Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bản Đồ Và Vùng Đất

Giải Goncourt 2010   Cuốn tiểu thuyết nào của Michel Houellebecq cũng gây ra náo loạn trên văn đàn Pháp; không ra khỏi thông lệ đó, Bản đồ và vùng đất cũng vậy, mặc dù người ta đã không còn lạ giọng văn và thái độ khiêu khích của nhà văn sau một loạt tác phẩm của chừng hai mươi năm trở lại đây. Houellebecq vẫn còn sở hữu nguyên vẹn khả năng quấy rầy tâm trí độc giả, và nhất quyết không để thế giới yên ổn với những gì cầm chừng, nhạt nhẽo. Nhưng tinh ý hơn, ta sẽ thấy Michel Houellebecq của Bản đồ và vùng đất sâu sắc (và thậm chí là đằm thắm) hơn hẳn, cũng mệt mỏi hơn (mặc dù vẫn vô cùng sắc nét). Câu chuyện về người nghệ sĩ Jed Martin đặt lại vấn đề về bản chất của nghệ thuật trong tương quan với thế giới vật chất, nhưng cùng lúc đó cũng là một câu chuyện sâu lắng, buồn bã. Có lẽ chưa bao giờ Houellebecq viết hay như vậy về tình yêu, về sự bất khả của tình yêu con người. Lời khen tặng “Michel Houellebecq tạo nên một cuốn tiểu thuyết có kết cấu vô cùng vững chắc và trôi chảy hoàn hảo […] có thể là tiểu thuyết hoàn chỉnh nhất của ông, chắc chắn là cuốn sách mỉa mai nhiều nhất, và hẳn là cuốn sách sâu sắc nhất.” - Télérama   “Với Bản đồ và vùng đất, tiểu thuyết gia đã lặn ngụp vào thế giới nghệ thuật đương đại. Người ta chờ đợi một quả bom, nhưng kết quả lại là một cuộc bắn pháo hoa của sự hài hước, sự châm biếm và nỗi buồn.” - Le Nouvel Observateur   “Chính là xuất phát từ quãng cách giữa sự thiếu vắng cảm xúc và những ảo ảnh do sự nổi tiếng tạo ra mà Michel Houellebecq (Houellebecq đích thực) tạo nên một câu chuyện có sức mạnh, hài hước và sáng tạo cao độ.” - Le Monde   “Houellebecq của năm 2010 ít nghiệt ngã và ít gây cười hơn (chúng ta lấy làm tiếc vì điều đó) so với trong quá khứ nhưng ông đã hoàn toàn thành công trong cách thức giữ khoảng cách với mọi thứ mà vẫn nhìn chúng thật sát.” - Fluctuat.net Về tác giả Michel Thomas (sinh ngày 26 Tháng 2, 1956) nổi tiếng với bút danh của ông Michel Houellebecq, là một tác gia, nhà làm phim và nhà thơ Pháp. Từ những năm 1990, ông trở thành một trong số tác giả đương đại viết bằng tiếng Pháp nổi tiếng nhất trên thế giới. Ông bắt đầu được biết đến với tiểu thuyết đầu tay Mở rộng phạm vi đấu tranh năm 1994, đặc biệt là tác phẩm Hạt cơ bảnvào năm 1998 đã đem ông tới đông đảo độc giả. Cuốn này, cùng với tiểu thuyết kế đó,Nền tảng vào năm 2001 được xem như những tác phẩm khai phá của văn học tiếng Pháp, với những mô tả sắc bén mà không kém phần hài hước về những thiếu thốn tình cảm và tình dục của con người phương Tây thập niên 1990, 2000. Là một tác giả gây nhiều tranh cãi, ông đã nhiều lần hụt Giải Goncourt cho đến khi được vinh danh giải này năm 2010 với tiểu thuyết gần đây nhất, Bản đồ và vùng đất. *** Lời cảm ơn Thường thì tôi không có ai để cảm ơn, vì tôi ít khi đi tìm tài liệu, thậm chí là rất ít khi, mặc dù người ta cứ hay