Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ngôi Nhà Mũi Tên

Bà Harlowe - một người phụ nữ giàu có qua đời. Di chúc của bà không hề đề cập đến người em rể. Như một lẽ tất nhiên, người đàn ông này bực tức cáo buộc người thừa kế - Betty Harlowe, đã giết bà Harlowe nhằm chiếm đoạt tài sản. Jim Frobisher, cộng sự tại công ty, lập tức đến Pháp để bảo vệ quyền lợi cho Betty. Tham gia cùng anh còn có thám tử Hanaud lừng danh của Sở Cảnh sát Pháp. Liệu tất cả mọi chứng cứ được phơi bày có giống như vẻ bề ngoài của nó? Liệu đây có đơn thuần chỉ là một vụ tống tiền lộ liễu hay là một âm mưu được dàn dựng công phu? Liệu Hanaud danh nổi như cồn đó có hoàn thành sứ mệnh của mình một cách xuất sắc giống như mọi người vẫn hằng khen ngợi?... *** Review: Ngôi nhà mũi tên - A.E.W.Mason Dịch giả: Nguyễn Thành Long Người viết Hà Quang Huy #trinh_thám_cổ_điển #ngôi_nhà_mũi_tên Nếu các bạn thích trinh thám cổ điển thì không nên bỏ qua cuốn này, cái twist khá ấn tượng . Cái thủ pháp thấy tuy là đơn giản, nhưng ngộ ra nó quả là cao siêu khó lường  Mở đầu là cái chết của bà Harlowe - người phụ nữ giàu có ra đi không để lại tý di chúc nào cho ông em rể, ông ta liền viết thư tống tiền trắng trợn cho Haslitt đồng thời đâm đơn kiện Betty bé nhỏ đã đầu độc bà Harlowe. Nhận được thư, Haslitt điều phụ tá của mình là Jim đến bảo vệ quyền lợi cho thân chủ là Betty xinh đẹp quyến rũ. Hanaud - vị thám tử trứ danh của sở cảnh sát Pháp được đặc quyền điều tra vụ án khó khăn nhất trong cuộc đời của ông. Một vị thám tử toát lên vẻ trang nghiêm, chói loà rất thân thiện ân cần và khâm phục trước vị thần May Rủi. Căn biệt thự được thiết kế tinh xảo trang nhã lại ẩn giấu âm mưu u tối xám xịt chết chóc lạnh lẽo. Một tội ác đã xảy ra trong ngôi nhà bất hảo vào cái đêm 27/4 định mệnh dưới bàn tay của "Kẻ gieo tai hoạ". Thứ thuốc độc quỷ quyệt hoang dã giết người không để lại dấu vết được trưng bày qua bao năm tháng đã phát tác mạnh bạo. Hanaud cùng Jim lần mò trong bóng tối mờ mịt vô phương để tìm ra mạnh mối, giải đáp các bí ẩn dưới đôi bàn tay tội lỗi...Những gì ông cần làm đều đã được đào tạo qua đấu trường bò tót, ông đã quá chai sạn với những bất ngờ, điều khiến ông bất ngờ chỉ là thần May Rủi. Ông đã sống trong thế giới tội ác và tội phạm nên ông hiểu chúng một cách thanh tao, nhìn thấu chúng bằng ánh mắt lạnh lùng sắt đá. Bằng suy luận sắc bén của một kẻ lập dị ông phải diễn trò trên cái sân khấu bất đắc dĩ để lấp đầy nỗi buồn chán và cô độc của bản thân! Đánh giá khách quan: 8.5/10 *** Trong số các thân chủ của công ty Frobisher & Haslitt, một công ty tư vấn luật nằm tại mạn đông quảng trường Russell, rất nhiều người sở hữu doanh nghiệp tại Pháp; và họ rất lấy làm tự hào về điều ấy. “Nhờ đó mà chúng tôi trở nên có chỗ đứng trong lịch sử,” ông Jeremy Haslitt vẫn hay nói. “Mọi chuyện bắt đầu từ năm 1806, khi ông James Frobisher, cộng sự cấp cao rất nhiệt huyết thời bấy giờ của chúng tôi, đã tổ chức cho hàng trăm công dân Anh bị giam giữ theo sắc lệnh của Napoleon Đệ Nhất thoát khỏi Pháp. Công ty được Chính phủ bệ hạ bày tỏ lòng cảm ơn và vẫn may mắn duy trì được mối quan hệ ấy. Tôi đích thân coi sóc mảng đó của công ty.” Bởi thế, trong số thư từ ông Haslitt nhận được hàng ngày, lúc nào cũng có một lượng lớn thư dán con tem xanh thẫm của Pháp trên phong bì. Tuy nhiên, vào buổi sáng đầu tháng Tư hôm nay, chỉ có duy nhất một bức như vậy. Chữ viết trên đó trông ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc, và ông Haslitt không nhận ra là chữ ai. Nhưng nó mang dấu bưu điện Dijon, thế nên ông Haslitt nhanh chóng xé bao thư ra. Ông có một thân chủ ở Dijon, một góa phụ, bà Harlowe, và như ông nghe kể thì tình trạng sức khỏe của bà đang tệ lắm. Chắc chắn bức thư được viết tại nhà bà ấy, biệt thự Grenelle, nhưng không phải do đích thân bà viết. Ông lật sang phần chữ ký. “Waberski?” Ông vừa nói vừa cau mày lại. “Boris Waberski?” Và rồi ông thốt lên ngay khi nhận ra người viết thư, “À, phải rồi, phải rồi.” Ông ngồi xuống ghế và đọc. Phần đầu của bức thư chỉ đơn thuần là mấy câu văn hoa và khen ngợi, nhưng đọc được đến nửa trang hai thì mục đích của nó trở nên vô cùng rõ ràng. Đây là thư yêu cầu vay năm trăm bảng. Ông Haslitt mỉm cười và tiếp tục đọc, vừa đọc vừa độc thoại với người viết. “Tôi đang rất cần chỗ tiền đó,” Boris viết, “và…” “Hẳn là như thế rồi,” ông Haslitt nói. “Bà chị yêu quý của tôi, Jeanne-Marie…”, bức thư ghi tiếp. “Chị dâu,” ông Haslitt chỉnh lại. “… không thể sống lâu hơn được nữa, mặc dù tôi đã cố gắng chăm sóc chị ấy hết mực,” Boris Waberski tiếp tục trình bày. “Chắc hẳn ông cũng đã biết, chị ấy đã để lại cho tôi một phần lớn gia sản của mình. Vậy tức là nó đã thuộc về tôi rồi, đúng không? Có nói như vậy thì cũng sẽ không bị ai hiểu lầm ý cả. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vậy, xin hãy ứng trước cho tôi bằng thư đảm bảo một khoản nhỏ từ phần vốn đã thuộc về tôi, và cho tôi xin được gửi lời chào trân trọng nhất.” Nụ cười của Haslitt nở rộng hẳn ra. Bên trong chiếc hộp thiếc của ông là một bản sao tờ di chúc của Jeanne-Marie Harlowe, được công chứng viên người Pháp của bà tại Dijon viết lại theo đúng thể thức. Theo di chúc, mọi gia sản bà sở hữu sẽ được truyền lại vô điều kiện cho cháu gái chồng bà và con gái nuôi của bà, Betty Harlowe. Jeremy Haslitt thiếu chút nữa thì đã đem bức thư đi hủy. Ông gập nó lại; ngón tay giật giật trên nó; thậm chí phải đến khi xuất hiện cả một vết rách bên mép mấy tờ giấy thì ông mới đổi ý. “Không,” ông tự nhủ. “Không! Với cái tay Boris Waberski này thì không ai mà lường trước được,” và ông nhét bức thư vào một ngăn trong két riêng, sau đó khóa lại. Ba tuần sau, ông rất lấy làm mừng vì đã làm như vậy. Đó là lúc ông đọc được mẩu tin thông báo bà Harlowe đã qua đời trong cột cáo phó của tờ The Times, và nhận được một tấm thiệp lớn với viền đen rất đậm theo phong cách Pháp từ Betty Harlowe, ngỏ ý mời ông đến dự đám tang tại Dijon. Tấm thiệp mời này chỉ mang tính hình thức. Ông sẽ chẳng thể nào đến kịp Dijon để tham dự, kể cả nếu có khởi hành ngay tức khắc. Ông chấp nhận chỉ viết một vài dòng thành kính phân ưu với cô gái, và gửi một bức thư đến cho ông công chứng viên người Pháp, ghi rằng công ty ông sẽ hỗ trợ Betty. Thế rồi ông đợi. “Mình sẽ lại nghe tin từ cái tay Boris kia cho xem,” ông nói, và nội trong tuần đó, ông lại nhận được thư. Chữ viết trong thư thậm chí còn loằng ngoằng và nguệch ngoạc hơn hồi trước; sự hoảng hốt và phẫn nộ đã khiến cho câu từ của Waberski loạn hết cả lên; đồng thời hắn đã đòi lượng tiền lớn gấp đôi. “Thật không thể nào tin nổi,” hắn viết. “Chị ấy chẳng để lại chút gì cho người em trai tận tụy của mình. Có trò gì đó đang diễn ra, và tôi không ưa chút nào. Giờ số tiền sẽ phải là một ngàn bảng, gửi theo đường thư đảm bảo. ‘Boris tội nghiệp của chị, em luôn bị cả thế giới này quay lưng,’ chị ấy nói trong lúc mắt ngấn đầy lệ. ‘Nhưng chị sẽ bù đắp cho em trong di chúc.’ Và giờ thì chẳng có gì cả! Tất nhiên, tôi đã nói chuyện với cô cháu gái của tôi; ôi, con bé thật cứng đầu! Nó búng ngón tay vào mặt tôi! Hành xử theo cái thể thống gì vậy cơ chứ? Một ngàn bảng, thưa ông! Bằng không là sẽ có chuyện khó xử xảy ra! Vâng! Không ai búng ngón tay vào mặt Boris Waberski mà không trả tiền cả. Thế nên hãy trả tôi một ngàn bảng gửi theo đường thư đảm bảo, không là sẽ có chuyện khó xử”; và lần này Boris Waberski không buồn gửi lời chào nào đến cho ông Haslitt cả, cho dù có là trân trọng nhất hay không, chỉ đơn giản ký bằng một nét bút ngoáy tít, nhập nhằng khắp mặt thư. Ông Haslitt không mỉm cười với bức thư này. Ông nhẹ nhàng xoa hai lòng bàn tay vào với nhau. “Thế thì chúng ta đành phải để cho chuyện khó xử xảy ra vậy,” ông nói nhanh, và rồi cất bức thư thứ hai vào cùng chỗ với bức thư thứ nhất. Nhưng ông Haslitt cảm thấy hơi khó tập trung vào công việc. Bên trong cái ngôi nhà to lớn tại Dijon là một cô gái đơn côi, và không có người đồng hương nào ở bên cô ấy cả! Ông bất chợt đứng dậy khỏi ghế và băng qua hành lang, vào trong văn phòng của người cộng sự cấp thấp. “Jim, mùa đông này cậu đã đi Monte Carlo nhỉ,” ông nói. “Đi một tuần,” Jim Frobisher đáp. “Tôi nhớ mình có nhờ cậu đến thăm một thân chủ của chúng ta, người sở hữu một biệt thự ngoại ô tại đó - bà Harlowe.” Jim Frobisher gật đầu. “Tôi đã ghé. Nhưng bà Harlowe ốm rất nặng. Có một cô cháu gái, nhưng cô ta lúc ấy đang đi vắng.” “Thế tức là cậu không gặp ai cả?” Jeremy Haslitt hỏi. “Không, không phải,” Jim chỉnh lại. “Tôi thấy một nhân vật kỳ lạ ra mở cửa và xin lỗi thay bà Harlowe. Một ông người Nga.” “Boris Waberski,” ông Haslitt nói. “Đúng cái tên đó rồi.” Ông Haslitt ngồi xuống một cái ghế. “Kể cho tôi nghe về ông ta đi, Jim.” Jim Frobisher nhìn vào hư vô một vài giây. Anh là một thanh niên hai mươi sáu tuổi, mới chỉ tham gia làm cộng sự kể từ năm ngoái. Mặc dù rất nhanh nhẹn khi cần hành động gấp, anh lại hết sức cẩn trọng khi đánh giá bản chất người khác; và anh còn rất kính nể ông Jeremy Haslitt già, thế nên cứ mỗi khi làm gì liên quan đến công việc của công ty là lại cẩn trọng gấp đôi. Một lúc sau anh trả lời. “Ông ta là một người cao lớn, đi đứng trông có vẻ nặng nhọc, bên trên một vầng trán ngắn và một cặp mắt hoang dại là một mớ tóc bạc dựng thẳng đứng như dây kẽm gai. Ông ta gợi cho tôi nhớ đến một con rối không được gắn dây tử tế lên chân tay. Tôi tin con người này có bản chất khá ngông cuồng và dễ bị kích động, ông ta cứ liên tục miết bộ ria mép với mấy ngón tay dài ngoằng, ố màu thuốc lá. Đây là cái kiểu người có thể nổi điên bất cứ lúc nào.” Ông Haslitt mỉm cười. “Đúng như những gì tôi nghĩ.” “Ông ta gây rắc rối gì cho ông à?” Jim hỏi. “Chưa đâu,” ông Haslitt nói. “Nhưng bà Harlowe đã chết, và tôi tin rằng rất có khả năng ông ta sẽ giở trò gì đó. Ông ta có hay bài bạc gì không?” “Có, chơi rất khát,” Jim nói. “Tôi đoán là ông ta sống bám vào bà Harlowe.” “Tôi cũng nghĩ thế,” ông