Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thượng Lĩnh Án

Vi Tam Đắc là một tên ác bá ở làng Thượng Lĩnh, hắn đã làm tan nát biết bao gia đình trong làng từ dân thường đến quan chức. Người dân đều căm hận hắn nhưng không thể làm gì được hắn, kể cả cảnh sát, vì hắn biết luật, hiểu luật, và lợi dụng sự hiểu biết đó để lách luật và liên tiếp phạm pháp. Đột nhiên vào ngày giáp Tết, hắn treo cổ tự tử trên cái cây cao nhất làng với một bức di thư để lại. Và cảnh sát nhận được một tin mật báo rằng hắn bị mưu sát. Khi cảnh sát càng tiến sâu vào điều tra, sự việc lại càng thêm bế tắc, dân làng Thượng Lĩnh nhất mực bao che cho nhau…Và từ cái chết của Vi Tam Đắc lại liên tiếp xẩy ra các án mạng khác. *** Cái thây của Vi Tam Đắc bị treo lên cây đa trước cổng làng. Hơn trăm thôn dân của làng Thượng Lĩnh kéo nhau đến xem chẳng khác nào như đi xem kịch. Trong số bọn họ, không ít kẻ trống ngực đập thình thịch, cứ y như tay thần, tay quỷ đang khua chiêng gõ mõ. Đúng lúc ấy thì gió lạnh như con chó đánh hơi thấy mùi phân thối, hối hả lao tới cắn người, chẳng chừa một ai. Chỉ có điều trong cái bộ dạng lập cập, run rẩy ấy lại không phải là những người dân quê ăn mặc phong phanh, rách rưới; mà lại là một số ít những người mặc áo dày sụ, sạch sẽ mà chỉn chu. Đám người này thoáng nhìn liền biết ngay là những cán bộ, công chức thu nhập cao mới về quê ăn Tết. Còn phần đông số còn lại là đám dân quê quanh năm suốt tháng bám rễ ở làng. Số này nhìn Vi Tam Đắc chết trơ thây cứ y như khán giả đã đoán được kết cục của vở kịch, bởi vậy mà tỏ ra bình tĩnh hơn hẳn. Bỗng từ trong đám đông có hai người phụ nữ lao ra, một già, một trẻ. Hai người này lao về phía Vi Tam Đắc, tóm lấy cẳng chân của y cách mặt đất chừng hai mét. Người thiếu phụ nhón chân với tay, bắt lấy một chân Vi Tam Đắc, chực muốn đẩy thân thể y lên. Chỉ có điều chiều cao và sức lực của chị ta rõ là đã tới giới hạn, cái thây của Vi Tam Đắc vẫn không chút dịch chuyển. Chị ta chực chờ sự giúp đỡ để đẩy thân thể Vi Tam Đắc lên phía trên, giảm bớt lực siết của sợi dây buộc quanh cổ y. Song lúc này chị ta cũng chỉ trông cậy được vào bà lão đang ở bên cạnh mình mà thôi. Bà lão ắt hẳn là muốn giúp chị ta, song muốn giúp cũng chẳng dễ gì, bởi lẽ bà lão vừa thấp vừa còng lưng ấy phải nhảy lên thì may ra mới chạm được tới người Vi Tam Đắc. Lần thứ nhất cẫng chân nhảy, bà lão bắt được chiếc giày xỏ ở một bên chân, nhưng khi bà lão hạ mình và cánh tay xuống thì chiếc giày ấy cũng rơi xuống theo. Bà lão lại nhảy lên lần nữa thì túm được ống quần của Vi Tam Đắc, lần này thì chiếc quần của Vi Tam Đắc đã bị tụt xuống. Từ xa nhìn lại, cặp đùi trắng hếu mà thuôn dài kia giống như hai thớ thịt tươi treo trên gác bếp, còn cái vật mềm nhũn, lông mọc tua tủa nằm giữa cặp đùi khiến ai nhìn gần lại thấy như cái dái dê. Kẻ ngó xa nghía gần, người há mồm trợn mắt, kẻ cúi đầu ngượng nghịu, có kẻ lại vênh mặt cười mỉa. Bà lão và thiếu phụ kia đâu ngờ lại bị rơi vào tình cảnh trớ trêu ấy. Bọn họ cũng chỉ muốn cứu Vi Tam Đắc thôi mà, bởi nghĩ y còn sống. Song từ hành động và hậu quả gây ra, lại chẳng giống như đang cứu người, trái lại, còn như là bêu riếu, sỉ nhục Vi Tam Đắc thì đúng hơn. Bởi vì sự thực là quần của Vi Tam Đắc đã bị tuột mất. Nhưng chuyện này xảy ra thì cũng không lấy gì làm lạ. Lúc Vi Tam Đắc còn sống, y đã làm tổn thương hai người phụ nữ này không biết bao nhiêu lần, bất kể họ, một người là mẹ y, một người là vợ y. Tội lỗi mà y gây ra cho họ, tội lỗi mà y gây ra cho cả cái làng này, dù có chết cả chục lần cũng chẳng thể chuộc hết được. Vậy thì sao mà bảo giống như đang sỉ nhục được. Hai người phụ nữ một già một trẻ ấy vẫn nôn nóng muốn đẩy thân thể Vi Tam Đắc lên, song mọi cố gắng đều vô ích. Việc Vi Tam Đắc bị treo lên cây như thể đã được tính toán từ đầu, gót chân cách mặt đất chừng hai mét, ai muốn cứu y thì cũng đừng hòng với tay tới, chết là cái chắc. Hai người phụ nữ hình như đã nhận ra được điều này, quan trọng hơn là hai người còn phát hiện ra Vi Tam Đắc đã chết, đã tắt thở trước đó lâu rồi, đã hết đường cứu mạng. Vậy là đành từ bỏ. Mẹ của Vi Tam Đắc quỳ bệt dưới mặt đất, lay lóc gào khóc. Còn vợ của Vi Tam Đắc lại không quỳ, cũng chẳng khóc, chị ta thẫn thờ đứng đó, mình mẩy hơi lay động, run rẩy, cứ như người bị trúng phong. Đó là một buổi sớm gió lộng tê tái. Nhưng có điều, hình như chị ta không phải run rẩy vì gió lạnh, mà đúng hơn là vì sự lạnh nhạt của những kẻ xung quanh. Trong số đó có một người đàn ông lớn tuổi nhìn sự việc không lọt mắt, vậy là tiến lên phía trước, đoạn hô hào thêm vài thanh niên nữa. Bọn họ tháo nút dây buộc trên cành cây đa, siết chặt một đầu dây, rồi từ từ thả ra. Vi Tam Đắc dần hạ xuống, rồi được hai thanh niên đỡ lấy, đặt nằm trên mặt đất. Trước đó, người đàn ông lớn tuổi đã kéo chiếc quần bị tuột lên cho Vi Tam Đắc. Xong rồi, ông ta nhìn vào cặp mắt trố trơ trơ của Vi Tam Đắc mà than rằng: “Tam Đắc ơi là Tam Đắc, dái chim của mày đã hại đời bao nhiêu đàn bà con gái ở cái làng này thì giờ cũng đã đến lúc nghỉ ngơi được rồi. Hoàng đế chẳng qua cũng sung sướng giống mày thôi, đừng có chết rồi mà vẫn không nhắm mắt. Hừ, nhắm mắt lại đi.” Người đàn ông lớn tuổi vừa nói vừa đưa tay vuốt mắt cho Vi Tam Đắc. Chắc là do người đàn ông này ăn nói có lòng thành, đức cao vọng trọng, Vi Tam Đắc quả là đã nghe lời mà nhắm mắt. Người đàn ông này còn tìm thấy một bức di thư trong túi áo của Vi Tam Đắc. Nội dung bức di thư như sau: “Vi Tam Đắc tôi đã gây ra nhiều tội lỗi, nay lấy cái chết để đền tội, mong sao mọi người được vui vẻ ăn Tết! Vi Tam Đắc.” Bức di thư viết sai chính tả được nhiều người truyền tay nhau đọc, xong chẳng ai muốn giữ lại, nên lại nhét vào trong túi áo y. Ai nấy như đều tìm thấy chút lương tri trong con người y, bởi vậy mà ánh mắt thù hận cũng nguôi ngoai. Vợ của Vi Tam Đắc nãy giờ vẫn đứng đấy, chẳng khóc chẳng rằng. Chị ta không ngờ lại nhận được sự cảm thông, thương hại của mọi người, lúc này bỗng như kẻ mù lòa trông thấy ánh sáng. Chị ta chợt quay người lại quỳ xuống trước mặt đám đông, khấu đầu, vừa khóc vừa tạ ơn, thay chồng tạ tội. “Hoàng Nguyệt Thu tôi xin cảm tạ mọi người trong làng!” Người đàn bà tự xưng là Hoàng Nguyệt Thu nói. “Xin được cảm tạ mọi người đã giúp tôi thu xác. Hoàng Nguyệt Thu tôi bạc mệnh, số khổ, hèn hạ được gả tới làng Thượng Lĩnh làm vợ của Vi Tam Đắc. Vi Tam Đắc là tên xấu xa, đểu cáng vô độ. Không, hắn vốn không phải con người, hắn là tên súc sinh, mà cũng chẳng bằng súc sinh, chẳng bằng cầm thú. Hắn rước đủ mọi tai vạ cho cả làng, rồi còn chà đạp không biết bao nhiêu đàn bà con gái, giờ thì chết quách đi rồi. Tôi biết, hắn ta có chết cũng không đền hết tội. Hắn gây ra quá nhiều nghiệp chướng, có chín cái mạng cũng chẳng chuộc hết, ngàn lưỡi dao xẻo xác hắn cũng không báo hết thù, cũng không giải hết hận. Tôi số khổ, bạc mệnh, hèn hạ nên mới làm vợ của Vi Tam Đắc, Vi Tam Đắc chết rồi, đi rồi, tội lỗi vẫn còn đó. Tôi thay hắn ta chuộc tội với dân làng! Xin được chuộc lỗi! Xin được chuộc lỗi... Bây giờ người cũng đã