so sánh tôi với một tác giả người Mỹ. Nhưng lần này, tôi rất ấn tượng và rối trí trước ngành cảnh sát, và thấy có lẽ cần thu thập thông tin nhiều hơn. Vậy nên tôi rất sung sướng được cảm ơn Teresa Cremisi, người đã thực hiện các thủ tục cần thiết, cũng như chánh văn phòng Henry Moreau cùng thiếu tá cảnh sát Pierre Dieppois, họ đã thân ái tiếp đón tôi ở Ke Orfèvres và cho tôi những lời giải thích rất hữu ích về nghề nghiệp khó nhọc của mình. Lẽ dĩ nhiên tôi rất thoải mái trong việc thay đổi các sự kiện, và các ý kiến được nêu ra chỉ liên quan đến các nhân vật phát biểu ra chúng; nhìn chung, ta phải nhớ mình đang ở trong khuôn khổ một tác phẩm hư cấu. Tôi cũng cảm ơn Wikipedia (http://fr.wikipedia.org) và những người đóng góp ở đó, thỉnh thoảng tôi đã lấy nguồn thông tin này làm cảm hứng, nhất là các thông tin về loài ruồi, về thành phố Beauvais và về nhân vật Frédéric Nihous. *** Jeff Koons đứng bật dậy khỏi ghế, hai cánh tay vung về phía trước trong một cơn hứng khởi. Ngồi trước mặt ông trên ghế sofa bằng da màu trắng một phần phủ vải lụa, hơi thu mình lại, Damien Hirst(*) như thể sắp buột miệng một lời phản đối; khuôn mặt ông ửng đỏ, sầu muộn. Cả hai đều mặc com lê đen - bộ của Koons có các đường sọc mảnh - áo sơ mi trắng và cà vạt đen. Giữa hai người, trên cái bàn thấp là một giỏ đựng những thứ trái cây dầm mà không ai mảy may chú ý đến; Hirst uống một lon Budweiser Light. Sau lưng họ, một ô kính lớn mở xuống khung cảnh toàn những tòa nhà cao tạo thành khối chằng chịt kiểu Babylon những hình đa diện khổng lồ, trải dài đến tận chân trời; đêm thật sáng, không khí trong suốt. Như thể đang ở Qatar, hoặc Dubai; cách bài trí của căn phòng trên thực tế lấy cảm hứng từ bức ảnh rút ra từ một quảng cáo Đức rất xa xỉ, khách sạn Emirates ở Abu Dhabi. Trán Jeff Koons hơi sáng bóng lên; Jed lấy bàn chải đánh mờ đi, rồi lùi lại ba bước. Chắc chắn là có một vấn đề với Koons. Hirst về cơ bản thì dễ nắm bắt: có thể làm ông trở nên tàn bạo, vô sỉ, theo kiểu “tôi ngồi trên đống tiền của tôi ị vào các người”; cũng có thể biến ông thành nghệ sĩ nổi loạn (nhưng dù sao thì vẫn giàu) theo đuổi một tác phẩm đầy hoang mang về cái chết; rồi thì ở khuôn mặt ông có cái gì đó như tứa máu và nặng nề, điển hình kiểu Anh, trông rất giống một người hâm mộ cuồng nhiệt của câu lạc bộ Arsenal. Nhìn chung là nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng có thể kết hợp được trong bức chân dung thuần nhất, khả dĩ tái hiện, về một nghệ sĩ Anh điển hình của thế hệ ông. Còn Koons thì như thể mang trong mình cái gì đó có tính chất kép, giống như một điều mâu thuẫn không thể vượt qua giữa sự mưu mô thông thường của địa hạt kỹ thuật-thương mại và trạng thái xuất thần của người khổ hạnh. Đã ba tuần nay Jed bỏ công sửa sang biểu hiện của Koons đang đứng bật dậy khỏi ghế, hai cánh tay vung về phía trước trong một cơn hứng khởi như thể đang cố thuyết phục Hirst; việc này cũng