Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Săn Học Bổng

Cuốn sách này chia sẻ với bạn mọi thứ, từ việc chuẩn bị, lên kế hoạch cho đến sử dụng sách vở và tài liệu cho các kỳ thi tiếng Anh. Tác giả Vương Quyên cũng chia sẻ tất cả phương pháp và đường hướng học tiếng Anh cũng như những thất bại và thành công trong việc nỗ lực  để nâng cao năng lực tiếng Anh của cô - từ lúc còn là một cô bé không biết gì về tiếng Anh đến lúc gặt hái được những thành quả đáng kể. Và hơn thế, Vương Quyên cũng chia sẻ cảm nhận của cô về cuộc đời những lúc cô xuống dốc, băn khoăn, đơn độc hay dao động; chia sẻ quan niệm, suy nghĩ của cá nhân cô liên quan đến sự kiên trì, phấn đấu, ước mơ và cả những gì cô gái trẻ học được, chiêm nghiệm được trên đường đời của mình. Về phương diện học tiếng Anh, trong cuốn sách này không có những câu giáo điều, càng không có những câu ra yêu cầu bạn “phải” thế này hay bạn “phải” thế kia, chỉ có những chia sẻ gần gũi, giản đơn. Phương pháp học tập cũng giống như quan điểm nhìn nhận sự vật, mỗi người đều có một cách nhìn riêng về một sự vật nào đó. Nếu bạn cảm thấy phương pháp học tập này phù hợp với bạn, cuốn sách chắc hẳn sẽ rất có ích cho bạn; còn nếu bạn có thể "gạn đục khơi trong", chọn lọc ra phương pháp học tập phù hợp với bạn từ những điều trong sách, như vậy cuốn sách cũng đã thật sự đạt được tác dụng “thả con săn sắt, bắt con cá rô”, đồng thời thể hiện được giá trị của nó. Đây là cuốn sách về phương pháp học tiếng Anh bán chạy nhất Trung Quốc cho đến nay. *** Vương Quyên tên thân mật là Koala Xiaowu. Đã tốt nghiệp thạc sĩ trường Đại học Washington. Hiện đang sinh sống ở thành phố Saint Louis, tiểu bang Missouri, nước Mỹ. Lời bìa phụ trước: Một cuốn sách giản dị và sáng trong nhưng chứa đựng những điều mà bất cứ bạn trẻ nào cũng tìm kiếm. Cuốn sách chia sẻ cho bạn những kinh nghiệm học tiếng Anh và “săn học bổng”, nhưng trên tất cả, nó kể cho bạn nghe về ƯỚC MƠ. Lời bìa phụ sau: “Bạn muốn biết mùi vị của quả lê như thế nào? Vậy bạn hãy tự mình nếm thử.” Tìm mục tiêu cũng vậy. Khi bạn không biết mình thích điều gì thì hãy can đảm thử nghiệm. Tuổi trẻ không sợ thất bại, ngã rồi lại phủi bụi đứng lên. Kì thực, thất bại không đáng sợ, vấp ngã không đáng sợ, nhụt chí không đáng sợ, hèn nhát không đáng sợ, lười biếng không đáng sợ, lạc đường không đáng sợ! Điều đáng sợ nhất là bạn đánh mất trái tim dám theo đuổi ước mơ. *** Cuốn sách là tự truyện của tác giả kể về quá trình trưởng thành trong học tập cũng như cách nhìn nhận về thế giới xung quanh, về cuộc đời của chính bản thân mình trong suốt mười mấy năm trời dài đằng đẳng. Có lẽ đối với nhiều người người thì thể loại này có thể không còn mới mẻ nữa. Tuy nhiên, sẽ không có con đường nào giống con đường nào, sẽ không có áp lực nào giống áp nào và nếu có giống thì bạn có dám chắc chắn rằng nó cũng diễn ra trong cùng một thời điểm như nhau?  “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông.” (Heraclitus – nhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện chứng). Và tác phẩm này cũng không ngoại lệ, nó mang những nét đặc trưng riêng biệt như những thước phim trải dài qua từng giai đoạn từ lúc tác giả còn là một cô bé đến khi nhận thức được bản thân mình phải cố gắng “tôi luôn cảm thấy không cam lòng, luôn cảm thấy cuộc sống không nên dừng lại ở đây, luôn cảm thấy mình chỉ có một lần được sống, không nên đi theo dấu chân người khác, cảm thấy mình nên để lại những dấu ấn riêng trong cuộc đời của mình, để lại những dấu ấn ngoạn mục, đáng nhớ, đáng thán phục, để đến khi chuẩn bị rời xa thế giới này, ít ra trong lòng tôi cũng không có gì để hối tiếc.” Một câu chuyện về sự ham chơi và cái giá phải trả thì không hề nhỏ: “Bạn có thể ham chơi, nhưng nên nhớ, bạn sẽ phải trả giá cho việc ham chơi ấy. Bạn muốn có được thứ này thì phải mất thứ kia. Ông trời công bằng không cho ai tất cả. Cái gọi là chèo thuyền ngược dòng, không tiến ắt lùi, chính là nói bạn ham chơi trong lúc người khác đều đang phấn đấu, thì sẽ bị thụt lùi phía sau.” Một câu chuyện về những ước mơ qua từng giai đoạn của cuộc đời, về sự bình đẳng ước mơ giữa mỗi con người: “Cho dù bạn từ đâu tới, cho dù bạn bình thường như thế nào đi nữa, thì với ước mơ, tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau. Cho dù bạn cảm thấy bản thân mình nhỏ bé nhường nào, bạn vẫn có quyền theo đuổi ước mơ cao quý. Chỉ khi dám ước mơ, bạn mới có cơ hội thực hiện được điều mình mơ ước bằng chính sự nỗ lực của bạn. Nếu như ngay cả ước mơ bạn cũng chẳng dám nghĩ tới, vậy thì chẳng phải là bạn không có mảy may xác xuất thành công nào ư?” Một câu chuyện về bài học nỗ lực không ngừng nghỉ trong mọi hoàn cảnh, mọi thử thách: “Đời người cần phải phấn đấu, gặp hoàn cảnh thuận lợi cũng phải phấn đấu, gặp hoàn cảnh đối nghịch cần phải phấn đấu nhiều hơn.” “Tôi cần phải kiên cường, vượt qua thất bại, một lần không được thì thử lần thứ hai, hai lần