chết rồi, tội cũng đã chuộc rồi, tôi xin dân làng giúp tôi chôn cất Vi Tam Đắc. Ngày mai chôn, không, hôm nay phải chôn ngay. Tết tới nơi rồi, tôi không muốn ảnh hưởng mọi người đón Tết. Chôn càng sớm càng tốt, như vậy ăn Tết mới ngon. Chỉ mong mọi người trong làng vui vẻ, phấn khởi đón Tết. Ai nấy đều cảm động trước lời lẽ biết điều, thấu tình đạt lý của người đàn bà mệnh khổ này. Đa phần đã không còn viện được lý do để tiếp tục thù hận Vi Tam Đắc, cũng không có lý do để cự tuyệt lời thỉnh cầu của Hoàng Nguyệt Thu. Vẫn là người đàn ông lớn tuổi có lòng thành, đức cao vọng trọng lúc trước đứng ra hô hào, động viên, bố trí trai tráng, dân làng nghe lệnh mà làm theo. Cả toán người ào ào hành động, mỗi người một việc, nào là nhập liệm, nhập quan, chọn đất, đào mồ, xem giờ, lo liệu đám tang cho Vi Tam Đắc... Ngôi làng bỗng sôi động hẳn lên. Dây pháo đốt ra từ nhà Vi Xương Anh có thể xem là âm thanh đầu tiên đánh tan bầu không gian u uất của ngôi làng, khiến cả thôn làng náo nhiệt hẳn. Ngôi nhà của gia đình Vi Xương Anh nằm tách biệt trên đỉnh dốc, là ngôi nhà rách nát nhất nhưng lại cao nhất làng Thượng Lĩnh. Nói là cao, chẳng qua là vì nó nằm ở trên đỉnh dốc, chứ ngôi nhà ấy thực chất lại thấp lè tè. Nói là rách nát, là bởi nếu so với những ngôi nhà tầng bằng xi măng cốt thép thì nó thực là thảm hại. Ngôi nhà này của Vi Xương Anh vẫn là nhà vách đất từ đời ông cha để lại. Tuy đời nào cũng được tu sửa, cơi nới cho rộng thêm, nhưng cũng không thay đổi được bản chất nhà đất của nó. Cũng giống như Vi Xương Anh, dù anh ta làm bảo vệ hay thợ sửa chữa trong thành phố, thì cũng không thay đổi được bản chất nông dân của mình. Vi Xương Anh đâu phải không cất nổi nhà tầng, anh ta đi làm thuê làm mướn bên ngoài đã mấy năm nay, chắc hẳn cũng dành dụm được chút ít, muốn xây một ngôi nhà bằng gạch vữa xi măng cũng chẳng khó gì. Song Vi Xương Anh lại không xây nhà. Cớ chi mà anh ta lại làm vậy? Chuyện này thì thằng con sáu tuổi của anh ta là rõ nhất. Lúc thằng bé mới chỉ lên ba, cha nó đã căn dặn rằng: “Con trai à, khi nào mày lên bảy tuổi, cha sẽ đón mày lên thành phố học, cha sẽ đón cả u mày lên đó ở cùng, rồi cả nhà ta sẽ chuyển sang ở nhà tầng, không phải làm nông dân nữa. Thế nên ngôi nhà chúng ta đang ở không cần phải xây lại làm gì cho phiền...” Vi Xương Anh lần nào từ tỉnh về cũng đều chuốc vào đầu thằng bé cái cuộc sống lý tưởng ấy. Năm này thằng bé đã sáu tuổi, cũng gần lắm với cuộc sống lý tưởng mà cha nó hứa hẹn rồi. Chỉ có điều năm nay cha nó về nhà lại không thấy nhắc tới chuyện ấy nữa. Cha nó thì cứ tưởng nó đã quên béng đi rồi, nhưng mà nó thì vẫn còn nhớ lắm, bởi lẽ lên thành phố học cũng là giấc mơ của nó. Xế chiều hôm qua, thằng bé đã hỏi Vi Xương Anh: “Cha ơi, con lại lớn thêm một tuổi rồi, lên sáu rồi đấy, chỉ cần thêm một tuổi nữa là có thể lên thành phố học rồi phải không?” Vi Xương Anh mới về nhà được hai ngày liền hằn ngay một cái bạt tai lên mặt thằng bé. Vi Xương Anh cớ sao lại ra tay với thằng bé như vậy? Bởi vì Vi Xương Anh lúc ấy đang điên tiết, đang não ruột, nguyên nhân cũng có thể xem như là liên quan tới chuyện này. Ấy là lúc đương bữa cơm, Vi Xương Anh đang vùi đầu uống rượu thì bỗng dưng nói với chị vợ Tô Xuân Quỳ rằng: “Ra Tết tôi không đi làm thuê nữa.” Chị vợ đang ngậm trong mồm miếng thịt còn chưa kịp nhai, bèn hỏi: “Sao thế hả?” Vi Xương Anh chỉ đáp lại rằng: “Đếch muốn đi nữa.” Tô Xuân Quỳ lại hỏi: “Sao lại không muốn đi?” Vi Xương Anh đáp: “Đếch muốn đi thế thôi.” Tô Xuân Quỳ: “Không muốn là không đi? Anh tưởng anh là hoàng đế à? Anh không đi mà được chắc? Mấy miệng ăn nhà này đều dựa tất vào đồng tiền anh kiếm đấy.” Vi Xương Anh bảo: “Tao ở thành phố ngán lắm rồi, thấy ở quê vẫn hơn, vậy đã được chưa?” Tô Xuân Quỳ có đôi mắt đẹp lại chẳng coi chồng mình ra gì, nói thực trong mắt chị ta, chồng mình là cái hạng chẳng được tích sự gì. Là đàn ông trong nhà, còn hứa hẹn sẽ đưa con cái lên thành phố học, rồi còn đón cả nhà lên thành phố, đúng thật là nói khoác không cần nộp thuế. Vi Xương Anh liếc mắt nhìn vợ bảo: “Mày muốn tao ra ngoài, mày lại không muốn tao ở nhà như vậy. Tao không ở nhà, hay ho gì cho mày?” Tô Xuân Quỳ ngẩn người, đáp lại: “Ý anh là gì?” “Tao không yên tâm với mày, ý tao là vậy đó.” Vi Xương Anh lại nói tiếp: “À, tao phải đi khỏi cái nhà này thì mày mới yên tâm phải không?” “Vi Xương Anh, anh cứ nói thẳng ra, anh nói vậy là có ý gì?” Vi Xương Anh nốc liền hai chén rượu, mặt đỏ ngầu, trợn mắt chỉ tay vào mặt Tô Xuân Quỳ mà nạt: “Tô Xuân Quỳ, tao hỏi mày, mày và Vi Tam Đắc đã làm cái chuyện kia chưa?” Tô Xuân Quỳ hỏi: “Chuyện kia là chuyện gì?” “Thì là cái chuyện đó chứ còn chuyện gì.” Đoạn anh ta còn làm động tác, ngón tay trỏ bên phải chọc vào hốc nắm tay trái, rút ra chọc vào hai lần liền. Tô Xuân Quỳ hỏi: “Chuyện đó, chuyện kia là cái gì, tôi không hiểu.” Vi Xương Anh đưa tay vỗ đùi: “Tô Xuân Quỳ, cái lỗ của mày bị nó chọc nát rồi, còn giả bộ gì nữa, mày tưởng tao là thằng ngu hay sao? Rốt cuộc là mày với Vi Tam Đắc có làm cái chuyện đó hay không, mày nói đi.” Tô Xuân Quỳ đáp: “Không có.” Vi Xương Anh vặn hỏi: “Không có?” “Không có thì là không có chứ sao.” “Vậy thì sao lại có người mách tao là có?” Tô Xuân Quỳ quẳng đũa lên mặt bàn, gằn giọng nói: “Đứa nào mách?” “Đứa nào mách mày không cần biết, mày chỉ cần trả lời tao là có hay không thôi.” “Tôi bảo không có thì anh không tin. Tôi bảo có thì anh mới tin phải không?” “Ừ thì đúng vậy đấy.” Mời các bạn đón đọc Thượng Lĩnh Án của tác giả Phàm Nhất Bình.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Vòng Tròn Máu
VÒNG TRÒN MÁU - TỔ CHỨC TỘI PHẠM CÓ THỂ KHIẾN CẢ LONDON PHẢI QUỲ XUỐNG. Triệu phú James Beaardmore nhận được thư tống tiền từ VÒNG TRÒN MÁU nhưng ông vẫn cương quyết không chịu nhượng bộ, dù đó là "lời cảnh cáo cuối cùng". Ngày hôm sau, James Beaardmore bị sát hại ngay sau nhà. Bầu không khí hoang mang bao trùm khắp nước Anh, khi ngày càng có nhiều người thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có lần lượt nhận được những lá thư đóng dấu tròn đỏ với cùng một yêu cầu: NỘP NGƯỜI HAY NỘP MẠNG. Cảnh sát bắt đầu vào cuộc điều tra, tìm ra manh mối của VÒNG TRÒN MÁU. Liệu trí tuệ của thám tử Yale cùng mưu lước của thanh tra Parr có thể lật tẩy được bí mật của tổ chức tội phạm này, vạch  mặt kẻ cầm đầu tổ chức này? Ai dối trá, ai phản bội? Ai là kẻ chủ mưu đích thực. Tác giả Edgar Wallace: Edgar Wallace là một trong những nhà văn trinh thám thành công nhất trong suốt 30 năm đầu thế kỷ XX với 18 kịch bản sân khấu, 957 truyện ngắn và 170 tiểu thuyết cùng nhiều tác phẩm khác. Đã từng có thời điểm, tổng số bản in các đầu sách của ông chiếm 1/4 thị trường sách tại Anh.160 bộ  phim  đã  được  chuyển  thể  dựa  theo  các  tác  phẩm  của Wallace. Wallace là tiểu thuyết gia tội phạm đầu tiên của Anh lấy cảnh sát làm nhân vật chính của mình, chứ không phải là thám tử nghiệp dư như hầu hết các nhà văn khác thời bấy giờ. Hầu hết các tiểu thuyết của ông là những câu chuyện độc lập độc lập, với cốt truyện chặt chẽ. Vòng Tròn