Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Truy Tìm Tội Phạm

Nhân vật chính của truyện - Loroimer Everett Weldon - vốn là một chàng trai gan góc, anh hùng, xuất thân từ giới giang hồ. Sau vụ gây rối ở sòng bạc Miquel Cabrero, Weldon nhận lời làm người bảo vệ cho Helen O’Mallock - cô con gái duy nhất của tướng O’Mallock đang bệnh rất nặng và có nguy cơ bị những kẻ lạ mặt ám sát sau cái chết của cha. Vốn quả cảm và kiên cường, Weldon quyết tâm bảo vệ tính mạng cho Helen và tìm ra sự thật của những bí mật bao quanh ngôi nhà trên ngọn đồi. Song sự thật ngày càng thêm rối rắm khi anh phát hiện chúng có liên quan đến người con gái mà mình vẫn hằng yêu - Francesca Laguarda... "...Jorram giới thiệu Weldon với cả phòng lần lượt những cái bắt tay gật đầu chào, ánh mắt nồng nàn đến với anh ta. Tâm hồn Weldon trở nên nhẹ nhõm hơn. Từ chiều đến giờ, anh ta cứ trĩu nặng ưu tư với việc bỏ mặc Hellen trong căn nhà trên ngọn đồi cao. Anh ta cứ sợ Francesca dụ anh ta đi vắng nhằm mục đích hãm hại cô gái tật nguyền. Thế nhưng bây giờ anh ta đã quyên hết băn khoăn và sợ hãi. Với những con người như thế này, lòng anh ta thanh thản lạ thường. Đã lâu rồi, anh ta phải vắt óc ra mà làm việc, suy tính, không có những giây phút thảnh thơi. Giờ cũng là cái dịp, anh ta nghĩ vậy. Francesca tiến đến không hề có nụ cười thỏa mãn thích thú, chỉ nắm lấy tay Weldon rồi nhìn thật lâu vào mắt anh chàng..." Trích Bài ca của mỹ nhân ngư trong Truy tìm tội phạm. *** Hai tay sải dài trên nệm, nằm ráng thêm một lát theo thói quen lười biếng, Weldon mở mắt nhìn khoảng trần nhà thụng xuống ngay trên đầu, hít một hơi làn không khí yên lặng, ấm cúng của buổi chiều lúc 5 giờ 30. Dòng suy nghĩ mông lung khiến anh như bất động. Anh chẳng thể nhớ đến nước Mỹ, quê cha đất tổ hay cái tỉnh lẻ anh ta đang hiện hữu đây ‐ cho đến khi anh ta ngước mặt lên nhìn qua cửa sổ, bỗng trông thấy phần mặt trước xù xì, nham nhở của ngọn núi Bull. Thở phào nhẹ nhõm, Weldon hạ đầu xuống chiếc gối mềm mại. Anh đang ở San Trinidad, và với chút băn khoăn, anh cần lưu ý đến vùng đất này. Đã có quá nhiều nơi trong khoảng thời gian gần đây lướt nhanh qua mắt tựa những lá bài chuyển động dưới ngón tay anh. Nhắm mắt lại lần nữa, anh để mặc cho tên tuổi và những gương mặt hiện ra trong ký ức như dòng nước chảy qua khe suối. Bất giác anh mỉm cười. Giờ thì anh thích nằm yên với đầu óc trống rỗng, suy tư thụ động để mà hồi tưởng. Cuộc sống đối với Weldon, không mục đích, không cần đạo đức hóa và tất cả khía cạnh đầy hương hoa mật ngọt của nó. Chuyện ăn uống, anh có thể so tài với một con dê, thần kinh có thể sánh với con bò mộng, chúa tể trầm tĩnh của vùng đồng cỏ. Lúc ăn, khi ngủ, cả chuyện hít thở, Weldon đều thích thú hưởng thụ. Thế thì chả vội gì ngồi dậy lúc này. Từ phần còn lại của căn phòng nhỏ quét vôi trắng, trời nóng ngột ngạt như bếp lò. Nhưng chính trong sức nóng mãnh liệt ấy, Weldon say sưa chìm đắm trong cảm giác từng sợi dây thần kinh và cơ bắp đang được thư giãn. Cuối cùng, khi cơn đói bắt đầu trỗi dậy, anh vói tay mở cửa. ‐ Thức ăn. ‐ Weldon gọi, âm thanh vang vọng dọc theo hành lang. Nhắm mắt lại lần nữa, anh chờ đợi. Sau cùng, anh nghe tiếng sột soạt của chiếc váy dài. Cô hầu phòng người Mexico gõ cửa bước vào. Thông thường, những cô hầu phòng không rụt rè, e thẹn. Thế nhưng anh cảm giác được vẻ do dự của cô ta qua những bước chân ngập ngừng khi cô ấy bước vào. ‐ Thưa ngài. ‐ Không nói tiếng Anh được à? ‐ Weldon ướm lời. ‐ Không, thưa ngài. Một chút ít thôi. ‐ Hãy báo cho bố cô biết đi. ‐ Bằng giọng Tây Ban Nha rất chuẩn, Weldon nói tiếp. Rồi anh mở to đôi mắt ngước nhìn cô nàng xinh xắn, một nét xinh xắn không chối cãi được. Ý tưởng về thức ăn bỗng hiện ra trong đầu Weldon. ‐ Chẳng biết quý ngài dùng gì? ‐ Giờ nào thức đó. ‐ Weldon đáp và tiếp tục quan sát cô nàng. Không hề có một yêu cầu thô bạo mà hầu như anh đang chiêm ngưỡng bức tranh đẹp. Và rồi, anh khẽ hát, nhẹ nhàng như hơi thở: “Ánh mắt như chiều hôm, miệng như mặt trời hồng”. Cô ả đỏ mặt, còn Weldon mỉm cười thân thiện. ‐ Quý ngài đây có đói bụng không? ‐ Hẳn rồi. ‐ Ông muốn dùng gì? ‐ Bất cứ thứ gì trong ngôi nhà này đều OK. Dĩ nhiên là món bánh frijoles, lại nữa, món bánh xèo bằng bột bắp tortillas. Chẳng nơi nào