khó y như khi phải vẽ một nhà văn theo phái Mormon(*) chuyên viết văn khiêu dâm. Anh có những bức ảnh chụp Koons một mình, chụp với Roman Abramovitch, Madonna, Barack Obama, Bono, Warren Buffett, Bill Gates… Không bức ảnh nào diễn đạt được dù chỉ một mảy may tính cách của Koons, thoát được ra khỏi cái vẻ ngoài một tay bán xe ôtô mui trần Chevrolet mà ông đã chọn khoác lên mình để đối mặt với thế giới, thật đáng bực, mặt khác từ lâu nay các nhiếp ảnh gia đã làm Jed phát bực, đặc biệt là các nhiếp ảnh gia lớn, với lời tự phụ có thể hé lộ được trong những bức ảnh của mình sự thật của những người làm mẫu cho họ; họ chẳng hé lộ được cái gì hết, họ chỉ làm mỗi một việc là đứng ra trước mặt bạn và nhấn nút kích hoạt động cơ chiếc máy của họ để chụp lấy hàng trăm bức ảnh trong niềm sung sướng nhỏ mọn với những tiếng cục cục thốt ra từ cổ họng, và sau này họ chọn lấy những bức đỡ tệ nhất của cả loạt, đó chính là cách họ tiến hành, không có ngoại lệ, tất cả những tay tự cho mình là nhiếp ảnh gia lớn ấy, cá nhân Jed có quen biết một số trong đó và chỉ cảm thấy khinh bỉ bọn họ, anh xem tất tật bọn họ có khả năng sáng tạo gần gần ngang bằng với một cái Photomaton(*). Trong bếp, vài bước chân đằng sau lưng anh, hệ thống sưởi liên tục phát ra những tiếng lạch xạch khô khốc. Anh đứng lặng, tê liệt. Đã là 15 tháng Chạp.   Mời các bạn đón đọc Bản Đồ Và Vùng Đất của tác giả Michel Houellebecq & Cao Việt Dũng (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Viễn Vọng - Patrick Deville
Tại một thành phố biển, nhà điểu học Körberg đi tìm dấu vết mối tình đầu xưa cũ với nữ ca sĩ bạc mệnh Stella. Jyl, đứa con gái nhỏ nàng để lại, giờ đã thành một Lolita xinh đẹp. Nhưng cha thật của Jyl là ai ? Körberg mở cuộc điều tra về cô bé, bên cạnh chàng gia sư Skoltz mê cờ vây, toán học và các trò cá ngựa. Có thể viết một cuốn tiểu thuyết trong đó các nhân vật luôn ở sát gần nhau, rình rập nhòm ngó nhau, nhưng không bao giờ gặp nhau và không hề biết là họ tham dự vào cùng một câu chuyện ? Viễn vọng là câu trả lời tài hoa của Patrick Deville. In năm 1988 tại nhà xuất bản danh tiếng Minuit và được dịch ra hơn mười ngoại ngữ, Viễn vọng là thành công đầu của Patrick Deville. *** Nhận định “Ngông cuồng và thung dung, Patrick Deville đưa vật lý lượng tử vào truyện tiểu thuyết Pháp, như Faulkner đã từng đưa bi kịch vào trinh thám Mỹ.” - Vincent Landel (Magazine littéraire, tháng mười 1988) *** Patrick Deville (sinh ngày 14 tháng 12 năm 1957) là nhà văn người Pháp. Sau khi nghiên cứu môn văn học đối chiếu và triết học ở Đại học Nantes, năm 23 tuổi, Patrick Deville làm tùy viên văn hóa ở Vùng Vịnh, hai năm sau ông giảng dạy triết ở hải ngoại. Trong thập niên 1980, Patrick Deville đến sống ở Trung Đông, Nigeria, và Algérie. Trong thập niên 1990, ông sống ở Cuba trong một thời gian và học tiếng Tây Ban Nha, sau đó đến Uruguay và khu vực Trung Mỹ. Trong thời gian này ông thường xuyên về Pháp để xuất bản sách. Năm 1996, Deville thành lập Giải Văn học Trẻ Mỹ Latin, và tạp chí Meet ngôi nhà của những nhà văn ngoại quốc và các dịch giả.