Máu là tiểu thuyết trinh thám nổi tiếng bậc nhất của Wallace và đã 4 lần được dựng thành phim. Trích dẫn hay trong truyện: "Mười một năm sau, cái đinh ấy sẽ khiến vô số người mất mạng" "Ông có hàng trăm chiến hữu, tất đều không và sẽ không biết ông là ai". "Những người đàn ông mạnh mẽ hơn rất nhiều cũng đã từng phải run sợ trước sự đe dọa của Vòng Tròn Máu". *** “Vòng tròn máu” - cuốn sách của “thiên tài bị lãng quên” “Vòng tròn máu” là tiểu thuyết trinh thám nổi tiếng bậc nhất của Edgar Wallace và đã 4 lần được dựng thành phim. Sách được Phuc Minh Books liên kết với Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 6/2019. Edgar Wallace được biết đến là cha đẻ của hình tượng nhân vật King Kong, là một trong những nhà văn trinh thám thành công nhất trong suốt 30 năm đầu thế kỷ XX với 18 kịch bản sân khấu, 957 truyện ngắn và 170 tiểu thuyết cùng nhiều tác phẩm khác. Đã từng có thời điểm, tổng số bản in các  đầu sách của ông chiếm 1/4 thị trường sách tại Anh 160 bộ phim đã được chuyển thể dựa theo các tác phẩm của Wallace. Cuộc đời của Wallace vẫn là một huyền thoại không chỉ trong văn học mà trong cả điện ảnh. Các tác phẩm văn học của ông đã được xuất bản với hơn 200 triệu bản trên thế giới - trở thành tác giả có số lượng sách bán ra nhiều nhất trên thế giới. Các nhà nghiên cứu đánh giá Wallace là nhà văn tội phạm đầu tiên xuất thân từ tầng lớp lao động. Người ta thường nói về các tác phẩm của ông trên khắp thế giới nhưng cái tên Edgar Wallace lại khá mờ nhạt và không mấy ai nhớ về nó. Và đó cũng chính là lý do mà ông được gọi với biệt danh: Thiên tài bị lãng quên. Vòng tròn máu là một trong những tiểu thuyết xuất sắc làm nên tên tuổi của Edgar Wallace. Xuất bản năm 1922, ngay lập tức tiểu thuyết trinh thám “Vòng tròn máu” đã tạo nên tiếng vang lớn tại Châu Âu, mở đường cho tác giả của nó - nhà văn Edgar Wallace, trở thành một trong những tác giả có số lượng ấn phẩm được bán nhiều nhất trên thế giới, với hơn 200 triệu bản. Truyện mở ra bằng một lời nguyền: “Với những tên tội phạm bị kết án tử hình, khi lên máy chém, nếu ba lần mà vẫn thất bại thì nghĩa là hắn đã được ông trời thương xót và sẽ không bị thi hành án nữa”. Vào ngày hôm đó, một tên tội phạm nguy hiểm đã được miễn án tử chỉ vì sai sót của một chiếc đinh đóng nhầm lên máy chém. Từ đó, khởi nguồn cho một tội ác làm chấn động cả thành London trong 11 năm sau. Tổ chức “Vòng tròn máu”, nơi quy tụ những tên tội phạm khiến cả London phải quỳ xuống. Bắt cóc, tống tiến, giết người... không có tội ác mà “Vòng tròn máu” lại không nhúng tay vào. Những nạn nhân của Vòng tròn máu khi nhận được tối hậu thư với vòng tròn đỏ thẫm: “Nộp tiền hay nộp mạng” đều run sợ. Không có thất bại, không có thương xót, “Vòng tròn máu” là nỗi ám ảnh của các thương nhân giàu có và những người có địa vị ở Anh lúc bấy giờ. Không có người đàn ông nào dù mạnh mẽ đến mấy mà lại không quỳ rạp trước sức mạnh của tổ chức này. James Beardmore, một thương nhân giàu có nhận được bức thư từ tổ chức “Vòng tròn máu” với lời cảnh báo: Đây là cơ hội cuối cùng, hãy giao nộp 100 nghìn bảng hoặc sẽ bị mất mạng. Beardmore đã bỏ ngoài tai và ngày hôm sau ông ta bị bắn chết khi đang đi dạo ở gần nhà mình. Cảnh sát vào cuộc điều tra, từ đó hé lộ những manh mối về tổ chức “Bất khả xâm phạm” “Vòng tròn máu”. Ai là kẻ chủ mưu đứng đằng sau băng nhóm tội phạm này? Bên cạnh yếu tố li kì, hấp dẫn, với nhịp chuyện dồn dập, như soi chiếu từng khung hình của điện ảnh, “Vòng tròn máu” còn thu hút độc giả bởi cách xây dựng nhân vật. Wallace đã xây dựng một hệ thống nhân vật với cá tính riêng chỉ qua một vài chi tiết, hành động mà không sa đà quá vào cá nhân dẫn tới xao lãng mạch phá án chính. Trong “Vòng tròn máu”, Wallace đã xây dựng được một tổ chức tội phạm mang tính chất đặc trưng. Tổ chức này hoạt động vô cùng chặt chẽ và táo bạo. Mỗi người khi đến với tổ chức này đều có số phận, thân phận, cá tính riêng. Đặc biệt hình tượng nhân vật bí ẩn đứng đằng sau khiến người đọc vô cùng tò mò. Hắn là ai? Vì sao hắn lại có “quyền lực” mạnh mẽ đến như vậy? Tất cả những điều này bạn đọc sẽ được trải nghiệm qua từng trang sách, và hấp dẫn tới những dòng cuối cùng. Bảo Châu Review *** Nhờ một cái đinh mà một tên tử tù thoát chết và bị đày ra đảo. Hắn trốn thoát khỏi đó và trở về Anh lập nên tổ chức “Vòng tròn máu” chuyên đi tống tiền. Bầu không khí hoang mang bao trùm khắp nước Anh, ngày càng có nhiều người thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có lần lượt nhận được những lá thư đóng dấu tròn đỏ với cùng một yêu cầu: NỘP TIỀN HAY NỘP MẠNG. Triệu phú James Beardmore nhận được thư tống tiền từ tổ chức Vòng tròn máu nhưng ông vẫn cương quyết không chịu nhượng bộ. Ngày hôm sau, James Beardmore bị sát hại ngay tại nhà. Nối tiếp sau đó, một vài nhân vật nữa bị tống tiền và cũng bị sát hại sau khi nhận được một lá thư tống tiền có đóng dấu tròn đỏ. Cảnh sát vào cuộc tiến hành điều tra. Dựa vào trí tuệ của thám tử Yale và sự mưu lược của thanh tra Parr, liệu có bảo vệ được những nạn nhân tiếp theo? Và bí mật về tổ chức này có bị lật mở? Ai là kẻ chủ mưu đích thực? Các sự kiện diễn ra liên tục cùng với tiết tấu truyện nhanh giúp cho cảm giác hồi hộp, gay cấn trong cuộc đối đầu giữa cảnh sát với trùm cuối của Vòng tròn máu. Những twist cũng làm nổi bật lên sự kịch tính trong cuộc đối đầu đó. Đặc biệt phần cuối, twist hay nhất trong cả câu chuyện, nó đánh lạc hướng hoàn toàn dẫn dắt từ ban đầu của tác giả. Tuy nhiên với mình ấn tượng nhất là nhân vật Thalia, cô có một vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ câu truyện. Và đối với những ai thích sự kịch tính trong các tình tiết thì nên đọc quyển này. Điểm: 8/10 Minh Sơn cùng với Nguyễn Thu Huyền *** Vòng tròn máu - Edgar WallaceVÒNG TRÒN MÁU – EDGAR WALLACE Bầu không khí hoang mang bao trùm khắp nước Anh, ngày càng có nhiều người thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có lần lượt nhận được những lá thư đóng dấu tròn đỏ với cùng một yêu cầu: NỘP TIỀN HAY NỘP MẠNG. Những người cứng rắn không chịu nộp như triệu phú James Beaardmore đã phải chết thảm. Điều tra thấy có sự tham gia của nhiều cá nhân, nhưng họ đều không biết lẫn nhau và cả kẻ chủ mưu “Vòng tròn máu”. Thanh tra cảnh sát Parr và thám tử Yale liệu có vạch mặt được hắn? Truyện cho thấy vì sao Edgar Wallace được tôn vinh là King of Thriller thế kỷ 20. Tuy là trinh thám cổ điển nhưng có lối viết hiện đại, nhịp truyện nhanh. Chân tướng của “Vòng tròn máu” không quá khó đoán với độc giả tinh ý nhưng bù lại các sự kiện ly kì liên tục xuất hiện làm cuốn hút người đọc đến tận trang cuối cùng. Ngoài sự năng nổ của thanh tra Parr ra thì cô gái Thalia bí ẩn cũng được xây dựng khá thú vị. Truyện tuy gay cấn nhưng không lạm dụng bạo lực, vẫn có thoại nhẹ nhàng hài hước kiểu Anh. Thêm tí tình yêu lãng mạn, hợp để giải trí cuối tuần. Hy vọng sẽ còn thêm nhiều cuốn hay khác của Wallace được xuất bản. Chấm 7,75/10 Nam Do Mời các bạn mượn đọc sách Vòng Tròn Máu của tác giả Edgar Wallace & Anh Tuấn (dịch).