trên đất Mexico có món bánh frijoles tuyệt hơn thứ bánh quế trắng, mỏng do chính bàn tay má cô ta làm ra. Còn món thịt dê tơ tươi rói luôn sẵn sàng để nấu: những miếng thịt thái mỏng, ghim vào cây xiên, nướng lên thơm phức có thể vừa thổi vừa ăn. Chuyện tắm rửa đã có hai cậu bé mozos khỏe mạnh mang những xô nước đến làm đầy cái bồn thiếc ở căn phòng sát vách. Anh hoàn toàn có thể bơi lội trong đó. Cô ta rời phòng. Giọng hát Weldon mượt mà theo sau: “Ánh mắt như chiều hôm, miệng như mặt trời hồng”. Anh nghe thấy tiếng chân cô nàng ngập ngừng nơi hành lang rồi cất bước chầm chậm. Anh chàng ngồi dậy với nụ cười thầm. ‐ San Trinidad, ‐ Giọng anh chàng thì thầm ‐ ta yêu mày lắm! Rồi Weldon đứng lên, bước vào bồn thiếc trong căn phòng kế cận. Hai cậu bé mozos vừa thán phục, vừa tỏ vẻ kinh sợ xối từng xô nước lạnh này sang xô khác lên bờ vai to lớn, trắng trẻo, lên những bắp cơ run run vì lạnh của anh. Lau khô mình mẩy và mặc quần áo xong xuôi, anh bước xuống sân trong của khách sạn. Những chiếc đinh giày lẻng kẻng theo từng bước chân của anh. Những chiếc đinh vàng với vẻ lấp lánh, ngời sáng mới tuyệt vời làm sao khi chàng vượt qua khoảng trống đầy ánh mặt trời. Sức nóng chói chang chết tiệt ấy làm màu đỏ của ngói mang màu lửa, bức tường trắng trở thành bức màn lửa. Nhưng Weldon chẳng cần tránh né. Đứng ngay giữa sân, hạ chiếc nón rộng vành xuống, anh để vầng sáng chói lòa phủ quanh người với tất cả sức nóng của nó. Một người đàn ông thấp bé, gương mặt nhỏ, rám nâu, từ bóng râm của một góc sân phủ dây leo, nói tiếng Anh với giọng cau có: ‐ Này, cậu bé, cẩn thận đấy. Coi chừng phỏng nắng! ‐ Cám ơn. ‐ Anh đáp lại ‐ Nhưng tôi cần tắm nắng. Băng ngang qua cái bàn nhỏ giữa những hàng cột, chàng nằm ườn trên một chiếc ghế, làm nó kêu kẽo kẹt như chẳng thể chịu nổi sức nặng của anh ta. ‐ Nắng giết vi khuẩn! ‐ Anh giải thích. Vẫn luôn là cách nói như vậy: hoàn tất một câu với những phần rời rạc. Weldon ngước nhìn người đàn ông nhỏ bé với nụ cười vui vẻ, ánh mắt long lanh, một chút ngây ngô như thầm bảo mọi thứ trong cuộc đời đối với anh đều tốt đẹp cả. Những chiếc bánh frijoles hấp chín cuốn trong những chiếc bánh quế mỏng xám được mang đến. Anh bắt đầu ăn mạnh, nhưng không vội vã. Đằng sau điếu xì gà Mexico, người đàn ông thấp bé, gương mặt nâu nhỏ cau mày nhìn mớ thức ăn dần dần biến mất. Nhích chiếc ghế một chút, ông ta lắc đôi vai đột ngột để ngồi sát Weldon hơn. Những chiếc bánh frijoles và cả món bánh xèo bằng bột bắp tortillas đã mất dạng. Thêm những chiếc tortillas được mang ra với một dĩa lớn thịt dê tơ chặt thành từng khúc vuông vức, vàng rộm. Thêm một dĩa nước sốt đỏ, Weldon nhúng từng miếng thịt vào dĩa sốt, không vội vã nhưng thức ăn bắt đầu biến đi rất nhanh. Không bao giờ anh ngốn cho đầy họng. Chẳng qua là khả năng ẩm thực quá tốt cho bất kỳ khoảng thức ăn nào được mang ra. Người đàn ông thấp bé chỉ ngồi yên lặng mà đưa mắt nhìn, dù ông ta không hề muốn nhìn người khác ăn với kiểu cách như vậy. Lắc lư cái đầu và hướng đôi mắt về phía trước như thể đang đuổi ruồi, giờ thì ông ta nhìn ra xa, tay nhịp nhịp nhanh những ngón nhỏ xíu lên bàn. Tuy nhiên, thỉnh thoảng đôi mắt ông ta vẫn quan sát dĩa thức ăn và Weldon đang dùng. Weldon giơ cao một cục thịt đặc biệt ghim vào phần cuối của con dao trên tay: nó cháy khét ở phần ngoài rìa, phần còn lại to dày màu vàng sậm dính đầy nước sốt. ‐ Dùng một ít đi. ‐ Weldon thử mời ông ta. Người đàn ông nhúc nhích xung quanh cái ghế. ‐ Anh bạn trẻ à, ‐ Ông ta lên tiếng ‐ có phải tôi đã đủ già để khuyên anh bạn điều gì chăng? ‐ Lời khuyên ư? ‐ Weldon thì thầm ‐ Chẳng ai cho không một lời khuyên. Hẳn phải trả giá cao để đáp lại chúng đúng không? ‐ Này ‐ Người đàn ông bắt đầu. ‐ Lời khuyên hả? ‐ Weldon nhắc lại ‐ Lời khuyên là kinh nghiệm, có thể tóm tắt như vậy. ‐ Nó là... ‐ Người đàn ông tiếp lời ‐ và vì thế... Hạ thấp giọng, Weldon thì thầm. ‐ Một lời khuyên hẳn tốt hơn ánh mắt soi mói. ‐ Dĩ nhiên rồi anh bạn. Tôi muốn kể cho anh bạn nghe một chuyện. ‐ Ai mà không nghe theo lời khuyên. ‐ Weldon tiếp tục với giọng nhỏ nhẹ ‐ Chẳng làm nên tích sự gì cả. ‐ Tiếp tục. Tiếp tục đi! ‐ Người đàn ông cau có ‐ Nói cho biết những điều bạn muốn về vấn đề ấy đi. Tôi có thể chờ. Tôi đang đợi đây này. ‐ Tôi sẽ nhận lời mách bảo từ bất kỳ ai như thể là bố tôi. ‐ Anh tiếp tục. ‐ Bảo ban vẫn tốt hơn là roi vọt. Ấy, người ta thường nói những người tệ hại nhất vẫn có thể khuyên những lời tốt nhất. ‐ Weldon mỉm cười thân thiện. ‐ Ông có thể dùng một chút thịt nướng không? Khẽ nhịp những ngón tay, người đàn ông hầu như giận dữ. ‐ Không. ‐ Ông ta kêu lên ‐ Tôi không dùng những thứ đó. Và những thứ kia nữa, loại nước sốt ấy. Anh có biết nó là gì không? Weldon ngập ngừng một chút. Nhưng với bản tính không nề nao núng anh nói tiếp: ‐ Khẩu vị đối nghịch nhau như nước với lửa. Ông nghĩ sao về điều này? Người đàn ông mở to mắt nhìn. Chòm râu cằm mỏng, nhọn, để theo mốt xưa tạo cho vẻ mặt ông ta có nét hiểm độc. Nó run run khi ông ta gằn từng tiếng một: ‐ Nhìn anh bạn ăn tôi muốn lợm giọng. Nó làm gan ruột tôi muốn nôn ra từng khúc. ‐ Giọng ông ta quả quyết. Anh chàng Weldon đặt mẩu thịt đang được làm đề tài vào miệng, vẫn nói tiếp không một chút phiền lòng về những điều vừa nghe. ‐ Nó à? ‐ Anh đáp lại ‐ Ngay bây giờ, ông biết tôi có cảm giác gì không? Mọi thứ đều rất OK nếu ông dùng nó đúng cách, còn nếu không thì... ‐ Thế sao? ‐ Ông ta mỉa mai ‐ Thần học à? ‐ Tại sao không? ‐ Weldon hỏi lại ‐ Nếu ông muốn dạy một người làm bếp thì phải thực hiện ngay trong nhà bếp chứ không phải trên bàn ăn. Thường tôi vẫn dùng những gì tôi có. Ông ta rùng mình. Đưa hai tay đỡ lấy đầu, môi ông ta run run quanh điếu xì gà. Những ngụm khói lan nhanh trước mặt ông ta và xuyên qua làn khói ấy, đôi mắt lim dim hướng về phía Weldon. ‐ Tôi nghĩ ra điều gì trong bụng dạ anh bạn rồi. ‐ Ông ta thở dài. ‐ Tôi chưa từng biết đau bụng là gì. ‐ Weldon đáp lại. Và anh kết thúc miếng thịt cuối cùng với phần nước sốt còn lại. Vét hết chỗ nước sốt bằng miếng thịt dê, nước sốt bám vào miếng thịt nhiều đến nỗi chàng phải dùng môi hứng. Người đàn ông chẳng dám nhìn cái hỗn hợp đó được nuốt như thế nào. Đưa hai tay che mắt, ông ta vẫn để tay thấp vừa tầm kịp quan sát cái màn ăn uống ghê rợn đó. Vừa nấc một cái, vừa rời khỏi ghế, ông ta rảo vài bước tới lui rồi ngồi xuống với một cốc bia, bắt đầu ngắm nghía Weldon. Mời các bạn đón đọc Truy Tìm Tội Phạm của tác giả Max Brand.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nữ Thám Tử Nghiệp Dư: Alice và Chiếc Bình Cổ - Caroline Quine
Nguyên tác : THE CLUBS 0F THE LEANING CHEMNEY Dịch theo bản tiếng Pháp: ALICE ET LE VASE DE CHENE Nhà Xuất bản HACHETTE 1966 Alice Roy là con gái một luật sư. Lòng yêu công lý, tính thích mạo hiểm và khả năng phán đoán thiên bẩm đã khiến Alice trở thành một NỮ THÁM TỬ NGHIỆP DƯ. Cô cùng các bạn đã lập nhiều kỳ tích trong việc truy tìm kẻ gian, phanh phui nhiều vụ pham tội. Bộ truyện NỮ THÁM TỬ NGHIỆP DƯ gồm nhiều tập, mỗi tập kể về một vụ phá án của Alice. Bộ Nữ Thám Tử Nghiệp Dư gồm có: - Nữ Thám Tử Nghiệp Dư Tập 1: Alice và Bọn Làm Bạc Giả - Nữ Thám Tử Nghiệp Dư Tập 2: Alice và Chiếc Bình Cổ - Nữ Thám Tử Nghiệp Dư Tập 3: Alice và Cây Đàn Dương Cầm - Nữ Thám Tử Nghiệp Dư Tập 4: Alice và Bí Mật Sau Bức Tường Đổ *** - Alice ! Thật là điên mới đi vào con đường vắng tanh không một bóng người thế này. Nhất là với số tiền mà chúng ta mang theo trong túi xách. Nếu bị ai cướp mất thì khốn !. Mắt nhìn thẳng vào cảnh vật xuyên qua khung kính chắn gió trước mặt, Bess cố giữ thật chặt chiếc túi xách bằng da đặt trên đùi. Cảnh vật bất biến của một rừng cây dày đặc tới mức dù giữa ban ngày, ánh mặt trời cũng khó mà lọt qua được. Những đám mây đen kịt chồng chất trên bầu trời đêm, gió lay mạnh khiến cây rừng rít lên. Bess rùng mình và bất giác xích lại gần cô bạn gái của mình: - Ớn quá chị ơi ! Cô khẽ nói. Gương mặt Alice bình thường vốn tươi tỉnh giờ cũng có vẻ căng thẳng. - Thôi nào, thôi nào, Bess, kềm bớt trí tưởng tượng của cậu lại đi. - Alice vừa nói để trấn an bạn vừa lắc nhẹ mái tóc vàng óng mượt như tơ của mình. - Chúng ta sắp tới nơi rồi mà. Alice cố làm ra vẻ đầy tự tin tuy trong lòng cô lúc này cũng đang rối như tơ vò. Với sự điệu nghệ của một tay lái lão luyện, cô cho xe lăn bánh trên con đường Trois-Ponts và nhìn lơ đãng về phía chiếc xắc tay. Trong xắc chứa đựng thành quả của cuộc bán đấu giá gây quỹ từ thiện tại Carney mà hai cô đã tham gia hôm nay. Trên cương vị là thủ quỹ của quỹ từ thiện trên, Alice