Haslitt nói, và ông im lặng ngồi đó một lúc. Thế rồi ông nói: “Thật đáng tiếc là cậu không được gặp Betty Harlowe. Tôi từng một lần ghé thăm Dijon trên đường đi qua miền Nam nước Pháp năm năm trước, hồi Simon Harlowe, chồng bà ấy, hãy còn sống. Betty hồi đó là một cô bé chân dài gầy gò, đi tất lụa đen, sở hữu một gương mặt trắng, sáng sủa, và mái tóc đen sẫm cùng cặp mắt lớn, xinh xắn lắm.” Ông Haslitt dịch người trên ghế một cách không thoải mái. Cả một ngôi nhà cổ với khu vườn lớn đầy dẻ và sung, trong khi cô gái kia thì một thân một mình, sống cùng với một tay đầu óc có vấn đề, đang bực bội và muốn gây chuyện khó xử cho cô. Ông Haslitt không thích cái hình ảnh đó chút nào! “Jim,” ông bất chợt nói, “cậu có thể thu xếp công việc sao cho nếu cần thiết thì sẽ có thể rời đi ngay lập tức được không?” Jim ngước nhìn lên, tỏ vẻ ngạc nhiên. Loạn cào cào, như kiểu dân sân khấu hay nói, không phải là chuyện hay xuất hiện tại công ty Frobisher & Haslitt. Dù cho đồ nội thất của họ hơi xỉn màu, tác phong của họ rất trang nghiêm; thân chủ có thể gặp chuyện khẩn, nhưng vội vã và gấp gáp là những từ công ty không bao giờ sử dụng. Chắc chắn đâu đó quanh đây sẽ có một luật sư chịu hiểu cho họ. Ấy nhưng giờ đây, đích thân ông Haslitt, cùng với mớ tóc bạc trắng và gương mặt tròn trịa khác thường, nửa trẻ con, nửa thông minh xuất sắc, lại đang đề nghị cộng sự cấp thấp của mình chuẩn bị sẵn sàng để đi thẳng sang đại lục châu Âu ngay khi có lệnh. “Tôi chắc chắn có thể làm vậy,” Jim nói, và ông Haslitt nhìn anh với vẻ hài lòng. Jim Frobisher sở hữu một nét tính cách rất khác người. Ngay cả người quen của anh, cho dù có là bạn bè thân thuộc, cũng mới chỉ từng biết đến các dấu hiệu anh để lộ ra bên ngoài. Anh là một người cô độc. Cho tới nay, anh chỉ quan tâm đến một số rất ít người, và ngay cả những người ấy anh cũng chẳng thiết tha gì mấy. Đam mê của anh là được cảm thấy rằng cuộc đời mình và ý nghĩa cuộc đời mình không phụ thuộc vào người khác. Trong những tháng được rảnh rang, anh luôn theo đuổi dam mê ấy. Một chiếc thuyền buồm nửa boong* chỉ cần một người lái, một cây rìu phá băng, một khẩu súng trường, một vài cuốn sách dài bất tận, chẳng hạn như Chiếc nhẫn và cuốn sách*. Đó chính là những người bạn đồng hành của anh trên biết bao chuyến thám hiểm cô đơn, bên cạnh các vì sao và những suy tư của riêng mình. Hệ quả là anh đã tự tạo cho bản thân mình một vẻ lạnh nhạt khác thường, khiến cho anh lập tức trở nên nổi trội giữa đám đông. Đây là một diện mạo đầy vẻ dối lừa, bởi lẽ nó dễ gợi lên sự tin tưởng cho người khác, mặc dù có khi chẳng có lý do nào để họ đặt lòng tin như vậy cả. Chính cái vẻ ngoài ấy bấy giờ đã thuyết phục ông Haslitt. “Đây đích thị là một người thích hợp để đối đầu với cái ngữ như Boris Waberski,” ông nghĩ thầm, có điều không nói hẳn ra như vậy. • Thuyền buồm nửa boong; loại thuyền half-deck, phần boong chỉ kéo dài bằng nửa thân tàu, có thể nằm ở cuối hoặc đuôi tàu. • Chiếc nhẫn và cuốn sách: tức The Ring and the Book, một tiểu thuyết dài được viết dưới dạng thơ của Robert Browning. Điều ông nói là: “Có khi cũng chẳng cần thiết phải làm vậy đâu. Betty Harlowe có một luật sư người Pháp. Chắc chắn anh ta sẽ đủ sức giải quyết. Ngoài ra…” - và ông mỉm cười lúc nhớ lại một câu trong bức thư thứ hai của Waberski - “Betty có vẻ là người rất có khả năng tự bảo vệ mình. Cứ để rồi xem.” Ông quay trở lại văn phòng của mình, và suốt một tuần liền ông không nhận được thêm bất cứ tin tức gì từ Dijon nữa. Lúc ông đã gần quên đi sự lo lắng của mình thì bất thình lình, một tin động trời xuất hiện, và nó được truyền đến thông qua một kênh rất bất ngờ. Jim Frobisher là người báo tin cho ông biết. Anh xộc vào văn phòng của ông Haslitt đúng lúc người cộng sự cấp cao đang đọc cho anh thư ký ghi lại lời phúc đáp cho mấy bức thư buổi sáng của mình. “Ông Haslitt!” Jim la lên, và ngưng bặt khi nhìn thấy viên thư ký. Ông Haslitt nhìn lướt qua gương mặt người cộng sự trẻ của mình và nói: “Godfrey, lát nữa chúng ta sẽ tiếp tục trả lời thư sau.” Viên thư ký mang cuốn sổ tay tốc ký ra khỏi căn phòng, và ông Haslitt quay sang Jim Frobisher. Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Mũi Tên của tác giả A. E. W. Mason.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Lớp CE2 Chạm Trán Siêu Nhân
Bộ sách Những Cuộc Phiêu Lưu Mới Của Sáu Người Bạn gồm có: Lớp CE2 Chạm Trán Siêu Nhân Bộ Lục Phạm Pháp Bất Đắc Dĩ Bộ Lục & Chiếc Găng Tay Bí Ẩn Bộ Lục Nhắm Mắt Đưa Chân Paul-Jacques Bonzon (31/8/1908 - 24/9/1978) là nhà văn Pháp, Nổi tiếng với tác phẩm Sáu người bạn đồng hành Les Six Comganons. Ông sinh ra ở Sainte-Marie-du-Mont, Manche. Ông từng theo học tại Saint-Lô. Năm 1935 Ông kết hôn với một giáo viên ở Drôme nơi ông chuyển tới sinh sống và giảng dạy kiêm hiệu trưởng trong vòng hơn hai mươi năm. Ông mất tại Valence năm 1978. Mời các bạn đón đọc Lớp CE2 Chạm Trán Siêu Nhân của tác giả Paul Jacques Bonzon & Nguyễn Minh Hoàng (dịch).