[1] Năm 2011, quyển Kampuchea của Deville được tạp chí Lire chọn là tiểu thuyết Pháp hay nhất trong năm. Một tác phẩm khác của Deville, Peste et Choléra (tiểu sử Alexandre Yersin), được vào chung khảo Giải Goncourt, Giải của các giải văn học (Le Prix des Prix littérairs), Giải tiểu thuyết của tập đoàn Fnac (Prix du roman Fnac) và đoạt giải Femina năm 2012. Các tác phẩm của Patrick Deville đã được dịch ra hơn mười ngôn ngữ khác nhau.[2] Tác phẩm Cordon-bleu, Editions de Minuit 1987 ISBN 9782707311207 Das Perspektiv. Rowohlt Verlag GmbH, 1989, ISBN 9783498012816 El Catalejo, Translator Javier Albiñana, Anagrama, 1990, ISBN 9788433931863 Le Feu d'artifice, Editions de Minuit 1992 (The Fireworks) ISBN 9782707314208 Los Fuegos artificiales, Edicions 62, 1994, ISBN 9788429737332 花火, 白水社, 1994, ISBN 9784560043264 La Femme parfaite,, Editions de Minuit 1995 (The perfect woman) ISBN 9782707315076 Ces deux-là, Editions de Minuit, 2000 (These two) Pura vida: vie & mort de William Walker, Seuil, 2004 (Pure Life: Life and death of William Walker) ISBN 9782020628778 Pura vida: Vida y muerte de William Walker, Seix Barral, 2005, ISBN 9788432227875 La Tentation des armes à feu, Seuil, 2006 (The Temptation of firearms) ISBN 9782020798303 Equatoria, Seuil, 2009, ISBN 9782020906807 Kampuchéa, Seuil, 2011, ISBN 9782021056723 Vie et mort sainte Tina l'exilée, editions publie.net, 2011 (Life and holy death in exile Tina) Peste et Choléra, (Yersin: Dịch hạch & thổ tả), 2012. [Plague and Cholera] ISBN 978-2-02-107720-9 Mời các bạn đón đọc Viễn Vọng của tác giả Patrick Deville.
Dấu Chân Người Lính - Nguyễn Minh Châu
Nơi đây khi đang mùa thu hãy còn là một cánh rừng già im lìm như ngủ. Lúc bấy giờ những người chiến sĩ bộ binh và cả những người chiến sĩ trinh sát dày dạn và ưa hoạt động nhất của cấp trung đoàn hoặc sư đoàn hãy còn ở tuyến hậu phương. Suốt cả một dải rừng núi âm u rậm rạp, thỉnh thoảng mới thấy sáng bừng lên vài bông hoa chuối rừng đỏ nở trên những thân cây gầy khẳng. Tiếp giáp với bìa rừng là bãi lau hoang vu, rồi lại một cánh rừng khác, một bãi lau khác ăn thẳng ra con đường số 9 rải sỏi dẫn tới một thị trấn và ngoại vi khu đồn địch. Suốt cả mùa thu, ở đây còn hết sức yên tĩnh. Trên mặt đất khô ráo đang đón đợi mùa mưa ngàn tới, chỉ có bước chân những đàn voi đi thủng thỉnh xéo nát từng bãi tranh, và báo trước cho chiến dịch sắp mở là bước chân không để lại chút dấu tích của những người lính trinh sát Bộ Tư lệnh chiến dịch và bọn thám báo Mỹ giậm đè lên nhau. Khuê, chiến sĩ cần vụ của chính ủy trung đoàn 5 đã từng sống trên mảnh đất này suốt từ trận đánh mở màn chiến dịch. Nhưng anh không khỏi bỡ ngỡ mỗi khi có dịp rời khỏi hầm sở chỉ huy, đi trở lại khu rừng trú quân hồi trung đoàn mới từ giã trạm