Jeans, đi giày thể thao chạy nhảy hò hét, nhìn nó cá tính hơn tôi. Còn bây giờ nó mặc váy, đi giày búp bê sao nó cũng nữ tính hơn tôi nữa. Cái bóng đèn cao áp này quả là sáng lâu và sáng dai. Hay tại tôi thuộc cái loại dở dở không có tính cách rõ ràng nhỉ? - Nhật Anh! - Nó gọi lớn tên anh ta khi thấy anh ta chạy qua. - Hai bạn gọi mình à? - Anh ta tới gần, nở nụ cười tươi rói như quảng cáo Close up tự tin hơn gần nhau hơn. - Kìa, gọi anh ấy thì nói gì đi. - Nó huých tay tôi như thể tôi chính là thủ phạm trong việc dụ dỗ anh ta đến gần vậy. Tôi ấp úng, không nói được gì. - Chị em muốn làm quen với anh. - Cái giọng nó bẽn lẽn đến khó ưa. Mà... khoan đã, nó vừa gọi tôi là chị đấy sao? Sét nào vừa đánh từ tai trái qua tai phải thế nhỉ? Tôi quay cuồng, hóa đá ngay thời điểm đó. Tôi quay lại lừ mắt nhìn nó thì gặp cái nháy mắt đầy ẩn ý của nó đáp lại. - Em tên là gì? - Nụ cười anh ta nhìn hiền lành một cách điêu điêu. Tôi chẳng tin là anh ta hiền lành như thế đâu. - Chị em là Xuân Lan. Bí thư lớp Hóa 10a3 đấy. - Nó đẩy tôi nhích lên một bước. Trò đùa gì đây? Trao đổi danh xưng à? Tôi thề là lát nữa vào trong lớp, tôi sẽ bóp cổ nó. - Thì ra em là Xuân Lan. - Anh ta cười với tôi. - Còn đây là Lan Xuân hả? - Anh ta quay ra phía nó. - Anh biết tụi em hả? - Nó cười hí hửng, hình như quên mất cái vẻ nữ tính đang cố diễn nãy giờ. - Ừ, tất nhiên là biết rồi. Anh biết từ cuộc thi học sinh giỏi Hóa cấp tỉnh kì trước.Một người là Xuân Lan, còn một người Lan Xuân phải không? Cô gái nữ tính này chắc là Lan Xuân rồi Chờ mãi mà mặt đất chẳng nứt ra cho tôi giấu cái mặt đỏ bừng bừng, may mà đúng lúc đó tiếng trống vào lớp kéo bọn tôi ra khỏi anh ta. Nó còn quay lại vẫy tay tạm biệt như thể đã quen từ lâu lắm. - Chị bị khùng đấy hả? - Tôi hỏi nó. - Ừ, đang khùng đây. - Cái mặt nó nhơn nhơn. - Cho làm chị thêm một lần không thích à? Từ nay trước mặt Nhật Anh, cho mày đóng vai Xuân Lan vô cùng thông minh và xinh đẹp. Còn để chị mày đóng vai Lan Xuân, một con bé thiểu năng và ngây ngô. - Nó lại cười ha hả bằng cái giọng đáng ghét. Tôi nhéo vào hông nó, đập thêm một cái vào lưng kèm theo một từ "điên" rồi lầm bầm lôi sách ra ôn bài, không bận tâm về cái trò đùa của nó, chắc một phút xuất thần nào đó nó nghĩ ra rồi cũng sẽ quên luôn. Nó vẫn thường hay nghĩ ra những trò đùa nào đó mang "tầm chiến lược" nhưng rồi lại quên béng đi trước khi thực hiện. Cuối giờ học, tôi thấy cái tên Nhật Chị đó với một lũ con gái vây quanh ngoài cổng trường, tôi muốn lờ đi thì nó kéo tôi lại gần, vờ đi ngang qua mặt mà làm ngơ. Nó cúi mặt vào vai tôi cười khúc khích. - Cười cái gì đấy? - Tôi giống như con nai vàng ngơ ngàng, hỏi một cụ cáo già dù là đang sợ hãi con cáo già này sẽ ăn thịt mình bất cứ lúc nào. - Nhật Anh đang để ý. - Tiếng cười của nó càng rõ ràng. - Đừng quay đầu