có nhiệm vụ ký gửi toàn bộ số tiền thu được vào một ngân hàng ở River City. Nhìn con đường như một dải băng đen ngoằn ngoèo trải dài trước mắt, cô tự hỏi phải chăng mình đã quá bất cẩn khi cho xe đi vào con đường tắt vắng tanh này. Bằng một cử chỉ kiên quyết, cô hất ngược một lọn tóc bướng bỉnh ra đằng sau và định bằng hành động này, gạt những ý nghĩ đen tối. - Thôi, đừng có thần hồn nát thần tính chứ ! Alice tự nhủ thầm. "Thời đại này làm gì còn có phù thủy hoặc bọn thảo khấu đón đường đòi tiền mãi lộ nữa". Bess cắt ngang luồng suy nghĩ của bạn: - Chị không lái nhanh thêm một chút được sao ? Alice ngoảnh đầu lại mỉm cười thân thiện với cô bạn đồng hành. Bess chẳng phải là một trong những bạn gái thân thương nhất của cô đó ư ? Bất chợt, một tia chớp chói lòa rạch những đường ngoằn ngoèo trên nền trời đen, tiếp liền theo là một tiếng sấm rền vang. Những giọt mưa nặng hạt rơi xuống, vỡ tan trên mặt kính xe. - Ôi ! - Bess rên rỉ - Lại còn thế nữa chứ !. Alice không đáp. Xe họ đang tới những khúc quẹo gắt dẫn tới cây cầu được gọi là cầu "Thợ Săn" và việc lái xe đòi hỏi cô phải tập trung cao độ để tránh rủi ro. Vừa bẻ lại tay lái sau cua quẹo cuối cùng, cô chợt thoáng thấy, dưới ánh đèn pha nhạt nhòa vì nước mưa, bóng một người đàn ông đầu đội nón, mình vận áo mưa rộng thùng thình. Khom lưng cúi nhìn xuống lòng đường, ông ta có vẻ như đang tìm kiếm vật gì đó vừa đánh rơi. Bess hoảng hồn thét lên. Alice bẻ ngoặt tay lái, nhấn còi inh ỏi và đạp mạnh cần thắng. Bánh xe rít ken két, chiếc xe rùng mạnh, chao đảo và lết thêm cả chục thước mới chịu ngừng hẳn. - Liệu mình đã... - Bess lắp bắp lên tiếng nhưng không nói được hết câu. Alice lấy cây đèn bấm trong hộc đựng đồ lặt vặt cạnh bảng điều khiển và nhảy vội khỏi xe. Một người đàn ông nằm sõng soài trên mặt đất chắn ngang đường đi. - Bess - Alice gọi bạn, giọng thảng thốt thấy rõ - Ông ta bị thương rồi. Cô chưa kịp lại gần nạn nhân, thì người đàn ông đã lảo đảo đứng lên, nhưng lại khuỵu xuống ngay rồi lại lồm cồm đứng dậy và nhìn quanh như vừa đánh rơi vật gì. - Xin lỗi, ông bị thương có nặng lắm không ? - Alice hỏi, giọng run vì sợ hãi. - Kệ tôi. Quỉ tha ma bắt các người đi cho rồi ! Câu đáp cộc cằn khiến Alice sửng sốt đứng sững như trời trồng. Một chiếc nón nỉ mềm xèo chụp trên đầu, kéo sụp xuống tận mang tai, lại thêm cổ áo bành tô bẻ cao hất ngược lên đã che khuất hoàn toàn gương mặt của người đàn ông, ngoại trừ đôi mắt sáng và sắc như dao. Thình lình, bất ngờ đến độ khó tin, gã cắm đầu cắm cổ chạy như bị ma đuổi, thoáng chốc đã tới bìa rừng, nơi có những lùm cây rậm rạp. - Ông... ông gì ơi ! - Alice lớn tiếng la trong lúc đưa tay lượm một cái gói vừa lăn xuống vệ đường trũng sâu. - Có phải ông muốn tìm cái gói này không ? - Hãy đặt gói đồ xuống đất rồi cút xéo ! - Gã quay lại nói giọng ra lệnh. - Sao ông la dữ vậy ? Cháu chỉ muốn giúp ông thôi mà. Ông có bị sao không ? - Đi mau đi, không thì người gặp nguy hiểm chính là cô đây. Đừng dí mũi vào chuyện người khác. Và như để bồi thêm trọng lượng cho lời hăm dọa, một cục đá xanh lớn bay vút trong bóng đêm, rơi bịch xuống trên mặt đường cách Alice chưa đầy một gang tay. Bess, thận trọng núp sau lưng bạn, giật nhẹ tay áo Alice. - Mình đi thôi chị - cô khẽ nói - Lỡ đó là một nguời điên thì sao ? Nhưng, thái độ của kẻ lạ mặt đã khơi dậy những mối ngờ vực trong đầu Alice. Cô đưa gói giấy cầm trên tay lên săm soi một chỗ rách và chợt nhận ra dường như đây là một đồ vật làm bằng gốm sứ. Tiếc thay, một cục đá xanh, lần này được nhắm khá chính xác, đã làm vỡ tan mặt kính của cây đèn bấm và cũng vỡ luôn cơ may thấy rõ hơn vật gì bên trong cái gói bí mật ấy. Bess thét lên sợ hãi: - Alice ! Em xin chị đấy ! Chúng mình đi thôi ! Alice đặt nhẹ gói đồ xuống đất, nắm lấy tay bạn, chạy thẳng về phía xe và nổ máy. Mưa lúc này đang đổ xuống như trút nước. Máy xe vừa nổ giòn, Alice ngoái đầu nhìn qua khung kính phía sau xe: người đàn ông đã biến mất. Không biết ông ta đã lượm lại vật mà ông ta đánh rơi chưa ? Đó là cái gì quí đến nỗi ông ta suýt mất mạng vì nó ? - Ôi chao ! - Bess thở phào nhẹ nhõm khi thấy những thân cây đang vùn vụt chạy giật lùi dọc hai bên vệ đường. - Lần sau nếu chị nổi hứng muốn làm quen với một kẻ lạ mặt ngay giữa rừng thì hãy lựa