Nóng Bỏng
Bậc thầy phim kinh dị Lee Child trở lại với một truyện ngắn. Giữa một đợt nắng nóng dữ dội và một vụ giết người khét tiếng, sự cố mất điện đã đánh thức mặt tối không bao giờ ngủ của thành phố—và Jack Reacher trẻ tuổi hành động theo khả năng của mình.   Đừng bỏ lỡ phần xem trước thú vị của tiểu thuyết Jack Reacher rất được mong đợi của Lee Child, Never Go Back!   Tháng 7 năm 1977. Jack Reacher gần mười bảy tuổi và anh dừng lại ở Thành phố New York trên đường đến thăm anh trai mình ở West Point. Cái nóng mùa hè ngột ngạt, thành phố phá sản và tay súng điên loạn được biết đến với cái tên Son of Sam vẫn đang lẩn trốn. Reacher gặp một người phụ nữ có vấn đề và đồng ý giúp cô ấy. . . nhưng sau đó lưới điện bị hỏng và đèn tắt, khiến thành phố vô luật pháp rơi vào hỗn loạn. Một thiếu niên đến thăm làm gì trong bóng tối? Nếu thiếu niên đến thăm đó là Jack Reacher, câu trả lời là rất nhiều. *** Jack Reacher là sáng tác của Lee Child, một nhà văn người Anh và từng là một nhà sản xuất phim truyền hình. Khi nhìn danh sách những nhà văn bán chạy nhất ở Mỹ, ông thấy rằng mỗi năm có khoảng năm cái tên luôn xuất hiện trong danh sách này, và muốn trở thành một trong số họ. Và giờ ông đã đạt được mục đích đấy. Jack Reacher lần đầu xuất hiện trong Killing Floor, ra mắt vào năm 1997. Từ đó, mỗi năm ông xuất bản một tiểu thuyết về Reacher (năm 2010 còn có hai cuốn!). Reacher từng là một cảnh sát cấp trung tá, làm việc trong một đội cảnh sát chuyên về những vụ án hóc búa. Sau khi nghỉ việc (với những lý do đầy bí ẩn), anh thang lang khắp nơi, không có nhà cửa, bằng lái xe, và chỉ mang theo mình một chiếc bàn chải đánh răng, thẻ ATM và một hộ chiếu đã hết hạn. Khi một nhân vật trong truyện hỏi anh có phải người vô gia cư không, anh trả lời người vô gia cư thường cũng có nhiều hành trang không cần thiết hơn. Reacher chỉ mang theo mình những thứ cần thiết – luôn mua quần áo mới, không ở lâu ở một nơi, chỉ đủ lâu để giải quyết những vụ án bí ẩn. Reacher như người vô hình, một sự tồn tại khá hấp dẫn khi ngày nay mỗi bước đi của chúng ta đều được chụp ảnh, ghi chép và đánh dấu. Reacher được tả là tóc vàng để theo kiểu đầu đinh, cao gần 2m1 và nặng gần 100kg. Nói ngắn gọn: đây là một gã khá đô. Trong tiểu thuyết, anh có thể một tay bóp nát sọ người. Sự đồ sộ của Reacher và trí thông minh của anh khiến anh trông rất đáng sợ: bộ não của anh cũng lớn không kém con người anh và anh không hề e ngại phải chơi xấu người khác. Ngoài vẻ bề ngoài khá nổi bật, Jack Reacher luôn đi tìm kiếm công lý. Đây là một mục đích anh học từ hồi nhỏ (anh sinh ra trong một gia đình quân đội, và chính anh trai anh cũng hy sinh trên chiến trường). Vì thế, anh ít khi bỏ qua những chuyến phiêu lưu mới dù anh hoàn toàn có thể bỏ đi mà không hề hấn gì. Nếu gặp một tình huống cần đi đòi công lý, Jack Reacher sẽ không thể không sa vào. Nói chung là tất cả các tiểu thuyết trong loạt truyện này đều đáng đọc và luôn lôi cuốn. Mỗi tập đều tập trung vào cốt truyện và nhân vật, khai thác những mối quan hệ nhân vật. Nếu muốn tìm hiểu thêm, bạn có thể tìm đọc One Shot; phim Jack Reacher được dựa theo cuốn đó. The Enemy và The Affair kể về quá khứ của Reacher. Rồi có Gone Tomorrow đã được nhắc tới, vui nhộn với bối cảnh New York. Bạn cũng có thể đọc thêm 61 Hours và Worth Dying For, hai cuốn Reacher được ra mắt cùng năm. *** Tên đàn ông đã ngoài ba mươi tuổi, rõ ràng là rắn rỏi và đang nóng nực, Reacher nghĩ vậy. Hắn đang đổ mồ hôi trong bộ vest của mình. Người phụ nữ mặt đối mặt với hắn có thể trẻ hơn, nhưng không nhiều. Cô ấy cũng nóng, và sợ hãi. Hoặc ít nhất là căng thẳng. Điều đó đã rõ ràng. Tên đàn ông đã ở quá gần cô. Cô ấy không thích điều đó. Đã gần tám giờ rưỡi, trời sắp tối. Nhưng nhiệt độ không giảm. Ai đó đã nói là một trăm độ[1]. Một đợt nắng nóng thực sự. Thứ 4, ngày 13 tháng 7 năm 1977, Thành phố New York. Reacher sẽ luôn nhớ ngày tháng. Đó là chuyến đi một mình lần thứ hai của anh. Tên đàn ông đặt lòng bàn tay của hắn lên ngực của người phụ nữ, ấn làn vải bông ẩm vào da cô, đầu ngón tay cái của hắn đặt vào khe ngực của cô. Không phải là một cử chỉ dịu dàng. Nhưng cũng không phải là một cử chỉ hung hăng. Trung lập, giống như một bác sĩ. Người