lại. Nó nhéo tay tôi khi tôi tò mò quay lại sau lưng theo phản xạ. - Nàng ơi! Nàng định ăn thịt hay lột da tôi thì nàng nói luôn cho tôi nhờ. Cứ như thế này tôi đau tim chết mất thôi. - Cứ để yên rồi sẽ biết. Hôm đó, anh chàng hotboy cùng chúng tôi về. Nó ngồi sau xe tôi, im thin thít không nói một câu nào. Anh chàng kia có hỏi câu nào thì nó cũng nhéo hông tôi để tôi trả lời. Bây giờ tôi mới biết mỗi lần đi cùng tôi, cái miệng nó mỏi mệt như thế nào. Về đến nhà, tôi lôi cổ nó vào phòng rồi hỏi một cách bực bội: - Nàng định cho tôi làm Xuân Lan thông minh xinh đẹp hay định cho tôi làm cáo già chín đuôi đấy hả? Tự nhiên bắt người ta đóng giả mình là sao? - Tôi tức giận. - Theo một nguồn tin mật, - nó cười lém lỉnh - thì chàng thích người nhu mì, nữ tính và giỏi nấu ăn. - Thế thì sao? - Thế mà còn phải hỏi à? Người có bề ngoài nhu mì, nữ tính, giỏi nấu ăn và ngây thơ vô số tội còn ai vào đây nữa. Là Vũ Ngọc Lan Xuân chứ có phải là Vũ Ngọc Xuân Lan đâu. Thôi, cho chị mượn tạm cái tên nhá. Cưa đổ thì chị khao một chầu kem. - Một tháng tiền tiêu vặt. Hai quyển truyện Harry Porter. Và một chầu kem ăn thoải mái. - Tôi ra giá. - Mà giả vờ im thin thít thế thì gọi là nữ tính à? - Tôi há hốc miệng hỏi nó. - Yên tâm. Có chiến thuật cả rồi. - Nó vỗ vai tôi rồi đi vào phòng đóng sầm cửa lại. Trong khi tôi vẫn mải há hốc miệng thì nó đã khóa chặt cửa ở trong phòng mà quên béng mất việc nó đang trốn dọn cơm thì tôi mới hét toáng lên. Nhưng cũng vô ích, nó luôn nhanh hơn tôi một bước. - Tối nay sinh nhật Hiếu lớp Sinh, đi nhá. - Nó nói với tôi như ra lệnh. - Không đi. Sao em phải đi? - Tôi ngoặc lại nó, vẫn còn ấm ức chuyện về Nhật Anh - Lệnh của tổng cục đấy. Quyết định rồi. Phải đi. - Nó lì lợm, giọng như thủ trưởng nói với cấp dưới. - Em không đi. Làm gì được em? - Tôi vênh váo nhìn nó. - Không đi cũng được. Nhưng ai không đi người ấy thiệt thôi. - Nó thản nhiên không quay lại nhìn tôi, vẫn mải sơn móng tay bằng cái màu đỏ chóe như vừa ăn thịt người. - Thiệt cái gì? - Tôi lại ngơ ngác như con nai vàng trước nó. - Nhật kí của em đâu? Em mà không đi, chị cho cả trường đọc. - Cái giọng nó thản nhiên đáng ghét. Sau một hồi lục tung giường chiếu, chăn màn, tôi phụng phịu: - Cái này là ép buộc nhau hả? - Ai ép buộc đâu. Tự do của mỗi người hơn mà. Đứa nào khôn, đứa đấy thắng. Tôi tức muốn trào nước mắt, mở tủ quần áo, lôi cái quần Jeans nó thích nhất ra đe dọa: - Chị mà không trả em, em cắt cái quần này của chị ra đấy. - Mặt tôi hằm hằm nhìn nó như kẻ thù muôn kiếp. Mời các bạn đón đọc Bản Sao Không Hoàn Hảo của tác giả Hàn Băng Vũ.
Thề Non Nước