dịp nào không có em cùng đi ấy. - Mình cũng công nhận là ông ta chẳng có gì là dễ thương hay tử tế cả. - Alice đáp với nụ cười hóm hỉnh - Dù sao cũng đáng tiếc là mình không thấy rõ mặt ông ta cũng như không thấy rõ món đồ trong bao. - Ờ, không biết đó là cái gì nhỉ ? - Một cái bình để cắm hoa. Mình đã rờ bên ngoài chiếc bình và đã thoáng nhìn thấy hình vẽ những chiếc móng đỏ trên nền men xanh lục. - Bình bằng gốm sứ màu xanh lục có vẽ những chiếc móng màu đỏ ư ? Lạ thật ! - Lạ ở chỗ nào ? - À, thì... tại nó giống hệt một cái lọ mà em đã có dịp thấy trong tủ kính của cửa tiệm Dick Milltop. Một chiếc bình màu xanh lục trên đó vẽ một con rồng đen có những móng màu đỏ. Dick là anh họ của Bess. Anh ta có một cửa tiệm bán đồ sành sứ trên đường Bedford; hầu hết các mặt hàng bày bán trong tiệm là do tự tay anh ta làm. Anh ta đang mở một lớp đào tạo các thợ thủ công gốm sứ. Bess cũng là một trong các học viên của anh ta. - Cái bình mà em vừa nói với chị đẹp không chê vào đâu được. - Bess nói tiếp sau vài giây im lặng. - Đó không phải là tác phẩm của Dick, có người đã cho anh ấy mượn, em đoán thế. Vui vẻ vì biết chắc đã gần đến River City, Bess tiếp tục ca ngợi vẻ đẹp tuyệt hảo của chiếc bình, với niềm hưng phấn của một đệ tử mới nhập môn nghệ thuật gốm sứ. - Chị nên đến tham dự vài tiết dạy tại cơ sở gốm sứ của anh họ em, - cô nói - thấy mà mê luôn. Alice chỉ nghe một cách lơ đãng những lời tán dương của bạn mình. Cô đang bận nghĩ đến người đàn ông còn ở lại đằng kia. Ông ta làm gì trong rừng giữa đêm hôm khuya khoắt thế này ? Hiển nhiên là ông ta không muốn bị ai bắt gặp. Xe hơi của Alice bất thần vọt ra từ chỗ quẹo, đã khiến ông ta không kịp tìm chỗ núp. Tại sao ông ta bỗng tỏ ra dữ dằn và hăm dọa ngay khi cô vừa lượm được cái gói ? Liệu có phải là ông ta đã lấy trộm chính chiếc bình mà Bess đã say mê ngắm nghía, khi nó được trưng bày trong tủ kính của tiệm đồ gốm Dick Milltop ? Đồ gốm màu xanh lục ư ? Những móng rồng màu đỏ ư ? Đâu phải là một hòa sắc thường thấy ? - Chị không nghe em nói gì hết à ? - Bess gắt, bực bội thấy rõ. - Xin lỗi ! Mình đang bận nghĩ về cung cách kỳ lạ của người đàn ông nọ. - Làm ơn đi - Bess la lên với vẻ giễu cợt - Không lẽ chị định nói là chị lại vừa "đánh hơi" thấy một vụ án hình sự nữa ! Mưa đã ngừng rơi. Những vì sao sáng lấp lánh trên bầu trời đêm. Xe rốt cuộc đã lăn bánh trên đường phố của River City. Bess ngạc nhiên nhận thấy bạn mình đang cho xe chạy vào đường Bedford. - Ủa, đường này có cửa tiệm của Dick mà, chị định đến đó ư ? - Phải rồi - Alice đáp - Mình muốn ngó sơ qua tủ kính trưng bày sản phẩm của Dick xem sao. Lát sau, Alice đậu xe dưới cột đèn đường ngay trước một cửa tiệm giới thiệu và trưng bày các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ. Hai cô gái xuống xe và không tránh khỏi một thoáng lo âu, bắt đầu quan sát tỉ mỉ những bộ chén, đĩa, những lọ độc bình và những bộ đồ trà xếp thứ tự trên nền nhung đen. Hai cô hoài công tìm kiếm mà chiếc lọ độc bình Bess vừa nói vẫn không thấy đâu. Alice muốn vào bên trong nhưng cửa tiệm đã được khóa kỹ. - Lạy Chúa ! Chiếc bình đã bị đánh cắp mất rồi ! - Bess nói nhỏ. - Chớ vội đoan chắc. Biết đâu Dick lại chẳng đã cất nó ở một chỗ an toàn ban đêm. Dù sao ta cũng nên hỏi lại cho chắc ăn. Rảo bước, hai cô gái đến một nhà hàng và ở đó họ đã gọi điện được cho Dick. Một giọng đàn ông ngái ngủ trả lời họ. - Dick Milltop phải không ? - Alice hỏi - Đây là Alice Roy. Xin lỗi vì đã phải đánh thức anh giữa đêm khuya, nhưng vì có chuyện rất quan trọng. - Chuyện gì vậy ? - Đó là chuyện chiếc bình có hình rồng chạm nổi. Nó không còn ở trong tủ kính của cửa tiệm nữa. Có phải chính anh đã cất nó vào nơi nào khác không ? - Cái bình có hình rồng khắc nổi, cô vừa nói vậy hả ? Không ! Giọng Dick lo lắng. - Nó vẫn còn ở đó lúc tôi đóng cửa tiệm mà, - anh ta nói tiếp - Tôi chắc chắn là thế. Cô nói là nó không còn ở đó nữa hả ? Nhưng, nếu vậy thì... Chết tôi rồi ! - Anh hãy tới ngay cho; phần tôi, tôi sẽ báo cảnh sát giùm anh. - Cám ơn cô đã có nhã ý lo giúp tôi chuyện ấy. Chiếc bình ấy trị giá cả triệu đôla mà nó lại không thuộc sở hữu của tôi, thế mới chết chứ.  ! ... Mời các bạn đón đọc Nữ Thám Tử Nghiệp Dư: Alice và Chiếc Bình Cổ của tác giả Caroline Quine.
