Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hẹn Em Ngày Nắng

Hẹn em ngày nắng là một câu chuyện tình ấm áp và đầy xúc cảm giữa Tuấn - chàng họa sĩ với những quay quắt về mối tình đầu và Linh - cô gái trẻ với trái tim đã một lần xước xát. Họ gặp nhau từ khi còn là những cô bé, cậu bé để rồi lưu giữ mãi những ký ức về nhau, về ngôi nhà nhỏ với vườn cây xương rồng và tiếng sáo của cụ già đầu ngõ cho đến ngày gặp lại. Cùng đưa nhau qua những hoài niệm, những dè dặt, những hoài nghi của sự tan vỡ, Tuấn và Linh cuối cùng cũng nhận ra tình yêu tận sâu thẳm mà họ dành cho nhau. Một số trích dẫn: "Đừng nên cố kiếm tìm thứ gì hoàn mỹ mà hãy học cách dùng đôi mắt hoàn mỹ để nhìn và thưởng thức mọi thứ xung quanh." "Trong tình yêu đâu cần tính toán so đo thiệt hơn làm gì, ai gọi trước ai gọi sau cũng vậy cả thôi. Cứ ngày ngày thấp thỏm đứng ngồi không yên, thì chi bằng gọi điện cho cô ấy, để cả hai cùng được vui vẻ thoải mái." "Em là vệt nắng chiếu qua cuộc đời tăm tối của anh, làm thay đổi mọi thứ trong anh, và làm bừng sáng cả trái tim anh nữa." "Anh sẽ ghi lại ký ức trong em ở những nơi cũ. Để mỗi lần đi qua, em sẽ chỉ nhớ đến thời gian anh cùng em đến đó." *** Cho dù trái tim bạn có xước xát đến thế nào đi chăng nữa, thì rồi, cũng sẽ có người đến và chữa lành những vết xước ấy. Bởi vì, đó là lời hẹn của tình yêu. Nhà văn Kiệm đã từng viết trong Câu chuyện bên nồi lẩu một đôi dòng thế này: “Trước đây, tôi hay nghĩ mình có thể một mình vượt qua những khó khăn của cuộc đời, một cách đơn giản và thầm lặng. Điều đó thực ra không khó, vì ai cũng sẽ phải thế, nhưng không vui, vì ai cũng làm được hơn thế”. Điều đó thật đúng, nhưng với nhiều người, lại chẳng dễ dàng gì. Bởi rất nhiều khi, người ta đóng cửa tim mình, không dám đón nhận những niềm vui mới chỉ vì một vết thương lòng đã cũ. Nhất là với những người trẻ - những trái tim non chỉ biết hân hoan và cuồng nhiệt mà chẳng một lần đắn đo, để rồi rơi vào hẫng hụt tột độ khi tình yêu trót tan vỡ. Hiểu được những nỗi lòng ấy, tác giả Mai Mei đã dùng những chất liệu bình dị và thân thuộc trong cuộc sống của những người trẻ để viết Hẹn em ngày nắng ắp đầy cảm xúc và sự lạc quan, như những tia nắng sưởi ấm cho trái tim đã một lần xước xát. Hẹn em ngày nắng là một câu chuyện tình ấm áp và đầy xúc cảm giữa Tuấn - chàng họa sĩ với những quay quắt về mối tình đầu và Linh - cô gái trẻ với trái tim đã một lần biết đau. Họ gặp nhau từ khi còn là những cô bé, cậu bé để rồi lưu giữ mãi những ký ức về nhau, về ngôi nhà nhỏ với vườn cây xương rồng và tiếng sáo của cụ già đầu ngõ cho đến ngày gặp lại. Linh khi ấy, đã có một khoảng thời gian dài tách biệt với thế giới xung quanh bởi những vết thương lòng từ sự phản bội của người yêu cũ. Tuấn biết vậy, nhưng vẫn kiên trì dùng sự ấm áp của mình để dẫn  trái tim cô đi qua những hoài niệm, những dè dặt, những hoài nghi của sự tan vỡ. Cuối cùng, sau những hiểu lầm tưởng đã tách họ ra khỏi đời nhau mãi mãi, Tuấn và Linh cũng nhận ra tình yêu tận sâu thẳm mà họ dành cho nhau. Nhẹ nhàng mà sâu sắc, cuốn sách ru người đọc vào một thế giới đầy lãng mạn, khao khát của tình yêu đôi lứa nhưng cũng gay gắt, đầy đấu tranh với chính bản thân, để rồi chợt nhận ra: Đôi lúc, ta bướng bỉnh quá! Cứ ôm ghì nỗi đau mà không chịu đặt nó vào một chỗ, đứng dậy và bước tiếp. Nhưng may thay, cuộc sống một lúc nào đó, sẽ tặng lại cho ta một người yêu ta chân thành. Sự chân thành ấy đủ để những dè dặt, những hoài nghi từ vết thương kia dần tan biến. “Chân thành cho ta thêm kiên định, nhờ kiên định, đường dù gian nan mấy, ta vẫn có thể vượt qua. Trái tim, dù cho xước xát đến thế nào, rồi cũng sẽ có ngày lành lặn.” Không những thế, dõi theo câu chuyện tình đẹp của