TIẾNG ĐÀN XUÂN : Một cuốn sách xuân đặc-biệt, in rất mỹ-thuật, phụ thêm nhiều tranh ảnh của những họa-sĩ có tiếng. Ngoài thơ, ca tiểu-thuyết còn có « thuốc nuôi xuân » dâm rượu bổ sức, cùng bùa-chú, thần-tiên pháp-thuật dạy người ta tàng hình, dùng sức thiêng-liêng cho nhân-tình yêu, thăng quan, phát tài. Chuyện là như những cuộc đấu xảo cười, đấu xảo khảo, đấu xảo chết, nhà xéc ho, v.v… do toàn những tay danh bút như Nguyễn-mạnh-Bổng, Mai-đăng-Đệ, Trịnh-đình-Dư, Vũ-duy-Thiện, Nguyễn-tiếng-Lãng, Nguyễn-Tố, Trần-văn-Huy, Nguyễn-xuân-Ngoạn, Tạ-mạnh-Khải, Nguyễn-văn-Phúc, Ái-Liên, Lê-thục-Nữ, v.v… Dày 80 trang, Giá 0p.28 một cuốn mỹ-thuật. RỪNG XANH MÁ PHẤN : Một bộ trinh-thám rất mới, rất hoạt-động vai chủ-động là một bọn thanh-niên Việt-Nam cấp tiến, đau-khổ, uất-ức vì bị cướp mất nguồn sống, gây nên một cuộc biến-đổi giữa chốn rừng xanh làm tiêu-bểu cho tất cả hủ-bại của ngàn xưa. Dày hơn trăm trang. Giá 0p.80. LY-DỊ : Ông Lê-Thanh, một phê bình gia có tài nhận xét đã vạch cho ta thấy rõ trong cuốn này những đau-khổ ngấm-ngầm của những đôi vợ chồng không thể yêu nhau, phải coi gia-đình như nấm mộ, coi những ngày chung sống như nỗi buồn-đau nhất. Giá 0p.45. Hỏi nhà xuất-bản Hương-Sơn 97, Hàng Bông, Hà-nội, mỗi cuốn thêm 0p.08 cước gửi thường, thêm 0p.40 gửi lĩnh hóa giao ngân, mỗi cuốn sau thêm 0p.04. Trả tiền bằng tem thư cũng được. *** Vân-Anh, một mình đứng giữa sân, nhìn lên giăng mà xem, thấy những đám mây bay tán-loạn thường che mờ cả mặt giăng. Cái cảm-hoài vô-hạn, bị cảnh đó khêu động, vụt nghĩ thân-thế con người ta, nhiều người bổn-lĩnh thật là quang-sáng mà phải những cảnh-ngộ ác-nghiệp làm cho đến u-âm sầu-thảm khác gì mặt giăng vốn trong sáng mà có khi phải luồn những đám mây vô-lại kia, bỗng lại nghĩ thân-thế của người ta có khi thật như đám mây bay tán-loạn, bầu giời vô-hạn, biết đâu là chỗ về. Đương nhàn-tưởng bồi-hồi, chợt nghe đồng-hồ nhà bên cạnh đã đánh mười một tiếng ; trong nhà, mẹ già gọi vào để bóp trán. Vừa quay mình vào thời thấy một người khách đến chơi. Vân-Anh mời vào. Uống nước xong, khách bảo làm cháo ăn và nói không phải gọi ai cả. Vân-Anh khi ấy xuống bếp mổ gà với đứa ở. Khách ngồi một mình, trông nhà có hai gian bằng tre, chỗ ngồi uống nước đó kê một đôi trường-kỷ tre, một cái án-thư, bên trong còn có một cái tủ chè bằng gỗ tạp ; một gian bên thời có hai cái giường kê liền nhau, cũng có hai cái chiếu cạp đỏ đã cũ, bên giường trong có mắc một cái màn trắng cũ và vá. Cách một bức phên chắn, còn một gian nhà nữa thời nghe có tiếng bà cụ già thường ho-hắng, như có ý mệt. Khách ngồi buồn, tự nghĩ một mình rằng : vào chơi nhà cô đầu, quang-cảnh thế này nghĩ thật buồn, song cũng tiện cho mình được ngủ qua một tối rồi mai đi ; lại nghĩ như người ả-đầu đó, trông cũng xinh-xắn và cũng phong-cách, sao không được có đông khách hát mà ăn ở bần-tiện đến như thế. Một lúc đã thấy bưng cháo lên thời một con ở ăn-mặc cũng rách-rưới. Vân-Anh lên lấy rượu, ngồi rót mời khách uống. Khách hỏi bên gian buồng trong có tiếng bà cụ già