không được thì thử lần thứ ba, chỉ cần tiếp tục kiên trì tôi sẽ từ từ tiến bộ qua thời gian tích luỹ.” Và còn rất nhiều những kinh nghiệm quí báu, những cuộc hành trình đầy gian khó vượt qua chính bản thân mình,… đặc biệt nổi bật lên xuyên suốt quyển sách là những lời khuyên hữu ích, cách thức và phương pháp hiệu quả trong việc học Tiếng Anh được đúc kết từ chính bản thân tác giả. Tất cả đã được cô đọng lại và chất chứa tinh tế trong từng câu, từng chữ, từng trang giấy của quyển sách “SĂN HỌC BỔNG – Đích đến của tôi PHẢI là nước Mỹ” của một tác giả trẻ tuổi người Trung Quốc nhưng hầu như không còn xa lạ đối với các độc giả Việt Nam – Vương Quyên. Học Tiếng Anh để rửa mối hận "bác cả năm" Quyển sách ở những trang đầu tiên hiện lên là một cô bé tên Diễm Diễm được bố mẹ gửi gắm cả một tương lai tươi sáng và đẹp đẽ. Nhưng mọi việc lại đi theo chiều ngược lại với cái tên xinh đẹp ấy cả về ngoại hình lẫn tính cách “lông mày ngang, tóc ngắn, người gầy nhom như con khỉ”, “chưa từng mặc váy”, “hoạt động trong phòng, trên cây, cánh cửa sắt ngoài cổng nhà” và ước mơ của cô gái nhỏ là trở thành“nữ trinh sát, phi hành gia, nữ hiệp khách”. Điều đặc biệt là chưa bao giờ cô nghĩ đến việc mình sẽ trở thành một bậc thầy ngôn ngữ Tiếng Anh. Tất cả mọi chuyện cứ tưởng như êm đềm trôi qua như thế trong cuộc sống của Diễm Diễm. Thế nhưng, có một sự việc đã thay đổi những ngày tháng tuổi thơ bình yên ấy đó là vào năm lớp ba có một môn học bắt đầu thường xuyên xuất hiện trên lịch học của cô - Tiếng Anh. Với ý nghĩ non nớt của một đứa trẻ là bản thân không đến nước Anh, cũng không nói chuyện với người Anh thì tại sao lại phải học Tiếng Anh đã đưa đẩy cô gái nhỏ đến với những lơ đễnh, những phân tâm cũng như là những rắc rối, những pha hài hước trong các bài kiểm tra ở trường. Không cần suy nghĩ nhiều cũng đủ biết, bởi vì không có động lực học tập cho nên thành tích của cô bé rất tệ và thế là một lời thề ngầm được đặt ra “Từ nay về sau không bao giờ thèm động vào Tiếng Anh nữa.” Với thành tích học tập ngày một xuống dốc mẹ Diễm Diễm đã đăng kí cho cô đi học thêm. Cô bé đi học trong một thái độ vô cùng miễn cưỡng nhưng chính nơi đó, chính cô giáo ở lớp dạy thêm đó, chính phương pháp giảng dạy đó đã đưa Tiếng Anh lại gần với Diễm Diễm hơn, giúp cô có một số thành tích khá nổi bật ở lớp và đây cũng đánh dấu bước ngoặc đầu tiên trên con đường học vấn của cô. Cái giá phải trả Bước sang những ngày tháng ở trường cấp II, được học dưới sự dẫn dắt của cô giáo chủ nhiệm là giáo viên Tiếng Anh đã đưa ra phương pháp học từ vựng đặc biệt mà tác giả đã đề cập đến là Fifty times.Điều này giúp cô rèn luyện được tính nhẫn nại và không còn mắc lỗi viết sai từ vựng nữa. Trong những năm học ở đây, tác giả cũng tìm ra cho mình phương pháp học Tiếng Anh hiệu quả khác “Tôi có thể cải thiện kỹ năng phát âm Tiếng Anh của mình bằng cách bắt chước phát âm của người khác.” Và theo nhận xét về chính bản thân mình thì “tôi là người có được chút thành tựu thì không còn biết trời cao đất dày là gì, học được một chút chữ nghĩa đã cho rằng mình nắm vững tất cả.” Chính tâm tưởng đó đã đưa Diễm Diễm trượt dài trong nước mắt ở kì thi chuyển trường đầu tiên vì chỉ mãi quan tâm đến mỗi Tiếng Anh nhưng thành tích chẳng có gì xuất sắc vì “hàm lượng vàng không cao” còn các môn học khác thì cô cũng đã bỏ mặc. Giây phút này, tôi đã hiểu ra May mắn thay bố mẹ cô cũng tìm được cho cô một ngôi trường cấp III mới dưới hình thức nội trú và những năm tháng tiếp theo của tác giả bắt đầu với lời hứa vô cùng chắc nịch “Con nhất định sẽ học giỏi hơn mỗi ngày, con nhất định sẽ không thua kém bạn bè.” Lời hứa đó đã không được thực hiện bởi sau ngày khai giảng khoảng một tháng Diễm Diễm đã trở về với trạng thái chán chường, mất đi năng lượng như trước đây không tập trung vào học tập mà “chỉ buôn chuyện, chơi bài với bạn bè, chơi game online, xem phim Hàn Quốc,…” Lo lắng cho đứa con gái nhỏ bé của mình, bố mẹ Diễm Diễm đã chuyển trường cho cô với hi vọng cô có thể học hành tốt hơn. Nhưng vì không thích ứng được với áp lực học tập quá cao độ ở ngôi trường mới chuyển đến nên cách duy nhất mà cô có thể đối mặt là chạy trốn nó cùng với người bạn thân Tiểu Di Tử. Và rồi lịch sử của ba năm trước lại tái diễn khi hầu như tất cả bạn bè cùng lớp của cô thậm chí là ngay cả cô bạn thân cũng đi đến những đại học ở các thành phố hoa lệ như Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, Đại học Phúc Đán,… để chắp thêm kiến thức bay cao ước mơ của bản thân thì cô ở lại thành phố phía Bắc, tiếp tục cuộc sống vô vị, tẻ nhạt do không có mục tiêu và sức sống. Đây là bước ngoặc thứ hai và có thể nói là bước ngoặc quan trọng chủ chốt đưa cuộc đời tác giả sang một giai đoạn mới - “tỉnh ngộ và vùng dậy mạnh mẽ” Sự phấn đấu của tôi Con đường nỗ lực phấn đấu, quyết tâm cao độ của tác giả được thể hiện rõ nét nhất ở những năm học đại học ở thành phố phương Bắc cũng