giao liên cuối cùng tận ngoài bờ sông Xê Pôn. Thế là sau một loạt trận đánh, địch đã dự đoán được đôi chút hướng xuất kích của những đơn vị chiến đấu lớn của chúng ta. Chúng rải thuốc độc hóa học và dùng máy bay B.52 rải bom theo lối "rải thảm". Chỉ có trong vòng nửa tháng, từ khi tiếng súng đầu tiên của ta nổ vào giữa thị trấn, các cánh rừng chung quanh đã quang đi từng vạt, từng vạt cỏ tranh bị thiêu cháy, ở các chân lèn đá và dọc khe suối đã bị phát quang, máy bay trinh sát các loại lượn đi lượn lại thăm dò suốt ngày đêm. Ban đêm từng chùm pháo sáng liên tiếp treo lơ lửng trong bầu sương thăm thẳm trắng rừng trắng núi. Mặc cho máy bay địch trinh sát và bắn phá, dưới mặt đất bộ đội vẫn chen chân nhau đi đông nghìn nghịt. Họ tranh thủ đi nhanh hơn, nhận mặt nhau, chào hỏi nhau. Con đường cứ hình thành dần những khu vực tọa độ (1) của địch. Trên chặng đường đầy cây cối đổ ngả nghiêng, khói bom khét lẹt và đất đỏ lật lên lấp hết cây cối, từng đơn vị cứ đi qua, hết đơn vị này đến đơn vị khác, hết binh chủng này đến binh chủng khác. Ban ngày có những khi máy bay trinh sát không làm nhiệm vụ chỉ điểm cho máy bay phóng pháo, với đôi cánh bằng gỗ dán, nó liệng từng vòng tròn rất hẹp trên từng chỏm cây một. Từ bên thành cửa sổ trống hoác như con mắt mù thò ra một chiếc loa phóng thanh và một giọng nói õng ẹo: Các anh bộ đội Việt cộng dũng cảm! Đây là tiếng nói của người em gái mến thương của các anh. Các anh hãy suy nghĩ mau mau trở về với người em gái mến thương và chính phủ Quốc gia. Các anh sẽ được trọng dụng và chiều chuộng. Em đang trông thấy các anh... *** Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Theo lời kể của vợ ông, bà Nguyễn Thị Doanh, tên khai sinh của Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Thí. Chỉ tới khi đi học, bố mẹ mới đổi tên cho ông thành Minh Châu. Trong những ghi chép cuối cùng, Ngồi buồn viết mà chơi ông viết trong những ngày nằm viện ở Bệnh viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét về mình: "Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ". Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi. Các tác phẩm: Cửa sông (tiểu thuyết, 1967) Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, 1970) Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972) Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977) Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982) Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983) Bến quê (tập truyện ngắn, 1985) Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987) Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, 1987) Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (tiểu luận phê bình, 1987) Phiên chợ Giát (truyện vừa, 1988) Cỏ lau (truyện vừa, 1989) Nguyễn Minh Châu toàn tập (Nhà xuất bản Văn Học, 2001) Di cảo Nguyễn Minh Châu (Nhà xuất bản Hà Nội, 2009) ... Mời các bạn đón đọc Dấu Chân Người Lính của tác giả Nguyễn Minh Châu.