Linh và Tuấn, người đọc còn thấy một Hà Nội mùa thu đẹp đến ngỡ ngàng. Hồ Gươm lung linh, Tháp Rùa cổ kính, vườn cây xanh mướt, con ngõ nhỏ với tiếng sáo ngân nga của cụ già, rồi nắng vàng, gió hiu hiu, ngay cả những đóa sen hồ Tây đã vào mùa thôi nở vẫn cứ đẹp một vẻ đẹp rất riêng… Tất cả những điều gần gũi, thân thuộc ấy lại bỗng như chất xúc tác cho tình yêu giữa hai người trẻ, để khơi dậy những xúc cảm mà họ đã gắng giấu kín trong tim. Một sự hòa trộn tuyệt vời giữa những khung cảnh thân thuộc được khoác lên màu nắng ươm vàng với câu chuyện tình nhẹ nhàng mà đầy lạc quan và ý nghĩa. *** Đặt chân xuống sân bay Nội Bài, tôi kịp đón nhận chút nắng ấm hiếm hoi của một ngày chiều đông nơi đất mẹ. Lòng lâng lâng tựa như đang ở trong một giấc mơ, tôi cũng thật không ngờ chỉ qua mấy tiếng đồng hồ mà mình đã có mặt tại Việt Nam để hít hà bầu không khí se se lạnh đặc trưng của miền Bắc. Tôi vội vã đi thật nhanh về phía dành cho người nhà ở bên ngoài, ngó nghiêng xem ai sẽ là người đến đón mình đây. Kia rồi, từ xa tôi đã nhận ra dáng Lan, cô em họ con cô chú tôi, người vẫn luôn cung cấp cho tôi mọi thông tin về người con gái mà tôi thầm thương trộm nhớ. Vừa thấy tôi, Lan vui mừng, len qua dòng người đông đúc chạy lại khoác vai bá cổ anh. Đã lâu lắm rồi không gặp con bé, chúng tôi chỉ nhìn thấy nhau qua điện thoại và mạng Internet nên tôi không ngờ Lan lại cao đến thế. Ở ngoài, trông con bé người lớn và già dặn hơn nhiều, nhưng cũng không thiếu phần tinh nghịch và lanh lợi. Lan cứ nhìn tôi chằm chằm, hết nhìn xuống dưới rồi lại ngó lên trên, như thể đang thám thính và đánh giá con mồi vậy, sau đó đưa ra câu nhận xét, “Oa, ông anh tôi trông như soái ca ấy nhỉ, áo quần thẳng thớm, sạch sẽ thơm tho. Đúng là mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao! Mà sao em cứ thấy cái gì không đúng ở đây?”. Tôi bèn hỏi lại, “Cái gì không đúng?”. Lan lại đi vòng vòng quanh tôi, nhìn chăm chú rồi đưa tay sờ sờ vào túi đựng dụng cụ vẽ của tôi, nhăn mày nhăn mặt đánh giá, “Chẳng phải người ta cứ bảo nghệ sĩ lúc nào cũng luộm thuộm, tóc tai rối bời sao? Mà anh còn là họa sĩ nổi tiếng nữa, nhưng em thấy anh đâu có giống thế?”. Tôi phì cười, cứ tưởng con bé đưa ra ý gì khủng khiếp lắm. Tôi cúi xuống nhìn lại mình lần nữa, quần đen, áo len cổ lọ bó sát, áo khoác dài đến gối, thêm chiếc khăn buông lơi bên vai. Có gì mà bảnh bao hay không bảnh bao chứ. Tôi bèn cốc đầu con bé thay cho lời chào. Con bé cười cười ôm lấy tay tôi, rồi nhanh nhẹn muốn cầm đồ giúp tôi. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi cũng không muốn cự tuyệt lòng tốt của nó nhưng cũng chẳng nỡ để nó cầm thứ gì nặng, bèn đưa cho nó đám dụng cụ vẽ mà tôi để riêng trong một chiếc túi, còn mình thì kéo cái va ly to đùng phía sau. Chúng tôi bắt taxi về nhà. Ngồi trên xe, Lan tò mò mở túi đồ của tôi ra xem, rồi ra chiều thất vọng vì chẳng tìm được thứ gì hay ho, mặt ỉu xìu, sau đó lại ríu rít kể mọi thứ chuyện cho tôi nghe, chuyện học hành của nó, chuyện bạn bè nó và cả chuyện của em. Con bé bảo cô chú đang ở nhà chuẩn bị bữa cơm tẩy trần cho anh, đề nghị hai anh em nhanh chóng về nhà. Nhưng tôi đúng là thằng cháu không có hiếu chút nào. Từ khi còn ngồi trên máy bay, tâm tư tôi đã chẳng yên, cứ thấp tha thấp thỏm nhớ đến một nơi, và muốn ngay lập tức về lại đó. Đó chính là ngôi nhà thân yêu của tôi. Thế là tôi nhất quyết đòi Lan dẫn về nhà mình trước. Không sao từ chối được, Lan đành chiều theo ý tôi. Bao nhiêu năm đi xa, quê hương tôi giờ đã khác xưa rất nhiều, nhiều nhà cao tầng hơn, nhiều khu vui chơi giải trí hơn, và thậm chí là nhiều cây to hơn. Còn nhớ ngày nào, hàng cây bằng lăng hai bên đường mới được trồng còn nhỏ xíu, ánh nắng tha hồ chiếu thẳng