Phong Tỏa
LỜI NÓI ĐẦU Vào năm 2005, khi phát hiện rằng tôi không thể nào tìm được một nhà xuất bản cho The Blackhouse (tạm dịch Ngôi Nhà Đen), hoặc cho quyển truyện đầu tiên trong loạt truyện Enzo của mình, Extraordinary People (tạm dịch Người Phi Thường), tôi đã bắt đầu nghiên cứu về một quyển tiểu thuyết trinh thám lấy bối cảnh là trận đại dịch cúm gia cầm. Vào lúc bấy giờ, các nhà khoa học đã dự đoán rằng cúm gia cầm, hay H5N1, có nhiều khả năng trở thành trận đại dịch kế tiếp. Trận dịch Tây Ban Nha năm 1918 đã giết chết ở nhiều nơi trên khắp thế giới khoảng từ hai mươi đến năm mươi triệu người, và cúm gia cầm - với tỉ lệ tử vong khoảng sáu mươi phần trăm hay cao hơn - đã được dự báo vào lúc ấy là sẽ vượt qua con số trên với một khoảng cách đáng kể. Đã tìm hiểu kỹ về cúm Tây Ban Nha trong lúc viết Snakehead(tạm dịch Cá lóc), một đầu sách trong loạt truyện trinh thám lấy bối cảnh Trung Quốc của tôi, cúm là một chủ đề tôi đã thành thạo. Nhưng sự thành thạo đó chẳng chuẩn bị cho tôi điều gì từ những tìm hiểu của tôi liên quan đến H5N1, cũng như những nỗi kinh hoàng mà một trận đại dịch cúm gia cầm có thể bộc phát trên thế giới. Tôi bắt đầu nghiên cứu cẩn thận về những hỗn loạn mà nó sẽ có thể gây ra, và xã hội như ta đang thấy có thể bị tan rã nhanh chóng đến mức nào. Tôi chọn London làm bối cảnh cho truyện của mình, nơi bắt đầu bùng phát cơn đại dịch, một thành phố bị phong tỏa hoàn toàn. Trên nền của bối cảnh đó, những mẩu xương của một đứa trẻ bị sát hại đã được phát hiện tại một công trường nơi các công nhân đang hối hả xây dựng một bệnh viện dã chiến. Viên thám tử (quen thuộc) của tôi, Jack MacNeil, được yêu cầu điều tra, ngay cả khi chính gia đình anh ta đã bị nhiễm virus. Suốt sáu tuần lễ ngắn ngủi miệt mài làm việc cả đêm, tôi đã viết xong quyển Phong tỏa. Quyển sách không hề được xuất bản. Các biên tập viên Anh Quốc trong thời điểm đó nghĩ rằng những điều mô tả của tôi về thành phố London bị vây hãm bởi kẻ thù vô hình H5N1 là không thực tế và chẳng bao giờ có thể xảy ra - bất kể thực tế là tất cả những nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng điều đó hoàn toàn có thể. Thế rồi một nhà xuất bản Hoa Kỳ mua loạt truyện Enzo, và những truyện trinh thám về Trung Quốc của tôi lần đầu tiên được xuất bản ở Hợp chủng quốc. Sự tập trung của tôi chuyển sang bờ bên kia Đại Tây Dương, Phong tỏa đã được ký thác vào một thư mục trong tài khoản dịch vụ lưu trữ trực tuyến Dropbox của tôi, nơi tác phẩm vẫn còn đấy, đến tận bấy giờ. Khi viết những dòng chữ này, tôi đang ngồi bó gối tại nhà ở Pháp, bị cấm ra khỏi nhà trừ những trường hợp đặc biệt. Một con coronavirus mới, Covid-19, đang tàn phá thế giới này, và xã hội như ta biết đang nhanh chóng thay đổi. Ngay cả với một tỷ lệ tử vong chỉ là một phần của cúm gia cầm, các chính trị gia đang phải chiến đấu để kiểm soát sự hỗn loạn và sự hoảng hốt mà Covid-19 đang truyền đi trên toàn thế giới. Sự tương đồng với Phong tỏa thật đáng sợ. Vì vậy dường như đây là dịp mở lại thư mục Dropbox đầy bụi bặm và khai thác bản thảo cũ kỹ kia để chia sẻ với bạn đọc của tôi - dù chỉ để khiến tất cả chúng ta nhận ra thực sự mọi chuyện có thể tồi tệ đến mức nào. Peter May Pháp, 2020 *** Phong tỏa (tựa tiếng Anh: Lockdown) - tiểu thuyết vừa ra mắt bạn đọc VN của nhà văn trinh thám nổi tiếng Peter May. Cuốn sách không chỉ hấp dẫn bởi sự hồi hộp, phức tạp, nghẹt thở, mà còn 'nóng' bởi sự tương đồng đáng ngạc nhiên với câu chuyện dịch bệnh của thế kỷ. Hai chữ Phong tỏa có lẽ là từ khóa được quan tâm nhiều nhất trong hơn 1 năm qua, kể từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện từ Vũ Hán (Trung Quốc) và sau đó liên tiếp là những thành phố, những đất nước, những châu lục, cả thế giới xáo trộn, chia cắt, giãn cách, phong tỏa bởi Coronavirus. Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên là cuốn sách này được tác giả - nhà báo, biên kịch truyền hình, tiểu thuyết gia Peter May (sinh năm 1951 tại Glasgow, Scotland) viết nên từ năm 2005. Khởi nguồn từ hiện thực lúc bấy giờ là dịch cúm gia cầm, H5N1, có khả năng trở thành đại dịch, Peter May đã viết cuốn tiểu thuyết Phong tỏa (Lockdown) trong 6 tuần lễ, lấy London làm bối cảnh câu chuyện, nơi dịch bùng phát và thành phố bị phong tỏa hoàn toàn. Một bệnh viện dã chiến được hối hả xây dựng, và các công nhân phát hiện ra chiếc ba lô đựng xương người trước khi họ đổ bê tông lấp đầy nó như chôn vùi “giúp” một bí mật khủng khiếp. Cuộc điều tra được mở ra với viên thám tử MacNeil. Câu chuyện diễn tiến đầy hồi hộp, khi MacNeil cùng những cộng sự của anh, trong đó có Amy - nhà nhân chủng học tài giỏi bị khuyết tật sau một tai nạn giao thông, cũng là người tình của MacNeil; và sau này là bà Tiến sĩ Castelli, cùng đi sâu tìm hiểu vụ án. MacNeil cũng chính là nạn nhân khi con trai anh bị dịch cúm cướp mất sinh mạng. Amy đã dựng lên từ bộ xương chân dung bé gái Choy người Trung Quốc bị sát hại; trong khi cuộc điều tra liên tục bị theo dõi bởi Pinker, một tay thiện xạ, một kẻ bệnh hoạn, tay sai của những thế lực trong bóng tối... “Cơn bệnh diễn tiến thật nhanh thành ra một tình trạng suy giảm chức năng hô hấp với sự tiến triển không thể thay đổi được, được gọi là Adult, hay Hội chứng Suy giảm Hô hấp cấp tính”, “Bên kia căn phòng có tiếng hắt hơi khiến tất cả những cái đầu đều hướng về phía Zoe. Trong những ngày này, mọi người đều quá nhạy cảm ngay cả với tiếng sụt sịt nhẹ nhất”, “Chắc chắn một trăm phần trăm rằng đứa bé đã bị nhiễm một thứ vi-rút được biến đổi gien mạnh mẽ nhất”… Những câu văn trong Phong tỏa không khỏi khiến người đọc liên tưởng, rùng mình vì quá tương đồng với hiện thực chúng ta đang sống, khi cả thế giới đang phải gồng mình chống chọi với dịch Covid-19. Những nút thắt của câu chuyện dịch bệnh, trong đó có đan cài câu chuyện tình yêu của viên thanh tra với nữ nhân chủng học Amy được nhà văn đưa ra và giải quyết bằng sự tháo gỡ tài tình là điểm cuốn hút của tác phẩm. Peter May nổi danh là tiểu thuyết gia trinh thám với các tác phẩm đoạt nhiều giải thưởng ở nhiều quốc gia (Giải Barry Arwards của Mỹ cho tiểu thuyết trinh thám hay trong năm; Giải văn học quốc gia của Pháp CEZAM Prix Litteraire; giải ITV Crime Thriller Book Club Best Read of the Year của Anh…). Nhưng điều hấp dẫn của Phong tỏa không chỉ là ở tính trinh thám hồi hộp với từng chi tiết như một cuốn phim nghẹt thở diễn ra trước mắt chúng ta, mà chính là tính dự báo, linh cảm về đại dịch của thế giới. Những vấn đề nóng từ cuộc cạnh tranh lợi nhuận, khi những tiến sĩ hóa - sinh siêu việt, khi sự phát triển của y học - dược phẩm lại dẫn đến tội ác tàn phá, hủy diệt chính con người khiến bạn đọc suy tư. Cái chết của Tiến sĩ Roger Blume - người đứng đầu Lực lượng Đặc nhiệm Đại dịch FluKill của Stein-Frankcks, cũng là kẻ chủ mưu tội ác, là chiến thắng của cái thiện với cái ác, của chính nghĩa với phi nghĩa, của con người tiến bộ với những kẻ mang danh khoa học mà chống lại loài người. Những điều này khiến cuốn tiểu thuyết có độ sâu sắc, chinh phục bạn đọc. Được biết, tiểu thuyết Phong tỏa không được xuất bản vào năm nó ra đời - 2005, vì bị cho là bối cảnh “phi hiện thực”. Mãi đến năm 2020, khi nhà văn Peter May “ngồi bó gối tại nhà ở Pháp, bị cấm ra khỏi nhà trừ những trường hợp đặc biệt. Một con coronavirus mới, Covid-19, đang tàn phá thế giới này”, cuốn sách