chính nơi đây đã tiếp thêm động lực cho tác giả mà sau này khi nghĩ tới cô vẫn còn thấy cảm kích là “Gặp được thầy tốt và bạn hiền.” để rồi từ đó tạo thành một bước đệm đưa tác giả đi cao và đi xa hơn vượt lên chính bản thân mình. Người thầy của Diễm Diễm đã truyền vô số động lực học tập mà một trong số đó là “Dù hoàn cảnh của các bạn như thế nào, thì các bạn cũng cần có dũng khí kiên trì đi tới ước mơ của mình, vì chỉ cần kiên trì chịu khổ, dũng cảm kiên trì, mỗi người đều có khả năng thành công.” Hay câu trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào để học giỏi Tiếng Anh?” là “Làm việc cần làm và kiên trì đến cùng.” Tác giả tự nhận mình may mắn khi tìm được cô bạn có cái tên gọi khá dễ thương và ngộ nghĩnhCá Béo Ướp Muối - người có thể nói là cùng cô “đồng cam cộng khổ” trong các giờ tự học, trong các bài tập khó nhằn nhất và cả hai cùng nhau tìm ra những phương pháp học từ vựng, luyện viết, nói Tiếng Anh hiệu quả của bản thân rồi chia sẻ cho đối phương để cả hai cùng tiến bộ. Đặc biệt là bí quyết nắm được một trăm từ vựng mỗi ngày cho đến khi chỉ cần ba giờ để nhớ hết được chúng. Tiếp theo đó là cách mà tác giả cùng cô bạn thân áp dụng các từ vựng vào bài nói của mình từ lời tiếp sức của cô giáo Trịnh “Không có đường tắt giúp nâng cao kỹ năng nói, các bạn chỉ còn cách mở miệng nói thôi.” Cũng chính những năm đầu đại học này, con ếch đã được đổi từ một cái giếng nhỏ sang một cái giếng to hơn khi quyết định đăng kí học luyện nói tại Tập đoàn Công nghệ và Giáo dục phương Đông ở Bắc Kinh để rồi nhận ra ở đây không phải chỉ dân chuyên ngành về Tiếng Anh mới có thể nói tốt Tiếng Anh mà còn nói tốt hơn rất nhiều lần. Trong thời gian học tại đây tác giả đã rút ra một bài học nữa cho bản thân mình không nên so sánh bản thân với người khác vì khởi đầu của mỗi người là khác nhau. Ở năm đại học thứ hai tác giả đã phát triển thêm rất nhiều về kĩ năng nghe nói của mình nhưng đây cũng là năm mà cô phải đấu tranh tâm lý khá mãnh liệt về cuộc thi GRE (kì thi đầu vào cao học của các trường đại học ở khu vực Bắc Mỹ) cũng như phải tiếp tục bước một mình trên con đường đã chọn khi mà cô bạn thân Cá Béo Ướp Muối rẽ sang một hướng khác về chí hướng sau khi tốt nghiệp đại học. Tuy không còn gắng bó với nhau như trước nhưng cả hai vẫn dành cho nhau những lời khuyên, những lời động viên chân thành nhất và cả hai đều được trở thành sinh viên trao đổi đến học tại đại học Bắc Kinh vào năm thứ ba. Ở đây ngoài việc tiến bộ trong học tập ra còn có những việc khiến Diễm Diễm có thể chẳng bao giờ quên được khi cô gặp được các nhân vật thành công trong một số lĩnh vực nhất định và được họ truyền cho nguồn động lực, nguồn cảm hứng mãnh liệt như Thành Long, Lý Liên Kiệt, Mã Vân, Lý Ngạn Hoằng,… Và cuối cùng cô đã hiểu ra “…những hối hận và thất bại trong quá khứ không thể thay thế được cho tương lai, cũng không thể quyết định tương lai. Phấn đấu không bao giờ là muộn.”, “…ước mơ của mình thuộc về mình, chỉ có mình mới có quyền nói “Có” hay “Không” với nó.” Ngôi trường đại học Bắc Kinh này đã giúp cô khẳng định thêm ước mơ của mình và kiên định mục tiêu đã đặt ra cũng như đã tỏ rõ cho cô nhiều điều mà từ trước đến nay cô chưa hiểu. Thời gian thắm thoát thoi đưa cuối cùng cũng đã đến năm cuối cùng của đại học, áp lực về thời gian, về việc học như khiến tác giả “điên loạn” nhưng người thân và bạn bè đã ở bên cạnh giúp cô vượt qua khoảng thời gian khó khăn đấy. Trong năm này, tác giả đã gặt hái nhiều thành công lớn như trúng tuyển kì thi tuyển sinh cao học của Học viện Bắc Kinh, gia nhập vào tổ phụ đề dịch phim,… Bốn năm đại học là khoảng thời gian không quá dài nhưng cũng không quá ngắn. Tuy nhiên nó đủ để làm thay đổi hoàn toàn cả một người “Lần đầu tiên tôi hiểu được ý nghĩa của việc học, ý nghĩa của phấn đấu; hiểu được làm thế nào mình mới có thể làm cho cuộc đời trở nên vui vẻ, hưng phấn, hiểu được làm thế nào mình mới có thể không oán trách không hối hận…” Nhật kí vượt trùng dương của tôi Chương tiếp theo thuật lại cuộc sống cao học khi tác giả còn ở trong nước. Ở chương này, vô số kinh nghiệm về cuộc thi GRE và TOEFL đã được cô mô tả tỉ mỉ qua từng ngày cũng như là cách viết bài luận, nghệ thuật chọn trường du học, trình tự, qui trình làm hồ sơ nhập học. Đạt được kết quả gần như tuyệt đối trong các cuộc thi lớn như GRE, TOEFL hay xa hơn nữa là được nhận vào học tại một trường đại học danh tiếng hàng đầu của nước Mỹ - Đại học Washington. Đó là niềm mơ ước của biết bao nhiêu người và đây cũng chính là kết quả xứng đáng cho sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cô, như chính đạo lý mà cô đã hiểu ra được “Chỉ cần có nội tâm đủ mạnh mẽ, quyết tâm đủ kiên định, hành động đủ quyết đoán, kiên trì đủ lâu bền, và nắm chắc cơ hội đến với mình, thì ai cũng đều có cơ hội trở thành kẻ mạnh, trở thành người thành công.” Sống trên đất Mỹ Mấy năm qua cứ ngỡ như cái chớp mắt của thời