xuống mặt đất, vậy mà giờ cây nào cây nấy cao to sừng sững, xòe tán rộng vươn ra bốn phía. Tôi thầm nghĩ nếu như là vào ngày hè, khi đám cây này ra hoa, hẳn là con phố sẽ đẹp lắm, thơ mộng lắm. Màu tím của sự thủy chung và thơ mộng sẽ lấn át màu xanh và bao trùm khắp nơi, khiến lòng người đi trên đường sẽ không thôi rạo rực những xúc cảm, vô cùng lãng mạn. Bất giác tôi nhớ đến nét chữ mềm mại dễ nhìn của cô bé miền Trung với bím tóc xinh. “Anh biết không, trên con đường về nhà em mới trồng rất nhiều cây hoa bằng lăng. Khi nào nó lớn, nó sẽ nở ra những bông hoa rất đẹp, lúc đó anh hãy hái xuống rồi kết thành vòng nguyệt quế cho em nhé”. Khi ấy tôi đã quyết tâm như thế nào, rằng nhất định sẽ phải kết cho em những vòng nguyệt quế thật đẹp, để em đội lên mái tóc dài mượt mà chẳng khác nào thiên thần ấy. Tôi thầm hỏi, không biết bây giờ tôi còn cơ hội thực hiện điều đó hay không? Lạ thay, mặc dù khung cảnh giờ đã thay đổi và mang diện mạo mới nhưng đôi chân tôi cứ bước đi thoăn thoắt như chẳng chút gì lạ lẫm. Từng con đường, từng ngã rẽ vẫn in đậm trong tiềm thức tôi như ngày nào. Vì chưa phải là giờ tan tầm nên con đường rất vắng vẻ, lưa thưa một vài người qua kẻ lại. Tôi lại càng có dịp để bước thong dong, để thả hồn mình quay trở lại với thời thơ ấu. Đây là con đường ngày ngày tôi vẫn đến trường, đây là ngã rẽ thân thương vòng vào nhà tôi, đây là con ngõ nhỏ rợp bóng cây đi qua lối nhà em… Bàn chân tôi cứ bước, chẳng mấy chốc là về đến nhà. Càng tới gần căn nhà, tim tôi lại càng đập loạn. Cảm giác hồi hộp cứ lớn dần lên trong tôi. Vậy là tôi sắp được về lại nơi chan chứa bao kỷ niệm ấu thơ, nói đúng hơn là nơi tôi đã từng có những nỗi buồn, đồng thời cũng chính là nơi ánh sáng ấm áp chiếu tới cuộc đời tôi. “Nhanh lên anh, anh có nhận ra quê hương mình nữa không?”, giọng cô em họ vang lên lanh lảnh, tôi mới giật mình nhớ ra bên cạnh còn một người nữa. “Phố nhà mình giờ phát triển quá, anh chẳng còn nhận ra được nữa. Bao nhiêu năm xa quê rồi, nhưng hình như anh vẫn nhớ đường về nhà mình đó”, tôi cười trả lời Lan mà trống ngực cứ không ngừng đập liên hồi, “Anh muốn về đây lâu rồi nhưng chưa sắp xếp được công việc, nhân dịp cuộc triển lãm tranh của anh thành công tốt đẹp, anh bèn thưởng cho mình chuyến về thăm quê đấy”. Nghe tôi nói vậy, con bé không tin, liếc mắt nhìn tôi lém lỉnh, “Thôi đi anh, em còn lạ gì anh nữa, em biết tỏng anh rồi, anh về quê chỉ vì...”. “Nhóc con thì biết gì”, tôi cười xòa cốc đầu con bé học sinh lớp Mười hai trước mặt. Con bé nháy mắt với tôi, cười cười ra chiều rất hiểu chuyện. Đi thêm một đoạn, cánh cổng quen thuộc hiện ra trước mắt tôi. Chân tôi bất giác run rẩy, con tim xao xuyến bồi hồi, phải cố gắng lắm tôi mới giữ được cho mình thật bình tĩnh. Đã nhiều năm trôi qua nhưng trông nó chẳng giống như bị bỏ hoang, không gỉ sét, không bong tróc, nó đã được sơn lại đàng hoàng, như thể bao nhiêu năm vẫn luôn có người sống vậy. Thấy cánh cổng không hề khóa, Lan bỗng quay lại nhìn tôi nháy mắt như phát hiện ra điều gì đó hay ho lắm, rồi nhanh chân chạy lên trước, dáng hình bé nhỏ vừa khuất sau cánh cổng đã nghe thấy tiếng, “Chị yêu ơi, chị có ở đây không?”. Tôi khựng lại giây lát, có người đang ở trong nhà tôi sao? Thoáng ngạc nhiên qua đi, tôi lại thấy tò mò muốn biết ai đang ở trong nhà mình, bèn sải những bước dài tới đó. Một lúc sau, tôi nghe thấy giọng nói nhẹ nhàng của một người con gái vọng tới từ sau vườn, “Có, chị ở trong này, có chuyện gì thế em?”. “Chị lại đang ngồi chăm sóc cho mấy chậu xương rồng đấy à? Chị mau ra đây đi, có chuyện lớn rồi đây.” Nghe thấy Lan nói vậy, cô gái tên Linh tất tả chạy ra, nét mặt sợ hãi, vội hỏi, “Sao thế, ai cháy nhà hay gì mà em cuống cuồng lên vậy?”.

Mời các bạn đón đọc Hẹn Em Ngày Nắng của tác giả Mai Mei.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bắt Cóc - Robert Louis Stevenson
Cuộc phiêu lưu ly kỳ, tiểu sử lôi cuốn và nghiên cứu đáng ngạc nhiên về nhân vật xứ Scotland, Kidnapped (Bắt cóc) của Robert Louis Stevenson năm 1886 chưa bao giờ mất đi vị thế của nó.  Kidnapped là “tiểu thuyết cho các chàng trai” và được xuất bản lần đầu tiên dưới dạng từng kỳ trên tạp chí Young Folks từ tháng Năm tới tháng Bảy 1886. Cuốn tiểu thuyết được in thành sách lần đầu tiên bởi Cassel and Company tháng Bảy 1886. Trong Tuyển tập Stevenson, tác phẩm sở hữu cái tên dài nhất và công phu nhất trong lịch sử văn học Anh: “Hồi ký về hành trình của David Balfour năm 1751; Anh đã bị lạc như thế nào; Sống sót trên đảo hoang; Chuyến đi đến Highlands hoang dã; Làm quen với Alan Breck Stewart và những chàng Jacobite khét tiếng xứ Highlands; Mọi thứ khổ ải dưới bàn tay người chú, Ebenezer Balfour của rừng sâu giả dối. Do chính anh viết và được Robert Louis Stevenson thuật lại với lời dẫn bởi bà Stevenson”. Kidnapped được đón nhận khi xuất bản và đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà văn từ Henry James, người đã khen ngợi sức mạnh kể chuyện của tác phẩm, Jorge Luis Borges và Seamus Heaney, cùng nhiều người khác. Phần sau không tốt bằng, Catriona, được xuất bản năm 1893. Kidnapped là kiệt tác của ông, một tiểu thuyết hành động không thể nào quên đã truyền cảm hứng cho biết bao nhà văn từ Joseph Conrad, John Buchan, Graham Greene đến Muriel Spark. Đây cũng là một sự trù tính hoàn hảo cho sự phức tạp của nhân vật người Scotland, nửa Celt, nửa Saxon. Giống như trong Bác sĩ Jekyll và Ông Hyde, ông cũng bị ám ảnh bởi một phần nhân cách của mình, và vào năm bỏ phiếu độc lập, Kidnapped vẫn được xem là tác phẩm thiết yếu cần đọc. Tôi chọn tác phẩm này để thể hiện tính đặc Scotland của Stevenson cũng như tài năng văn chương của ông. Cuốn tiểu thuyết đơn giản đến khó tin. Mặc dù miêu tả câu chuyện của những chàng trai, với nguồn gốc từ sự thật lịch sử, nhưng tác phẩm đồng thời thể hiện nghệ thuật khéo léo của Stevenson. Quả thực Kidnapped đã hoàn thành đồng thời ba sứ mệnh đó. Thứ nhất, đó là chuyến phiêu lưu hành động đáng kinh ngạc, nơi giọng kể của Stevenson, thứ văn xuôi vô cùng súc tích, có sức mạnh mê hoặc lòng người. Ông khiến cho độc giả phải ngạt thở trong phấn khích và ngưỡng mộ. Henry James không ngờ lại là một người hâm mộ cuồng nhiệt của chuỗi chương “The Flight in the Heather” (Cuộc chiến dưới cây thạch nam). Lật đến chương X, “The Siege of the Round House” (Sự vây hãm của ngôi nhà vòng tròn) sẽ tìm thấy văn hứng của tác giả. Thứ nhì, Kidnapped lấy gốc từ một sự thật lịch sử, vụ ám sát ở Appin, Scotland tháng Năm 1752, cái chết của “con cáo đỏ”, biến đổi thành một câu chuyện phổ biến cho phần lớn độc giả lần đầu bắt gặp trên tạp chí Young Folks. Và Stevenson tiếp tục khai thác thể loại ông đang viết. Kidnapped, giống như Đảo giấu vàng, đi kèm với một tấm bản đồ, để thuyết minh rõ hơn cho câu chuyện; tựa đề các chương cũng được thiết kế để nói lên hành trình của ông: “I Run a Great Danger in the House of Shaws” (Tôi gặp nguy ở ngôi nhà trong rừng); “The Man with the Belt of Gold” (Người đàn ông với chiếc thắt lưng bằng vàng); và “The House of Fear” (Ngôi nhà sợ hãi). Cuối cùng, Kidnapped là một nghiên cứu đầy sức thuyết phục và khó quên về hai tính cách của nhân vật người Scotland. David Balfour, thuộc đảng Whig, là một chàng trai xứ Lowland Scotland dòng Presbyterian, bị bắt cóc khi bắt đầu hành trình giành quyền thừa