là ai. Vân-Anh nói là mẹ đẻ, mấy hôm vẫn nhọc mệt. Khách giục Vân-Anh vào xem bà cụ có bảo gì, mặc mình tự uống rượu không cần phải ngồi tiếp, Vân-Anh chạy vào qua, rồi lại ra, lên ngồi kề gần khách, múc thìa rượu, vừa cười vừa mời uống. Khách lấy tay gạt đi, rồi cứ cầm chén uống tự-nhiên, như quên mình là ngồi ở nhà cô đầu vậy. Vân-Anh nghĩ cũng lấy làm lạ, ngồi có ý ngắm nhận người khách, ăn-mặc thời nhũn-nhặn mà vẻ mặt rất lanh-lợi điều riêng gì. Suốt bữa rượu ấy, ngoài sự ăn uống, không có câu chuyện gì cả. Rượu xong, khách đi ngủ, đến sáng dậy, chi tiền rồi đi. Cách chừng một tuần-lễ nhà Vân-Anh lại có khách uống rượu, tức là người khách uống rượu cách một tuần lễ trước, mà bận này đến lại có mang một cái va-ly. Hôm ấy giời hơi mưa, trong lúc uống rượu, khách lại tự uống một mình mà uống tất bằng chén, Vân-Anh nghĩ lại lấy làm buồn cười. Một lúc, có người nhà cô-đầu khác đến gọi Vân-Anh đi mời rượu, Vân-Anh xin phép đi. Khách chỉ tự-nhiên mặc lòng. Hôm ấy bà cụ đã khỏi mệt, sau lúc Vân-Anh đi mời rượu, ra ngồi chơi ở trường-kỷ uống nước. Khách nhân hỏi chuyện về Vân-Anh. Bà cụ nói : « Con bé nhà tôi, tên nó là Vân-Anh, vẫn gọi là cái Vân. Từ bé cháu có học chữ nho, cũng đã biết làm thơ ». Bà cụ ngồi chơi một lát, rồi vào buồng nằm nghỉ. Khách lại tự uống rượu một mình. Khoảng hơn mười hai giờ, giời mưa to, Vân-Anh về, đã loáng-choáng say rượu. Khách ở nhà, uống cũng đã say. Vân-Anh lại ngồi bên, rót rượu mời uống. Khách cười, nói rằng : « Mời rượu thời phải có hãm chứ ? » Vân-Anh : « Hãm câu gì ? » - Chỉ muốn nghe một câu hãm bằng chữ nho. - Ai biết chữ nho mà hãm ; cũng chẳng thấy ai hãm bằng chữ nho bao giờ. - Không ai hãm bao giờ mà bây giờ hãm, thế nó mới « mới ». - Khốn như tôi không biết. - Tôi biết rằng chị biết. - Ô hay, cứ buộc vào người ta. - Thôi, hãm đi. - Thế ông đặt đi cho một câu. - Ai hãm thời người ấy phải đặt lấy, nhờ người đặt hộ thời còn có thú gì nữa ! - Tôi đặt lấy thời không biết có nghe được không. - Hãy cứ hãm đi, nghe được hay không, mặc người ta. Vân-Anh vừa mỉm cười, vừa nghĩ. Khách cũng cười mà cất chén uống rượu để đợi nghe. Vân-Anh nghĩ đã xong, rót chén rượu mời, hãm rằng : 鷄鳴風雨瀟瀟天涯遊子 藍橋神仙好惡姻缘 « Kê minh, phong vũ tiêu-tiêu ; Thiên-nhai du-tử, Lam-kiều thần-tiên Hảo, ác nhân-duyên ? » Khách nghe, thần-hồn như phiêu-động ; cạn chén, hỏi Vân-Anh rằng : « Thế trước chị học chữ nho được bao năm ? » - Tôi học từ năm lên sáu, đến năm mười sáu tuổi thời thôi. - Chị học ra làm sao ? - Cũng học đấy thôi, chẳng biết nó ra làm sao cả. - Trong lúc học, chị có tập làm văn, làm thơ gì không ? - Cũng có làm thơ cùng những câu đề vịnh lảm-nhảm. - Các bài của chị làm ra từ khi trước, bây giờ có bài nào còn giữ lại hay còn nhớ không ? - Kể mất đi cũng nhiều, nhưng tôi cũng giữ được một ít, vẫn cuộn để ở trong hòm, những