mới được chấp nhận, ra mắt độc giả. Trong Lời nói đầu, tác giả tự nhận xét “Sự tương đồng (bối cảnh tiểu thuyết - NV) với Phong tỏa thật đáng sợ”. Và từ nỗi sợ ấy, thông điệp mà tác phẩm đưa ra là sự cảnh báo con người hiện đại trong bước phát triển quá nhanh của thế kỷ 21 này, lại càng thấm thía hơn bao giờ. Chúng ta luôn cần những cuộc đấu tranh phân định trắng - đen, những việc làm đề cao giá trị đạo đức, nhân văn; và cả thái độ không khoan nhượng với cái ác, với những gì dẫn con người đến sự diệt vong. *** Dẫn truyện Tiếng thét của cô vang vọng khắp vùng bóng tối sau khi khó khăn lắm nó mới bật ra được khỏi cái cuống họng đã bị co thắt lại vì sợ hãi. Tiếng thét ấy, run rẩy theo nỗi kinh hoàng mà chính cô cảm nhận được, đủ làm cho lông tóc dựng ngược trên cánh tay hay vai gáy của bất kỳ người nào biết nghĩ đến người khác. Thế nhưng những bức tường dày của ngôi nhà cổ này bao bọc lấy nhau quanh nỗi sợ hãi của màn đêm để bảo đảm rằng chỉ những cái tai đã điếc trước cảnh ngộ của cô mới nghe được tiếng thét ấy. Y nguyền rủa, rít lên và khạc nhổ trong bóng tối, giận dữ và thất vọng. Cô có thể nghe tiếng y trên những bậc thang và biết rằng y muốn làm hại cô. Người đàn ông mà cô đã biết rõ và đã tin tưởng, kể cả đã thương yêu. Cô chìm vào trong sự mơ hồ của chính mình. Làm sao mà điều đó có thể xảy ra được? Cô nhớ lại sự đụng chạm nhạt nhẽo khi bàn tay y đặt lên vầng trán nóng bỏng của cô suốt những ngày dài bị hành hạ bởi cơn bệnh. Trong ánh mắt của y cũng có chút thương hại. Nhưng ánh mắt ấy giờ đây cháy bỏng sự giận dữ và hiểm độc. Cô nín thở. Y đã leo lên một cầu thang khác. Y nghĩ cô vẫn còn trên tầng thượng và cô lén rời khỏi phòng đọc sách để thấy được cái bóng của y trên các bậc thang khi y tiến lên đến tầng áp mái. Thế rồi cô quay lại và vội vàng đi xuống, đôi chân nhỏ nhắn rón rén bước trên tấm thảm dày tới chỗ ánh sáng lọt qua cửa sổ lắp kính màu chiếu xuống sàn của gian phòng chính. Những ngón tay tuyệt vọng nắm lấy và xoay tay nắm cửa. Nhưng cửa ra vào đã bị khóa. Không có lối thoát. Cô lạnh cóng cả người khi nghe tiếng y gầm rống từ trên tầng thượng của tòa nhà. Y biết rằng y đã mất cô. Trong một khoảnh khắc, cô ngần ngừ. Những bậc đá đi xuống tầng hầm bắt đầu từ phòng tắm bên dưới cầu thang. Nhưng cô biết nếu đi xuống đấy thì cô sẽ bị mắc kẹt. Ở đó chỉ có một cái máng trượt cũ kỹ dùng để chuyển than dẫn đến một khoảng hành lang giữa những căn nhà; và mặc dù có thân hình nhỏ nhắn, cô cũng không đủ nhỏ bé để lách người qua khoảng trống ấy. Cả tòa nhà rung chuyển với những bước chân của y trên các bậc thang và cô quay lại trong hoảng loạn chỉ để thấy rằng mình phải đương đầu với một bé gái. Một con ma trong một bộ váy ngủ màu trắng mái tóc đen cắt ngắn, cặp mắt hình trái hạnh đào mở to và đen nhánh, gương mặt bệt phấn. Hình ảnh của đứa trẻ gây nên nỗi sợ hãi xuyên qua người cô như những lưỡi nhọn của con dao vẫn chờ đợi cô, trước khi cô nhận ra rằng chẳng qua đó là cô đang phản ứng với sự suy nghĩ của chính mình mà thôi. Sự sợ hãi đã làm cho cô không thể nhận biết đúng sự vật. “Choy!”, cô nghe y gầm lên trong khu vực cầu thang, và chợt nhớ đến người phụ nữ đầu tiên đã hướng dẫn y và cô đi thăm toàn bộ ngôi nhà này vài tháng trước. Bảng điều khiển đặt âm tường của phòng ăn rộng lớn ở ngay trước mặt. Một căn phòng mà họ chưa hề sử dụng. Một căn phòng luôn sôi sục trong một bóng tối ngột ngạt, ánh mặt trời lúc ban ngày và những ngọn đèn lần lượt chiếu qua những vết tưa ra quanh mép những bức rèm. Nhân viên hãng bất động sản đã dời chỗ một chiếc bàn nhỏ để dỡ bỏ bảng điều khiển và để lộ một cửa ra vào nằm phía sau. Một cánh cửa cũ kỹ sơn trắng với cái tay nắm tròn mà cô đã mở vào vùng bóng tối phía bên kia. Vùng bóng tối ẩm ướt, lạnh lẽo, bụi bặm của một căn phòng gạch nhỏ, nơi từng có một gia đình gồm sáu người đã thu mình trong màn đen để trốn tránh những cuộc thả bom. Choy không hình dung được bà chủ nhà có ý nói về điều gì khi bà dùng từ “blitz” nhưng cô đã được nghe nói rằng khi những chiếc máy bay thả bom của Đức hoàn tất cuộc tấn công London, chúng chuyển hướng bay về phía Nam và trút tất cả lượng bom dư trong khoang tàu xuống khu vực bất hạnh này. Rồi khi còi báo động vang lên, dân chúng nhốn nháo như bầy chuột chạy vội vào “những chiếc bẫy chuột bằng gạch” của họ để nghe ngóng, để thấp thỏm chờ đợi và để cầu nguyện trong tăm tối. Choy lại nghe y gào thét gọi tên cô lần nữa, hệt như tiếng còi báo động của hơn nửa thế kỷ trước, tiếng thét khiến cô nháo nhác chạy vội vào căn phòng phía trước. Vội vàng, cô đẩy trượt chiếc bàn nhỏ qua một bên và dò dẫm để tháo bớt những vật ẩn giấu trên tấm bảng điều khiển màu xanh sẫm. Tấm bảng quá nặng, đôi bàn tay nhỏ bé của cô phải vật lộn để nậy cho nó rời ra. Cô có thể nghe thấy tiếng y trên đầu cầu thang tầng trên, thế rồi có tiếng bước chân của y trong phòng ngủ chính ở ngay phía trên. Cô kéo lệch tấm bảng điều khiển qua một bên rồi đẩy mạnh cánh cửa. Nó mở vào một vùng tối om om, một luồng không khí lạnh lẽo và ẩm thấp bao bọc khắp người cô. Cô bước hẳn vào bên trong rồi kéo tấm bảng điều khiển trở về chỗ cũ. Từ phía trong, cô không thể nào gắn chặt nó lại mà chỉ cầu nguyện để y đừng phát giác. Cô đóng cửa lại, mọi ánh sáng đều tắt ngấm. Cô ngồi xổm trên mặt đất rồi vòng cả hai tay ôm lấy đầu gối cho có chút hơi ấm. Chung quanh cô thật lạnh, thật tối tăm và thật cùng quẫn. Không hề có lối thoát. Cô không thể tưởng tượng làm thế nào mà sáu con người có thể ép chặt vào nhau trong khoảng không gian này. Thật là vượt ngoài sức tưởng tượng điên rồ nhất của cô để biết người ta có cảm giác như thế nào khi nghe tiếng bom rơi khắp chung quanh rồi tự hỏi liệu mình có phải là người kế tiếp hay không. Thế nhưng cô không cần tưởng tượng để hình dung về người đàn ông mà giờ đây cô đang nghe tiếng bước chân trên những bậc thang hay ánh sáng lấp lánh trên lưỡi dao mà cô biết chắc y đang mang theo. Nhà nuôi trẻ mồ côi ở Quảng Đông là một ký ức xa vời, đứa trẻ lúc ấy là cô, một con người khác trong một cuộc đời khác. Chỉ trong sáu tháng mà quá nhiều điều đã thay đổi, thế nhưng dường như vẫn có một điều gì đó vĩnh cửu, và cuộc đời khác kia chẳng qua chỉ là cái bóng của một giấc mộng. Cô thở hụt hơi, gấp gáp và ồn ào một cách bất thường. Nhưng hơn cả điều đó, cô có thể nghe thấy y đang có mặt ở sảnh trước. Những bước chân nặng nề trên sàn gỗ. Sự giận dữ trong giọng nói khi y gọi tên cô lần nữa. Rồi lại im lặng. Sự im lặng khiến từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác dường như kéo dài hàng nhiều giờ đồng hồ. Cô vội nín thở, càng lâu càng tốt, vì cô tin chắc rằng y sẽ nghe thấy, vẫn là sự im lặng. Thế rồi cô thở hổn hển khi nghe tiếng vỡ của tấm bảng điều khiển ở mặt ngoài của cánh cửa. Tim cô đập mạnh đến nỗi cô có cảm tưởng ai đang đấm vào ngực mình. Tay nắm cửa xoay. Cô ép sát người vào tường khi cánh cửa từ từ mở ra. Ánh sáng từ gian sảnh hắt bóng y lên khuôn cửa sau lưng y. Cô có thể thấy hơi thở của cô, đọng thành sương trong làn không khí lạnh, được rọi vào bởi cùng luồng ánh sáng ấy. Y từ từ cúi xuống rồi vươn tay về phía cô. Cô không thể nhìn thấy mặt y nhưng có thể nghe được tiếng cười mỉm của y. “Hãy lại đây với ba nào”, y dịu dàng lên tiếng. Mời các bạn mượn đọc sách Phong Tỏa của tác giả Peter May & Nguyễn Văn Nhật (dịch) & Nguyễn Thuần Phác (dịch).