kế từ tay người chú xấu xa Ebenezer. Alan Breck (Stewart), được Balfour mô tả là “một kẻ nổi loạn đáng kết tội, một kẻ đào ngũ, và là tay sai cho vua Pháp”, đại diện cho niềm tự hào của người Highlands sau cuộc nổi loạn Jacobite năm 1745, nóng tính, khinh suất, lãng mạn và bất hạnh, với những khúc thoại đáng nhớ. Cặp nhân vật này cùng hành động, cãi nhau, cùng nổi loạn (với Stevenson) với phong cách rất Scotland. Như bánh trái của một quốc gia giàu có, Kidnapped đơm hoa với vô số phương ngữ, “ain” (một), “bairn” (đứa trẻ), “blae” (ủ rũ), “chield” (gã bạn), “drammach” (bột yến mạch), “fash” (phiền), “muckle” (to lớn), “siller” (tiền), “unco” (vô cùng) , “wheesht!” (suỵt!), và hàng tá nữa. Tiếng vùng Scotland bằng cách nào đó giúp Kidnapped có một sức mạnh không bao giờ mệt mỏi, nhưng bên trong lại ảm đạm. Stevenson, qua giọng Balfour, bày tỏ điều này khi anh thoát khỏi “phần tăm tối nhất của cuộc hành trình… Ransom ở bên dưới, Shaun chết trên sàn nhà, hay Colin Campbell (con cáo đỏ) túm lấy ngực áo khoác của hắn…” Tất nhiên Balfour đã sống sót, nhưng tất cả mọi người khác đều có số phận phải chết. Còn Stevenson đột ngột ra đi bởi một cơn đột quỵ trên biển Samoa ngày 3/12/1894, năm 44 tuổi. *** Robert Louis Balfour Stevenson (13.11.1850 – 3.12.1894) là tiểu thuyết gia, nhà thơ, nhà tiểu luận và nhà văn du ký người Scotland. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Đảo châu báu (Treasure Island) và Bác sĩ Jekyll và ông Hyde (Strange case of Dr Jekyll and Mr Hyde). Hầu như suốt thế kỷ 20 ông bị giới nghiên cứu hàn lâm chối bỏ, cho ông chỉ là nhà văn hạng nhì chuyên viết truyện thiếu nhi và truyện ly kỳ rùng rợn, song từ cuối thế kỷ 20 ông đã được đánh giá lại một cách công bằng, được coi như ngang hàng với những tác gia như Joseph Conrad và Henry James. Nhiều nhà văn lớn như Jorge Luis Borges, Bertolt Brecht, Marcel Proust, Arthur Conan Doyle, Cesare Pavese, Ernest Hemingway, Rudyard Kipling, Vladimir Nabokov tỏ lòng khâm phục ông.    Stevenson nằm trong số 26 tác giả được dịch nhiều nhất trên thế giới. R.L Stevenson đã thừa hưởng tất cả tính cách mạng của dân tộc mình. Ông chỉ thiếu sức chịu đựng dẻo dai như ở cơ thể của những người đồng hương. Sinh năm 1850, ông xuất thân từ gia đình kỹ sư xây dựng đèn biển. Chính ông đã dự định trở thành hoa tiêu, đã viết một tác phẩm về những người thắp đèn chỉ đường cho những con tàu lách qua sương mù và ghềnh đá. Nhưng bệnh tật đã buộc ông từ bỏ ý định của mình. Ông tới miền nam nuớc Pháp, nương nhờ khí hậu ấm áp nơi đây để chữa bệnh. Sau khi sức khoẻ khá hơn, ông làm một cuộc hành trình theo sau một con lừa thồ hàng đi khắp nước Pháp, rồi cùng con thuyền bơi khắp các dòng sông và kênh đào ở Bỉ và Hà Lan. Những chuyến đi đó in dấu trong tác phẩm của Stevenson. Sau đó ông lại sang Bắc Mỹ, điều này giải thích vì sao Stevenson thường viết các tiểu thuyết phiêu lưu. Nhưng các tác phẩm xuất sắc của ông thường liên quan đến biển và gợi lại không gian Scotland. Stevenson rất yêu mến trẻ em và say mê các trò chơi của các em nhỏ. Ông chơi trận giả với con trên tầng gác chật chội và tối tăm, say mê như tham gia những chiến dịch lớn. Sàn nhà đầy bản đồ với các nét vẽ núi non, sông ngòi, đầm lầy, biển cả. Một trong các bức bản đồ đó đã được phong phú lên thêm bằng câu chuyện tưởng tượng về bọn cướp biển, sau đó trở thành tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Stevenson: "Đảo giấu vàng". Tác phẩm: Bắt Cóc Mũi Tên Đen Đảo Giấu Vàng Bác sĩ Jekyll và ông Hyde ... *** Mời các bạn đón đọc Bắt Cóc của tác giả Robert Louis Stevenson.