gian, tác giả không ngừng phấn đấu, không ngừng hoàn thiện bản thân cho đến cuối cùng cũng đặt chân lên được mảnh đất thoả niềm khát khao cháy bỏng của mình. Ở đây cô trải qua nhiều cuộc thi khác nhau và gặp nhiều rắc rồi trong vấn đề hoà nhập với cộng đồng ngôn ngữ nhưng cô vẫn cứ vui vẻ mà đón nhận và tiếp tục trau dồi con đường học vấn của mình… Kết Đích đến của Vương Quyên là nước Mỹ - xứ sở cờ hoa xinh đẹp muôn đời và đích đến của tôi là được hoà mình dưới ánh nắng của bầu trời Châu Âu hoa lệ. Thế còn bạn thì sao? Những bãi biển đầy nắng gió của vùng ven biển Sydney, những cánh rừng bạt ngàn nối đuôi nhau không ngừng nghỉ cạnh dòng sông Amazon hùng vĩ hay cái nắng gió khô hanh và với vô số các loài sinh vật hoang dã ở Nam Phi,… những nơi đó đang chờ bạn. Tôi xin lập lại một lần nữa lời của tác giả “Cho dù bạn từ đâu tới, cho dù bạn bình thường như thế nào đi nữa, thì với ước mơ, tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau. Cho dù bạn cảm thấy bản thân mình nhỏ bé nhường nào, bạn vẫn có quyền theo đuổi ước mơ cao quý.” Cuốn sách đáng đọc dành cho những ai có ý định du học hoặc không nhưng là người có ước mơ còn dang dỡ chưa thực hiện được, những người đang thiếu quyết tâm và ý chí, luôn nghĩ bản thân kém cỏi hoặc quá đỗi bình thường. Tôi không chắc là cuốn sách sẽ thay đổi hoàn toàn được bạn nhưng tôi chắc chắn rằng nó sẽ để lại cho bạn một cách nhìn khác so với bạn trước đây. Cuốn sách không hẳn là thay đổi được cuộc đời nhiều người nhưng ít nhất nó đã làm thay đổi được một người - đó là tôi. Hãy đọc đi, cảm nhận và suy nghĩ - những ước mơ dỡ dang còn đang chờ bạn viết tiếp. “Tuổi trẻ không sợ thất bại, ngã rồi lại phủi bụi đứng lên. Kì thực, thất bại không đáng sợ, vấp ngã không đáng sợ, nhụt chí không đáng sợ, hèn nhát không đáng sợ, lười biếng không đáng sợ, lạc đường không đáng sợ! Điều đáng sợ nhất là bạn đánh mất trái tim theo đuổi ước mơ…”   Tác giả: Bảo Trâm - Bookademy Mời các bạn đón đọc Săn Học Bổng của tác giả Vương Quyên.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 3
Quyển một “Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới” đã giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quan về Sáng tạo học và Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (PPLSTVĐM). Quyển hai “Thế giới bên trong con người sáng tạo” và quyển ba “Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống” có mục đích trình bày các kiến thức, được rút ra một cách chọn lọc từ những khoa học có đối tượng nghiên cứu là tư duy, hoặc liên quan, hỗ trợ hoạt động tư duy. Các kiến thức này đóng vai trò các kiến thức cơ sở của PPLSTVĐM, theo nghĩa, chúng giúp bạn đọc hiểu cơ sở khoa học của PPLSTVĐM và sử dụng các công cụ có trong PPLSTVĐM (sẽ trình bày từ quyển bốn trở đi) một cách chủ động với hiệu quả cao. Như bạn đọc đã biết, quyển hai dành nói về tâm lý học, lý thuyết thông tin, điều khiển học, nhằm giúp bạn đọc biết, hiểu và sử dụng những hiện tượng phong phú thuộc thế giới bên trong của mình tốt hơn. Từ đó, bạn đọc có thể thấy rằng, cần có những nỗ lực cá nhân hướng đến phát triển khả năng điều khiển thế giới bên trong cũng như các hành động của chính mình, đáp ứng nhu cầu phát triển các nhân cách sáng tạo. Quyển ba này trình bày các kiến thức lấy từ lôgích học hình thức, phép biện chứng duy vật và khoa học hệ thống. Theo chủ quan của người viết, cùng với quyển hai, đây là những kiến thức cần thiết nhất và phục vụ tốt nhất trong tư cách là các kiến thức cơ sở của PPLSTVĐM. Giống như trong quyển hai, những gì trình bày trong quyển ba này là kết quả người viết được học, tự học, nghiên cứu và sử dụng chúng. Bạn đọc nên xem những gì viết ở đây chỉ là tối thiểu, mang tính chủ quan, do vậy, cần tự suy xét, đánh giá và tìm hiểu sâu, rộng thêm các kiến thức liên quan thông qua những nguồn khác. *** Dự kiến, bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” sẽ gồm những quyển sách trình bày từ đơn giản đến phức tạp, từ những kiến thức cơ sở đến những kiến thức ứng dụng của PPLSTVĐM với các tên sách sau: 1. Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới. 2. Thế giới bên trong con người sáng tạo. 3. Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống. 4. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (1). 5. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (2). 6. Các phương pháp sáng tạo. 7. Các quy luật phát triển hệ thống. 8. Hệ thống các chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế. 9. Algôrit (Algorithm) giải các bài toán sáng chế (ARIZ). 10. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới: Những điều muốn nói thêm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, xã hội loài người trong quá trình phát triển trải qua bốn thời đại hay nền văn minh (làn sóng phát triển): Nông nghiệp, công nghiệp, thông tin và tri thức. Nền văn minh nông nghiệp chấm dứt thời kỳ săn bắn, hái lượm, du cư bằng việc định cư, trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng các công cụ lao động còn thủ công. Nền văn minh công nghiệp cho thấy, mọi người lao động bằng các máy móc hoạt động bằng năng lượng ngoài cơ bắp, giúp tăng sức mạnh và nối dài đôi tay của con người. Ở thời đại thông tin, máy tính, các mạng lưới thông tin giúp tăng sức mạnh, nối dài các bộ phận thu, phát thông tin trên cơ thể người như các giác quan, tiếng nói, chữ viết... và một số hoạt động lôgích của bộ não. Nhờ công nghệ thông tin, thông tin trở nên truyền, biến đổi nhanh, nhiều, lưu trữ gọn, truy cập dễ dàng. Tuy nhiên, trừ loại thông tin có ích lợi thấy ngay đối với người nhận tin, các loại thông tin khác vẫn phải cần bộ não của người nhận tin xử lý, biến đổi để trở thành thông tin có ý nghĩa và ích lợi (tri thức) cho người có thông tin. Nếu người có thông tin không làm được điều này trong thời đại bùng nổ thông tin thì có thể trở thành bội thực thông tin nhưng đói tri thức, thậm chí ngộ độc vì nhiễu thông tin và chết đuối trong đại dương thông tin mà không khai thác được gì từ đại dương giàu có đó. Thời đại tri thức mà thực chất là thời đại sáng tạo và đổi mới, ở đó đông đảo quần chúng sử dụng PPLSTVĐM được dạy và học đại trà để biến thông tin thành tri thức với các ích lợi toàn diện, không chỉ riêng về mặt kinh tế. Nói cách khác, PPLSTVĐM là hệ thống các công cụ dùng để biến đổi thông tin thành tri thức, tri thức đã biết thành tri thức mới. Rất tiếc, ở nước ta hiện nay chưa chính thức đào tạo các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu Sáng tạo học và PPLSTVĐM với các bằng cấp tương ứng: Cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ như một số nước tiên tiến trên thế giới. Người viết tin rằng sớm hay muộn, những người có trách nhiệm quyết định sẽ phải để tâm đến vấn đề này và “sớm” chắc chắn tốt hơn “muộn”. Hy vọng rằng, PPLSTVĐM nói riêng, Sáng tạo học nói chung sẽ có chỗ đứng xứng đáng, trước hết, trong chương trình giáo dục và đào tạo của nước ta trong tương lai không xa. *** Vào thế kỷ 17, 18, cơ học cổ điển của Galileo, Newton... đạt được nhiều thành tựu lớn cả trong nhận thức thế giới lẫn giải quyết các bài toán thực tiễn đề ra, tạo nên sự phát triển xã hội mạnh mẽ. Có lẽ vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu khái quát hóa các luận điểm cơ học cổ điển thành thế giới quan (chủ nghĩa) cơ giới: Giải thích sự phát triển của tự nhiên và xã hội bằng các quy luật của hình thức cơ học vận động vật chất. Những quy luật đó được xem là phổ biến và đúng cho tất cả các hình thức vận động vật chất. Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa cơ giới là sự đánh đồng một cách trừu tượng hình thức vận động vật chất bậc cao với hình thức vận động vật chất bậc thấp: Ví dụ, hình thức xã hội với sinh học; sinh học với hóa học hoặc/và vật lý... cho đến cơ học. Tuy có những hạn chế, thế giới quan cơ giới là sự tiến bộ vào thời kỳ đó và đóng vai trò tích cực trong việc phát triển khoa học, triết học. Các kiến thức cơ học giúp người ta hiểu, giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên, thoát khỏi các quan điểm thần bí, tôn giáo giáo điều. Việc dùng các quy luật cơ học ra ngoài phạm vi áp dụng của chúng (xem mục nhỏ 6.5.4. Tính ì tâm lý do ngoại suy ra ngoài phạm vi áp dụng của quyển hai) và tuyệt đối hóa chúng tạo nên bức tranh cơ giới về thế giới: Toàn bộ vũ trụ (từ nguyên tử đến các hành tinh) là hệ cơ học khép kín, bao gồm những yếu tố không thay đổi mà sự vận động của chúng tuân theo các quy luật của cơ học cổ điển. Tư duy tương ứng với mức phát triển nói trên của khoa học chính là tư duy siêu hình. Sự phát triển tiếp theo của khoa học cho thấy, các cố gắng dựa trên các quy luật cơ học cổ điển để giải thích các hiện tượng điện–từ, hóa học, sinh học, đặc biệt, các hiện tượng xã hội đã hoàn toàn thất bại. Các thành tựu khoa học tự nhiên, xã hội của thế kỷ 19, 20 đã phá vỡ bức tranh cơ giới về thế giới, cũng như cách tư duy siêu hình. Thay thế cho cách tiếp cận cơ giới (Mechanistic Approach), được dùng phổ biến từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, là cách tiếp cận hệ thống (Systems Approach). Từ giữa thế kỷ 20, cách tiếp cận hệ thống được dùng rộng rãi trong nghiên cứu các đối tượng phát triển phức tạp như các hệ thống sinh học tự tổ chức, tâm lý, xã hội, các hệ kỹ thuật lớn, hệ thống “người và máy móc”... Cách tiếp cận hệ thống có các nhiệm vụ: 1) Nghiên cứu các phương tiện mô tả, biểu diễn các đối tượng được nghiên cứu hoặc được thiết kế chế tạo như là các hệ thống; 2) Xây dựng các mô hình khái quát hệ thống, các mô hình về các loại hệ thống và các tính chất của hệ thống; 3) Nghiên cứu cấu trúc của các lý thuyết về hệ thống cùng các quan điểm, phương pháp hệ thống; 4) Là cơ sở lý thuyết và phương pháp luận của phân tích hệ thống. ... Mời các bạn đón đọc Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 3 của tác giả Phan Dũng.
Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 2 - Phan Dũng
“Cuộc đời của mỗi người là chuỗi các vấn đề cần giải quyết, chuỗi các quyết định cần phải ra. Mỗi người cần giải quyết tốt các vấn đề và ra các quyết định đúng”. “Cuộc đời của mỗi người là quá trình liên tục biến đổi thông tin thành tri thức và tri thức đã biết thành tri thức mới”. “Cuộc đời của mỗi người phải là chuỗi những sáng tạo và đổi mới hoàn toàn”. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới xây dựng và trang bị loại tư duy: “Nhìn xa, trông rộng, xem xét toàn diện, thấy và hành động giải quyết các mâu thuẫn để đưa các hệ liên quan phát triển theo các quy luật phát triển hệ thống”. *** Dự kiến, bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” sẽ gồm những quyển sách trình bày từ đơn giản đến phức tạp, từ những kiến thức cơ sở đến những kiến thức ứng dụng của PPLSTVĐM với các tên sách sau: 1. Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới. 2. Thế giới bên trong con người sáng tạo. 3. Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống. 4. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (1). 5. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (2). 6. Các phương pháp sáng tạo. 7. Các quy luật phát triển hệ thống. 8. Hệ thống các chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế. 9. Algôrit (Algorithm) giải các bài toán sáng chế (ARIZ). 10. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới: Những điều muốn nói thêm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, xã hội loài người trong quá trình phát triển trải qua bốn thời đại hay nền văn minh (làn sóng phát triển): Nông nghiệp, công nghiệp, thông tin và tri thức. Nền văn minh nông nghiệp chấm dứt thời kỳ săn bắn, hái lượm, du cư bằng việc định cư, trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng các công cụ lao động còn thủ công. Nền văn minh công nghiệp cho thấy, mọi người lao động bằng các máy móc hoạt động bằng năng lượng ngoài cơ bắp, giúp tăng sức mạnh và nối dài đôi tay của con người. Ở thời đại thông tin, máy tính, các mạng lưới thông tin giúp tăng sức mạnh, nối dài các bộ phận thu, phát thông tin trên cơ thể người như các giác quan, tiếng nói, chữ viết... và một số hoạt động lôgích của bộ não. Nhờ công nghệ thông tin, thông tin trở nên truyền, biến đổi nhanh, nhiều, lưu trữ gọn, truy cập dễ dàng. Tuy nhiên, trừ loại thông tin có ích lợi thấy ngay đối với người nhận tin, các loại thông tin khác vẫn phải cần bộ não của người nhận tin xử lý, biến đổi để trở thành thông tin có ý nghĩa và ích lợi (tri thức) cho người có thông tin. Nếu người có thông tin không làm được điều này trong thời đại bùng nổ thông tin thì có thể trở thành bội thực thông tin nhưng đói tri thức, thậm chí ngộ độc vì nhiễu thông tin và chết đuối trong đại dương thông tin mà không khai thác được gì từ đại dương giàu có đó. Thời đại tri thức mà thực chất là thời đại sáng tạo và đổi mới, ở đó đông đảo quần chúng sử dụng PPLSTVĐM được dạy và học đại trà để biến thông tin thành tri thức với các ích lợi toàn diện, không chỉ riêng về mặt kinh tế. Nói cách khác, PPLSTVĐM là hệ thống các công cụ dùng để biến đổi thông tin thành tri thức, tri thức đã biết thành tri thức mới. Rất tiếc, ở nước ta hiện nay chưa chính thức đào tạo các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu Sáng tạo học và PPLSTVĐM với các bằng cấp tương ứng: Cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ như một số nước tiên tiến trên thế giới. Người viết tin rằng sớm hay muộn, những người có trách nhiệm quyết định sẽ phải để tâm đến vấn đề này và “sớm” chắc chắn tốt hơn “muộn”. Hy vọng rằng, PPLSTVĐM nói riêng, Sáng tạo học nói chung sẽ có chỗ đứng xứng đáng, trước hết, trong chương trình giáo dục và đào tạo của nước ta trong tương lai không xa. *** Chương 5: Từ nhu cầu đến hành động và ngược lại trình bày những yếu tố tương đối độc lập, cần lưu ý nhất, như nhu cầu, xúc cảm, các thói quen tự nguyện, tư duy thuộc thế giới bên trong và hành động của mỗi cá nhân, cùng các mối liên kết giữa chúng. Chương 6: Tư duy sáng tạo: Nhìn theo góc độ thông tin – tâm lý tập trung chi tiết hóa quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định của cá nhân. Các hiện tượng thông tin – tâm lý đóng vai trò chủ đạo trong tư duy sáng tạo được trình bày cùng với các lời khuyên về cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả. Không ít người hiện nay để cho suy nghĩ nói riêng, các hoạt động của thế giới bên trong con nguời mình nói chung, diễn ra một cách tự nhiên và không để ý đến chúng. Do vậy, nhiều phép thử sai như là kết quả của các hành động cá nhân đã không được những người đó tìm hiểu, giải thích theo quan hệ nguyên nhân–kết quả một cách khoa học. Những kiến thức của Chương 5 và 6 giúp cá nhân không chỉ có ý thức một cách tương đối đầy đủ về các hoạt động thuộc thế giới bên trong mà còn giúp cá nhân “lắng nghe” và “suy nghĩ” về chúng, tức là, về chính bản thân mình. Điều này có nghĩa, cá nhân cần dành thời gian, công sức tự hỏi, tự quan sát, tự theo dõi, tự trả lời và tự rút kinh nghiệm để phát huy các mặt mạnh, hạn chế các mặt yếu của các hiện tượng thuộc thế giới bên trong con người. Chương 7 này có mục đích phát triển tiếp những gì đã trình bày, theo hướng thảo luận nhằm trả lời câu hỏi: “Cần làm những gì và làm như thế nào để có thể điều khiển được hành động và thế giới bên trong của con người sáng tạo?”. Ở đây, người viết không có tham vọng trả lời trọn vẹn câu hỏi nói trên vì đấy là công việc phức tạp và của rất nhiều người. Do vậy, bạn đọc nên quan niệm Chương 7 này giống như sự cung cấp các thông tin, chia sẻ các kiến thức để chúng ta còn quay trở lại thảo luận tiếp trong tương lai, khi có dịp thuận tiện. Đi vào cụ thể, Chương 7 sẽ trình bày một số ý tưởng cơ bản chung của một bộ môn khoa học, gọi là điều khiển học. Có một loạt từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với “điều khiển” như quản lý, quản trị, điều hành, lãnh đạo, dẫn dắt, điều chỉnh, lái, lèo lái, kiểm soát... Trừ những trường hợp cần nhấn mạnh, nói chung, người viết sẽ dùng từ “điều khiển”. Tiếp theo, Chương 7 sẽ trình bày mối quan hệ, tác động qua lại của cá nhân và môi trường (hiểu theo nghĩa rộng nhất), có tính đến những kế thừa lịch sử phát triển tự nhiên, xã hội. Để đối phó với những thách thức đến từ môi trường, con người hiện đại có nhu cầu thay đổi thế giới bên trong của chính mình, hiểu theo nghĩa, phải chủ động điều khiển các hoạt động của thế giới bên trong, một mặt, cho phù hợp với các thay đổi môi trường. Mặt khác, điều khiển các hoạt động của thế giới bên trong để điều khiển quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định, tạo ra các hành động biến đổi môi trường, phù hợp với các quy luật phát triển khách quan. ... Mời các bạn đón đọc Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 2 của tác giả Phan Dũng.