Hợp Âm Thứ Bảy - Lý Trà
Mã Tu Hòa đã từng tiếp xúc với rất nhiều hồ sơ tội phạm hung ác. Duy chỉ có người phụ nữ hàng xóm là anh không thể nhìn thấu, cô là người cứu mạng anh nhưng đồng thời cũng là nghi phạm trong một vụ kỳ án....Càng tiếp cận anh lại càng để ý cô. Còn đối với Cố Thất Hải thì Mã Tu Hòa chính là người trong lòng. Giữa trời rực lửa, anh nhẹ nhàng cầm tay cô và nói: "Chúng ta sẽ cùng nhau chạy thoát cùng nhau sống xót" Ngay tại thời điểm đó cô đã biết trong tim mình có anh. Mã Tu Hòa không hoàn mỹ, tính tình hay ghen, lại vô cùng háo sắc...nhưng điều đó chỉ đối với mình cô. Cuộc sống của anh đầy rẫy những nguy hiểm và tội ác nhưng vì anh cô nguyện ý tất cả. *** Mùa hè năm nay dường như tới sớm hơn những năm trước, dưới nắng hè chói chang, một mình Cố Thất Hải mang hai chiếc vali hành lý chuyển đến dưới tầng nhà trọ mới, bước chân có chút không vững, tiếng chuông điện thoại trong túi vang lên. Cô lau mồ hôi trên trán, lấy ra điện thoại xem, quả nhiên là bà chủ nhà gọi đến. Lần này Cố Thất Hải thuê nhà của một người phụ nữ trung niên hay sốt ruột. Cuộc gọi này chắc chắn là giục cô nhanh chóng lên phòng gặp bà. Cô cắn môi, kéo nhanh đồ đạc vào thang máy, một phút sau liền có mặt ở tầng 11. Đúng như Cố Thất Hải đóan, bà chủ nhà lòng đã nóng như lửa đốt đứng đợi cô trước thang máy. “Nhanh lên nào, tí nữa thím còn có hẹn đi chơi mạt chược nữa.” Bà chủ nhà nhanh chóng kéo Cố Thất Hải vào phòng 1102, vội vàng nói cho cô về mấy điểm cần lưu ý khi thuê nhà. Cố Thất Hải ngoan ngoãn đứng một bên lắng nghe, dù sao người đang gấp là chủ nhà nên bà cũng chủ động nói ngắn gọn. Sau một hồi nói chuyện, bà chủ nhà liền giao chìa khóa nhà cho Cố Thất Hải, thuận miệng hỏi: “Hình như cháu vẫn còn là sinh viên phải không? Tiền thuê nhà là do cha mẹ hỗ trợ sao?” Cố Thất Hải ậm ừ: “Cháu… Cháu đi làm thêm kiếm tiền.” Bà vỗ vỗ vai cô: “Người do A Diễn giới thiệu thím rất tin tưởng. Nhớ đúng thời hạn trả tiền cho thím, những chuyện khác cháu liền tùy ý.” Nói xong bà chủ nhà liền nhìn thời gian rồi vội vàng chạy vào thang máy rời đi. Cố Thất Hải nhớ ra, vừa rồi khi đi theo bà chủ nhà cô liền để lại hai vali đồ đạc ở trước cửa thang máy. Khi nãy vừa nghe bà chủ nói chuyện cô vừa chú ý động tĩnh ngoài hành lang. Trừ bỏ tiếng người về ở gian phòng bên cạnh cô đều không nghe thấy gì khác, nên cũng không lo lắng việc có người lấy trộm mất đồ. Cô định đi ra ngoài mang đồ vào, nào ngờ vừa mở cửa ra liền thấy hai chiếc vali đang nằm yên lặng trước cửa. Cô ngó ra bên ngoài, nơi này chỉ có ba căn hộ. Nhà cô ở là 1102, bên cạnh là số nhà 1101 và đối diện là 1103. Như vậy tiếng bước chân cô vừa nghe được là của chủ nhà 1101, có lẽ người đó vừa giúp cô chuyển hành lý đến trước cửa. Khi nào đó nhất định phải tìm cơ hội cảm ơn người ta mới được. Cố Thất Hải yên lặng nhớ kĩ chuyện này rồi bắt đầu chuyển đồ đạc vào nhà mới, bắt đầu sắp xếp mọi thứ. Một lúc sau, người cô nhễ nhại mồ hôi, vừa trải xong ga giường đột nhiên nghe thấy chuông báo tin nhắn vang lên. Là của người giới thiệu phòng. Hà Diễn hỏi cô: “Cảm thấy nhà mới thế nào?” ... Mời các bạn đón đọc Hợp Âm Thứ Bảy của tác giả Lý Trà.