Người tình Hoa Bắc - Marguerite Duras
7 năm sau thành công với “Người tình”, Marguerite Duras một lần nữa trở lại với câu chuyện tình yêu ám ảnh giữa cô bé người Pháp mới lớn và chàng thanh niên Trung Hoa. Tiểu thuyết “Người tình Hoa Bắc” của bà vừa được xuất bản bằng tiếng Việt. Mở đầu cuốn Người tình Hoa Bắc, Duras viết: “Tôi được biết anh ấy đã qua đời. Đó là vào tháng 5/1990, cách đây một năm. Tôi chưa bao giờ từng nghĩ đến sự ra đi của anh ấy. Người ta còn nói với tôi rằng anh được an táng tại Sa Đéc, rằng ngôi nhà màu xanh vẫn luôn ở chỗ đó, nơi gia đình và con cái anh cư ngụ”. Cuốn sách ra đời năm 1991 - một năm sau khi ông Huỳnh Thủy Lê - nguyên mẫu người tình của nhà văn mất. Cái chết của ông dường như đã làm sống dậy những ký ức đã trôi qua hơn nửa thế kỷ trong tâm hồn cô bé da trắng. Một lần nữa khai thác lại mối tình cũ, nhưng theo dịch giả Lê Hồng Sâm, Người tình Hoa Bắc thể hiện những cảm nhận khác biệt về nhân vật, về lối viết. Theo bà, nhân vật người tình trong cuốn tiểu thuyết thứ hai của Duras “táo bạo hơn, cường tráng hơn, tuấn tú hơn”. Nếu như trong cuốn Người tình, nhà văn trao nhiều quyền chủ động chèo lái chuyện yêu cho cô gái 15 tuổi thì ở tác phẩm mới này, người tình Trung Hoa đã bớt rụt rè, bớt mặc cảm chủng tộc hơn. Bà Lê Hồng Sâm tỏ ra ngạc nhiên khi mà Người tình Hoa Bắc - được viết 60 năm sau khi Duras rời khỏi Việt Nam - vẫn tái hiện được những ký ức đầy sống động về xứ sở Đông Dương trong vẻ đẹp của những đêm mùa khô, của những cơn mưa gió mùa, của mênh mang đồng ruộng, của xóm ghe thuyền, của bầy trẻ đánh xe trâu, của màu chiếc quần lụa đã nhợt nhạt. Người tình Hoa Bắc khác biệt với Người tình còn ở tính chất kép của tác phẩm. Nhà văn xác định: “Đây là một cuốn sách. Đây là một bộ phim”. Chuyên gia văn học Trần Hinh cũng phát hiện ra tính chất lai tạo giữa văn học và điện ảnh trong tác phẩm của Marguerite Duras. Ông cho rằng, Duras phải chăng không hài lòng với các nhà làm phim Người tình chăng nên với Người tình Hoa Bắc, bà muốn tạo nên một cuốn tiểu thuyết có khả năng đọc như một kịch bản phim? ***     Marguerite Duras (1914 - 1996) tên thật là Marguerite Donnadieu. Năm 1943, bà đổi tên thành Marguerite Duras theo tên một làng vùng Lot-et-Ga-ronne, nơi có ngôi nhà của cha mẹ bà. Bà sinh tại Gia Định, Đông Dương (thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Cha là giáo sư toán mở đồn điền nhưng thất bại, lâm vào cảnh nợ nần và mất năm Marguerite mới lên bốn tuổi. Mẹ bà là giáo viên tiểu học, sau được bổ nhiệm làm hiệu trưởng Trường Escole de jeunes filles ở thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (trường Tiểu học Trương Vương ngày nay). Mẹ bà ở vậy nuôi bà người con trong cảnh khốn khó. bà có một người anh nghiện ngập và người em thì quá yếu đuối. Trải qua tuổi thơ và thời thiếu niên ở Việt Nam, nhưng kỷ niệm nơi đây đã gợi nhiều cảm hứng và in đậm trong các tác phẩm của bà. Năm mười tám tuổi, Duras trở về Pháp. Sau khi học toán, luận và khoa học chính trị, bà làm thư ký tại bộ Thuộc địa từ năm 1935 tới năm 1941. Năm 1950, Duras được biết tới lần đầu tiên với cuốn tự truyện Un barrage contre le Pacifique. Những tác phẩm sau này của bà đã góp phần làm mới cho thể loại tiểu thuyết. Năm 1984, Duras đoạt giải thưởng Goncourt với người tinh (l’ Amant), cuốn tiểu thuyết viết về cuộc tình nông nàn và lãng nạm giữa bà với điền chủ gốc hao giàu có, Huỳnh Thủy Lê, tại Sa Đéc. Người tình là một thành công lớn, đã được dịch ra hơn bốn mươi thứ tiếng và được dựng thành phim năm 1992. Tác phẩm của Duras bao gồm khoảng bốn mưới tiểu thuyết và mười vở kịch. Bà cũng đã thực hiện nhiều bộ phim, trong đó có India Song và Les- enfants. Cuộc