Buổi Tiệc Trà Kì Bí
Đầu năm mới, Kyoto khoác lên mình dáng vẻ vô cùng nhộn nhịp. Cô bé Mashiro Aoi đang làm thêm ở cửa hàng đồ cổ “Kura” trong khu phố Teramachi Sanjo cùng cháu trai ông chủ là Yagashira Kiyotaka được mời tới tham dự buổi “tiệc đọc sách” của tác giả thể loại văn học kì bí nổi tiếng, Aigasa Kurisu. Sự kiện ấy được tổ chức tại Sơn trang Yoshida vào buổi tối ngày Valentine. Trong buổi “tiệc đọc sách”, biên tập viên phụ trách và bạn bè thân thiết của Kurisu cũng được mời đến. Tại đó, em gái Kurisu đã yêu cầu Kiyotaka tìm ra thủ phạm định giết chị gái mình ba tháng trước… Đây là tập bốn của loạt tiểu thuyết kì bí thành công vang dội! * Holmes ở Kyoto là bộ tiểu thuyết kì bí nhẹ nhàng cực kì nổi tiếng, không chỉ tạo cơ hội cho độc giả làm quen với những nét đẹp văn hoá của mảnh đất Kyoto mà còn giới thiệu về muôn vàn món cổ vật nổi tiếng ở khắp nơi trên thế giới. Và rồi, mỗi món cổ vật đều cất giữ câu chuyện của riêng mình. *** Yagashira Kiyotaka: Hai mươi hai tuổi. Sinh viên cao học năm nhất Đại học Kyoto. Tên thường gọi là “Holmes”. Cháu trai ông chủ tiệm đổ cổ “Kura” toạ lạc ở Teramachi Sanjo, Kyoto. Cư xử dịu dàng và lịch lãm, nhưng lại sắc sảo đến đáng sợ. Đôi lúc thích bắt nạt người khác, một chàng trai Kyoto “nham hiểm”. Mashiro Aoi: Mười bảy tuổi. Học sinh lớp Mười Một. Chuyển từ thành phố Omiya tỉnh Saitama đến Kyoto sinh sống đã được bảy tháng. Từ một sự việc không lường trước mà bắt đầu làm thêm tại cửa tiệm “Kura”. Vẫn còn vương vấn người yêu cũ ở trường cấp ba ngày trước. *** #độc_giả_review_sách  [HOLMES Ở KYOTO - Mai Mochizuki]  Chắc hẳn khi đọc tiêu đề Holmes ở Kyoto, bất kì ai cũng sẽ liên tưởng tới thám tử Sherlock Holmes lừng danh. Cuốn sách này lại viết về anh chàng Yagashira Kiyotaka 20 tuổi, sinh viên năm nhất đại học Kyoto, có biệt danh là Holmes bởi “sự sắc sảo đến đáng sợ” của anh.  Cuốn sách được viết dựa trên lời kể của cô bé Mashiro Aoi, mười bảy tuổi, học sinh lớp Mười Một. Aoi đã bị Holmes nắm thóp từ lần đầu gặp mặt và tình cờ trở thành nhân viên giúp việc tại cửa hàng đồ cổ của gia đình anh. Từng câu chuyện khác mở ra, kéo theo sau những biến chuyển trong tình cảm của Aoi với sự dịu dàng, lịch lãm nhưng lại sắc sảo đến đáng sợ của Holmes. Những tưởng Holmes cũng là một người siêu phàm, thật bất ngờ khi Aoi khám phá ra được Holmes cũng là một người có quá khứ, giống như Aoi, cũng từng để mất người yêu vào tay của người khác… Điều mình cảm thấy cực kì thích ở cuốn sách này đó là cuốn sách mang đến cho người đọc những cảm nhận hết sức chân thật về văn hóa cũng như lịch sử của Nhật Bản. Bản thân mình là người rất thích đi du lịch, khi đọc cuốn sách mình cảm thấy như đang thật sự được trải nghiệm từng ngóc ngách và nét văn hóa của Nhật.  Cách sử dụng vốn từ trong cuốn sách khá là dung dị, đời thường, cộng thêm các câu chuyện đều rất thực tế, không đẫm máu, không chết chóc, không có những thủ đoạn giết người hay khủng bố như nhiều cuốn sách trinh thám khác, nên cuốn sách mang lại cảm giác dễ chịu gần gũi, đôi lúc khiến người đọc bật cười khi những suy nghĩ của mình bị bóc mẽ bởi lập luận cùng khả năng quan sát tinh tường của Holmes, từ đó mình có thể học hỏi và áp dụng trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt hơn cả, cuốn sách lấy bối cảnh là ở Kyoto, xoay quanh cửa hàng đồ cổ Kura của nhà Holmes và những nhân vật hết sức nhã nhặn, lịch sự, có đam mê và sở thích rất tao nhã với nghệ thuật cổ, cộng thêm sự am hiểu văn hoá và lịch sử nước nhà của tác giả khiến cho mình có cảm giác rất thanh khiết khi đọc cuốn sách này.  Mình nghĩ đây sẽ là một cuốn sách rất phù hợp cho những ai đang chịu áp lực và muốn giải tỏa stress cũng như những bạn yêu thích Nhật Bản và thích đi du lịch Nhật Bản mà chưa có điều kiện đi như mình. - Review của bạn @Linh Phương *** Một nhành dương liễu được tô điểm bằng những chiếc bánh mochi hồng và trắng. Mỗi khi năm mới đến, người ta sẽ lại bắt gặp món đồ trang trí dễ thương này. Nếu tôi không nhầm thì mochibana-shidare[1] là tên gọi của nó. Đồ trang trí trong dịp Tết có rất nhiều loại, nhưng tôi thích nhất là mochibana-shidare. Tôi, Mashiro Aoi, đang ngồi trên một chuyến xe buýt chật ních người. Vừa lắc lư theo chiếc xe, tôi vừa nhìn ra ngoài cửa sổ và nhoẻn miệng cười. Mùng ba tháng Giêng. Cả Kyoto đang tràn ngập niềm vui đón năm mới. Khắp nơi được trang hoàng lộng lẫy với shime-kazari[2], nebiki-matsu[3], mochibana-shidare, và những chiếc quạt giấy mạ vàng. Già trẻ gái trai trong trang phục truyền thống đi lại trên đường đông như mắc cửi. Ngỡ là toàn bộ thành phố đang trong mùa lễ hội rộn ràng. Tôi dám chắc những người đang đi lại trên phố này đa phần là khách du lịch. Có lẽ họ đến từ các tỉnh thành khác, muốn được tận hưởng dịp Tết ở một nơi “đậm chất Nhật Bản” như Kyoto, nên mới tới đây thăm thú đền chùa và xin lộc đầu năm. Và biết đâu, người ngoài trông thấy tôi lúc này cũng sẽ tưởng tôi là khách du lịch. Nhìn bộ dạng của bản thân hiện tại, tôi bẽn lẽn thu mình. Chiếc xe vừa dừng lại trước toà thị chính, tôi đã hấp tập nhảy xuống. Từ đường Oike, tôi đi xuyên qua biển người để tìm đến phố mua sắm Teramachi, Khu phố thương mại lợp mái vòm hôm nay còn náo nhiệt hơn thường ngày. Phần lớn những cửa hàng được xây kề nhau trong khu phố đã bắt đầu mở cửa từ mùng hai; chỗ thì chuẩn bị sẵn túi may mắn[4] chỗ lại phát rượu khai vị đầu năm[5]. Tất cả đều chìm trong bầu không khí hân hoan vui vẻ. Phố mua sắm Teramachi lúc này tấp nập ngang ngửa dịp cuối năm, nhưng cảm giác bề bộn, hối hả khi ấy đã không còn. Dù tính ra cũng mới có vài ngày kể từ khi năm cũ khép lại. Tới tận ngày ba mươi mốt tháng Mười Hai, tôi vẫn còn làm thêm ở đây. Vậy mà kì lạ thay, chỉ cần “sang năm mới” là tôi đã có cảm tưởng như lâu lắm mới được đặt chân đến nơi này. Nhịp bước nhún nhảy của tôi liệu có phải do tâm trạng phấn chấn trong không khí Tết? Cuối cùng thì ngày làm việc đầu tiên trong năm cũng đã đến. Phải, tiệm đồ cổ “Kura” nơi tôi làm thêm sẽ chính thức hoạt động trở lại vào hôm nay, mùng ba tháng Một. Ông chủ tiệm là ông Yagashira Seiji đã đề xuất rằng, “Vào ngày làm việc đầu tiên, tất cả đều phải có mặt nghen,” cho nên kể cả đứa làm thêm như tôi cũng được gọi đến. Ngoài việc trong cửa hàng ra, tôi tự thấy mình chẳng giúp được gì nhiều. Ấy vậy mà ông chủ vẫn mời tôi đến dự buổi gặp mặt đầu năm, khiến tôi vô cùng hạnh phúc. Cảm giác như mọi người đã thật sự công nhận tôi là một phần của tiệm “Kura”. Tôi tự nhủ mình phải vững vàng lên, mắt nhìn thẳng về phía trước và bước đi mạnh mẽ. Chẳng mấy chốc, tấm biển của cửa hàng đồ cổ “Kura” đã hiện ra trong tầm mắt. Bề ngoài của nó vẫn như mọi khi, giống một quán cà phê hơn là tiệm đồ cổ. Tiệm “Kura” hôm nay cũng đã chuyển sang “chế độ mừng năm mới”, với mặt tiền được trang hoàng bởi kadomatsu[6], shime-kazari, và cả mochibana-shidare. “Cháu chào mọi người ạ.” Khi tôi đẩy cửa bước vào, tiếng chuông cửa quen thuộc lại reo lên leng keng. “Ồ, Aoi đó hả?” Người vừa cất giọng sang sảng và ngoảnh lại nhìn tôi là ông chủ cửa hàng này, ông Yagashira Seiji, năm nay bảy mươi bảy tuổi. Ông là một người chuyên giám định đồ cổ nổi tiếng mang danh hiệu “Chuyên gia giám định cấp quốc gia” được đông đảo cư dân ở vùng Kansai này biết đến. Thường ngày, ông chủ hay ăn vận theo phong cách kinagashi phóng khoáng, nhưng hôm nay đã đổi sang lễ phục đầy đủ quần hakama[7] và áo khoác haori[8] cho đúng tinh thần lễ tết, cảm giác trịnh trọng và uy nghiêm hơn bội phần. Đứng cạnh ông chủ là con trai ông, bác quản lí Takeshi. Gọi là quản lí nhưng nghề nghiệp chính của bác ấy là nhà văn, chuyên sáng tác tiểu thuyết lịch sử với bối cảnh thời phong kiến. Bác gắn liền với hình ảnh vừa trông cửa hàng vừa cặm cụi cày bản thảo ở “Kura”. Hôm nay bác mặc một bộ kimono màu chàm. Đứng bên còn lại của ông chủ là một chàng thanh niên cao ráo với gương mặt khôi ngô đang nhoẻn miệng cười dịu dàng. Đó là cháu nội kiêm đệ tử của ông, anh Kiyotaka, hay còn gọi là anh Holmes, một sinh viên cao học đang làm giám định viên tập sự. Anh là người có đầu óc nhạy bén, được đặt biệt danh là Holmes nhờ vào khả năng quan sát và mắt thẩm định tinh tường hiếm thấy, cùng cái họ “Yagashira”. Anh Holmes lúc này cũng đang khoác trên mình một bộ kimono giống ông chủ và bác quản lí, nhưng màu mực tàu. Ở phía sau lưng họ có một người phụ nữ xinh đẹp. Cô là Takiyama Yoshie, đang điều hành một công ty chuyên tư vấn tổ chức những sự kiện liên quan đến mĩ thuật, đồng thời cũng là bạn gái của ông chủ. Cô có ngoại hình hết sức trẻ trung, tưởng như mới ngoài ba mươi, nhưng thực ra là một mĩ nhân đứng tuổi đã ngoại tứ tuần. Bộ hōmongi[9] xanh lục sáng như màu cỏ non hôm nay hoà hợp với cô một cách hoàn hảo. Đúng vậy, hôm nay, ngày làm việc đầu tiên của năm đã được quy ước là ngày “mặc kimono đi làm” nên tất cả chúng tôi đều diện trang phục truyền thống. “Chúc mừng năm mới Aoi nhé.” Được mọi người đồng thanh gửi lời chúc, tôi rụt rè cúi đầu. “Ch-Chúc mừng năm mới cả nhà mình ạ. Dù đã biết hôm nay sẽ như thế, nhưng nhìn mọi người đồng loạt mặc kimono thế này vẫn làm cháu hơi choáng ngợp.” “Tết là mặc kimono”, rất đúng kiểu của “Kura”. “Vậy nhưng, ở đây chỉ có một mình anh là mặc kiểu kinagashi thôi này.” Kinagashi là cách mặc trang phục truyền thống giản lược, không cần áo khoác haori hay quần hakama mà chỉ có kimonothắt obi. “Em thấy anh mặc đẹp lắm ạ.” Tôi có cảm giác là kiểu mặc kinagashi thanh thoát, không cầu kì sẽ hợp với anh Holmes hơn lễ phục cứng nhắc với đầy đủ haori và hakama. Mái tóc đen nhánh kết hợp với bộ kimonomàu mực tàu làm nổi bật lên làn da trắng trẻo của anh ấy, trông thật là quyến rũ. “Cảm ơn Aoi. Bộ komon ấy cũng rất hợp với em,” anh Holmes mỉm cười đáp. “Công nhận, cháu đáng yêu lắm.” “Phải đấy, trông rất xinh.” Cô Yoshie và bác quản lí cũng chêm vào. “... Ch-Cháu cảm ơn ạ,” tôi xấu hổ lí nhí. Đúng vậy, hôm nay tôi cũng mặc kimono. Gọi vậy thôi chứ nó không phải furisode mà là komon, loại kimono với hoa văn nhỏ phủ khắp thân áo. Những đoá hoa phớt hồng rải rác trên nền vải màu kem. Obi cũng có màu hồng nhạt tương tự, mặt trước trông như một bông hoa to sắp nở, tổng thể nhìn chung là hết sức dễ thương. Tôi ưng bộ kimono này vì nó trông không đến nỗi quá thường, nhưng vẫn nhẹ nhàng đủ để có thể thoải mái ra phố dạo chơi. “Bộ komon này có phải em mua ở ‘Kobo-san’ hồi trước không?” Anh Holmes hỏi, vẻ như muốn xác nhận lại. Tôi ngẩng lên nhìn anh và gật đầu đáp, “Vâng.” “Kobo-san” là tên thường gọi của hội chợ được tổ chức tại chùa To-ji vào ngày hai mươi mốt hằng tháng. Nó giống như một buổi chợ trời lớn song song với lễ hội. Vào ngày này, người ta sẽ mở sạp hàng kinh doanh đủ thứ trong khuôn viên chùa To-ji, từ quầy ăn uống, trò chơi, đồ cổ cho đến tạp hoá, quần áo cũ, kimono, thực phẩm. Trước đây, tôi đã có lần cùng anh Holmes đến đó, quy mô còn lớn hơn cả chợ hàng thủ công ở Hyakumanben Chion-ji. Nhân tiện thì ở Kyoto có ba hội chợ lớn được mở hằng tháng: chợ hàng thủ công tại chùa Hyakumanben Chion-ji vào ngày mười lăm, chợ Kobo-san tại chùa To-ji vào ngày hai mươi mốt, còn ngày hai mươi lăm là chợ Tenjin-san ở đền Kitano Tenmangu. Tôi tìm thấy bộ kimono này vào dịp cuối năm, trong lần đầu tiên đến chợ Kobo-san cùng cô bạn Miyashita Kaori. Khi cầm bộ kimono nằm trong xe chở hàng lên, Kaori đã bảo tôi rằng, “Chỗ này toàn món hời đó nha.” Nhà Kaori là một cửa hàng trang phục truyền thống danh tiếng với lịch sử lâu đời. Nghe được nhận xét của cậu ấy nên tôi cũng có thể yên tâm mua món hàng này. Kimono thường gắn liền với hình ảnh của một loại trang phục đắt đỏ, không dễ gì mua được, nhưng những bộ được bày bán ở hội chợ lại rẻ hơn tôi nghĩ, chỉ với khoản lương làm thêm của tôi cũng dư sức trả rồi. Nghĩ lại thì trước khi chuyển đến sống ở Kyoto, việc bỏ tiền túi ra mua một bộ kimono với tôi là chuyện không tưởng. Thực ra obi là đồ có sẵn ở nhà, còn cách mặc thì tôi phải nhờ bà giúp. Tôi chạm tay vào obi, trong lòng mong mỏi một ngày nào đó mình có thể tự mặc kimono. “Mọi người tập hợp đồng đủ rồi, giờ ta cụng ly khích lệ tinh thần làm việc đầu năm nhé.” “Của Aoi là amazake[10] nhỉ.” Anh Holmes rót sake và amazake vào chén, sau đó đưa rượu cho từng người theo thứ tự tuổi từ thấp đến cao, bắt đầu từ tôi, cô Yoshie, quản lí, và cuối cùng là ông chủ kèm câu: “Mời ông ạ.” Chẳng biết có phải do trang phục truyền thống hay không, mà mỗi động tác của anh Holmes đều quyến rũ hơn bình thường, khiến tôi không tài nào nhìn thẳng được. “E-Em cảm ơn ạ,” tôi nhận lấy chén rượu và e lệ cụp mắt xuống. Đúng lúc mọi người đang chuẩn bị nâng ly, tiếng chuông leng keng vang lên ngoài cửa, và anh Akihito hớt hải xông vào, “Xin lỗi cả nhà, cháu đến muộn! Năm mới vui vẻ ạ!” Anh ấy cũng đóng bộ chỉnh tề với hakama và haori có màu xanh chủ đạo. Mái tóc sáng màu nhìn qua tưởng chừng không ăn nhập với phục trang, thế mà lại hoà hợp đến bất ngờ. Hiện nay, anh Akihito đang được công chúng khen ngợi là một “diễn viên điển trai”. Chắc nhờ thường xuyên mặc trang phục truyền thống trên chương trình giới thiệu Kyoto “Tiết trời Cố đô” nên anh ấy đã quen với kimono rồi. “‘Xin lỗi cả nhà’ gì chứ, có ai mời anh đâu nhỉ?” “Bậy nào.” Bị anh Holmes ném cho một cái nhìn lạnh tanh, anh Akihito lắc đầu nguầy nguậy. “Hôm mở tiệc giao thừa, ông chủ đã dặn tôi rằng: ‘Mồng ba tiệm bắt đầu mở cửa trở lại, cậu hổng mắc việc gì thì nhớ ghé qua nghen. Có cậu Akihito tới bao giờ cũng vui.’ Tôi được ông chủ chiếu cố bấy lâu nay, nghe thế sao có thể không đến được.” Anh Akihito vừa cười vừa tét một phát vào cánh tay anh Holmes. Đối nghịch lại, anh Holmes xoa xoa chỗ tay bị tét với ánh mắt lạnh lùng. Hai con người này mới đầu năm đã thế, chẳng thay đổi gì. “Vậy là cậu Akihito cũng tới rồi.” Ông chủ đích thân rót sake vào chén và trao cho anh Akihito. Anh Akihito nhận lấy với vẻ trân trọng. “Nào, Takeshi, Kiyotaka, Yoshie, bé Aoi, cậu Akihito. Năm nay vẫn lại tiếp tục chiếu cố nhau nghen” Ông chủ cao giọng hô: “Cụng ly!”, chúng tôi cũng đồng loạt nâng chén và nói: “Cụng ly!” rồi uống một hơi cạn chén. Có lẽ do tôi đã thấm mệt vì không quen mặc kimono, lại phải đi từ nhà đến tận đây, nên ngụm amazake thanh mát ấy cảm giác ngon vô cùng. “Ơ, Aoi cũng uống sake à?” “Dạ không, mình em uống amazake ạ.” “À ừ, em vẫn còn vị thành niên nhỉ. Lớp Mười Một đúng không?” “Vâng, em sẽ lên lớp Mười Hai vào mùa xuân ạ.” “Phải rồi Aoi, nói đến mùa xuân thì xuân năm nay đứa con trai đang đi du học của cô sẽ về nước đấy. Mong cháu giúp đỡ thằng bé nhé,” cô Yoshie chêm vào một câu như thể vừa sực nhớ ra. Tôi bị bất ngờ, nhưng vẫn gật đầu đáp: “V-Vâng ạ.” Nhắc mới nhớ, Cô Yoshie có một đứa con trai. Nếu tôi không nhầm thì cậu ấy đang học lớp Mười, nghĩa là nhỏ hơn tới một tuổi. Con của cô Yoshie thì hẳn phải đẹp trai lắm. Trong lúc mọi người đang sôi nổi trò chuyện, ông chủ nhìn đồng hồ rồi chậm rãi đứng dậy. “Thôi, bọn ta đi trước nghen.” “Vậy bố cũng...” “Khoan.” Thấy ông chủ và quản lí lại chuẩn bị đi đâu đó, anh Holmes vội lên tiếng. “Ông và bố có thể nán lại một chút rồi mới đi có được không ạ? Hôm nay dù sao cũng là ngày mở hàng, con muốn dẫn Aoi đến thăm Yata Jizo-son.” Nghe anh Holmes nói, tôi nghiêng đầu thắc mắc: “Yata Jizo-son ấy ạ?” “Là ngôi chùa Địa Tạng ở ngay gần đây. Ngày làm việc đầu tiên nên anh nghĩ cũng nên đến chào hỏi chút.” “À, chỗ bên cạnh đồn cảnh sát phải không ạ?” Tôi vỗ hai tay vào nhau. Hôm nào đi làm tôi cũng trông thấy nơi đó, nhưng không mấy để tâm nên đến tên cũng chẳng biết. Tôi tự dưng thấy có lỗi vì sự thiếu lễ độ của mình. “Cũng được, mà đi lẹ lẹ nha. Ta hổng có đợi được lâu đâu,” ông chủ ngúng nguẩy quay đi. “Nói gì thì đây vẫn là cửa hàng của ông đấy ạ. Ông định trốn việc đi chơi mà sao còn giở giọng hách dịch với con cháu thế?” “Ta còn nhiệm vụ đi chúc Tết rất quan trọng đó. Đã thế thì bây làm thay ta đi nhá?”   Mời các bạn mượn đọc sách Buổi Tiệc Trà Kì Bí của tác giả Mai Mochizuki & Dương Dương (dịch).