phụ nữ không lùi bước. Cô ấy chỉ đứng sững tại chỗ và liếc nhìn xung quanh. Nhưng không thấy gì nhiều. Thành phố New York, tám giờ rưỡi tối, nhưng đường phố vắng tanh. Trời quá nóng. Waverly Place, giữa Đại lộ Số Sáu và Quảng trường Washington. Mọi người sẽ đi ra đường sau, nếu có. Sau đó, tên đàn ông bỏ tay ra khỏi ngực người phụ nữ, và hắn hất nó xuống như muốn đánh bay một con ong khỏi hông cô, và sau đó hắn ta quất nó trở lại, như trên một chiếc xích đu trong nhà tròn quay lớn và tát mạnh vào mặt cô ấy, với đủ sức mạnh cho một tiếng bốp ác liệt, nhưng tay hắn và mặt cô quá ẩm ướt đối với âm thanh của súng lục, nên âm thanh phát ra chính xác như từ: chát. Đầu của người phụ nữ bị hất sang một bên. Âm thanh vang vọng như từ viên gạch bị bong tróc. Reacher la lên, “Này”. Tên đàn ông quay lại. Hắn ta tóc đen, mắt đen, có lẽ năm - mười[2], có lẽ hai trăm pound. Áo sơ mi của hắn trong suốt vì mồ hôi. Hắn nói, “Biến đi, nhóc”. Vào đêm đó, Reacher còn chưa đầy ba tháng mười sáu ngày trước sinh nhật lần thứ mười bảy của ình, nhưng về thể chất, anh đã trưởng thành khá nhiều. Anh cao gần đến chiều cao đạt được sau này, và không một người lành mạnh nào có thể gọi anh là gầy. Anh sáu - năm[3], hai - hai mươi[4], tất cả đầy cơ bắp. Thể chất đã hoàn thành, ít nhiều. Nhưng mới hoàn thành rất gần đây. Hàng mới toanh. Hàm răng trắng và đều, đôi mắt của anh gần giống màu nước biển, mái tóc lượn sóng và cơ thể, làn da mịn màng và trong sáng. Các vết sẹo và các đường và vết chai vẫn chưa có. Tên đàn ông nói, “Ngay bây giờ, nhóc”. Reacher nói, “Thưa cô, cô nên tránh xa người này”. Người phụ nữ đã làm như vậy, lùi lại, một bước, hai bước, ra khỏi phạm vi của hắn. Tên đàn ông nói, “Mày có biết tao là ai không?” Reacher nói, “Có sự khác biệt nào hay sao?” “Mày đang chọc giận nhầm người rồi đó”. “Người?” Reacher nói. “Đó là một từ số nhiều. Ông có nhiều hơn một người sao?” “Mày sẽ thấy”. Reacher nhìn quanh. Đường phố vẫn vắng vẻ. “Khi nào tôi sẽ phát hiện ra?” anh nói. “Rõ ràng là không có ai”. “Mày nghĩ mày thông minh lắm sao?” Reacher nói, “Thưa cô, tôi rất vui ở đây để giữ ông ta lại, nếu cô muốn chạy đi”. Người phụ nữ không di chuyển. Reacher nhìn cô. Anh nói, “Có phải tôi đang hiểu lầm điều gì đó không?” Tên đàn ông nói, “Biến đi, nhóc”. Người phụ nữ nói, “Cậu không nên can dự vào”. “Tôi không can dự vào đâu cả”, Reacher nói. “Tôi chỉ đang đứng đây, trên đường phố”. Tên đàn ông nói, “Đi mà đứng ở phố khác”. Reacher quay lại và nhìn hắn ta và nói, “Có ai chết và ông thành thị trưởng hả?” “Đó là một cách nói, nhóc. Mày không biết đang nói chuyện với ai đâu. Mày sẽ hối tiếc về điều đó”. “Khi những người khác đến đây à? Đó có phải là ý ông không? Bởi vì hiện tại chỉ có ông và tôi. Và tôi không lường trước được sẽ hối tiếc gì về điều đó, dù sao thì không phải cho tôi, trừ khi ông không có tiền”. “Tiền gì?” “Để tôi lấy”. “Cái gì, bây giờ mày nghĩ mày sẽ nghiền nát tao à?” “Không phải điều ông muốn”, Reacher nói. “Nhiều hơn một sự kiện lịch sử. Một nguyên tắc cũ. Như một truyền thống. Ông thua cuộc chiến, ông phải từ bỏ kho báu của mình”. “Mày và tao có chiến tranh hả? Nếu có, mày sẽ thua, nhóc. Tao không quan tâm mày cao lớn thế nào, thằng bé quê mùa nhai bắp. Tao sẽ đá vào mông mày. Tao sẽ đá nó thê thảm”. Người phụ nữ vẫn cách đó sáu bước chân. Vẫn không nhúc nhích. Reacher lại nhìn cô và nói, “Thưa cô, quý ông này đã kết hôn với cô hay có quan hệ họ hàng với cô theo một cách nào đó, hay có quan hệ với cô về mặt xã hội hay nghề nghiệp nào không?” Cô nói, “Tôi không muốn cậu can dự vào”. Cô trẻ hơn hắn, chắc chắn. Nhưng không nhiều. Vẫn tuyệt vời đứng đó. Có thể là 29 tuổi. Một cô gái tóc vàng nhạt. Ngoài màu đỏ rực từ cái tát, cô trông rất đẹp, theo kiểu phụ nữ lớn tuổi. Nhưng cô gầy và lo lắng. Có lẽ cô đã gặp nhiều căng thẳng trong cuộc sống. Cô đang mặc một chiếc váy mùa hè rộng dài quá đầu gối. Cô có một chiếc túi xách được đeo qua vai. Reacher nói, “Ít nhất hãy nói cho tôi biết điều gì mà cô không muốn tôi dính vào. Đây có phải là một gã ngẫu nhiên nào đó đang quấy rối cô trên đường phố không? Hay không phải như vậy?” “Có gì khác đâu?”   Mời các bạn đón đọc Nóng Bỏng của tác giả Lee Child & DgHien (dịch).