đời của bà giống như một cuốn tiểu thuyết. Bà không ngừng viết vê những câu chuyện về nỗi đau, về bão tố, rượu và những nỗi muộn phiền, về những lời nói và cả sự im lặng... Những tác phẩm đầu tay của Duras thường được viết theo một dạng nhất định (tính chất lãng mạn của chúng đã từng bị nhà văn Raymond Quene-au chỉ trích), nhưng kể từ Monderato Cantabile, bà đã thử những lỗi viết mới, đặc biệt là cắt bổ những đoạn văn dài nhằm làm tăng tầm quan trọng của những gì không được viết ra. bà được xếp vào phong trào tiểu thuyết mới trong văn học Pháp. Các phim của bà cũng mang tính chất thực nghiệm, thường tránh dùng âm thanh thu cùng hình ảnh mà dùng lời của người kể truyện, nhưng không phải để kể lại mà để ám chỉ những chuyện có thể xảy ra với các hình ảnh đó. Năm 1989, bà được trao Giải quốc gia Áo cho Văn học châu Âu. Marguerite Duras mất ngày 3 tháng 3 năm 1996 ở paris, được chôn cất tại nghĩa trang Montparnasse. Trên bia mộ của bà khắc hai đóa hoa và hai chữ viết tắt M.D. của tên tuổi Marguerite Duras cùng hai tấm chân dung, một khi còn trẻ và một khi đã già. BachvietBooks Mời các bạn đón đọc Người tình Hoa Bắc của tác giả Marguerite Duras.
Thời Thơ Ngây - Edith Wharton
Thời thơ ngây (tên gốc là The Age of Innocence) là tiểu thuyết thứ mười hai của bà. Tác phẩm đạt giải Pulitzer năm 1921, giúp Edith Wharton trở thành nhà văn nữ đầu tiên giành giải thưởng này. Cuốn sách kể về câu chuyện của một cặp đôi thuộc tầng lớp thượng lưu xã hội Mỹ đang chuẩn bị kết hôn. Newland Archer, một luật sư hào hoa và là người thừa kế của một trong những gia đình có danh tiếng bậc nhất ở New York lúc bấy giờ, đang háo hức chuẩn bị cho đám cưới mơ ước của mình với tiểu thư May Welland xinh đẹp. Đúng vào thời điểm ấy, nữ Bá tước Ellen Olenska, cô chị họ xinh đẹp của May trở về từ châu Âu sau tin đồn ly hôn với một Bá tước người Ba Lan. Ban đầu, Archer lo lắng vì tai tiếng của cô có thể ảnh hưởng đến May Welland nhưng dần dần anh lại bị Ellen- người coi thường những quy định hà khắc của xã hội New York thu hút. Tình cảm anh dành cho nữ Bá tước ngày càng sâu đậm và điều đó có thể làm hủy hoại đám cưới của anh và May. Điều gì sẽ xảy ra? Liệu Ellen có dành tình cảm cho anh? Đứng giữa cô dâu tương lai và tình yêu định mệnh của cuộc đời, anh sẽ lựa chọn như thế nào? Bằng giọng văn châm biếm và hài hước, Edith Wharton đã tái hiện lại xã hội New York vào những năm 70 của thế kỉ XIX với những lề thói cổ hủ, lạc hậu, cái xã hội khiến con người ta không thể sống thật với bản chất, tình cảm của mình. Đồng thời, người đọc cũng cảm nhận được tài năng của bà qua cách bà miêu tả mối tình lặng lẽ của Ellen và Archer. *** Edith Wharton sinh ngày 24-1-1862 tại số nhà 14, Đường Hai mươi ba Tây, Thành phố New York. Bà là con gái duy nhất trong một gia đình có quá đông con trai thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có, từng được bà miêu tả vào năm 1933 như một “trung tâm quý tộc thu nhỏ… một xã hội mà tất cả những người buôn bán đều bị loại ra như một điều đương nhiên” (Hồi ký, 1.3). Bà là nữ tiểu thuyết gia đầu tiên đạt giải Pulitzer. Ngoài ra, bà cũng viết truyện ngắn và là một nhà thiết kế. Bà từng được đề cử giải Nobel Văn học năm 1927,1928 và năm 1930. Wharton kết nối quan điểm của bà về các tầng lớp đặc quyền trong xã hội Mỹ với trí thông minh bản năng xuất sắc để tạo nên những tiểu thuyết và truyện ngắn hài hước, sâu cay về vấn đề xã hội và tâm lý. Bà cũng quen biết nhiều cây bút văn chương cũng như những chính trị gia thời đó, trong đó có cả Tổng thống Theodore Roosevelt. Hồi còn nhỏ, bà đã phản đối những chuẩn mực về ăn mặc và lễ nghi dành cho con gái lúc bấy giờ. Bà cho rằng những yêu cầu đó là cứng