Cuộc Đời Ngoài Cửa - Nguyễn Danh Lam
Trong vai một người viết tiểu thuyết, Nguyễn Danh Lam hẳn là mẫu nhà văn không thích, thậm chí rất dị ứng, việc cưng nựng chiều chuộng các nhân vật của mình. Từ những “Bến vô thường”, “Giữa vòng vây trần gian”, đến “Giữa dòng chảy lạc”, đã là thế. Và rồi đến cuốn tiểu thuyết mới nhất này, vẫn là thế. Nguyễn Danh Lam không thèm hạ cố ban cho nhân vật một danh tính rõ ràng. Cũng rất hiếm khi nhà văn gắn cho họ những nét phẩm chất tính cách hoặc những năng lực cá nhân trên mức trung bình. Đã vậy, anh lại hay đẩy các nhân vật vào những cảnh huống trớ trêu, những trạng thái sinh tồn nếu không bi đát thì cũng dở khóc dở cười. Điều, vừa quan trọng lại vừa oái oăm, là ở chỗ: trong những cảnh huống những trạng thái ấy, các nhân vật của Nguyễn Danh Lam luôn có một sự tự nhận thức, thường trực và đầy ám ảnh, về cái bất túc và bất lực của mình… Ở cuốn tiểu thuyết mới nhất này, Nguyễn Danh Lam cho nhân vật chính “lên đường”, làm một chuyến du lịch bụi cùng với cô con gái cả ngày chỉ biết dán mắt vào chơi game trên điện thoại di động và luôn miệng kêu than. Sau lưng họ, là một gia đình rạn nứt. Trước mặt họ, là những khúc rẽ bất ngờ, những đứt gãy nhân sinh còn tồi tệ hơn gấp bội. Nguyễn Danh Lam đã kể những chuyện ấy, một cách bình thản và đầy tiết chế. *** ường phố đã vào khuya. Ông không nhận thấy sự khác biệt nhiều lắm giữa thành phố cao nguyên này với thành phố nơi ông sống. Nhà cửa, phố xá cùng một sắc đèn rờ rỡ. Dò đường một lúc, ông mới lần ra cái khách sạn gã bạn chỉ. Trước đó nửa giờ, gã lí nhí qua máy: Mày thông cảm, giờ này tao không đi được, cứ vào cái khách sạn này, nói tên tao. Mai tao đến kiếm sớm. Mở cửa xe mua một gói thuốc, ông nghe gió thốc từng cơn. Thứ gió kỳ lạ, thổi triền miên, không giống gió của những cơn giông, cũng chẳng phải gió biển. Đây chính là sự khác biệt. Bụi quăng vào mặt ông những đám khô khốc. Không gian se lạnh, khá thú vị. Khách sạn có vẻ nằm ở khu trung tâm. Ông nói tên gã bạn với cô nhân viên tiếp tân. Cô gái xinh đẹp lắc đầu cười. Chú thông cảm, có lẽ ông chủ con biết, chứ con không biết chú ấy. Ông ngớ ra, bối rối. Giá đừng đề cập gã có lẽ hay hơn. Ông nghe gã dặn nên hỏi cô, chứ thực sự chẳng có chủ đích gì. Chẳng hạn như việc giảm giá phòng, hay ưu tiên một vị trí tốt nào đó. Hai cha con cùng đói ngấu. Buổi chiều, sau khi lên hết con đèo, ông dừng nơi thị trấn gần đó mua hai ổ bánh mì, định bụng khi tới nơi sẽ ăn bữa chính. Đường lạ, nhiều đèo dốc, khiến kế hoạch dự kiến đổ bể. Mình đi ăn rồi lên phòng, hay lên phòng rồi đi ăn? Đi ăn luôn đi ba. - Con gái ông nhăn nhó. Giờ này còn chỗ nào ăn uống được không cô? - Ông hỏi cô gái tiếp tân. Nhà hàng tụi con đã nghỉ. Mấy chỗ gần đây, họ cũng đóng cửa hết rồi. Chú nên chạy ra chợ trung tâm, thứ gì cũng có. Lại phải lết ra xe, gương mặt con gái ông vốn nhăn nhó, lúc này càng nhăn nhó hơn. Điệp khúc của nó luôn là đói. Ông hiểu, nó đang tuổi ăn tuổi lớn, không thể chịu đựng được như ba. Ông tấp xe vào một dãy quán sáng đèn. Mấy cặp nam nữ chừng tuổi con ông đi chơi về khuya, co ro quanh cái bàn bên cạnh. Họ cười nói và văng tục. Cách phục sức, mấy chiếc xe đời mới, hoàn toàn chẳng có gì khác thanh niên thành phố. Thuở xa xưa, ông nhớ, sự khu biệt khá rõ ràng, bởi những cách ngăn về giao thông, hành chính. Con gái ông bỏ dở gần nửa tô mì, trong khi ông húp cạn. Sao vậy con, mệt không ăn nổi à? Dở quá - Ông không biết món ăn dở thật, hay đó là nhận xét quen thuộc của con gái. ... Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Ngoài Cửa của tác giả Nguyễn Danh Lam.