Tâm Tư Lẩn Khuất Cõi Trần Ai
Từ một sự việc không lường trước mà bắt đầu làm thêm tại tiệm “Kura” và được Kiyotaka chỉ dạy về mĩ thuật cổ. *** Yagashira Kiyotaka: Hai mươi hai tuổi. Sinh viên cao học năm nhất Đại học Kyoto. Tên thường gọi là “Holmes”. Cháu trai ông chủ tiệm đổ cổ “Kura” toạ lạc ở Teramachi Sanjo, Kyoto. Cư xử dịu dàng và lịch lãm, nhưng lại sắc sảo đến đáng sợ. Đôi lúc thích bắt nạt người khác, một chàng trai Kyoto “nham hiểm”. Mashiro Aoi: Mười bảy tuổi. Học sinh lớp Mười Một. Chuyển từ thành phố Omiya tỉnh Saitama đến Kyoto sinh sống đã được bảy tháng. Từ một sự việc không lường trước mà bắt đầu làm thêm tại cửa tiệm “Kura”. Vẫn còn vương vấn người yêu cũ ở trường cấp ba ngày trước. *** #độc_giả_review_sách  [HOLMES Ở KYOTO - Mai Mochizuki]  Chắc hẳn khi đọc tiêu đề Holmes ở Kyoto, bất kì ai cũng sẽ liên tưởng tới thám tử Sherlock Holmes lừng danh. Cuốn sách này lại viết về anh chàng Yagashira Kiyotaka 20 tuổi, sinh viên năm nhất đại học Kyoto, có biệt danh là Holmes bởi “sự sắc sảo đến đáng sợ” của anh.  Cuốn sách được viết dựa trên lời kể của cô bé Mashiro Aoi, mười bảy tuổi, học sinh lớp Mười Một. Aoi đã bị Holmes nắm thóp từ lần đầu gặp mặt và tình cờ trở thành nhân viên giúp việc tại cửa hàng đồ cổ của gia đình anh. Từng câu chuyện khác mở ra, kéo theo sau những biến chuyển trong tình cảm của Aoi với sự dịu dàng, lịch lãm nhưng lại sắc sảo đến đáng sợ của Holmes. Những tưởng Holmes cũng là một người siêu phàm, thật bất ngờ khi Aoi khám phá ra được Holmes cũng là một người có quá khứ, giống như Aoi, cũng từng để mất người yêu vào tay của người khác… Điều mình cảm thấy cực kì thích ở cuốn sách này đó là cuốn sách mang đến cho người đọc những cảm nhận hết sức chân thật về văn hóa cũng như lịch sử của Nhật Bản. Bản thân mình là người rất thích đi du lịch, khi đọc cuốn sách mình cảm thấy như đang thật sự được trải nghiệm từng ngóc ngách và nét văn hóa của Nhật.  Cách sử dụng vốn từ trong cuốn sách khá là dung dị, đời thường, cộng thêm các câu chuyện đều rất thực tế, không đẫm máu, không chết chóc, không có những thủ đoạn giết người hay khủng bố như nhiều cuốn sách trinh thám khác, nên cuốn sách mang lại cảm giác dễ chịu gần gũi, đôi lúc khiến người đọc bật cười khi những suy nghĩ của mình bị bóc mẽ bởi lập luận cùng khả năng quan sát tinh tường của Holmes, từ đó mình có thể học hỏi và áp dụng trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt hơn cả, cuốn sách lấy bối cảnh là ở Kyoto, xoay quanh cửa hàng đồ cổ Kura của nhà Holmes và những nhân vật hết sức nhã nhặn, lịch sự, có đam mê và sở thích rất tao nhã với nghệ thuật cổ, cộng thêm sự am hiểu văn hoá và lịch sử nước nhà của tác giả khiến cho mình có cảm giác rất thanh khiết khi đọc cuốn sách này.  Mình nghĩ đây sẽ là một cuốn sách rất phù hợp cho những ai đang chịu áp lực và muốn giải tỏa stress cũng như những bạn yêu thích Nhật Bản và thích đi du lịch Nhật Bản mà chưa có điều kiện đi như mình. - Review của bạn @Linh Phương *** Ở khu vực lân cận Teramachi Sanjo thuộc Kyoto, có đến mấy con phố mua sắm giăng mắc với nhau theo một bố cục tương đối là phức tạp. Những mái vòm nối liền nhau rất dễ khiến người ta nhầm tưởng rằng tất cả đều thuộc cùng một khu mua sắm, nhưng thực chất mỗi con đường lại là một phố mua sắm khác nhau. Từ đường Oike rẽ vào đường Teramachi là “phố mua sắm của Hiệp hội Cửa hàng chuyên doanh Teramachi”, đi thêm chút nữa sẽ giao với “dãy cửa hàng danh tiếng Sanjo”. “Phố mua sắm Teramachi Kyogoku” và “phố mua sắm Shinkyogoku” chạy song song với nhau, nhìn đằng trước sẽ thấy được “chợ Nishiki”, nơi nổi danh toàn quốc là “nhà bếp của đất kinh kì”. Chỉ nghe tả thế này thôi thì đúng là hơi bị rối rắm, có vẻ đến dân Kyoto cũng nhiều người ú ớ, nên khách du lịch không nắm được âu cũng là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, người đi mua sắm có khi cũng chẳng cần để ý nhiều đến vậy. Từ đường Oike vào “phố mua sắm Hiệp hội Cửa hàng chuyên doanh Teramachi”, người ta có thể ngoặt sang “dãy cửa hàng danh tiếng Sanjo”, và cũng có thể cứ thế đủng đỉnh đi dọc “phố mua sắm Teramachi Kyogoku” hay “phố mua sắm Shinkyogoku” rồi lang thang thăm thú “chợ Nishiki”. Thậm chí ta còn có thể bước qua một loạt những cửa hàng nối liền nhau, rồi bắt gặp một ngôi đền, ngôi chùa nhỏ xinh nào đó. Tiệm đồ cổ “Kura” nằm lặng lẽ giữa khu phố mua sắm với kết cấu y hệt mê cung như vậy. Cửa hàng tuyệt nhiên chẳng mang diện mạo cố tình gây ấn tượng, nên người đi đường nhiều lúc sẽ chỉ lướt qua, nhưng một khi đã để mắt tới nó, người ta sẽ nhận ra rằng nơi đây toát lên một sức hấp dẫn lạ kì. Trong cửa hàng có đèn chùm, bộ sô pha cổ, bên vách tường cạnh quầy thu ngân là giá sách và tủ đựng đồ kiểu Nhật làm bằng gỗ sồi đánh véc ni. Một nơi dung hoà phong cách Nhật Bản với phương Tây, khiến ta liên tưởng đến các quán cà phê mang xu hướng Modern Retro[1] đậm nét. Kim giây của chiếc đồng hồ tủ đứng cỡ lớn đang miệt mài di chuyển phát ra những âm thanh tích tắc. Âm sắc nhạc jazzdu dương như hoà nhịp với tiếng kim đồng hồ. Đủ loại đồ cổ và đồ tạp hoá được xếp thành hàng trên giá. Vẫn như mọi khi, thời gian cứ như đã ngừng trôi trong cửa hàng này. Tôi, Mashiro Aoi, nhân viên đang làm thêm trong tiệm, vừa phủi bụi cho các món hàng như thường lệ, vừa đưa mắt liếc về phía quầy thu ngân. Ở đó, một chàng thanh niên với khuôn mặt tuấn tú đang cầm một bức tranh cuộn trong tay và cười tủm tỉm. Tên anh là Yagashira Kiyotaka. Anh ấy là sinh viên cao học, nhờ khả năng quan sát và mắt giám định phi phàm hiếm thấy, lại thêm cái họ “Yagashira” nên anh có biệt danh là “Holmes”. Ngoài ra, anh còn là cháu nội kiêm đệ tử của ông chủ cửa hàng này là ông Yagashira Seiji, người được biết đến với tư cách Chuyên gia giám định cấp Quốc gia. Anh là một thanh niên điển trai với vóc người mảnh khảnh, tóc mái hơi dài, làn da trắng trẻo và sống mũi thẳng tắp. Hoàn toàn tương ứng với ngoại hình ấy, anh cũng là một người lịch thiệp, dịu dàng, nho nhã và có phong thái ứng xử hết sức ôn hoà. Nhưng mặt khác, anh còn là một kẻ tương đối kì quặc, thi thoảng lại tỏ ra nham hiểm, thậm chí có cả cái tính cứng đầu, hiếu thắng, hơn hết là lòng dạ nhiều khi hơi hơi đen tối. Lúc đầu tôi cũng hay bị anh làm cho lúng túng, thế mà chúng tôi đã cùng nhau trải qua khoảng thời gian tới tám tháng rồi. Chắc rằng tôi đã quen hơn nhiều, nên giờ không còn cảm thấy ngạc nhiên trước những nét kì quặc và tính cách hai mặt của anh ấy nữa. “... Bức tranh cuộn treo tường mà bác Ueda mang đến thế nào rồi ạ?” Tôi bước đến và thò mặt lại gần quầy thu ngân. Cuộn tranh anh Holmes hiện đang cầm trên tay là đồ tôi giữ giùm bác Ueda, một khách quen nhẵn mặt của tiệm, trong lúc anh ấy không có mặt ở cửa hàng. “Aoi thấy sao?” Anh Holmes hơi nghiêng nửa thân trên để tôi thấy được cuộn tranh. Một bức tranh được gọi là “mĩ nhân hoạ”, hay nói cách khác... “... Là ukiyo-e[2] anh nhỉ?” “Ừ, đúng rồi.” Bức ukiyo-e ấy vẽ một người phụ nữ hơi cúi đầu, tay cầm tẩu thuốc. Gương mặt mang nét u sầu ấy vô cùng xinh đẹp, nhưng tôi chẳng cảm nhận được sức ép khiến mình phải nín thở chút nào. Nếu được hỏi về tính thật giả của bức tranh này thì tôi có cảm giác đây không phải đồ thật. Có điều, ukiyo-e vốn là “tranh in khắc”, vậy nên... Đối với tranh in thạch bản của nước ngoài, tranh thật được gọi là “thạch bản gốc”, chủ yếu chỉ những tác phẩm do chính tác giả in, hoặc được chế tác tại công xưởng dưới sự giám sát của tác giả. Trước đây, anh Holmes đã dạy tôi điều đó. Vậy thì có phải ukiyo-e cũng giống thế không? “... Tranh khắc ukiyo-e thật với giả khác nhau ra sao ạ? Có phân biệt dựa vào việc ‘tác giả có chính tay in tranh hay không’ giống tranh in thạch bản không anh?” Khi tôi nói ra nguyên văn nghi vấn vừa hiện lên trong đầu, anh Holmes bèn gật gù. “Phải rồi. Ukiyo-e gồm hai loại chính, ‘tranh vẽ cọ’ do hoạ sĩ vẽ nên và ‘tranh in khắc’ được in từ mộc bản. Nhắc ukiyo-echủ yếu là ám chỉ tranh mộc bản của vế sau, còn tranh vẽ cọ là thứ có một không hai đến từ hoạ sư, cho nên vô cùng giá trị. Hiểu một cách nôm na thì tranh mộc bản phải trải qua những công đoạn như: hoạ sĩ vẽ bản thảo gốc, sau đó giao cho thợ khắc, cuối cùng là đến thợ in thực hiện việc in ra, vậy nên mới tồn tại những bức tranh mộc bản được in cùng thời điểm.” “Thế nghĩa là hoạ sĩ không tự tay khắc mộc bản anh nhỉ?” “Đúng vậy, mỗi công đoạn đều do nghệ nhân với chuyên môn riêng thực hiện.”   Mời các bạn mượn đọc sách Tâm Tư Lẩn Khuất Cõi Trần Ai của tác giả Mai Mochizuki & Ninh Nhân Văn (dịch).