nhắc và thiển cận. Edith muốn nhận được nhiều hơn từ nền giáo dục, bởi vậy bà đọc sách từ thư viện của bố và những người bạn của ông. Mẹ của bà ngăn cấm bà đọc tiểu thuyết cho đến khi kết hôn và Edith đã tuân theo. Edith bắt đầu làm thơ và viết tiểu thuyết từ khi còn nhỏ. Bà thử viết tiểu thuyết từ khi mười một tuổi. Tác phẩm đầu tiên được phát hành của bà là bản dịch từ một bài thơ bằng tiếng Đức có tên “What the Stones tell” của Heinrich Karl Brugsch và bà kiếm được 50 đô la. Lúc đó, bà mới mười lăm tuổi. Gia đình bà không muốn tên của bà xuất hiện ngoài công chúng bởi vì tên của phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu chỉ xuất hiện trên mặt báo để thông báo về sự ra đời, kết hôn hay từ trần. Do vậy, bài thơ được phát hành dưới tên một người bạn của bố bà, E. A. Washburn. Ông đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực tự học của bà, và ông đã khuyến khích bà theo đuổi nghiệp viết chuyên nghiệp. Ngoài viết tiểu thuyết, Wharton đã sáng tác hơn 85 truyện ngắn. Bà cũng là một nhà thiết kế và bà cũng viết nhiều sách về thiết kế, bao gồm tác phẩm đầu tiên được phát hành của bà. Bà mất ngày 11-8-1937 sau một cơn đột quỵ tại Pháp.   Mời các bạn đón đọc Thời Thơ Ngây của tác giả Edith Wharton.
Ông Hoàng Xứ Kahel - Tierno Monénembo
“Qua những cuộc phiêu lưu của một nhà tiên phong Pháp, tiểu thuyết gia gốc Guinée đã lần ngược lại những biến cố và đổ nát của vương triều Peul ở Fouta-Djalon. Tác phẩm được viết dưới một tài năng tuyệt vời về viễn tưởng và hư cấu mạch lạc giữa Lịch sử và Danh phận, lịch sử của một Phi châu hiện đại có thể nhìn về quá khứ của mình mà không rơi vào thuyết máy móc phân biệt giữa Da Trắng và Da Đen.  *** Qua những trang hơi khó đọc của phần đầu tác phẩm, thì bạn đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi biên độ trí tưởng tượng sử thi, kết hợp giữa các trò cười của cuộc sống và linh cảm bất thường đáng lo ngại của cuộc chiến tranh giữa các nền văn minh trong chế độ thuộc địa.” • Đài RFI “Với cuốn tiểu thuyết pha trộn giữa cuộc sống và những tìm hiểu sâu rộng về tư liệu, Tierno Monénembo đã miêu tả chặng đường đi tìm và thiết lập vương quốc của một con người kỳ tại, lập dị nhưng rất đáng mến của thế kỷ XIX.” • Tạp chí Văn Học “Một tác phẩm dữ dội đề cập đến thảm cảnh và những thăng trầm của lịch sử châu Phi…” • Tạp chí Nouvel Observateur “Đấng Tối cao đã sinh ra họ màu đen để cho những cú bị đánh không bị nhìn thấy được.” • Olivier De Sanderval *** Tierno Monénembo, tên thật là Thierno Saïdou Diallo, sinh ngày 21-7-1947, ở Porédaka ở Guinée. Ông là một nhà văn thuộc khối Pháp ngữ. Năm 1969 ông đã bỏ trốn khỏi chế độ độc tài Sékou Touré. Ông đã chạy bộ gần 150 kilomet để đến Sénégal. Ông theo học Y khoa tại Dakar, rồi sau đó đến Bờ Biển Ngà (Côte d’Ivoire) và tại đây, ông bắt đầu theo học ngành Sinh Hóa và tiếp tục ngành này tại Pháp vào năm 1973, ông bảo vệ thành công luận án tiến sỹ tại trường đại học Lyon. Ông đến Algérie và Maroc giảng dạy một thời gian. Từ năm 2007, ông là giáo sư danh dự của Middlebury College tại vùng Vermont, Hoa Kỳ. Có thể nói lang thang viễn xứ là trọng tâm cuộc đời và tác phẩm của người con tộc Peul này. Ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên Những chú cóc-trảng bụi năm 1979. Bảy năm sau, ông cho ra đời tác phẩm Những chiếc vẩy tê tê của bầu trời và đoạt giải Grand Prix của châu lục Đen. Năm 1991, cuốn Giấc mơ hữu ích cũng ra đời dưới ngòi bút của ông. Đến nay, ông đã hoàn thành mười cuốn tiểu thuyết. Và cuốn Ông hoàng xứ Kahel đã vinh dự được trao giải Renaudot, một phần thưởng danh giá trong làng văn học Pháp.   Mời các bạn đón đọc Ông Hoàng Xứ Kahel của tác giả Tierno Monénembo.