Quản Lý Thời Gian - Martin Manser
Quản Lý Thời Gian của tác giả Martin Manser là một bài học vô cùng đơn giản về cách thức chúng ta sử dụng thời gian của mình. Đó chính là cách thức chúng ta sử dụng cuộc sống của mình. Tất cả chúng ta đều có những đặc điểm tính cách khác nhau và nhu cầu đa dạng với việc sử dụng thời gian của mình. Một vài người sống rất ngăn nắp/ có trật tự, những người khác thì không. Thông qua quá trình làm việc của mình, tôi đã học được một số phương pháp để sử dụng hiệu quả thời gian. Có hai ý tưởng cơ bản: thứ nhất là làm việc hiệu quả - để thấy rằng tôi có những hệ thống được đặt đúng chỗ, nhờ đó mà mọi thứ vận hành trôi chảy và khiến cho tất cả những nguồn lực có sẵn cho tôi được tận dụng một cách tối ưu nhất. Nhưng tôi đã học được cách làm nhiều hơn thế; tôi cũng muốn sống và làm việc hiệu quả - để tạo ra một cái gì đó trong cuộc sống của tôi, để làm cho nó trở nên có ý nghĩa, để đạt được một cái gì đó rõ ràng, tốt đẹp và đúng đắn. Trong suốt 30 năm làm việc của mình, tôi đã phải hỏi mình một số câu hỏi khó: Tôi muốn gì trong cuộc sống của mình? Tôi muốn đạt được những gì? Tôi thuộc kiểu người nào? Làm thế nào tôi có thể phát triển bản thân với tư cách là một con người? Tôi muốn sử dụng thời gian của mình như thế nào? Tôi nên định giá thời gian của mình như thế nào? Kiểm soát thời gian của bạn. Việc sử dụng thời gian hiệu quả xảy ra khi bạn học cách quản lý thời gian hiệu quả bằng cách tập trung vào nhiệm vụ, giảm thiểu sự gián đoạn và sử dụng những khoảng thời gian chậm trễ, không được mong đợi có thể xuất hiện. Nếu bạn theo đuổi bảy bí mật bạn sẽ biết cách sử dụng thời gian của bạn một cách hợp lý, cách để sống hiệu quả, cách để tận dụng lợi thế của những sự việc bất ngờ xảy ra trong cuộc sống. Mong mọi điều tốt đẹp sẽ đến với bạn! *** Có thể sẽ rất hữu dụng nếu bạn tạo ra các khung thời gian khi thực hiện những nhiệm vụ khác nhau. Điều này đặc biệt hữu dụng cho những việc chính mà bạn cần làm, và nó cũng hữu dụng cho cả những công việc thường xuyên. Chẳng hạn như, bạn cần lập báo cáo bán hàng hàng tuần vào ngày thứ Ba của tuần tiếp theo. Vậy, hãy dành thời gian vào thứ Hai hàng tuần để nói chuyện với các đồng nghiệp ở phòng kinh doanh, đồng thời kiểm tra chắc chắn rằng những số liệu được cung cấp trong hệ thống máy tính của bạn là chính xác. Sau đó, thứ Ba hàng tuần, hãy sắp xếp một khoảng thời gian để bắt tay vào viết báo cáo. Đây là những nhiệm vụ cần được ưu tiên mà bạn không nên xao nhãng. Đặt ra thời gian dành riêng cho những việc này trong nhật ký sẽ giúp bạn tránh chỉ làm chúng khi bạn thích. Dưới đây là một số bí quyết khác cho việc quản lý thời gian của bạn trong lúc thực hiện những công việc cần tập trung cao độ: Tự cách ly. Nếu mọi thứ đều thuận tiện, hãy tắt điện thoại di động, đóng ứng dụng thư điện tử và để điện thoại bàn ở chế độ trả lời tự động (đồng thời tắt tiếng). Nếu thực sự cần phải tập trung, hãy xem liệu bạn có thể rời đến một chỗ khác trong văn phòng, nơi mà không ai có thể làm phiền bạn hay không. Học cách siết chặt thời gian. Hãy đặt cho bạn một giới hạn, chẳng hạn là 30 phút, và sau đó kéo căng bản thân ra để xem liệu bạn có thể xử lý được công việc mà thông thường bạn cần 40 phút không. Bạn sẽ ngạc nhiên trước những gì bạn làm được. Điều này cũng có hiệu quả theo một cách khác: Một cuộc họp dự định kéo dài 90 phút sẽ có vẻ như quá dài. Hãy xem liệu bạn có thể giảm nó xuống khoảng 10, thậm chí là 15 phút không. Cho phép mình nghỉ ngơi. Sau khi tập trung làm việc khoảng 50 phút, hãy cho phép mình nghỉ ngơi 10 phút: việc này sẽ cho phép tâm trí xử lý và đào sâu thêm suy nghĩ của bạn, và bạn có thể thấy mình giải quyết được một số vấn đề phát sinh trong lúc bạn làm việc tập trung. “Công việc sẽ luôn nở ra để lấp đầy quỹ thời gian dành để hoàn thành nó.” ... Mời các bạn đón đọc Quản Lý Thời Gian của tác giả Martin Manser.
Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 1 - Phan Dũng
“Cuộc đời của mỗi người là chuỗi các vấn đề cần giải quyết, chuỗi các quyết định cần phải ra. Mỗi người cần giải quyết tốt các vấn đề và ra các quyết định đúng”. “Cuộc đời của mỗi người là quá trình liên tục biến đổi thông tin thành tri thức và tri thức đã biết thành tri thức mới”. “Cuộc đời của mỗi người phải là chuỗi những sáng tạo và đổi mới hoàn toàn”. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới xây dựng và trang bị loại tư duy: “Nhìn xa, trông rộng, xem xét toàn diện, thấy và hành động giải quyết các mâu thuẫn để đưa các hệ liên quan phát triển theo các quy luật phát triển hệ thống”. *** Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (viết tắt là PPLSTVĐM, tiếng Anh là Creativity and Innovation Methodologies) là phần ứng dụng của Khoa học về sáng tạo (Sáng tạo học, tên cổ điển – Heuristics, tên hiện đại – Creatology), gồm hệ thống các phương pháp và các kỹ năng cụ thể giúp nâng cao năng suất và hiệu quả, về lâu dài tiến tới điều khiển tư duy sáng tạo (quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định) của người sử dụng. Suốt cuộc đời, mỗi người chúng ta dùng suy nghĩ rất nhiều, nếu không nói là hàng ngày. Từ việc trả lời những câu hỏi bình thường như "Hôm nay ăn gì? mặc gì? làm gì? mua gì? xem gì? đi đâu?…" đến làm các bài tập thầy, cô cho khi đi học; chọn ngành nghề đào tạo; lo sức khỏe, việc làm, thu nhập, hôn nhân, nhà ở; giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc, trong quan hệ xã hội, gia đình, nuôi dạy con cái…, tất tần tật đều đòi hỏi phải suy nghĩ và chắc rằng ai cũng muốn mình suy nghĩ tốt, ra những quyết định đúng để "đời là bể khổ" trở thành "bể sướng". Chúng ta tuy được đào tạo và làm những nghề khác nhau nhưng có lẽ có một nghề chung, giữ nguyên suốt cuộc đời, cần cho tất cả mọi người. Đó là "nghề" suy nghĩ và hành động giải quyết các vấn đề gặp phải trong suốt cuộc đời nhằm thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của cá nhân mình, đồng thời thỏa mãn các nhu cầu để xã hội tồn tại và phát triển. Nhìn dưới góc độ này, PPLSTVĐM giúp trang bị loại nghề chung nói trên, bổ sung cho giáo dục, đào tạo hiện nay, chủ yếu, chỉ đào tạo các nhà chuyên môn. Nhà chuyên môn có thể giải quyết tốt các vấn đề chuyên môn nhưng nhiều khi không giải quyết tốt các vấn đề ngoài chuyên môn, do vậy, không thực sự hạnh phúc như ý. Các nghiên cứu cho thấy, phần lớn mọi người thường suy nghĩ một cách tự nhiên như đi lại, ăn uống, hít thở mà ít khi suy nghĩ về chính suy nghĩ của mình xem nó hoạt động ra sao để cải tiến, làm suy nghĩ của mình trở nên tốt hơn, như người ta thường chú ý cải tiến các dụng cụ, máy móc dùng trong sinh hoạt và công việc. Cách suy nghĩ tự nhiên nói trên có năng suất, hiệu quả rất thấp và nhiều khi trả giá đắt cho các quyết định sai. Nói một cách nôm na, cách suy nghĩ tự nhiên ứng với việc lao động bằng xẻng thì PPLSTVĐM là máy xúc với năng suất và hiệu quả cao hơn nhiều. Nếu xem bộ não của mỗi người là máy tính tinh xảo – đỉnh cao tiến hóa và phát triển của tự nhiên thì phần mềm (cách suy nghĩ) tự nhiên đi kèm với nó chỉ khai thác một phần rất nhỏ tiềm năng của bộ não. PPLSTVĐM là phần mềm tiên tiến giúp máy tính – bộ não hoạt động tốt hơn nhiều. Nếu như cần "học ăn, học nói, học gói, học mở" thì "học suy nghĩ" cũng cần thiết cho tất cả mọi người. PPLSTVĐM dạy và học được như các môn học truyền thống: Toán, lý, hóa, sinh, tin học, quản trị kinh doanh… Trên thế giới, nhiều trường và công ty đã bắt đầu từ lâu và đang làm điều đó một cách bình thường. Dưới đây là vài thông tin về PPLSTVĐM trên thế giới và ở nước ta. Từ những năm 1950, ở Mỹ và Liên Xô đã có những lớp học dạy thử nghiệm PPLSTVĐM. Dưới ảnh hưởng của A.F. Osborn, phó chủ tịch công ty quảng cáo BBD & O và là tác giả của phương pháp não công (Brainstorming) nổi tiếng, Trung tâm nghiên cứu sáng tạo (Center for Studies in Creativity) được thành lập năm 1967 tại Đại học Buffalo, bang New York. Năm 1974, Trung tâm nói trên bắt đầu đào tạo cử nhân khoa học và năm 1975 – thạc sỹ khoa học về sáng tạo và đổi mới (BS, MS in Creativity and Innovation). Ở Liên Xô, G.S. Altshuller, nhà sáng chế, nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng và là tác giả của Lý thuyết giải các bài toán sáng chế (viết tắt theo tiếng Nga và chuyển sang ký tự Latinh – TRIZ) cộng tác với “Hiệp hội toàn liên bang các nhà sáng chế và hợp lý hóa” (VOIR) thành lập Phòng thí nghiệm các phương pháp sáng chế năm 1968 và Học viện công cộng về sáng tạo sáng chế (Public Institute of Inventive Creativity) năm 1971. Người viết, lúc đó đang học ngành vật lý bán dẫn thực nghiệm tại Liên Xô, có may mắn học thêm được khóa đầu tiên của Học viện sáng tạo nói trên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy G.S. Altshuller. Chịu ấn tượng rất sâu sắc do những ích lợi PPLSTVĐM đem lại cho cá nhân mình, bản thân lại mong muốn chia sẻ những gì học được với mọi người, cùng với sự khuyến khích của thầy G.S. Altshuller, năm 1977 người viết đã tổ chức dạy dưới dạng ngoại khóa cho sinh viên các khoa tự nhiên thuộc Đại học tổng hợp TpHCM (nay là Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia TpHCM). Những khóa PPLSTVĐM tiếp theo là kết quả của sự cộng tác giữa người viết và Câu lạc bộ thanh niên (nay là Nhà văn hóa thanh niên TpHCM), Ủy ban khoa học và kỹ thuật TpHCM (nay là Sở khoa học và công nghệ TpHCM)… Năm 1991, được sự chấp thuận của lãnh đạo Đại học tổng hợp TpHCM, Trung tâm Sáng tạo Khoa học – kỹ thuật (TSK) hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải ra đời và trở thành cơ sở chính thức đầu tiên ở nước ta giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu PPLSTVĐM. ... Mời các bạn đón đọc Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 1 của tác giả Phan Dũng.