Huyễn Hoặc Của Tội Lỗi - Alexandra Marinina
Nữ thám tử Nastya Kamenskaya đối mặt với một vụ án giết người với nạn nhân là một phụ nữ lớn tuổi sống cô đơn một mình. Trong nhà có nhiều của quí nhưng kẻ gian đã không đúng đến. Từ cái chết của bà lão, Nastya tiếp tục đối đầu với nhiều cái chết khác, và dấu vết dẫn cô đến tận Ucraina với một tổ chức tội phạm và những âm mưu tưởng như không tưởng.. Huyễn hoặc của tội lỗi được đánh giá là một trong những tác phẩm hay của Alexandra Marinina, nếu bạn vượt qua được lối kể chuyện rề rà, những tình huống rối rắm đan xen để đi đến cái kết, bạn sẽ thấy mình không bỏ thời gian uổng phí. *** Nhìn vào căn phòng ấy, với cái xác người phụ nữ có tuổi nằm sóng sượt, có cái gì đó khơi dậy các câu chuyện của Dostoievsky. Án mạng người đàn bà làm nghề cho vay nặng lãi. Tuy vậy, theo các chứng liệu ban đầu, bà ta không làm chuyện cầm cố và không biến nhà mình thành hiệu cầm đồ. Hơn nữa, quang cảnh trong căn hộ xây từ thời Xtalin chứng tỏ sự dư dật và nguồn gốc quí tộc của chủ nhân. Nơi đây nhà bác học nổi tiếng, viện sĩ Smagorin đã từng sống, nhưng đó là lâu lắm rồi. Người đã khuất, Ekaterina Venediktovna Aniskovets, là con gái của ông. Đã ba lần kết hôn và ngần ấy lần đổi họ, nhưng chỗ ở thì không. Ở trong tòa nhà này, có lẽ bà sống lâu hơn tất cả các cư dân khác. Có điều căn hộ của bà vẫn còn là riêng, những căn khác đã từ lâu biến thành các căn hộ chung cư bị đổi chủ xoành xoạch. Họ hoặc được cấp hoặc mua nhà ở mới và chuyển đi, những người khác dọn đến nhờ sang đổi với người thân hoặc vợ hay chồng mình. Các cánh cửa căn hộ đều bị đục nham nhở để lắp chuông và giá gác danh thiếp, và chỉ có cửa căn hộ của Ekaterina Venediktovna có một cái chuông duy nhất và một bảng kim loại có đề Viện sĩ N.V. Smagorin. Viên giám định pháp y xem xét tử thi, chuyên viên chấp pháp hình sự thì bói toán trên các dấu vết. Án mạng hẳn là vụ lợi, được thực hiện với mục đích cướp của, vì căn hộ rất sang trọng bị xáo trộn đến dễ sợ. Thấy ngay là người ta muốn tìm kiếm cái gì đó. - Nạn nhân có bà con gì không ? - Dự thẩm viên Olshansky hỏi người hàng xóm được mời sang chứng kiến. - Tôi không biết, - người thiếu phụ mặc đồ thể thao đáp một cách thiếu quả quyết - Tôi mới ở đây không lâu, trọn nửa năm. Nhưng tôi được nghe rằng bà ấy không con cái gì. - Ai ở tòa nhà này có thể kể điều gì đó về bà Aniskôvets ? Ai đã sống lâu ở đây ? - Ôi, tôi chịu thôi - người hàng xóm lắc đầu. Ở đây tôi ít tiếp xúc với mọi người, tôi chỉ là người thuê phòng. Bà chủ mua căn hộ rồi cho thuê từng phòng. Tôi là dân tị nạn - bà này tiếp lời. - từ Tadjikistan. Ở đây mọi người tránh né tụi tôi như dịch bệnh, tuồng như chúng tôi có thể truyền nhiễm. Bởi vậy họ có chuyện trò gì lắm với chúng tôi đâu. Quả là vị hàng xóm này không được tích sự gì. Giờ thì phải đi lòng vòng từng căn hộ để gom góp đôi chút chứng liệu về người đàn bà có tuổi đã bị sát hại dã man bằng một vật nặng đập vào gáy. Với cư dân tòa nhà này, người quá cố Ekaterina quả thật đã hầu như không tiếp xúc , tuy vậy cháu chắt và người quen của bà không phải là ít. Là dân Matxcơva gạo cội, bà lớn lên ở đây. Tốt nghiệp phổ thông và đại học tổng hợp, rồi làm ở Bảo tàng Lịch sử. Và đã kết giao bè bạn ở mọi nơi. Tất nhiên đến hôm nay không phải tất cả họ đều còn sống. Nhưng dù sao số người còn có thể kể về nạn nhân vẫn khá nhiều. ... Mời các bạn đón đọc ​Huyễn Hoặc Của Tội Lỗi của tác giả Alexandra Marinina.