Tỉa Dần
James Hadley Chase là bút danh của tác giả người Anh – Rene Brabazon Raymond (24/12/1906 – 6/2/1985), người cũng đã viết dưới tên James L. Docherty, Ambrose Grant và Raymond Marshall. Ông được sinh ra ở Luân Đôn, là con của một đại tá người Anh phục vụ trong quân đội thuộc địa Ấn Độ, người dự định cho con trai mình có một sự nghiệp khoa học, bước đầu đã cho học tại trường học Hoàng gia, Rochester, Kent và sau đó học ở Calcutta. Ông rời gia đình ở tuổi 18 và làm nhiều công việc khác nhau, một nhà môi giới trong nhà sách, nhân viên bán sách bách khoa toàn thư của trẻ em, người bán sách sỉ trước tập trung vào sự nghiệp viết lách, đã sản xuất hơn 80 cuốn sách bí ẩn. Năm 1933, ông đã cưới Chase Sylvia Ray và có một con trai. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, với khoảng 90 tiểu thuyết, hầu như câu chuyện nào của James Hadley Chase cũng có một nhân vật chính muốn làm giàu nhanh bằng cách phạm tội ác - lừa gạt, cướp bóc hay ăn trộm. Nhưng kế hoạch của họ luôn thất bại, phải giết người để gỡ bí, và càng bí thêm. Các tác phẩm của James H. Chase đã được xuất bản tại Việt Nam: Cái Chết Từ Trên Trời Cả Thế Gian Trong Túi Ôi Đàn Bà Cạm Bẫy Gã Hippi Trên Đường (Frank Terrell #5) Thằng Khùng Cạm Bẫy Bản Đồng Ca Chết Người (Frank Terrell #1) Tỉa Dần Hứng Trọn 12 Viên Đam Mê và Thu Hận Tệ Đến Thế Là Cùng Mười Hai Người Hoa và Một Cô Gái Buổi Hẹn Cuối Cùng Trở Về Từ Cõi Chết Không Nơi Ẩn Nấp Đồng Tiền và Cạm Bẫy Lại Thêm Một Cú Đấm Đặt Nàng Lên Tấm Thảm Hoa Cành Lan Trong Gió Bão Những Xác Chết Chiếc Áo Khoác Ghê Tởm Món Quà Bí Ẩn Âm Mưu Hoàn Hảo Cướp Sòng Bạc Cạm Bẫy Dành Cho Johnny Những Xác Chết Câm Lặng Em Không Thể Sống Cô Đơn Thà Anh Sống Cô Đơn Buổi Hẹn Cuối Cùng Mùi Vàng Phu Nhân Tỉ Phú Giêm Tình Nhân Gã Vệ Sĩ Dấu Vết Kẻ Sát Nhân Trong Bàn Tay Mafia Này Cô Em Vòng Tay Ác Quỷ Thiên Đường của Vũ Nữ Châu Dã Tràng Xe Cát .... *** - Dù thế nào em cũng phải nhìn nhận. - Tôi sảng khoái nói - Khung cảnh ấm cúng hữu tình của cái hang ổ này vẫn còn hơn rất xa bất cứ hộp đêm "Guốc Vàng" nào trên thế giới. Tôi dịu dàng rót rượu vào ly nàng, châm thêm điếu thuốc rồi vui vẻ nói tiếp: - Hãy chậm rãi nha cưng. Này, thức ăn ngon tuyệt vời, rượu đặc biệt thượng hạng, cảnh trí trần thiết màu sắc hài hòa thanh nhã và nhạc điệu réo rắt nhặt khoan có thua gì cảnh thần tiên không? - Phải, em đồng ý với những thứ kia, ngoại trừ âm nhạc - Annabelle Jackson hổn hển nói - Có phải là một tội ác hay không, khi người ta đưa Clarence Nesbitt, một nhạc sĩ tầm cỡ trường phái Jazz, vào phòng hơỉ ngạt? - Vâng, anh sẽ nghĩ lại, người ta có nên sửa đổi quan điểm về âm nhạc hay không - Tôi tỏ vẻ khiêm tốn, nhìn nàng dịu dàng đáp lại. Tôi đặt đĩa nhạc có lời tựa "Wee small hour" tập nhạc trữ tình của Frank Sinatra vào dàn máy, rồi quay lưng lại ngồi cạnh nàng trên tràng kỷ. - Thú thật, em cần phải đi về, anh à - Annabelle nài nỉ. - Ở lại đây không hơn hay sao? - Nguy hiểm anh ạ - Nàng khẽ nói, không tin tưởng. Giọng hát trầm trầm truyền cảm của bài "Mood indigo" được phát ra trung thực qua chiếc loa Hifi hiện đại đã làm Annabelle có phần hòa dịu. - Ấy, cái chỗ của anh không đảm bảo an toàn cho em là thế đấy, Al. Thú thật lần đầu tiên em quá bạo mới đến đây với anh. - Anh hiểu điều này, em yêu. - Em đã nghĩ đúng, chuyện sẽ xảy ra như thế này. - Như thế nào? - Hai chiếc giường, các tấm thảm dày ngăn tiếng động, trong khi đó không có một chiếc ghế để ngồi. Về ánh sáng, dĩ nhiên nó phải mờ mờ... - Em yêu, anh say đắm không khí hữu tình này... - Nhưng em chưa hiểu cái bên trong của nó - Đột nhiên nàng nói nhiệt tình. Ly của nàng vừa uống cạn, tôi vội vàng châm thêm thật đầy. - Lúc này Rena như thế nào? - Nàng đưa mắt ngây thơ hồn nhiên hỏi. - Chỉ biết anh không gặp lại cô ấy, thế thôi. - Anh nên sửa đổi lại. Qua những điều người ta nói với em thì anh vẫn gặp cô ả đều đều. - Cô ta thừa kế tờ nhật báo của bố và bận rộn tất bật vì công việc. Chừng như ả phát hiện được cá tính năng động nhiều quyến rũ nơi các chàng nhà báo trẻ. Annabelle đắm đuối nhìn tôi nhưng âm thầm không nói. Tôi trả lại nàng ánh mắt yêu thương thành thật nhất. Nàng khép mắt lại, từ từ thư giãn rồi thì thầm bên tai tôi những lời tin cẩn. - Em phát điên lên khi đến với anh. Nhưng thú thật em là cô gái hiếu kỳ, Al Wheeler ạ. - Về chuyện gì thế? - Về tất cả mọi chuyện liên quan tới anh. Em luôn luôn tự hỏi nó có phải là sự thật hay không. - Trời ạ, mà chuyện gì mới được? - Không quan hệ lắm đâu cưng! Nhưng em thắc mắc, thế thôi. Chiếc ly rỗng của nàng rơi vào bàn tay tôi như miếng thẻ nhôm ấn vào cái hộp nhạc. Sinatra sướt mướt "Can't we be íriens" — Chúng