lúc nào buồn quá thời lại giở ra xem chơi một mình. - Bây giờ chị thử lấy ra đây xem. Vân-Anh đi mở hòm, lấy cuốn văn ra. Ông khách giở xem, thấy cũng có nhiều bài thông lắm. Xem đến bài vịnh lĩnh-mai 嶺梅 có hai câu rằng : 含精不向東風笑 獨伴青松蹅雪遊 « Hàm tinh bất hướng đông-phong tiếu, Độc bạn thanh-tùng đạp tuyết du ». Nghĩ như hai câu này thời thật có phong-diệu, cốt-cách, mà tự người làm thơ cũng không đáng trụy thân vào trong đám binh-khang. Khách xem hết các bài văn thơ chữ nho, lại hỏi về văn quốc-âm. Vân-Anh đọc một bài « vịnh sen hồ Hoàn-kiếm » rằng : « Hồ Gươm, sen mới ra hoa, Cả hương, cả sắc, ai là không chơi. Sen tàn, lá rách tả-tơi, Quanh hồ lai vãng ai người tiếc-thương, Nước hồ sen đứng soi gương, Còn đâu là sắc lá hương với đời, Tủi thân sen lại giận giời, Cho chi hương sắc ? cho người trọng khinh ! » Khách nói : « Văn cũng hay, nhưng sao đặt đến buồn quá thế ! » Vân-Anh : « Bài này tôi mới làm. Trong lúc buồn có làm ra vui thế nào được ». Khách ngậm-ngùi một lúc rồi nói rằng : « Nghĩ như chị, người như thế, tài-hoa như thế, mà sao không thấy nổi tiếng ? Chắc lại cũng không được đông khách hát, cho nên trong nhà ở cũng có ý cẩu-thả ». Vân-Anh đến lúc ấy lại buồn lắm, giả nhời khách rằng : « Ông nghĩ cho như vậy, chớ như tôi thời còn có gì mà nổi tiếng. Cứ về bên chữ nho bây giờ, đến như ông Nghè, ông Cử, cũng còn nhiều ông chẳng có vinh-hiển gì ; huống hồ là một người cô-đầu biết đôi ba câu thơ, còn lấy gì làm có giá được. Từ khi tôi ra hát đến nay, hôm nay mới thấy có ông hỏi đến là một. Những cái sự ấy bây giờ đã không ai coi ra gì, nhà ở lại lụp-sụp rơm rác, cũng chẳng có mấy người buồn đến, thỉnh thoảng mới có một vài ông khách đến ăn cháo, còn thời chỉ là đi hát mảnh, lại cũng không khéo chiều quan viên, như thế tài nào mà không phải chịu bần-tiện ? » Lúc ấy đã đến hơn bốn giờ sáng, khách bảo xếp bỏ rượu để đi ngủ. Vân-Anh buông màn cho khách ngủ, rồi vào trong nhà với mẹ. Ngày mai, giời mưa dầm mãi từ sáng cho đến chiều. Lúc người khách ngủ dậy thời vào khoảng chín, mười giờ. Nguyên ý người khách đến uống rượu bận ấy, hoặc định ngủ một tối rồi sáng hôm sau đi đâu thời không biết ; nhân có một đêm nói chuyện, cái cảm tình đối với Vân-Anh thực thương tiếc vô hạn. Lại nhân hôm ấy giời mưa dầm, cho nên thánh ra lại giữ khách ở lại. Mười giờ hơn, Vân-Anh nói cùng khách xin để làm cơm sáng ăn, khách cũng ừ nhưng không có đưa tiền. Trong nhà Vân-Anh từ tối hôm trước chỉ còn có một con gà thời đã làm rượu rồi mà cũng phải vay thêm đồ ăn mới đủ dọn ; đến lúc ấy không biết làm thế nào, nghĩ người khách đi lại chưa thân, cũng không tiện ra hỏi. Hai mẹ con ra vào thì thầm bàn cùng nhau, khách cũng hiểu tinh ý, nhưng cứ tự nhiên như không biết, chỉ nằm xem những bài thơ văn của Vân-Anh, rồi lại mở va-li ra, lấy giấy bút để viết. Độ 