Vụ Ám Sát Ông Roger Ackroyd - Agatha Christie
Ở làng King’s Abbot, vụ tự sát của bà góa Ferrars làm dấy lên đồn đoán rằng bà đã giết chồng, bị tống tiền và có quan hệ mờ ám với ông Roger Ackroyd, một người giàu có trong làng. Tối hôm sau, ông Ackroyd bị giết trong phòng làm việc trước khi phát hiện được ai là kẻ tống tiền người đàn bà góa. Thám tử lừng danh Hercule Poirot ra tay phá án, với sự trợ giúp của bác sĩ James Sheppard. Xuất bản lần đầu năm 1926, Vụ ám sát ông Roger Ackroyd nhanh chóng trở thành hiện tượng xuất bản và sau này được coi là tác phẩm kinh điển của dòng văn học trinh thám phổ thông, mở ra một kỷ nguyên mới cho văn chương thể loại này *** Cách đây không lâu Agatha Christie, nữ nhà văn Anh nổi tiếng, chuyên viết truyện trinh thám, đã qua đời, hưởng thọ trên chín mươi tuổi. Truyện đầu tay của bà xuất hiện năm 1920. Suốt trên sáu mươi năm cầm bút, bà đã viết hàng mấy trăm truyện về tiểu thuyết trinh thám. Nhiều nước trên thế giới đã dịch in tuyển tập của bà, hoặc dựng thành phim. Agatha Christie khác với một số khá đông các nhà văn viết truyện trinh thám phương Tây. Bà không lạm dụng những sự việc rắc rối bí ẩn hoặc bất ngờ để làm chốt dẫn truyện. Bà chú ý đi sâu vào tâm lý con người. Nhân vật các truyện của bà bao giờ cũng được đặt vào những tình huống tâm lý xã hội phức tạp. Câu chuyện phát triển theo sự diễn biến của tâm cảnh các nhân vật và được giải quyết qua cách nhìn nhận thấu đáo cơ sở tâm lý xã hội của những hành động phạm pháp. Ngôn từ các nhân vật trong các truyện của bà rất phong phú thể hiện được tính cách nguồn gốc xã hội của họ, từ giới thượng lưu đến bọn lưu manh đao búa, đồng thời vẫn giữ vẻ độc đáo, gọn gàng, chính xác của tiếng Anh hiện đại. Do đó, như nhà nữ phê bình người Mỹ Ruth Penison đã viết: "Những truyện của Agatha Christie đã phác họa cho các thế hệ mai sau một bức tranh sinh động và chính xác về xã hội nước Anh hiện tại mà bà am hiểu rất tường tận." *** Bà Ferrars chết vào đêm hôm thứ năm, giữa hai ngày 16 và 17 tháng 9. Người ta gọi tôi đến vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ sáu, song tôi không thể làm gì hơn được nữa. Bà ta đã chết được mấy tiếng đồng hồ rồi. Vào khoảng 9 giờ hơn, tôi về đến nhà. Cửa đóng kín. Tôi lặng lẽ mở bằng chiếc chìa khóa riêng, treo áo và mũ ở phòng ngoài. Tôi đứng yên một lúc; một cảm giác nặng nề và lo lắng đè nặng lên tôi. Không biết cái gì sẽ xảy ra sau đây, chắc chắn là tôi không thể đoán được. Nhưng trong đầu tôi cứ quay cuồng một ý nghĩ rằng trong thời gian tới đây, sẽ có nhiều điều bất ngờ nữa xảy ra như cái chết của bà Ferrars. Như người ta thường nói: Những gì con người không hy vọng thì luôn luôn xảy đến. Trong bếp có tiếng cốc va chạm nhau lách cách và một giọng nói khô khan vọng ra, đó là giọng của chị gái tôi: Caroline. - Cậu đã về đấy à, James? Một câu hỏi vô nghĩa, nếu không phải là tôi thì còn là ai khác nữa cơ chứ? Tôi vẫn im lặng không muốn trả lời, chính bà chị tôi là nguyên nhân của sự im lặng này. Caroline là một người đàn bà rất thóc mách và thậm chí còn hơn thế nữa, nếu người ta đề cập đến một vấn đề hay câu chuyện nào đó ở ngoài cái nhà này, Caroline có thể tìm mọi cách để biết cho bằng được những câu chuyện không đâu ra đâu của thiên hạ, mặc dù bà ta vẫn chỉ ngồi ở nhà. Tôi không biết bà chị tôi làm việc đó như thế nào, chỉ biết là bà ấy làm được thôi. Đó cũng chính là nguyên nhân tại sao tôi phải câm miệng. Tất cả những điều tôi sắp phải kể cho Caroline nghe bây giờ, xung quanh cái chết của bà Ferrars, có thể là những điều mà toàn thị trấn này đã được biết cách đây một giờ đồng hồ rồi. Song, bà chị tôi lại luôn luôn muốn biết những cái gì mà những người khác không biết cơ, đó đâu phải là lỗi của tôi. Chồng bà Ferrars bị chết cách đây đã được hơn một năm. Mỗi khi nói về cái chết của ông Ferrars, Caroline vẫn hay khẳng định rằng: Ông Ferrars chết là do bị bà vợ đầu độc. Caroline khẳng định như vậy không dựa trên một chứng cứ hoặc lý lẽ nào và thường xuyên cãi lại khi tôi nói rằng ông Ferrars chết vì bệnh dạ dày quá nặng, thêm vào đó, ông ta còn có thói quen uống rượu mạnh nhiều một cách kinh khủng. Đây là một bằng chứng đúng đắn vì hậu quả của nó đối với bệnh này của ông Ferrars cũng giống như kết quả của một vụ đầu độc. Nhưng Caroline không bao giờ dựa trên cơ sở này để đánh giá lại về bà Ferrars cả, mà vẫn buộc tội bà ấy là một kẻ giết người. - Cậu chỉ cần quan sát kỹ là hiểu ngay bà ta là một người như thế nào - Caroline vẫn thường nói với tôi như vậy. Tôi vẫn do dự đứng ngoài phòng khách không muốn vào và đang suy nghĩ về tất cả những điều đó thì giọng nói gắt gỏng của bà chị tôi lại vọng ra: - Cậu đang làm gì ngoài ấy thế hả, James? Sao không vào đây mà ăn sáng đi? ... Mời các bạn đón đọc Vụ Ám Sát Ông Roger Ackroyd của tác giả Agatha Christie.