ta không thể là bạn của nhau. Hoan hô Frank dũng cảm, anh luôn luôn đến trám chỗ hổng hụt. Tôi dán sát vào nàng trên tràng kỷ và trao cho nàng thêm ly rượu đầy. - Anh sẽ nói em nghe - Giọng tôi xuống thấp - rằng em là cô gái bướng bỉnh... - Em ấy à? - Nàng hỏi giọng trong trẻo hồn nhiên. - Quá đẹp cũng là tai họa. Mỗi lần nhìn em thì y như rằng anh quên bẵng kỹ thuật. Thật là nguy hiểm, anh cần nhiều năm để điều chỉnh lại... - Giọng nói đó - Nàng thổ ra mơ màng - Đã làm em rung cảm! - Ô! Chỉ đơn giản thôi - Tôi khiêm nhường - Một điều hợp qua đường dây thanh quản của anh, cái mà... - Em nói về Sinatra cơ! - Nàng cắt ngang, rồi kề môi nhấp cạn ly Whisky cuối cùng. Nàng cẩn thận đặt ly xuống nền sàn rồi bất ngờ vòng tay ôm choàng lấy tôi. Đôi môi tô thắm và khêu gợi của nàng ngập ngừng chờ đợi bờ môi tôi. Tôi ghì chặt nàng vào đôi tay đùm bọc yêu thương nếu không nói là điêu luyện. Chúng tôi cuốn chặt vào nhau. Môi kề môi nồng nàn... Điện thoại reo vang inh ỏi. Nàng đẩy nhẹ tôi ra, thở hổn hển. - Al. Điện thoại! - Mặc nó! Nhầm số rồi đấy! - Tôi nói đứt quãng. - Tại sao anh biết? - Trời ạ, thử hỏi ai có đủ can đảm gọi tôi vào giờ này? Nàng đưa hai tay đẩy mạnh tôi ra. - Em muốn biết con nỡm nào gọi lại! Đến nhấc ống nghe đi! Tôi uể oải đứng lên, đến bắt ống nghe trong khi miệng làu bàu: - Cái gì hử? - Wheeler! Chúa ơi, cái giọng báo đời không ngớt hành hạ tôi, nó đang ong óng: - Tôi cần gặp anh lập tức! - Sếp ơi! - Tôi nài nỉ thiếu điều muốn lạy - Có phải sếp định đưa một đại đội cảnh sát tiến vào tòa thị chính hay sao? - Dỏng tai nghe rõ này: Ngay lập tức, nói cách khác, không được trì hưỡn! Tiếng dập máy tàn nhẫn từ phía kia đầu dây làm lùng bùng hai lỗ tai tôi. Tôi nhìn Annabelle vẻ van xin, nhưng nàng đã đứng lên, mở túi xách, tô thắm lại đôi môi. - Em biết - Nàng nói để chận trước những lời biện bạch của tôi - Chỉ có cách này mới gọi là "Tiếng cồng đã cứu đời em"!   Mời các bạn đón đọc Tỉa Dần của tác giả James Hadley Chase.
Truy Lùng
Masao đau đớn khi nhận tin cả hai bố mẹ đã tử nạn sau một tai nạn máy bay. Kinh hoàng và xót xa tột độ nhưng bằng trí thông minh, sự tỉnh táo của mình, Masao kịp nhận ra phía sau đó là một âm mưu… Bản năng sinh tồn cùng với quyết tâm làm sáng rõ cái chết của cha mẹ đã giúp Masao tẩu thoát và truy tìm sự thật. Nhưng ở bất cứ đâu, Masao cũng phải đối diện với sự truy lùng ráo riết đầy nguy hiểm của người chú - kẻ chủ mưu chiếm đoạt tài sản của cha mẹ anh. Cuộc chạm trán cuối cùng đầy bất ngờ và kịch tính, Masao tưởng rằng, mọi chuyện đã chấm hết. Nó cũng kết thúc, nhưng người phải chết lại không phải Masao… *** Sidney Sheldon , là một tiểu thuyết gia người Mỹ, đoạt giải của Viện Hàn Lâm nghệ thuật Mỹ, ông còn là một kịch tác gia và một người viết kịch bản phim và chương trình truyền hình chuyên nghiệp. Sheldon sinh tại Chicago, Illinois, với tên khai sinh là Sidney Schechtel, có bố là người Do Thái gốc Đức, mẹ là gốc Nga. Phần lớn tác phẩm của ông thuộc thể loại trinh thám, hình sự, tình cảm, và đều thuộc hàng best-seller. Các tác phẩm như Rage of Angels (Thiên thần nổi giận), The Other Side of Midnight (Phía bên kia nửa đêm), If Tomorrow Comes (Nếu còn có ngày mai)... đã làm nên tên tuổi Sheldon. Với cốt truyện ly kỳ, hồi hộp, gây thích thú, những quyển sách này đã lôi kéo khá đông độc giả đến với Sheldon. Sidney Sheldon đã xuất bản 18 tiểu thuyết, bán ra đến 300 triệu bản, và là tác giả sách nổi bật nhất trong nhiều thập kỷ. Các bản dịch tác phẩm sang 71 ngôn ngữ ở 180 quốc gia giúp ông được Sách Kỷ lục Guinness công nhận là “tác giả được dịch nhiều nhất thế giới”. Ông qua đời tại bệnh viện Eisenhower ở thành phố Rancho Mirage thuộc bang California, Hoa Kỳ và thọ 89 tuổi. Ước tính tổng tài sản sau khi qua đời của Sidney Sheldon là 3 tỷ USD. Các bộ tiểu thuyết của Sidney Sheldon: The Naked Face (1970) - Lộ mặt The Other Side of Midnight (1973) - Phía bên kia nửa đêm A Stranger in the Mirror (1976) - Người lạ trong gương Bloodline (1977) - Dòng máu Rage of Angels (1980) - Thiên thần nổi giận Master of the Game (1982) - Bậc thầy của trò chơi (Tên khác: Người Đàn Bà Quỷ Quyệt) If Tomorrow Comes (1985) - Nếu còn có ngày mai Windmills of the Gods (1987) - Sứ giả của thần chết The Sands of Time (1988) - Cát bụi thời gian Memories of Midnight (1990) - Kí ức lúc nửa đêm The Doomsday Conspiracy (1991) - Âm mưu ngày tận thế The Stars Shine Down (1992) - Sao chiếu mệnh Nothing Lasts Forever (1994) - Không có gì là mãi mãi Morning, Noon and Night (1995) - Sáng, trưa và đêm The Best Laid Plans (1997) - Kế hoạch hoàn hảo Tell Me Your Dreams (1998) - Hãy kể giấc mơ của em The Sky is Falling (2001) - Bầu trời sụp đổ Are You Afraid of the Dark? (2004) - Bạn có sợ bóng tối? (Bóng tối kinh hoàng) *** Sidney Sheldon Truy Lùng   Mở đầu   - Chú ý! Phi công biết chắc rằng tất cả họ sẽ chết. Trong cơn bão giật điên cuồng, chiếc máy bay Silver Arrow Jet mười hai chỗ ngồi bị nhồi lên dội lên dội xuống như một thứ đồ chơi giữa đất trời vùng Appalache. Phi công chính và phụ lái cố ráng sức giữ mũi bay nhoi vượt thoát trận cuồng phong mãnh liệt. Chiếc Silver Arrow Jet quả là một chiếc máy bay tuyệt diệu, được thiết kế và lắp ráp hoàn hảo. Song, vào những giây phút cuối cùng, máy móc bị trục trặc. Một trong hai hành khách ngồi ở cabin sang trọng trên máy bay đứng dậy, tiến vào buồng lái và nói: - Máy móc bị trục trặc, cánh quạt quay không đủ lực đưa máy bay thoát lên cao. Thông thường, phi công đã bảo vị khách nọ quay về chỗ của ông. Nhưng điều đó không thể áp dụng vào trường hợp này. Vị khách nọ là ngài Yoneo Matsumoto, người sáng lập và chủ tịch một trong những tổ hợp công nghiệp lớn nhất thế giới. Phi công vội đáp: - Dạ thưa, kiệt lực rồi ạ. Cả ba người đàn ông hiểu rõ ý nghĩa của câu nói đó. Hết hy vọng sống sót. những ngọn núi nhấp nhô như lớp lớp tên nhọn chĩa cao chờ dịp là lao xô vào máy bay. Lực tàn sức cạn, nó khó bề thoát lên tránh hiểm họa. Máy bay bắt đầu mất độ cao và lê lết như con thú bị thương. Yoneo Matsumoto quan sát một lát các thiết bị trong buồng lái, rồi quay về bên chỗ vợ ngồi. Qua nét mặt bình thản, không để lộ chút hoảng hốt của vợ, ông biết rằng bà không hề sợ hãi. Ông âu yếm nắm tay bà. Bà mỉm cười nhìn ông chan chứa yêu thương. Yoneo Matsumoto sẵn sàng đón nhận cái chết. Ông đã sống một cuộc đời sôi động, đầy ý nghĩa, ông đã thành đạt hơn biết bao người khác. Từ hai bàn tay trắng, ông đã gây dựng nên nền công nghiệp Matsumoto, doanh nghiệp mà mọi ông chủ đều có quyền tự hào. Ông có hàng ngàn nhân viên làm việc trong cả trăm công xưởng nằm khắp thế giới. Họ tận tụy với ông và rất mực yêu mến, quý trọng ông. Tâm trí ông quay trở lại những ngày đầu, khi ông còn rất trẻ, vừa tốt nghiệp trường đại học. Ông có năng khiếu bẩm sinh về ngành điện tử và mọi cửa đều rộng mở đón chào ông. Ông đã gặp Eiko và yêu bà say đắm. Bà tiếp thêm cho ông sức mạnh của lòng can đảm và nghị lực để xây dựng nên hãng công nghiệp của chính mình. Trong năm năm đầu, ông lăn lộn suốt ngày đêm, cố kiếm miếng ăn manh áo nuôi Eiko và Massao, đứa con trai nhỏ của hai vợ chồng. Con đường Yoneo Matsumoto lựa chọn thật chông gai, gian khổ, nhưng vốn là người trọng danh dự và có tài, ông không hề nao núng chùn bước trước bất kỳ khó khăn, trở ngại nào. Đường doanh nghiệp của ông mỗi ngày một thênh thang rộng lớn rồi từ một hãng sản xuất, nó phát triển thành một tổ hợp kinh doanh hùng mạnh. Nền công nghiệp Matsumoto dần dà thu hút các hãng và chi nhánh khác, và từ một cơ sở kinh doanh non trẻ, nó trở thành một công ty khổng lồ - một triều đại công nghiệp bao trùm thế giới chuyên sản xuất các loại máy bay và máy tính điện tử, các loại máy quay phim, máy ảnh, máy thu thanh, truyền hình và hàng trăm chủng loại khác nữa. Một tiếng sét đột ngột dội lên bứt ông ra khỏi mọi suy tư. Tiếp ngay sau đó, một làn chớp sáng ngời rạch ngang bầu trời tựa hồ như vừa có một quả tên lửa khổng lồ điên cuồng lao vút vào khoảng không. Những người ngồi trên máy bay thấy rõ trong khoảnh khắc toàn bộ khung cảnh ngoài trời: quanh họ nhìn đâu cũng chỉ toàn vách núi hiểm trở. Ánh chớp tắt lặn, cảnh vật lại chìm trong bóng đen dày đặc. Yoneo Matsumoto siết chặt tay người vợ thân yêu đã cùng ông chia sẻ mọi nỗi buồn vui, đã từng cổ vũ, động viên ông vượt qua bao sóng gió cuộc đời. Lúc này đây, giữa cảnh trời đất đảo điên trong cơn giông tố cuồng phong, bà lại ở bên ông hiền hậu, dịu dàng và bình tĩnh. Chỉ dăm phút nữa, cả hai ông bà sẽ xa lìa cuộc đời này. Nhưng họ còn đứa con trai Massao, nó sẽ tiếp tục sự nghiệp của họ. Massao sẽ thừa kế để chế Matsumoto và nó sẽ vững vàng cai quản đế chế mà hai vợ chồng đã cùng chung sức tạo dựng nên. Ánh chớp khủng khiếp lại vụt loé và họ thấy rõ cảnh tượng bên ngoài như cảnh địa ngục: một đỉnh núi phủ đầy tuyết đùn lên những áng mây đen tựa chiếc vạc dầu sôi bốc khói nghi ngút và, ngay trước mặt họ, là sườn núi dựng đứng lởm chởm đá như những chiếc răng nhọn nhe ra chỉ chờ họ lao vào là phanh thây xé xác. Mấy giây sau, cả thế giới dường như bị nổ tung thành hàng ngàn tia lửa nhỏ. Sau đó, cảnh vật lại chìm vào bóng đêm chết chóc rùng rợn, gió gào rú thê lương, vang vọng khắp một vùng đất cô đơn trải dài vô tận... Mời các bạn đón đọc Truy Lùng của tác giả Sidney Sheldon.