12 giờ hơn, thấy có cơm bưng lên, cũng lịch-sự. Khách bảo Vân-Anh mời cả bà cụ ra cùng ăn cơm, nhưng bà cụ xin từ chối. Bữa ấy hai người cùng ngồi uống rượu ; ngoài bức mành thưa, giời vừa mưa vừa gió, những người đi ngoài đường thật là lận-lội mà trong chỗ mâm rượu thời một người du-tử ngồi đối một mỹ-nhân cùng thù tạc, đàm-đạo những nhân tình thế cố cùng là sự làm văn làm thơ. Khách tuy không phải là người say đắm ở nơi bình-khang, nhưng lúc ấy bất-giác cũng cao hứng. Đương lúc tửu-hứng, Vân-Anh nói rằng : « Tôi có một bức tranh sơn-thủy, là của gia-bảo, vẫn cuộn để trong hòm, thường muốn đề một bài quốc-văn mà nghĩ lại không xứng ; nay không mấy khi được gặp cao-nhân, xin hạ bút đề cho một bài, thực là quí hóa quá ». Khách nói : « Sự đề vịnh nguyên đã không dễ, lại đề vào một bức họa trân-trọng thời thực không dám nhận ; nhưng chị thử lấy cho xem thời hay lắm ». Vân-Anh đi mở hòm lấy bức tranh đem ra, khách giở xem, thực là một bức cổ-họa. Trông khoảng trên có đề ba chữ triện, không hiểu là chữ gì. Vân-Anh nói đây là chữ nôm Khách nhận ra thời là ba chữ « THỀ NON NƯỚC » Vân-Anh nói : « Cứ ba chữ này, nguyên nghĩa thường thời là chỉ non thề nước ; đề vào đây thời là làm sao ? » Khách nghĩ một lúc, rồi nói : « Đây hoặc là người ta mượn câu sẵn mà khiến về nghĩa riêng. Ba chữ đề đây, phải nhận nghĩa là non với nước, hai cái thề với nhau. Như thế, có nhẽ mới hợp ý bức họa ». Vân : « Dẫu nhận là như thế, nhưng đây chỉ vẽ một dẫy núi, còn không thấy sông nước gì cả lấy gì làm hai cái thề với nhau ? » Khách : « Đây dẫu không có vẽ sông nước, nhưng nhận kỹ một ngàn dâu ở chân núi này, ý tức là sông nước khi xưa mà tang-thương đã biến-đổi ». Vân : « Dẫu nhận cho là như thế nhưng lấy gì làm thề ? » Khách : « Nguyên bức họa này, ý chỉ là một bức tang-thương, cho nên ở dưới vẽ một ngàn dâu tựa như thế khúc sông ; trên núi thời như mây, như tuyết, như mấy cây mai già, như bóng tà-dương, đều là để tả cái tình-cảnh thê-thảm. Bởi thế cho nên ba chữ đề này, dẫu là lấy câu sẵn mà đề vào, song thực tỏ ra được cái tình thương nhớ của dẫy núi tức là vì dẫy núi mà cảm nỗi tang-thương. Bây giờ tất cứ trong bức họa mà muốn tìm cho ra thế nào là thề, như thế thời nệ vì chữ đề mà hại đến nguyên ý của bức họa ». Vân : « Vậy thế bây giờ muốn đề một bài thời thế nào là phải ? » Khách : « Bây giờ nếu muốn đề một bài phải nên trông vào bức họa, mà lại lấy ba chữ đó làm đầu đề. Chú-trọng vào một chữ non, lấy chữ non làm chủ, vì rằng non đó thực là chủ-trương trong bức họa mà lại có ở trong đề ; còn chữ thề với chữ nước thời trong họa không có mà trong đề có, cũng phải nhận như có mà chỉ nên nói nhẹ như không, vì là thề thời về sự đã qua mà nước thời không trông thấy ở đó. Nghĩa như thế, hoặc có phải chẳng ? » Mời các bạn đón đọc Thề Non Nước của tác giả Tản Đà.