Cửa Sông - Nguyễn Minh Châu
Tiểu thuyết được viết từ năm 1966, đây là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Minh Châu, nhưng ông đã chứng tỏ được một bút pháp gây nhiều hứng thú và cảm giác lạ như là một hiện tượng văn học, một sự tìm tòi sáng tạo. Trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu toát lên ba hướng khái quát: chiêm nghiệm những chân lý đời sống, khái quát những tính cách, phát hiện những vấn đề tồn tại xã hội.  Theo lời nhà văn Tô Hoài thì Những cái tưởng như lặt vặt trong cuộc sống hàng ngày, nhưng dưới con mắt và ngòi bút Nguyễn Minh Châu đều trở thành những gợi ý đáng suy nghĩ và có tầm triết lý. Bởi đối với ông, cuộc đời và trang sách như là một, gắn chặt với nhau.  Với Cửa sông, Nguyễn Minh Châu viết về hình ảnh một làng quê hiền hoà bên sông Kiều, dòng sông thơ mộng, những con người hồn hậu và bình dị của ngôi làng nhỏ bé ven sông, nhưng trong khói lửa chiến tranh, mỗi người đều được trui rèn, hun đúc và trở thành những người con quả cảm và gan dạ bên bến sông, kể cả cô giáo Thùy bé nhỏ và hiền dịu năm nào...  ... Thùy cảm thấy trong khuôn ngực bé nhỏ của mình như có một con chim đang vỗ cánh chực bay tung ra. Cô thở rất mạnh. Tuy đã ở làng Kiều bao nhiêu năm, đã ra vào cái trụ sở hợp tác xã này bao nhiêu lần, nhưng hôm nay, đứng ở đây, cô vẫn không sao khỏi bỡ ngỡ như người vừa mới đến. Thuỳ nhìn lá cờ đỏ, trong lòng rất xúc động nghĩ đến bao nhiêu người đảng viên cộng sản của làng Kiều đã ngã xuống... *** Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Theo lời kể của vợ ông, bà Nguyễn Thị Doanh, tên khai sinh của Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Thí. Chỉ tới khi đi học, bố mẹ mới đổi tên cho ông thành Minh Châu. Trong những ghi chép cuối cùng, Ngồi buồn viết mà chơi ông viết trong những ngày nằm viện ở Bệnh viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét về mình: "Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ". Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi. Các tác phẩm: Cửa sông (tiểu thuyết, 1967) Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, 1970) Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972) Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977) Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982) Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983) Bến quê (tập truyện ngắn, 1985) Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987) Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, 1987) Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (tiểu luận phê bình, 1987) Phiên chợ Giát (truyện vừa, 1988) Cỏ lau (truyện vừa, 1989) Nguyễn Minh Châu toàn tập (Nhà xuất bản Văn Học, 2001) Di cảo Nguyễn Minh Châu (Nhà xuất bản Hà Nội, 2009) ... Mời các bạn đón đọc Cửa Sông của tác giả Nguyễn Minh Châu.